Người Làm Vườn Tây Ban Nha

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
14

❊ ❊ ❊

Trong vòng bốn tiếng đồng hồ một bức điện tới từ Paris đã được giao đến tận Casa Breza.

TÔI SẼ ĐẾN NGÀY MAI LÚC 5 GIỜ RƯỠI CHIỀU. TỪ ĐÂY CHO TỚI LÚC ĐÓ XIN ANH HẾT SỨC GIỮ BÌNH TĨNH. BẠN ANH.

HALEVY.

Vị giáo sư giữ lời hứa. Ngày hôm sau, khi chuyến tàu chiều chạy xồng xộc vào nhà ga San Jorge, một người đàn ông nhỏ nhắn, nghiêm chỉnh gần như là một nhà tu hành, có một nước da xanh xao, một đôi mắt nhỏ nhưng sắc sảo nằm sâu trong một chiếc đầu giẹp, với một chòm râu cắt tỉa cẩn thận trên chiếc cằm nhỏ, và mặc một áo choàng kiểu du lịch màu đen, đội một cái mũ nhàu nhỏ màu sẫm, bước xuống khỏi toa tàu một cách nhanh nhẹn và siết chặt những ngón tay chắc của Harrington Brande giữa cả đôi bàn tay bé nhỏ và mềm mại của ông.

– Anh bạn đáng thương của tôi!

Bằng một cái liếc mắt khôn khéo, ông đã chú ý tới vẻ buồn bực của vị lãnh sự mà thái độ của anh dường như bảo: bây giờ tôi đã đến đây, tôi cấm không được lo nghĩ gì nữa.

Tiết trời đã trở lạnh, và trong lúc họ lên xe hơi và phóng đi, cơn mưa phùn đang rơi, giăng mờ các đường nét của bến tàu, che khuất mặt biển bất động màu xám.

– Tôi đã nhận được thư của anh – Halevy vừa lên tiếng vừa nhìn đăm đăm thẳng về phía trước. – Nhưng bây giờ… chắc là tình thế của anh đã xấu hơn?

– Vô cùng tàn tệ, - Brande nói toạc ra bằng một giọng thấp và cô đặc.

Ông đang định nói tiếp thì Havely với một cái ấn tay đầy uy quyền lên đầu gối ông, đã nghiêm nghị ngăn giữ ông lại.

– Lúc này khoan đã, anh bạn. Chúng ta có nhiều thời gian mà. Anh hãy bớt căng thẳng đi. Tôi sẵn sàng phục vụ anh nếu cần thì bao lâu cũng được.

Họ về đến biệt thự trong sự im lặng bắt buộc này và bước nhanh ra phía dưới những cành mimosa, thon thả rũ xuống thấp, lủng lẳng nhiều giọt nước mưa trong như thủy tinh. Các vách đá được quấn băng trong nhiều làn hơi, đầy ma quái, những ngọn núi cũng được mây đắp lên mình. Không gian sống động được nhiều tiếng xào xạc, chứa đựng âm thanh của mấy dòng suối nhỏ không nhìn thấy được, chảy ra rồi lại thấm vào mặt đất đã sẫm màu nhưng vẫn tham lam vô độ, và từ ngoài khơi xa, xuyên qua bức màn sương mù của biển, tiếng tù và bằng vỏ ốc rên rĩ, sầu muộn của một người dân chài khi lên cao khi xuống thấp rồi cứ xuống thấp dần và biến mất hẳn, như một ngôi sao tàn lụi, vào trong cảnh hiu quạnh ở bên ngoài.

Nhưng bên trong nhà mọi sự tiếp đón đã sẵn sàng: lửa cháy rực trong phòng ăn, phòng khách và trong căn buồng ngủ rộng lớn dành riêng cho khách, khiến cho bầu không khí trần đầy hơi ấm và hương thơm nồng của gỗ tuyết tùng. Trong bếp Magdalena di chuyển một cách chắc nặng, và Garcia, với bước chân bước nhanh, lên xuống cầu thang hàng chục lần.

Bữa ăn tối cho hai người, được dọn ra lúc tám giờ, gần như tuyệt hảo khiến vị giáo sư – mặc dầu có thái độ như kẻ tu hành nhưng rõ ràng không hề có ác cảm đối với những món ăn ngon lành trên bàn – Phải tỏ lời khen ngợi vị lãnh sự về người đầu bếp của ông, và trách ông không biết thưởng thức tài nghệ của chị ta. Thỉnh thoảng, trong lúc ăn món tôm theo kiểu Tây Ban Nha dưới những ngọn đèn cầy có chụp, ông hướng về phía chủ nhà một ánh mắt dò hỏi, hoàn toàn biết rõ mức độ đau khổ của Brande, nhưng vẫn quyết định không vội vàng một chút nào trong việc tiến hành kỹ thuật quan sát sự việc một cách trì hoãn để như thường lệ giữ thế chủ động trong mọi tình huống.

Eugene Havely là con trai của một người bán hàng tạp hóa ở Brest đã đến Paris khoảng hai chục năm về trước, lúc hãy còn là một chàng trai non nớt và gầy còm, để theo học ngành y và, sau nhiều lần thất bại trong các kỳ thi dự bị, ông đã lấy được một mảnh bằng hạng thứ. Vào thời gian đó danh tiếng của Charcot[1] đã lên đến tột đỉnh và trong đám đông bị thu hút bởi ánh hào quang này có cả anh chàng bác sĩ trẻ Havely. Ông tham dự các buổi thuyết trình của con người vĩ đại, thường lui tới các khu trong dưỡng lão viện Salpétriere[2] và tình cờ đã được chọn làm trợ tá một vài lần trong những buổi thuyết minh về bệnh loạn tinh tập thể nổi tiếng nên sau đó đã quyết định chuyển về bệnh viện tâm thần.

Vượt ra ngoài sức thông minh của một con người tỉnh lẻ, ông có thừa khả năng làm quen với thối cầu kỳ của cấp trên, nhưng ông lại không thích cái trò này.

Được trợ giúp bởi một ít tài sản do cha ông để lại, ông đến Vienna, xin thụ giáo Jung[3], theo một khóa ở trường đại học Heideiberg[4], trôi qua mười tám tháng trong bệnh viện tâm thần lớn ở Mecklenburg. Khi ông trở lại Paris, nhờ đã có kinh nghiệm dồi dào này, ông được nhận vào ban lãnh đạo của viện Nervosthenique một bệnh viện thực hành (nơi các bệnh nhanh được nghiên cứu và chữa trị bởi các bác sĩ chuyên khoa) nhỏ ở Passy. Ngoài ra ông bắt đầu đọc các bài thuyết trình có tính chất gần như phổ cập ở Học viện Vệ sinh Tâm thần. Dần dà ông kiếm được một số khách hàng hạn chế, về các loại thông thường, về loạn thần kinh nữa giới, các trường hợp gần như điên, và Melodesimaginaires[5]. Thái độ của ông, như người ta đoán biết đã chững chạc hơn, cặp mắt ông sắc bén hơn, đôi bàn tay ông khéo léo hơn; ông thích mặc một chiếc áo choàng theo kiểu nhà tu và mang bít tất dài màu đen khiến cho ông, vốn là một con người quyết chí sống độc thân, có cái vẻ của một nhà bác học tăng lữ. Có biệt tài đánh lừa, ông ngày ngày nghe đầy tai những mối âu lo và những lời thú nhận. Ông biết cách tỏ ra dữ tợn, cách moi ra nhiều điều bí mật bằng chỉ một lời nói, cách thốt lên nhiều chuyện ngược đời và dự đoán một kiểu nghiêm trọng đầy sát khí, có lợi thế một cách kỳ lạ với dáng người gầy gò của mình.

Một mùa hè trong một kỳ nghỉ ngắn ở Knocke, ông đã lọt vào sự chú ý của Harrington Brande lúc bấy giờ đang dừng chân vì công vụ trong nơi nghỉ mát của Bỉ này. Vị lãnh sự đang khổ sở vì bệnh u sầu định kỳ và trong một cơn bốc đồng, mà sau này ông tuyên bố là điều may mắn nhất của đời ông, ông đã có quyết định quan trọng nhờ vị bác sĩ tâm thần ở Paris chẩn bệnh. Ngay lập tức, một sự đồng cảm đã phát sinh rõ ràng giữa hai con người tầm thường này, vừa quá khác tính khí vừa quá giống kiểu cách. Nhiều lần sau đó Brande lại tìm đến vị thầy thuốc mới của ông, người độc nhất có thể giúp ích ông. Sau những buổi gặp nhau lâu dài ở đường Capucines, một tình bằng hữu bền bỉ nảy nở giữa vị công chức đứng đắn thất vọng và vị tu sĩ già nhỏ bé đã lắng nghe một cách có khoa học những nỗi niềm thầm kín nhất của Brande và sau đó trở thành người kiềm chế ông với uy thế mỗi ngày một mạnh hơn.

Ăn tối xong, hai người đi vào phòng khách, cùng ngồi xuống hau bên khoảng lát đá hoa phía trước lò sưởi. Ánh đèn khí trong bóng đèn treo trên trần hơi yếu, căn phòng dài lịch sự sáng một màu hồng do các ngọn lửa lay động chập chờn như những bóng ma lướt qua các tấm thảm, các chiếc bàn uốn khúc có vẻ hào nhoáng. Halevy đã cảm thấy đến lúc người bạn của ông không thể nào dằn lòng được, liền gật đầu tỏ vẻ đồng ý gần như bậc thầy. Ngã người trong chiếc ghế của mình, ông tựa bàn tay mảnh mai lên trán, gần như che kín mắt và ngoảnh đầu như một tu viện trưởng bên trong phòng xưng tội, sẵn sàng lắng nghe.

Lập tức, đôi môi mím chặt của vị lãnh sự hé mở và lời khai của ông tuôn ra một mạch không thương xót. Vị giáo sư có vẻ như không quan sát bạn nhưng, qua các kẽ hở ngón tay, ông không bỏ xót một xúc cảm nào của bạn và mặc dầu nét mặt ông chỉ bộc lộ một sự trống rỗng chuyên nghiệp, đôi mắt sâu hoắm vụng trộm vẫn sắc như dao. Tuy nhiên, khi đã kết luận, Brande sờ soạng trong túi áo khoác nhung và đưa ra cho vị giáo sư tờ giấy viết nguyệch ngoạc, tia sáng yếu ớt trong mắt của ông mất ngay tức khắc. Trong lúc vị lãnh sự hết sức bồn chồn cứ ngồi lau cái trán ướt đẫm, Halevy thong thả mang chiếc kính kẹp mũi gọng vàng và theo đúng phương pháp đọc bức thư đúng hai lần. Rồi, môi mím chặt, ông bắt đầu gật gù.

– Anh Brande, - cuối cùng ông nói bằng một giọng nghiêm trang, - tôi không chối cãi rằng tôi thấy chuyện đáng tiếc này có vẻ nghiêm trọng. Nếu tôi không thân thiết với anh, tôi có thể giả vờ khoác cho nó một vẻ bình thường. Nếu tôi xem thường trí thông minh của anh, có lẽ tôi sẽ giấu diếm anh một phần nào những sự việc liên quan. Nhưng anh là bạn tôi, một con người tài cao tuyệt đỉnh và, anh lại còn là một người cha, một công dân tinh tế của thế giới. Anh thừa biết rằng rác rưởi hiện hữu ở cả những nơi bất ngờ nhất. Những bông hoa thơm nhất được nuôi dưỡng bởi phân hôi, những ao hồ trong trẻo nhất trong rừng sâu, trên đó, nhiều đóa hoa huệ tinh khiết mọc lên, lại che dấu ở phía dưới một đáy buồn dơ bẩn.

Vị lãnh sự định nói nhưng trước khi ông có thể xen vào, Halevy đã nhẫn tâm tiếp lời:

– Sự trong trắng của anh, Brande… anh có biết đó là gì không? Các chuyên viên tâm thần chúng tôi có thể đủ điều kiện để mỉm cười với cái từ lố bịch này… cái nhãn hiệu tình cảm của một niềm tin đã lỗi thời. Phải chăng hàng ngày chúng ta không phát hiện ra những nỗi buồn phiền mới liên tục, bằng chứng về tính chất hèn hạ của con người? Phải chăng tất cả chúng ta không là đầy tớ của thể xác chúng ta, nạn nhân của những chuyện khủng khiếp và là mối ghê tởm của dục vọng chúng ta? Vì vậy, ngay cả những hành vi vô tình đầu tiên của trẻ con, cử chỉ bám và ôm chặt, sự tàn bào của chúng khi tóm lấy vú mẹ… - ông chợt ngừng lại với một cái nhún vai thản nhiên. – Riêng về thời kỳ hiện giờ con anh đang tiếp cận thì, quả thật, chúng ta phải đối đầu với nhiều sức mạnh mơ hồ hơn, với nhiều ám ảnh kỳ lạ và ước ao thầm kín… Quả thật là đáng tiếc là trong những tình huống đó, sự liên kết láo xược này với một gã con trai lớn tuổi hơn, đã thế lại là một gã Tây Ban Nha, nhất định phải nảy sinh ra.

Vị lãnh sự lầm bầm, hai bàn tay siết chặt đến nỗi móng đâm sâu vào lòng bàn tay.

– Anh không tin rằng Nicholas đã bị tổn thương nghiêm trọng chứ?

– Tôi thật sự sợ rằng điều tai hại đã xảy ra, - Halevy thẳng thắn trả lời. – Nhiều hay ít như thế nào thì tôi có nhiệm vụ khám phá.

– Khám phá?

– Tất nhiên. Dù tôi lấy làm tiếc, tôi phải đưa con anh ra phân tích.

Brande bật người ra phía sau, trong nỗi lo âu bất ngờ, toàn thân xao xuyến.

– Nhưng, chắc chắn…, ông phản đối bằng một giọng yếu ớt, - thằng bé còn quá nhỏ và lúc này đang hết sức rối loạn, tri giác nó quá mềm yếu…

Halevy nhìn chằm chằm vị lãnh sự với một ánh mắt lạnh lùng.

– Anh nghi ngờ kỹ năng chuyên nghiệp của tôi đấy à?

– Không, không đâu… anh… chỉ vì… nhưng nếu anh nghĩ điều đó là cần thiết.

– Phải nói là khẩn thiết, - vị giáo sư gằn giọng với một vẻ gay gắt như bị xúc phạm. – Ta có thể làm gì khác hơn là thăm dò tiềm thức khám phá những chuyện đã xảy ra trong giờ giấc khuya khoắt đầy nguy hiểm đó?

– Thôi đi… anh Halevy.

Vị lãnh sự chộp lấy trán, tựa hồ đỉnh đầu của ông sắp sửa nổ bung ra.

– Nào, nào, anh Brande, - Halevy bảo với một kiểu tàn bạo của người bề trên. – Bản thân chúng ta không ai còn là trẻ con nữa.

– Đúng thế, - Brande vừa nói vừa cúi mặt xuống.

Tuy nhiên… anh thừa hiểu tình trạng sức khỏe của chính tôi… tôi đã đau khổ với cuộc hôn nhân bất hạnh của mình… những căng thẳng và cố gắng cực độ thuộc phạm vi công vụ… nỗ lực sáng tạo kéo dài cho tác phẩm văn học của tôi… và hơn hết thảy, lòng thương yêu không sao cưỡng lại đối với con tôi…

– Tôi xin cam đoan với anh tôi sẽ hết sức nhẹ nhàng – Halevy từ tốn ngắt lời. – Tôi không phải là người thiếu kinh nghiệm.

– Tôi hoàn toàn tin tưởng anh, Halevy, - Brande ấp úng bị lôi cuốn bởi nỗi thống khổ đến mức độ gần điên lên. – Chính sự táo bạo vô liêm sỉ của gã đó đang làm tôi phát khùng.

– Anh chưa sa thải anh ta chứ? – Halevy hỏi nhanh.

Vị lãnh sự lắc đầu ngơ ngác.

– Tốt, - vị giáo sự vừa ý mím môi bảo. – Nhất định chúng ta sẽ đưa anh ta ra chất vấn cẩn thận. Rất có thể tôi cũng sẽ tra hỏi đám gia nhân trong nhà anh. Anh không phản đối chứ?

– Không đâu. Họ là một đôi vợ chồng rất tốt. Chính gã kia… gã José…

Vừa nhắc đến cái tên đó, nỗi tức giận và lòng căm thù trong đầu óc ông lại khiến ông mất tự chủ. Nghiêng mình về phía trước, với đôi con ngươi chực nổ tung ra, ông dập mạnh nắm tay lên ghế mỏng mảnh với cơn điên tiết cùng cực và hét lớn:

– Gã phải bị trừng phạt.

Vị giáo sư cúi đầu, lại đưa mắt liếc trộm thăm dò như một con vật phóng vòi ra rồi rút lại. Ông ngừng một lát, chụm các đầu ngón tay vào nhau, rồi một nụ cười kỳ lạ bắt đầu xuất hiện trong các nếp nhăn của đôi má vàng vọt – nụ cười mệt mỏi của một người biết rõ các điều bí ẩn đê tiện của nhân loại, chứng nhận có đặc quyền đối với những sự che dấu của họ, người quản lý linh hồn của họ.

– Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Brande… anh nhắn tôi đến là rất đúng.

❀ ❀ ❀

[1] Jean-Martin Charcot (1825 – 1893): bác sĩ người Pháp lừng danh với các công trình về những chứng bệnh thần kinh.

[2] Salpétriere: dưỡng lão viện dành riêng cho phụ nữ ở Paris tại đây người ta cũng chăm sóc những người mắc bệnh thần kinh.

[3] Carl Gusiav Jung (1987 – 1961) nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần người Thụy Sĩ.

[4] Các thành phố của nước Đức.

[5] Người mắc bệnh tưởng (tiếng Pháp).

Dịch giả: Nguyễn Nhật Tâm - Nguyên tác: The Spanish Gardener
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.