Sáng hôm sau, vị lãnh sự thức dậy sớm và rời khỏi nhà đúng giờ để đến sở. Nicholas, rủi thay, đã trải qua một đêm không yên tĩnh. Suốt đêm một trạng thái mê mệt cứ bao trùm lấy cậu, với nhưng sự kiện của cuộc hành trình, tiếng nghiến ken két của bánh xe ở đầu máy tàu hỏa, tiếng sóng vỗ vào bờ và, vì một lý do vô lý nào đó, bộ mặt ngăm ngăm đen không cảm giác của viên quản gia, cùng lẫn lộn vào nhau không thể gỡ ra được. Nhiệt độ của cậu tỏ ra bình thường, nhưng cha cậu dường như phát hiện một cơn sốt còn sót lại trên má do tình trạng bị kích động, và cứ nhất định cậu bé phải nằm trên giường. Tuy nhiên, ông hứa trở về lúc mười hai giờ trưa để xem thử cậu có thể dậy ăn trưa hay không.
Đó là một điều làm cho Nicholas chán ngán, vì cậu chỉ mong tối thiểu có thể nằm nghỉ ở ngoài trong khu vườn thú vị kia. Nhưng cậu là một đứa bé ngoan ngoãn, vào lúc này đã quá thành thạo với cơ thể yếu ớt của mình, với thủ tục thường lệ về việc đọc nhiệt kế và kiểm tra mạch do giáo sư Halevy quy định và theo một cách nghiêm ngặt kỳ lạ, mong đợi với lòng biết ơn sự lo lắng mà cha cậu thường xuyên dành cho cậu.
Magdalena mang bữa điểm tâm lên, hơi hổn hển vỉ phải đi lên cầu thang, nhưng hết sức thân thiết đôi mắt đen của bà gần như bị che khuất bởi những nếp nhăn của cặp má phúng phính màu nâu. Một chiếc khăn quàng trắng trùm lên đầu bà và hai vòng kim loại lủng lẳng ở đôi tai bà ta tạo cho bà một vẻ Ấn Độ lý thú. Nhờ sự kèm cặp của cha cậu, Nicholas nói tiếng Tây Ban Nha rất khá – ngoài ra, cậu còn biết cả tiếng Pháp và tiếng Ý mặc dầu hãy còn nhỏ - nhưng giọng nói líu lo của Magdalena là một thứ tiếng địa phương nào đó, cậu đoán là vùng Catalan, và họ không hiểu nhau được bao nhiêu. Trong lúc bà ta đứng đó hai tay chống lên hông, cậu nhận thấy một sự hiếu kỳ bộc trực của người nông thôn trong cái nhìn chằm chằm của bà và đáp lại, cậu hơi mất tự nhiên như đang đóng kịch, nháy hai hàng mi dài và nuốt hơi thở để có thể đập vỡ nó ra trong dạ dày thành một tiếng sôi bụng đáng sợ. Đến đây và chợt bật cười một tiếng ngắn, lắc đầu và bỏ đi.
Bữa điểm tâm của cậu vẫn như thường lệ, và rất ngon: một quả trứng luộc hồng đào, bánh bích qui với mật ong, một ly sữa dê đun sôi, rõ ràng cha cậu căn dặn kỹ cho nhà bếp: Nicholas ăn một cách chầm chậm, sử dụng kinh nghiệm của mình để tránh để lại các mảnh vụn trên ra trải giường rồi cậu nhảy lò cò đi lấy con chó bằng lon với bốn chân ngắn đứng trên bàn trang điểm đang im lặng và trung thành chờ đợi sự chăm sóc của cậu. Tất nhiên, Nicholas biết rằng cậu không thể có một con chó thực. Vị lãnh sự bản thân là một người thương yêu chó, đã giải thích một cách hợp lý đành phải loại trừ khả năng này vì những khó khăn và bất định trong cuộc sống quá di động của họ, do đó cậu bé đã tận dụng vật thay thế nhỏ bé bằng vải len này. Tuy nhiên, buổi sáng hôm nay, cậu chắc là không ở trong cái tâm trạng thích trò chuyện dài dòng với con chó như những lần trước, công việc vẫn thường làm cho khuây khỏa cho cả hai trong những giờ chán ngắt. Cậu cũng không thể tự bắt mình, dủ chỉ chiếu lệ, liếc qua các cuốn sách học mà cha cậu đã đặt vừa tầm tay trên chiếc bàn ở cạnh giường. Không, cậu đang quá căng thẳng tinh thần vì những sự việc còn mới lạ chưa tìm được khắp chung quanh và trong lúc ánh nắng rọi vào một khoảng vuông sáng ngời trên mặt tường cán giấy sọc màu nâu sẫm theo những kiểu trang trí lượn sóng kỳ lạ hơn, cậu nằm ngửa như có thể lắng nghe được nhịp tim trầm lắng của ngôi nhà.
Tuy nhiên tiếng đập không phải hoàn toàn yên lặng. Nhiều âm thanh vang lên từ dưới lầu, những âm thanh nhiễu loạn, như của một cuộc tranh cãi – những lời nói giận dữ, theo sau đó là một tiếng sập mạnh mà Nicholas đoán là của cánh cửa bếp. Rồi lại vang lên giọng nói thì thầm nho nhỏ, tiếng bước chân trong phòng ăn phía dưới, những động tác dọn dẹp thong thả một luồng khói thuốc lá bốc lên. Đang phân tích tất cả những thứ này một cách hơi khe khắt Nicholas đã giật nảy mình sững sờ vì cửa phòng cậu bỗng yên lặng mở. Cậu quay người và trông thấy Garcia đang nhìn cậu chăm chăm với một vẻ bí mật.
Không thể giải thích vì sao, máu chợt dồn lên hai má cậu bé. Mối ngờ vực kỳ quặc đối với viên quản gia mà cậu đã cảm thấy trong buổi tối hôm trước, tựa hồ ngay từ lúc đầu cậu đã nhận ra ông ta là một kẻ thù, bỗng trở lại với ấn tượng sâu sắc gấp bội trước sự xuất hiện bất thần này.
– Tôi lấy cái khay của cậu đi được chứ? Garcia nói với vẻ tôn trọng quá đáng, theo một cách bóng gió, nhưng như để cho có vẻ dối trá, ông ta vẫn giữ điếu thuốc lá đang cháy giữa các ngón tay bị nhiễm chất nicotine.
– Chú cứ lấy đi, cám ơn chú … - Nicholas trả lời bằng một giọng nhỏ, lưỡng lự.
Người đàn ông không nhúc nhích mà chỉ nhe răng trên bộ mặt hoàn toàn bất động như đang mỉm cười.
– Cậu đừng bận tâm đến tôi, ông ta ôn tồn nói. Tôi đã quá quen với các trẻ con chỉ ở một nơi mà có tới bảy em. Cô bé gái vẫn thường ngồi trên đầu gối tôi, trước khi cô bé chết.
Nicholas thở một hơi nhanh. Viên quản gia lơ đãng hút thuốc thật sâu nhưng đôi mắt ông ta không hề rời khỏi mặt cậu bé.
– Một ngày kia tôi sẽ kể cho cậu nghe về cô bé ấy. Câu chuyện đó chắc sẽ làm cho chúng ta thích thú. Tôi đã trông thấy nhiều điều. Những điều đáng buồn và khủng khiếp. Những điều khó tin nổi. Thế giới đầy rẫy những người ngu xuẩn. Đới với tôi không có gì quan trọng cả, hoàn toàn không có gì.
– Chú muốn nói gì thế? Nicholas há hốc miệng hỏi.
Garcia nhún vai một cách dửng dưng.
– Cậu sẽ hiểu rõ. Tôi đã từng là một quân nhân. Một sĩ quan. Tôi đã từ trông thấy nhiều người bị đánh tơi bời, bị tra tấn và bị bắn chết. Nhưng chúng ta sẽ nói tới chuyện đó vào một dịp khác. Cậu hãy kể với tôi đi. Mẹ cậu đang ở đâu?
Nicholas tái mét mặt. Cậu hỏi thốt ra một cách bất chợt nhưng với một sự láo xược che đậy, một lần nữa đâm vào nỗi đau khổ sâu sắc nhất, kín đáo nhất trong tâm hồn đang co rút của cậu. Trong một lúc hoang mang cậu đã định trả lời: “Mẹ cháu đã chết”. Không cha cậu vẫn thường nhắc đi nhắc lại với một vẻ nghiêm trang đầy u buồn, rằng quả thật lúc này bà phải được xem như đã chết đối với họ sao? Và chỉ có lời cầu chúa tha thứ cho việc đêm hôm qua đã cứu vớt bà ra khỏi nấm mồ của sự lãng quên. Tuy nhiên một bản năng bên trong người cậu không bằng lòng cho cậu dối trá, không phải vì lòng trong trắng tự nhiên mà vì biết trước rằng nếu cậu nói dối với người đàn ông này thì những thứ để bảo vệ cho cậu sẽ mãi mãi tiêu tan. Cậu sẽ thất bại.
– Mẹ cháu ở bên Mỹ.
– Thế à! Garcia kêu lên. Một xứ sở kì diệu. Nhưng tại sao không sang đây?
Với một cơn run của chiếc cằm làm cho đôi môi và hai lỗ mũi thanh tú run theo và da trán thun lại, Nicholas thốt ra thành lời:
– Mẹ không còn sống với ba cháu nữa.
Garcia hé đôi môi mỏng và rộng ra, cười lặng lẽ.
– Thế thì bà ấy không liên quan gì đến chúng tôi. Bà ấy sống riêng biệt. Nhưng dù vậy chúng ta vẫn không thể thoát khỏi nhưng người như thế đâu.
Ông ta đột ngột ngừng lại, lắng tai nghe, trong lúc nhiều tiếng bước chân đều đặn vang lên trên các bậc tam cấp ngoài cổng. Rồi vẫn không thay đổi và như có vẻ hơi thận trọng, ông ta gật gù tiếp:
– Ba cậu đã về. Cậu không nên kể với ông ấy câu chuyện lý thú của chúng ta. Bây giờ thì cậu và tôi cùng có một điều bí mật. Cậu chớ quên đấy.
Ông ta tới gần giường và chỉ sử dụng một bàn tay nhấc bổng cái khay lên một cách điêu luyện rồi với một động tác khẽ cúi đầu, trong đó thoáng một vẻ nhạo báng, đê tiện như ban nãy, ông ta xoay người và đi ra khỏi phòng.
Nicholas nằm yên, lông mày vẫn còn nhíu lại, đầu óc tràn đầy bối rối và ngượng ngùng. Cậu cảm thấy có sự hiện diện tức thời của cha cậu mới ngăn cản được nổi nước mắt đang chực trào ra.
Vị lãnh sự đang vui vẻ, hiển nhiên không đến nỗi bất mãn với công việc buổi sáng, và sau khi kiểm tra vắn tắt, ông bảo Nicholas xuống giường. Ngồi trên đầu giường trong lúc cậu bé đang mặc áo quần, ông tỏ ra lơ đãng hơn hơn thường lệ. Nơi làm việc khác hơn ông tưởng, nhỏ nhưng vô cùng hiện đại, ở bên bờ biển, về mùa hạ gió từ ngoài khơi thổi vào sẽ hết sức dễ chịu. Ngoài Alvin Decker ra, còn có hai nhân viên người Tây Ban Nha trong văn phòng. Ông đã nhận thấy đồ dùng cần thiết đều ở trong tình trạng tốt, ngoại trừ một máy đánh chữ không tốt còn có thể sửa chửa và một máy in rônéo đã hỏng mà ông đã ra lệnh thay thế ngay.
– Và bây giờ, vị lãnh sự bảo bằng một giọng hăng hái, có lẽ con rất thích thú vì ba đã tìm được một người làm vườn. Anh ấy hiện ở ngoài kia, trong sân. Con hãy ra ngoài đó xem thử anh ấy đi.
Họ đi xuống cầu thang, Nicholas khoan thai bước bên cạnh cha cậu.
Bên ngoài một thanh niên cao lớn, cân đối mười chín tuổi với nét mặt cởi mở và con mắt đen láy hiền hậu đang đứng chờ ở cổng sau, trong một tư thế nghiêm túc kính cẩn. Cặp long mày của anh ta thật đậm nét, mái tóc đen rậm mọc chĩa lên, và phía trên đã có một hang râu lún phún. Đó là một khuôn mặt mộc mạc và có thể đã đẹp trai, mặc dầu nước da có màu vàng nghệ, nếu cái miệng không quá đầy đặn và hơi trễ ra. Người thanh niên mặc bộ com lê đẹp nhất của mình, may bằng vải xéo thứ phẩm nhưng chải chuốt gọn gàng, chiếc áo vét rất ngắn, theo mốt của vùng Catslonia, và quần hơi phồng lên ở hai lai che khuất đôi giày đã bị toác ra. Anh ta cầm một cái mũ tròn xẹp lép trong hai bàn tay lớn màu nâu.
– Tốt, anh đã đến đây à, - vị lãnh sự nói với vẻ nhanh nhảu dễ chịu- Anh tên gì nhỉ?
– José, thưa senor… José Santero.
– Và anh là một người làm vườn thành thạo?
José mỉm cười tỏ ý không tán thành, để lộ hàm răng trắng đẹp. Đó là một nụ cười đầm ấm hồn nhiên và dễ lây lan đến nỗi Nicholas muốn mỉm cười theo.
– Cháu biết đào xới, và chăm sóc đất đai, thưa senor. Cháu có thể tỉa xén và trồng cây. Cháu rất có thiện chí. Nhưng cháu chưa được thành thạo lắm.
– Tôi hiểu anh đã có kinh nghiệm –Brande nhận xét một cách hơi sốt ruột.
– Ồ, vâng thưa sénor – José nhanh nhẹn trả lời - Trong ba năm cháu đã làm việc trong nhiều vườn nho ở Montara. Nhưng lúc này đang có nạn thất nghiệp rất nghiêm trọng trên các vùng đồi.
– Cậu có giấy chứng nhận chứ?
Với một vẻ hơi luống cuống, tươi cười nhưng đáng nghi, ánh mắt của José đi từ vị lãnh sự qua cậu bé và dừng lại ở đây.
– Bọn cháu thường không bận tâm đến những chuyện như thế, thưa senor. Nếu ngài hỏi Diego Borgano, ở Montara, cháu nghĩ ông ấy sẽ bảo là cháu làm việc tốt.
Mọi người cùng im lặng một lúc. Nicholas lo lắng ngước nhìn cha cậu lúc đó đang cắn môi, rõ rang đang cân nhắc khía cạnh này của vấn đề, và cậu đã cố hết sức để kềm hãm một sự thôi thúc, mà cậu biết chỉ sẽ làm thiệt hại cho trường hợp của José, tìm cách van nài cha cậu mướn người làm vườn quá trẻ trung, quá thân thiện và quá tử tế này.
Tiếng cồng báo hiệu giờ ăn trưa khiến vị lãnh sự phải trả lời ngay. Ông đột ngột bảo:
– Tôi sẽ yêu cầu anh làm việc nhiều lắm đấy, chắc là anh đã biết. Tiền lương là ba chục peseta mỗi tuần. Anh có bằng lòng không?
– Cháu sẽ không bao giờ phàn nàn các mệnh lệnh của senor, José điềm đạm trả lời.
– Tốt lắm, Harrington Brande nói – Anh hãy có mặt tại đây lúc tám giờ sáng ngày mai và tôi sẽ cho anh biết tôi cần anh làm những gì. Thôi đi, con.
Ông nắm lấy cánh tay của cậu con trai và bỏ đi. Trong lúc Nicholas trở vào nhà cậu vẫn mang theo trong lòng hình ảnh nồng hậu của người thanh niên Tây Ban Nha còn đứng ngoài kia, hiền lành và khiêm tốn, nhưng kiêu hãnh một cách kì lạ trong bộ áo quần chủ nhật nghèo nàn, cầm cái mũ cứng rắn tức cười trong đôi bàn tay nhỏ màu nâu. Không thể cưỡng lại, trong lúc cậu đi theo cha bước lên các bậc tam cấp ngoài hiên, cậu ngoảnh lại nhìn qua phía trên vai và mỉm cười. Hàm răng trắng của José lóe sáng trong một nụ cười đáp lại, và anh ta vẫy tay chào lại cậu bé tỏ lòng biết ơn một cách vui vẻ. Cử chỉ đó như có một cái gì đi thẳng vào trái tim cậu bé… cậu cứ suy nghĩ về điều đó trong suốt bữa ăn trưa, và sau đó cũng vậy, với những tiếng cười thầm vui sướng trong lòng.