Cuộc hành trình qua đêm từ Paris đã chán ngắt một cách không bình thường. Một sự chậm trễ bực tức ở ga đầu mối Port Bou trên biên giới Tây Ban Nha đã làm cho họ trễ mất bốn mươi phút và do một công nhân khuân vác chậm chạp, họ đã lỡ chuyến tàu tiếp vận buổi sáng ở Barcelona. Giờ đây, vào khoảng năm giờ chiều, lúc sắp tới nơi trên đoàn toa tàu lắc lư rầm rộ của Costa Brava, họ đã mệt nhoài và lem luốc bụi đường. Những khuyết điểm của con người cũng như của máy móc luôn luôn khiến vị lãnh sự khó chịu mà tâm trạng ông không được thoải mái. Ngồi thẳng người trong một góc, ông lo lắng cau mày với cậu con trai của ông lúc đó đang thu mình trên chiếc ghế đối diện bằng gỗ trong toa tàu dài bừa bãi sặc những mùi rác rưởi và tỏi thối của nông thôn đang liếc trộm ông với vẻ rụt rè triều mến. Lần thứ ba trong giờ vừa qua, ông hỏi:
– Con khỏe chứ, Nicholas?
– Rất khỏe, thưa ba.
Cuối cùng chiếc đầu máy thổ tả lồng lên ném họ quanh đoạn đường cong muốn chóng cả mặt và với một tiếng còi lanh lảnh chạy hùng hục vào nhà ga San Jorge vắng tanh. Bỏ lại tấm chăn và hai chiếc vali, vị lãnh sự nắm lấy bàn tay của Nicholas, bước xuống sân ga, một con đường vắng vẻ ngập sâu tới ba phân trong bụi đất đỏ và dọc theo đó là một hàng cây cọ lùn đã bị gió tàn phá đến mức rũ xuống như những con ngựa bị bệnh đau khớp. Thoạt tiên, ông cau mày chán nản tưởng rằng sẽ không gặp, rồi mắt ông sáng lên. Một thanh niên mặc bộ com lê bằng vải lanh trang nhã hơi co lại vì giặt, thắt một chiếc nơ con bướm và đội một cái mũ rơm màu vàng, đứng ở cổng bên cạnh một chiếc xe hơi xám với một lá cờ Mỹ nhỏ trên nắp mui, khi trông thấy hai người hành khách, liền hối hả bước tới, theo sau là viên tài xế.
– Ngài Harrington Brande? Rất vui mừng được gặp ngài. Chúng tôi đã không đón được ngài vào chuyến tàu sáng. Tôi là Alvin Decker, nhân viên của tòa lãnh sự.
Anh ta quay sang viên tài xế, một người Tây Ban Nha, ngăm ngăm đen, tầm vóc to mập mặc một chiếc áo vét Alcapa màu đen, một cái quần denim và mang một đôi giày mũi nhọn.
– Garcia, nhờ anh lấy hộ hành lý?
Chiếc xe mui trần, Brande nhận thấy, nỗi tức giận đã vơi bớt phần nào, là một chiếc Piecre Arrow chỉnh tề, với các bộ phần bằng đồng đánh bóng sáng loáng, các bánh xe lau chùi sạch sẽ và vải bọc nệm ghế mới giặt ủi. Trong lúc hành lý được mang lên xe, ông đứng sang một bên, với một dáng người cao lớn, hơi gù, bộ mặt dài tái xám có nhiều nếp nhăn sâu ở mũi, khoác một vẻ trang nghiêm vô thưởng vô phạt mà ông thường dành riêng cho những người cấp dưới.
– Tôi hy vọng, ngài sẽ bằng lòng với nơi ngài sắp đến ở, Alvin nói tiếp. Ông Tenney đã đem theo một người giúp việc. Nhưng tôi đã cố hết sức tuyển dụng một cặp vợ chồng rất giỏi. Garcia, anh tài xế(anh ta hạ thấp giọng) có nhiều giấy chứng nhận đặc biệt… và Magdalena, vợ anh ta, là một đầu bếp xuất sắc.
Harrington Brande cúi đầu.
– Chúng ta sẵn sàng rồi chứ?
– Vâng, sẵn sàng hết rồi, thưa ngài – Alvin đáp lớn gần như không kịp thở.
Họ lên xe hơi,trong lúc xe chạy, vị lãnh sự mới dạo mắt qua thành phố, vẫn còn nắm chặt mấy ngón tay nhỏ bé ẩm ướt của cậu con trai, với tầm chăn phủ lên trên, tỏ vẻ che chở.
Ông ngẫm nghĩ, với một tia hy vọng, có lẽ nơi đây không đến nỗi đáng ghét như ông đã lo ngại. Không khí trong lành, khu bến tàu hình vòng cung, dọc theo đó họ đang lướt qua trong ánh nắng tháng hai mờ nhạt, có một dải cát sạch, và khoảng giữa các cột đèn điện, nơi dạo chơi được trồng nhiều cây treo dù hơi tả tơi nhưng đang nở hoa. Trong quãng trường, một vòi nước đang phun giữa những bụi hoa Poinciana[1] màu đỏ thắm, lớp sơn mạ vàng của một cái bục đã bắt đầu tróc ra. Giàn nho lấp lánh phía bên kia một chiếc xe bus theo kiểu cổ nhả hành khách ra, một cảm giác thú vị của cuộc sống lan rộng khắp nơi. Phía bên kia là nhà thờ màu hồng quen thuộc, với cặp vòm như một bộ ngực phụ nữ nằm ngửa và tháp chuông ở chính giữa với mái ngói đã ngả màu mang một cây thập tự mờ xỉn, có một vài cửa hàng vừa phải, một tiệm rượu, El Chancaco với một mái hiên sọc xanh trông tàm tạm, và xa hơn ở dưới phố, bên cạnh bến tàu, là một tòa nhà thương mại kiên cố trong đó, theo lời Decker khẽ bảo, có trụ sở của tòa lãnh sự.
Nhưng không… ngay trước mắt, ông không thể quan sát được gì khác hơn những khu vực của bến tàu, nơi công việc của ông sẽ phải tập trung nhiều vào, khoác một vẻ buồn nản vô tình – nói tóm lại tất cả như đã chết một nửa; ông không phỏng đoán không gì có thể khuấy động nơi đây, ngoại trừ những vụ mua bán lén lút phân bón, vỏ bần, dầu oliu, giấm Tarragona. Chỉ có hai chiếc sà lan đánh cá đang đậu ở cầu tàu, và một chiếc tàu cận duyên chạy bằng hơi nước đã hoen rỉ từ đó, được sự giúp sức bởi ba con lừa và một ròng rọc loại thô sơ, một vài thủy thủ đang uể oải dỡ những thùng tròn. Và làn sóng tư tưởng cay đắng xưa cũ lại lướt qua tâm trí ông khiến cho sắc mặt ông biến thành trầm tư một cách chán nản. tại sao, ôi tại sao, ở vào tuổi bốn mươi lăm sau mười lăm năm tận tụy kiên trì với nhiệm vụ ở Châu Âu, ông lại bị đẩy tới một bước đường cũng như thế này – một người có tài năng và nhân cách như ông chỉ cần căn cứ vào thâm niên, ông cũng đủ được quyền giữ một trong những địa vị cao trong ngành ở Paris, Rome hoặc London từ lâu? Mười tám tháng vừa qua, bị sa vào giữa vùng đầm lầy Normandy ở Arville, ông đã hy vọng rằng sự thuyên chuyển sắp tới của mình sẽ mang lại cho ông một phần thưởng xứng đáng. Thế rồi… San Jorge, còn tệ hại hơn nữa ông được biết rằng Tenney, người tiền nhiệm của ông ở đây, và là cấp dưới của ông cách đây ba năm, đã được đề bạt lãnh sự thứ nhất dưới quyền Leighton Bailey ở Madrid.
– Ba xem kìa, đẹp quá phải không?
Họ đã rời thành phố, đã leo lên một đoạn đường cát dốc quanh co giữa hai hàng cây bạch đàn óng ánh như bạc, Nicholas lúc này đã tỉnh hẳn và thích thú đang nhút nhát chỉ tay về phía quang cảnh có thể trông thấy. Một dải lớn của Địa Trung Hải trải ra phía dưới, với một ngọn hải đăng thon cao nổi váng bọt trắng trên mũi đất đầy đá của vịnh. Xa hơn nữa về phía Bắc, nhiều ngọn núi hùng vĩ với những đường nét lờ mờ hiện ra trong màn sương màu xanh. Không khí phảng phất một hương vị tươi mát của muối biển và các loại cỏ thơm. Và ngay phía trước, trên bờ một vách đá bị phủ lấn trong những cánh hoa cistus[2] long lanh như ngọc trai. Gần như bị che khuất khỏi con đường bởi một dãy hàng rào mimosa cao, là một biệt thự lợp ngói đỏ với cái tên CASA[3] BREZA có nét chữ đã phai mờ trên cổng được chống đỡ bằng hai cột trụ.
– Cậu có thích ngôi nhà đó không?
Alvin Decker vừa hỏi vừa quay về phía cậu bé và căn cứ vào giọng nói có vẻ mong chờ và hơi lo lắng của ông ta, Nicholas biết rằng đây chính là ngôi nhà mới của cậu. cậu đã trải qua nhiều cuộc đời thay trong chín năm ngắn ngủi của mình nên đã gần như một khả năng kinh ngạc. Tuy nhiên ngôi nhà cổ kỳ lạ này với khí sắc hiu quạnh và vị hẻo lánh một cách tuyệt diệc, hứa hẹn nhiều hấp dẫn khác thường. Vị lãnh sự dường như cũng có cùng ý kiến đó, vì trong lúc họ chạy xe với tiếng bánh lạo xạo trên đoạn đường rải sỏi và bước ra khỏi xe tia mắt sắc sảo đang đánh giá của ông dần dần trở nên vui vẻ.
Tòa biệt thự kiểu Ma-rốc được xây cất bằng loại sa thạch vàng thuộc địa phương này, giờ đây đã phai nhạt thành màu hổ phách, với một cổng xây uốn cong rộng lớn và một mái bằng nhô ra có màu đỏ tươi nhưng đã biến đổi vì mưa gió. Các khung cửa sổ ở trên lầu mở ra một bao lơn rộng mọc tràn đầy nhiều loại cây như dàn tía, dây leo, tử đinh hương và các chồi Biscutilla rực rỡ. Bên trái, một cái sân rải sỏi phủ rêu xanh dẫn tới chuồng ngựa, và nhiều nhà phụ khác. Vườn cây ở phía bên kia.
– Tất nhiên là quá cũ, Alvin vừa nhận xét như để bào chữa vừa chăm chú nhìn mặt cấp trên. Và một vài chỗ không sửa được nữa. Cũng không có điện, mà chỉ có khí đốt. Nhưng ông Tenny vẫn luôn luôn cảm thấy may mắn lắm mới có được nó. Quả thực không có một khi nhà nào gần cơ quan. Chúng ta đã ký hợp đồng thuê dài hạn nơi đây… Với đầy đủ đồ đạc.
– Được, vị lãnh sự vắn tắt bảo.
Ông vươn vai sải bước lên mấy bậc tam cấp thấp lè tè của cái cổng xây về phía khung cửa mở sẵn nơi đó một người đàn bà trung niên mập mạp mặc chiếc áo dài nghiêm chỉnh màu đen, mà Decker giới thiệu là Magdelena, đang đứng chờ họ với một nụ cười.
Gian đại sảnh lát đá hoa nhiều màu ở phía trong mát mẻ và cao ngất, một bên là phòng ăn, bên kia là phòng khách với hai cửa, cả hai phòng đều được trang bị đồ đạc theo kiểu cách lỗi thời. Một cầu thang rộng bằng gỗ hồ đào đậm màu theo đường xoắn ốc từ phía sau đi lên và, mặc dầu đang mệt mỏi, vị lãnh sự, vốn là một người hiểu biết bổn phận và quyền lợi, nặng nhọc bước lên xem xét kỹ các phòng trên lầu. Có thừa đủ phòng cho ông với cậu con trai và một vài người khách nữa, và như thế này chắc là không đến nỗi làm phật lòng một người chỉ quen với cảnh rộng lớn và cao cấp ấy. Ông thích cái cảm giác khoáng đạt, loại trừ com mốt và búp phê có chạm trổ, những chiếc ghế mạ vàng đặt trên thảm, các dây chuông có núm tua và màn nhung bạc màu, thậm chí mùi mốc thoang thoảng trong các dãy hành lang dài cũng tạo ra một cảm giác dễ chịu trong mũi ông. Khi số hành lý nặng nề của ông tới đây sẽ có chỗ dư đặt cho những cuốn sách và đồ gốm của ông bộ sưu tập xuất sắc gồm các loại vũ khí cổ mà ông đã thu thập được nhiều nơi qua nhiều năm.
Khi ông quay trở lại phòng ngoài, rõ ràng là ông đã hài lòng và đôi mắt màu nâu của Alvin lấp lánh với vẻ an tâm.
– Tôi hy vọng mọi thứ đều ngăn nắp, thưa ngài. Ông Tenny vừa mới dọn đi cách đây không lâu lắm. Tôi đã phải dốc hết sức.
– Tất nhiên, vị lãnh sự trả lời một cách ngọt ngào, nhưng với vẻ hết sức khó hiểu.
Ông biết tốt hơn nên bắt đầu chế độ làm việc của mình với lời tán tụng không phân biệt phải trái của viên phụ tá. Như thể không dễ gì làm sút kém kỷ luật nghiêm ngặt, hoặc làm tiêu tan nhanh chóng tính bình dân với cấp dưới. Vả lại, ông đã quyết định rằng người thanh niên còn non nớt, dễ bị kích thích mặc bộ com lê may khít khao này – quả thật đã bục ra một chỗ ở nách – là không thể kết thân được, tốt nhất là không nên gần gũi. Và trong lúc Alvin cứ xoay tròn chiếc mũ rơm trong hai bàn tay, tựa hồ hy vọng được yêu cầu ở lại một lát, có lẽ được uống rượu Sherry, thì Brande lại lịch sự, nhưng cương quyết, đưa anh ta ra cửa.
– Tôi sẽ gặp anh ngày mai ở văn phòng, Decker.
– Vâng , thưa ngài.
– Anh luôn luôn có mặt ở đó chín giờ đúng chứ?
– Vâng, tất nhiên.
Hơi đỏ mặt, Alvin chuẩn bị ra về nhưng ra tới tam cấp trước nhà anh ta do dự và, với một bộ dạng khiến Nicholas chăm chú nhìn cha cậu một cách cầu khẩn, anh ta nói rằng:
– Thưa ngài, vợ chồng chúng tôi xin hân hạnh mời ngài đến viếng, nhà chúng tôi ở Calle Estrada. Đó là một nơi nhỏ, nhưng chúng tôi đã cố tạo ra một chút phong thái tốt đẹp của nước Mỹ thân yêu.
Vị lãnh sự đáp lại một cách vô cùng lịch thiệp, nhưng khi Alvin đã đi ông bĩu môi. Không một ai có thể nghi ngờ lòng trung thành của ông đối với đất nước, tuy nhiên giờ đây ông hoàn toàn là một con người theo chủ nghĩa thế giới, đã được tinh luyện và làm cho thanh nhã bởi nền văn hóa của Châu Âu – Phải chăng đúng là một công dân của thế giới? Thật không đáng ngạc nhiên chút nào khi câu nói khờ khạo của Alvin làm cho ông mỉm cười.
Lúc này là bảy giờ, và sớm hơn rất nhiều so với lệnh của ông chủ, Garcia thong báo rằng bữa ăn tối đã được dọn lên bàn. Trong phòng ăn rộng lớn, hai chiếc ghế được đặt ở hai đầu của một cái bàn ăn dài chạm trổ với một chân đèn có nhiều ngọn nến thắp sáng giữa, hai cha con bắt đầu bữa ăn đầu tiên trong ngôi nhà mới của họ.
Phần lớn thời gian, do bận rộn với những ý nghĩ riêng của mình và lo lắng sâu sắc cho sự mệt nhọc của Nicholas, nên vị lãnh sự giữ im lặng. Nhưng tài nấu nướng và phục vụ tuyệt hảo, bầu không khí thú vị của căn phòng lờ mờ sáng, mát mẻ và cao ngất, dần dần xoa dịu tinh thần ông, và xóa tan nhiều nỗi bực tức đã dằn vặt ông một cách ác liệt suốt ngày. Với đôi mắt khắc khổ, trầm tư ông theo dõi các cử động của viên quản gia, và cuối cùng dở rào chắn lãnh đạm lên.
– Theo tôi biết tên anh có phải là Garcia?
– Vâng, Senor[4].
– Từ trước đến nay anh vẫn ở San Jorge?
Garcia thẳng người lên nhưng bộ mặt trầm tĩnh của anh ta vẫn không hề biến đổi. Ánh sáng lung linh của mấy ngọn đèn cầy phải chiếm một lúc trong đôi mắt không biểu lộ một chút tình cảm gì của anh ta.
–Không, thưa ngài. Tôi đã từng ở trong các thành phố rộng lớn hơn nhiều. Và luôn luôn với những người tốt nhất. Chỗ làm trước đây của tôi là ở nhà gia đình De Aosta ở Madrid.
– Anh muốn nói tới Marquesa[5] de Aosta?
– Một chi của dòng họ đó, Senor?
Harrington Brande gật đầu công nhận sự việc. Lẽ ra ông là người đầu tiên phật ý vì bị liệt vào hạng người xuất thân từ thành phố nghèo khổ. Tuy nhiên ông có ý thức rõ ràng về đẳng cấp xã hội và ông không khó chịu khi con người ít nói, đang phục vụ ông được một gia đình quý tộc tiền sử.
– Nhờ anh nói lại với chị bếp tôi muốn gặp chị ấy sáng mai. Con trai tôi không được khỏe và cần phải có một chế độ ăn uống đặc biệt.
Khi người đàn ông cúi chào và lặng lẽ bỏ đi ông nhận xét với Nicholas một cách mãn nguyện:
– Chú ấy có vẻ là một con người xuất sắc.
Từ “xuất sắc” mà ông thường áp dụng của một con ngựa, một người giúp việc hoặc cho ông bạn thân giáo sư Halevy ở Paris là từ ngữ tỏ ý tán thành ông thích dùng hơn hết. Tuy vậy ít nhất là một lần Nicholas không thể chia xẻ những cảm nghĩ của cha cậu. Quả thực việc quản gia, ngay từ lúc liếc trộm ông ta lần đầu, đã gây ra trong đầu óc cậu một cảm giác khó chịu một cách kì lạ mà cậu không thể nào giải thích rõ.
Sau khi vị lãnh sự uống cà phê xong ông nhìn một cách đầy ý nghĩa vào chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng của ông. Tuy nhiên Nicholas vốn bị những cảnh tượng mới lạ kích thích như một chất men, cứ nài xin hết sức tha thiết rằng cha cậu hãy cùng đi dạo một vòng trong vườn trước khi lên lầu, và ông đã nuông chiều chấp thuận.
Ở ngoài trời, với một chiếc áo choàng khoác kín đôi vai gầy để bảo vệ cậu khỏi mọi nguy cơ bị cảm lạnh, cậu bé hít từng hơi thở thật sâu với thứ không khí êm dịu đậm đà dường như đang lướt tới từ một nơi vô tận khỏa lấp mọi ý thức về thời gian và không gian. Mặc dù tâm trí cậu vẫn còn ngân vang những xáo động của cuộc hành trình, cậu vẫn thấy sự yên tĩnh của buổi chiều hôm đang xuống bao trùm lên cậu và lên cả khu vườn. Nó rộng lớn hơn, ôi! Rộng lớn hơn nhiều, so với cậu suy tưởng và bao la một cách tuyệt vời. Một lối đi nhỏ dẫn trở xuống từ chiếc cổng cây xây ở dưới ba giàn dây leo hướng về phía dưới nhiều mảnh đất dài trồng hoa hồng, mỗi bên có một bờ cỏ rộng mọc bừa bãi với những cây anh thảo và hoa mẫu đơn trắng thật lớn. Về bên trái là một bụi sim và trúc đào, hồng và trắng, đã nở đầy thơm ngát. Về phía trái, khu vườn trông ra một cánh đồng, có lẽ đã từng là một bãi cỏ, với hai cây xinh đẹp, một cây Catalpe [6] có tàn lá rộng và một cây thánh liễu, rồi bên kia một bức tường phân ranh thấp và một túp lều đựng dụng cụ bằng gỗ là một bãi hoang lổm nhỏm những tảng đá màu trắng, những cây xương rồng đầy gai, và những chòm cây đỗ quyên màu đỏ tía. Ở đằng sau nhiều bụi nguyệt quế che khuất chuồng ngựa và khu nhà ở của những người giúp việc, trong lúc ở phía đất thấp xuống nhưng không đổ dốc, cho đến một khu rừng tuyết tùng còi cọc ngang mức của bờ biển.
Đứng bên cạnh cha cậu quan sát tất cả vẻ đẹp này, say sưa bởi các hương thơm của đất và sự lớn mạnh đang trồi lên, Nicholas bỗng nhiên ý thức rõ linh cảm, một niềm tin đang dâng trào, mà trước kia cậu chưa bao giờ trải qua trong bất cứ nơi ở nào của hai cha con, khiến cậu nghĩ rằng mình có thể - Rằng mình sẽ sống hạnh phúc tại đây. Từ phía dưới vọng lên tiếng rì rào vừa dữ dội vừa hiền hòa của những ngọn sóng đang vỗ vào bờ. Một cơn vui sướng chợt khiến cậu nhắm mắt để cho nước mắt trào ra. Cậu cảm thấy lồng ngực mình phồng lên với những hơi thở sâu, chậm vì niềm hy vọng đầy thích thú.
– Đẹp, thật phải không ba? Cậu thì thầm, để kéo dài phút giây này.
Không tự kiềm chế được, vị lãnh sự mỉm cười, nụ cười chỉ có Nicholas mới có thể gợi lên. Ông cũng không sao dửng dung trước sức quyến rũ của khu vườn và trong lúc nhìn những bụi trúc đào rối tung và hàng rào mimosa mà Tenny đã “không nghĩ đến nữa”. Ông suy nghĩ miên man lướt qua về một chính sách khai hoang trồng mới, xây dựng công viên và nghệ thuật sửa cây cảnh.
– Nó có thể đẹp đấy – ông gật gù tán thành - …Mình cần phải có một người làm vườn. Ngày mai ba sẽ xem xét chuyện này.
Trong lúc họ trở vào nhà ông âu yếm nhìn cậu con trai, lòng đầy hy vọng tự hỏi phải chăng khu vườn này, bầu không khí tinh khiết sinh động này, cuốn hút từ rặng núi Sierra và biển cả, có thể mang lại sức khỏe cho cậu bé.
Trên lầu một ông đã chọn cho Nicholas và bản thân ông hai phòng ngủ liền nhau ở mặt tiền thông thương bằng một khung cửa che màn, như vậy ông có thể sẵn sàng nếu cậu bé gọi ông giữa đêm khuya. Ông là một người tỉnh ngủ hết sức khổ sở vì bệnh mất ngủ. Tuy nhiên lòng thương yêu luôn luôn cảnh giác và che chở đã bắt buộc ông phải thường xuyên ở sát ngay bên cạnh trong những giờ đêm hôm vì những cơn ác mộng đau buồn vẫn thường làm cho Nicholas hồi hộp thao thức mãi, tim đập như điên cuồng, trán ướt đẫm mồ hôi lạnh vì khiếp đảm. Đây là một nét đặc biệt của chứng bệnh cậu bé mắc phải gây ra nỗi lo lắng nhiều nhất cho vị lãnh sự.
Trên lầu mấy chiếc vali đã được mở ra và chỉ trong chốc lát Nicholas đã cởi quần và tắm rửa, uống một ống thuốc bổ có chất sắt mà giáo sư Halevy đã kê đơn cho cậu, rồi đánh răng, sau đó mặc một chiếc áo ngủ, cậu quỳ gối bên cạnh cha để cầu nguyện. Mặc dầu thời gian dài lưu trú tại Châu Âu đã tạo cho ông cái tính ngụy biện, Harrington Brande vẫn là một người mộ đạo – ông nghiêm chỉnh nhìn nhận điều đó. Ông có thể mỉm cười chế nhạo các tổ tiên của New England [7] thế nhưng tinh thần thanh giáo của họ vẫn tồn tại vững chắc trong tâm hồn ông. Ông lắng nghe với đầu cúi xuống, bàn tay đặt lên vai cậu con trai yêu quý của ông, và tới cuối ông đặc biệt thỉnh cầu thêm rằng xin thượng đế che chở cho cả hai người và phù hộ cho cuộc sống hiện nay của họ đang bắt đầu ngôi nhà mới này. Đoạn ông ngừng lại một lát và bằng một giọng thấp cố làm cho nhỏ đi, với những lời dường như đã bị bóp méo từ trong đáy lòng, ông nói tiếp:
– Mình cầu xin chúa hãy rủ lòng thương đối với những kẻ tội lỗi, và con à, mình hãy đặc biệt cầu xin điều đó cho mẹ của con.
Một lát sau Nicholas đã nằm trên chiếc giường Cordova[8] đầu giường được bọc trong một lớp da màu vàng và được viền bằng các núm lớn bằng đồng. Tuy nhiên vị lãnh sự vẫn còn chần chừ bối rối liếc bộ mặt gầy yếu gần như khuất dưới tấm khăn trải giường thêu kim tuyến lớn.
– Có lẽ con đã quá mệt không đọc được sách đêm nay.
Quả thật Nicholas đang choáng váng vì mệt và hai mí mắt của cậu lờ mờ trên bộ mặt nhỏ xanh xao đang trĩu xuống tựa hồ tê mê với giấc ngủ. Tuy nhiên, cậu biết cha cậu đánh giá rất cao chương sách cuối cùng này trong nghi thức buổi tối của họ, cố nở nụ cười, cậu quả quyết rằng cậu vẫn còn hoàn toàn tỉnh táo.
Một lần nữa, vị lãnh sự lại ngần ngại nhưng chỉ trong một lúc, trước khi chiều theo sở thích mà tình thương yêu, lòng tha thiết của ông đối với đứa con yêu dấu khiến ông không nỡ dứt bỏ. bước vào phòng riêng, ông trở lại ngay với một cuốn sách bìa cứng của Alkerman nhan đề Điển loại học, ngồi xuống bên cạnh chiếc giường Cordova êm ái, và mang cặp kính gọng sừng lên mắt.
– Nicholas, chắc là con còn nhớ trong buổi tối cuối cùng ở Arvile, mình đã thảo luận các giống chim ở Nam Phi một chủ đề thú vị nhất. Đêm nay mình sẽ không đề cập tới nhiều nữa, mà chỉ vừa đủ để giữ mạch lạc. A, đây rồi. Ông đã lật các trang sách cho đến lúc tìm ra số trang đúng và ông hắng giọng, bắt đầu đọc.
– Con đà điểu giống Struthic, đặc biệt có hai ngón chân và xương ngực không sống, là loài chim lớn nhất còn tồn tại. Con trống có thể cao suýt soát hai mét mốt và nặng tới gần một trăm bốn chục kilô. Đi khắp những đống bằng cát và các miền đất trống nó chạy rất nhanh và khi bị dồn vào bước đường cùng có thể vô cùng hung dữ. Loài chim thường hết sức tự đắc về bộ lông của chúng và con trống luôn luôn biểu lộ mối lo lắng đặc biệt đối với chim non…
❀ ❀ ❀
[1] Poinciana: một loài cây nhiệt đới có hoa với nhiều màu sắc lòe loẹt đỏ, cam hoặc vàng (tất cả chú thích của người dịch)
[2] Cistus: một loài hoa mọc trên đá giống như hoa hồng nên còn được gọi là Rockrose (hồng đá)
[3] Casa: nhà, biệt thự (tiếng Tây Ban Nha)
[4] Senor (tiếng Tây Ban Nha) có nghĩa là ông, ngài.
[5] Marquesa (tiếng Tây Ban Nha): nữ hầu tước.
[6] Catalpe: Một loài cây có lá rất lớn, hình trái tim, hoa kết thành từng chùm với màu sắc lòe loẹt , gốc ở bắc Mỹ thường được trồng trong công viên hoặc dọc theo đại lộ.
[7] New England: khu vực đông bắc nước Mỹ gồm 6 bang: Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Rhode Island và Connecticut
[8] Cordova: tức giường làm bằng da chế tạo ở Cordova, một thành phố miền Nam Tây Ban Nha