Auk V - VIII
THEO THÔNG LỆ HẰNG NĂM, nhà máy ở Ohio sẽ chọn ra một vài kỹ sư trẻ gửi xuống Coalwood và cho họ tham gia trại huấn luyện trong khu mỏ do Bố tôi tổ chức. Việc đầu tiên ông bắt họ làm là đi lòng vòng nhiều dặm đường trong hầm mỏ. Chiều cao trung bình từ mặt đất tới nóc hầm chỉ khoảng 1,5 mét. Để có thể đi lại, mọi người phải cúi gập lưng lại, ngẩng cao đầu rồi cứ thế lom khom chúi về phía trước. Những người thợ mỏ luôn biết được lúc nào Bố đang dẫn mấy anh kỹ sư vào hầm mỏ, vì họ có thể nghe thấy tiếng bài giảng về khu mỏ của ông hòa nhịp cùng với những tiếng đụng đầu lốp cốp của các chàng trai vào nóc hầm. Chỉ sau hai ngày chịu đựng sự hành hạ của Bố, đa số đã thu xếp hành lý bỏ về Ohio. Chỉ còn một nhân vật vẫn kiên trì là anh Jake Mosby. Sau này anh đã trở thành một thành viên quan trọng của BCMA.
Lần đầu tiên gặp Jake là vào năm tôi học lớp 9. Một số khách hàng tôi giao báo cư ngụ trong Club House, một biệt thự theo kiểu George[22] hiện đại nằm trên đỉnh núi đối diện với Big Store. Club House lúc đầu được xây lên để dành cho con trai của ông Carter sau khi anh trở về từ Thế chiến thứ nhất. Nhưng trong tình hình thiếu hụt nơi ăn chốn ở vào những năm 1920 do khu mỏ được mở rộng nên biệt thự này được chuyển thành nhà trọ. Từ đó trở đi, số phòng được ngăn ra tăng liên tục dành cho những người công nhân độc thân cư ngụ hoặc các gia đình tạm trú.
Bà Davenport, quản lý của Club House, bảo tôi cứ đi thẳng lên phòng của Mosby. Bà cho tôi biết là anh đã trọ tại đây cả tuần rồi nên có lẽ sẽ còn ở đây đủ lâu để nhận báo. Lên tới nơi, tôi thấy Jake đang nằm sấp mặt trước cửa phòng. Anh đang mặc bộ đồng phục của kỹ sư trẻ: áo sơmi vải bạt, quần kaki đầy những túi, 2 ống nhét vào đôi ủng nâu của thợ mỏ. Cách cánh tay đang sải dài của anh là một cái hũ trái cây rỗng. Chỉ cần ngửi sơ qua là tôi nhận ra ngay mùi rượu lậu của John Eye Blevin trong đó. John Eye đã bị mất một bàn chân trong khu mỏ nên công ty đã nhắm mắt làm ngơ cho ông bán thứ nước lửa trong veo đựng trong những hũ trái cây để phụ thêm vào số tiền trợ cấp nhỏ nhoi. Tôi đặt tờ báo số đặc biệt cạnh cái hũ rồi quay người định bước đi thì Jake nhúc nhích. “Chú mày là ai vậy?” anh hỏi, mắt vẫn nhắm nghiền.
“Thưa anh, em là người giao báo ạ,” tôi trả lời. “Anh có muốn đăng ký không?”
Jake xoay người lại rồi ngồi dậy, đưa tay lên chùi mép. Anh gạt tờ báo, vớ lấy cái hũ, rồi ném nó qua một bên khi nhận ra nó trống rỗng. “Địa ngục chó má.” Anh chớp mắt nhìn tôi, đoạn xộc tay vào mớ tóc đầy đất cát. “Mấy giờ rồi, nhóc?”
“Khoảng 6 giờ 10.”
“Sáng hay tối?”
Thứ rượu của John Eye quả rất tác dụng về mặt này, tôi thầm nghĩ. “Đang là buổi sáng ạ.”
Anh lại chửi tục một lần nữa rồi cố gắng gượng dậy, cũng quỳ gối lên được trước khi đổ sầm xuống như bị khoai tây. Anh cuộn người lại, ôm lấy bụng. “Tao sắp chết rồi,” anh rên rỉ tuyên bố rồi thở dài thườn thượt.
“Anh có muốn em gọi bác sĩ không ạ?” tôi hỏi.
Anh với tay lên rồi vẫy tôi lại một cách yếu ớt. “Đừng gọi bác sĩ. Tên chú mày là gì? Anh muốn biết mình đang ở cạnh ai trước khi đi theo những thiên thần nhỏ lên trời.”
Tôi nói cho anh biết tên rồi bắt lấy bàn tay ướt đẫm của anh vừa chìa ra. Khi anh buông tay ra, tôi phải chùi ngay tay vào sau quần.
“Không có họ hàng gì với lão Homer Hickam đó chứ?”
Tôi lại nói cho anh biết.
“Bố mày...” anh bắt đầu, “Bố mày...” Anh cố tìm kiếm trong bộ óc đã bị thiêu đốt tan nát của mình để tìm cho ra từ ngữ thích hợp rồi lăn một vòng, tay che ngang mắt. “Bố mày...”
“Em nghe các kỹ sư trẻ đến từ Ohio gọi Bố là thằng chó đẻ,” tôi kết thúc giúp anh một cách lạnh lùng trong độ tuổi của mình và đúng lúc.
Mosby cười phá lên. “Ôi, ôi, đau nhỉ.” Anh ngóc đầu dậy, hé mở một mắt ra. “Chú mày đúng đấy Sonny. Ông ta quả là một thằng chó đẻ khốn kiếp.”
“Chào mừng anh đến Coalwood,” tôi bảo. “Anh có muốn lấy tờ Telegraph không?”
Anh từ chối và bảo rằng không đủ tiền trả, tôi lặng lẽ nhặt tờ báo biếu rồi bỏ đi. Sau đó tôi đem chuyện về Jake kể lại với Mẹ. Bà bật cười. “Con muốn biết thêm về Jake Mosby không? Bố cậu ấy sở hữu 20% cổ phần công ty thép chủ của chúng ta đấy. Ông ta có nhiều tiền còn hơn số viên thuốc chữa bệnh gan của Carter ấy chứ.”
Lần tiếp theo tôi gặp Jake trong buổi tiệc mừng Noel của công ty tại Club House. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy anh đứng một cách đàng hoàng. Anh đang tựa lên mặt lò sưởi trong đại sảnh trên tầng một, tay cầm ly rượu, miệng huyên thuyên với cô thư ký mới của ông Van Dyke, một cô nàng tóc vàng xinh xắn, hoạt bát nhập khẩu hẳn hoi từ New York. Hôm nay Mosby rất hào nhoáng trong bộ đồ vest. Đây là lần đầu tiên tôi được thấy đồ vest. Anh ấy cao và theo Mẹ thì bà sẽ nói là anh trông rất mềm mại. Mẹ đang đứng cùng với mấy bà khác quan sát anh. “Cậu ta trông thật giống Henry Fonda[23] nhỉ,” tôi nghe một người trong số họ thốt lên. Cô thư ký cũng không thoát khỏi những lời nhận xét của họ. “Chị có nghe thấy cái giọng điệu đó chưa?” một bà khúc khích cười. “Nyah, nyah, nya. Làm sao mấy người phương bắc lại hiểu được nhau nhỉ?”
Một lúc sau vào đêm hôm đó, Jake dụ dỗ cô thư ký ra ngoài làm một vòng trên chiếc xe Corvette của anh. Mặc dù âm nhạc đang trỗi lên inh ỏi bởi Cecil Sutter và ban nhạc Miners, tôi vẫn nghe được tiếng hét thích thú của cô khi Jake cho xe xoay vòng trên con đường phủ băng sau nhà thờ. Khi về lại Club House, theo Mẹ tôi ngửi thấy thì họ đã “say túy lúy[24]”. Jake cùng cô thư ký dìu nhau ra sàn nhảy rồi thực hiện một điệu nhảy gợi dục, mọi người đều hoảng hốt tản ra xa. Ban nhạc ngừng chơi, còn miệng người chơi đàn xếp thì há hốc ra khi Jake uốn éo sau lưng cô thư ký và chuẩn bị âu yếm cô nàng ngay trước mặt mọi người và đấng Chúa trời. Anh đứng thẳng dậy. “Sao lại dừng nhạc lại vậy?” Anh líu nhíu nói rồi đứng tựa vào cái bàn để đầy đồ tráng miệng làm nó sập xuống kéo anh ngã theo sóng soài, tất cả mọi thứ đổ ập lên người. Anh nằm đó, miệng vẫn nở một nụ cười ngốc nghếch, mặt dính đầy kem đá xanh đỏ, đến khi Bố tôi cho người nắm chân anh lôi ra ngoài. Mọi người bỏ mặc anh ấy ngồi trên bậc thềm ngoài hiên, nửa say nửa tỉnh, tuyết phủ đầy người, sau đó tôi nài nỉ Jim giúp xốc anh lên phòng. Cô thư ký nhập khẩu của ông Van Dyke rời khỏi thị trấn ngay hôm sau, đúng ngày đầu năm. Còn Jake vẫn ở lại, theo Bố giải thích cho Mẹ, là vì ông Van Dyke nói rằng anh “đã hứa không tái phạm.”
“Dĩ nhiên rồi, Homer” Mẹ đáp lại, cố nhịn cười. “Bây giờ thì ông không còn nói việc này là vì bố của Jake là ai rồi phải không?”
Jake là một người thích leo núi. Khi biết tôi thông thạo mọi ngóc ngách, xó xỉnh của mấy ngọn núi xung quanh đây, Jake thuê tôi dẫn đường cho anh và bạn gái (mỗi lần một cô khác nhau). Jake từng là phi công lái máy bay chiến đấu ở Hàn Quốc và đã đi khắp các nước phương Đông. “Ôi nhóc ơi, chúng ta sẽ tiên phong qua cái bụi cây dại màu xanh ở đằng kia chứ nhỉ,” anh nói với tôi một lần nọ khi chúng tôi đang ở trong rừng, còn bạn gái anh thì đang “tưới” mấy đóa hoa cúc sau bụi cây. “Xém nữa là anh có được chiếc phản lực MiG rồi. Chỉ thiếu có chút xíu là có được cái máy bay chó đẻ đó rồi. Phải ngủ với bao nhiêu con điếm trong thị trấn để làm anh quên đi việc này nhỉ.”
Tôi bị ấn tượng đối với nhận xét của anh về phụ nữ hơn là chuyện anh xém thâu tóm được chiếc MiG. “Anh đã ngủ với bao nhiêu cô rồi, Jake?” tôi hỏi.
Anh cười rống lên. “Anh sẽ nói cho chú mày biết nếu như chú mày nói lại cho anh trước.”
Tôi đưa tay lên ra hiệu con số “0” tròn trĩnh.
“Trời đất quỷ thần ơi, Sonny,” anh lắc đầu nói. “Anh nghĩ là định nghĩa của một thiếu nữ còn trinh ở miền Tây Virginia là cô gái có thể “trên cơ” anh trai của cô ta ấy chứ. Chú mày có vấn đề gì vậy?”
“Bởi vì cậu ấy là một cậu bé lịch thiệp Jake ạ,” bạn gái anh nói vọng ra từ sau bụi cây. “Em phải nói thêm rằng: chẳng như anh đâu.”
“Trí tuệ rực sáng từ toilet ngoài trời hả,” Jake cười phá lên, đảo mắt liên hồi.
Tôi ghen tị trước sự thoải mái tự nhiên của Jake đối với phụ nữ và luôn tự hỏi rằng đến khi nào mình mới được như vậy. Tôi từng thắc mắc với bản thân điều ấy, chứng kiến từ những lần lưỡi mình cứng đơ khi đứng xung quanh phụ nữ. “Đừng lo lắng về điều đó Sonny,” Jake nói khi tôi tỏ ra thất vọng trước một viễn cảnh tối tăm về đàn bà. “Chỉ có hai điều phụ nữ thật sự muốn: một là, cô ta muốn biết rằng người đàn ông thực sự yêu mình; hai là, anh ta không bao giờ dừng lại. Chẳng giống anh chút nào, nhưng rất tiếc, chú mày lại có vẻ sẽ trở thành loại đàn ông đó. Khi phụ nữ nhận ra điều này, họ sẽ bám theo chú mày thôi.”
Mặc dù có nhiều khác biệt về tuổi tác và quan điểm sống, tôi và Jake trở thành bạn của nhau. Mỗi lúc nhìn thấy tôi ở Big Store, anh luôn lôi tôi ra ngoài hỏi han, cả về việc chế tạo tên lửa của tôi nữa. Khi tôi kể cho anh nghe về tiến độ của công việc, anh đùa rằng sẽ đích thân lên Cape Coalwood để tận mắt chứng kiến. Tôi cũng mong là anh sẽ làm vậy.
MÙA HẠ NĂM 1958 kéo về cùng những áng mây lững lờ trôi, thỉnh thoảng neo lại thị trấn vào ban chiều, rải xuống những cơn mưa giúp gột rửa cho mấy căn nhà và xe hơi. Đàn châu chấu voi rỉ rả những điệp khúc quen thuộc khi trời chạng vạng; lũ thỏ mon men xuống núi thăm dò những luống rau diếp và cà chua dọc theo các sườn đồi thoai thoải, cạnh tranh với Daisy Mae và Lucifer. Đêm đến, thảm sao trải dài trên nền trời đen thẳm, không khí mát lạnh từ những ngọn đồi ùa xuống thung lũng. Tôi thường ra ngoài sân, nằm lăn trên bãi cỏ và ngước mắt lên bầu trời, hy vọng rằng chợp được tín hiệu của một vệ tinh nào đó bay ngang qua. Dù chẳng thấy gì nhưng tôi vẫn thích làm như vậy.
Vào tháng 5, công ty tuyên bố về quy trình xử lý than mới rất quy mô ở Caretta vừa xây dựng xong, tất cả than từ Coalwood và Caretta từ nay về sau sẽ được chất lên xe than ở đó. Mất một thời gian thì mọi người mới hiểu ra ý nghĩa của việc này: Coalwood đang chuẩn bị có sự thay đổi lớn. Nhà than ở Coalwood sẽ không còn lấy than ra khỏi mỏ nữa, và cũng sẽ không còn có xe lửa chạy ngang qua thị trấn hay bụi than tung mù mịt nữa. Bố còn nói với Mẹ rằng ngay cả đường ray cũng sẽ bị bứng đi hết. Lời tuyên bố này không được chào đón một cách nồng nhiệt. Một số người dân Coalwood đã thấy được âm mưu trong việc này. Roy Lee nói rằng Liên minh Công nhân đang e đây là khởi đầu cho sự kết thúc của Coalwood. Nếu như mọi thứ có thể thực hiện ở Caretta thì họ còn cần gì Coalwood nữa?
Chúng tôi cần xi-măng để xây bệ phóng ở Cape Coalwood. O’Dell đã cố gắng lùng sục khắp thị trấn nhưng không tìm ra. Tôi không còn cách nào khác là phải nhờ vào sự giúp đỡ của Bố.
Ông Dabb, thư kí của Bố, cho tôi biết Bố đang ở dưới hầm mỏ; tôi đành đứng đợi ông ở cửa ống thông gió, nơi công nhân đi thang máy lên xuống. Ở đây có hai thang máy, đôi lúc nó còn được gọi là cái chuồng, nằm cạnh nhau. Khi một cái đi xuống thì cái kia được kéo lên. Cái đang ở trên nằm cách mặt đất khoảng 1,8 mét, mục đích không ai bước lên đó mà thoát khỏi tầm quan sát của người điều khiển cần trục. Công nhân muốn đi xuống hầm mỏ phải nhấn cái nút bằng đồng thau cạnh cái chuồng để reo chuông. Một tiếng reo ra hiệu người điều khiển cho cái chuồng hạ xuống đúng vị trí. Hai tiếng reo cho biết công nhân đã vào chuồng. Ba tiếng là lúc “kéo họ ra” hoặc là “hạ chuồng xuống hầm.”
Ông Todd cai quản nhà đèn, nơi nạp pin cho đèn trên mũ bảo hộ. Ông còn đảm đương việc kiểm soát mọi công nhân xuống hầm mỏ, bảo đảm rằng họ không còn để sót một que diêm nào trong người (mỏ than Coalwood khét tiếng là đầy khí ga), đội mũ và mang giày đinh chỉnh tề. Tôi vừa uống chai nước ngọt ông Todd đưa cho vừa dõi theo dòng công nhân lên xuống khu mỏ như thường lệ. Mỗi thợ mỏ sở hữu 2 chiếc huy hiệu bằng đồng thau có khắc số. Họ đưa cho ông Todd một chiếc để ông treo lên bảng và đổi lấy mũ bảo hộ, chiếc còn lại thì cất vào túi. Chỉ cần liếc lên bảng là có thể biết được Bố tôi hay bất cứ người thợ nào hiện đang có dưới hầm mỏ hay không. Chiếc huy hiệu người thợ giữ lại trong túi có đề mọi chi tiết nhận dạng trong trường hợp họ bị thương hoặc tử vong. Việc chấn thương hay cái chết chực chờ mỗi thợ mỏ không còn là điều bí mật gì cả, dù cho Bố và những người đốc công của ông cố gắng giữ an toàn bằng mọi cách.
Thời còn đi học phổ thông, thỉnh thoảng có một đứa bạn tôi bị gọi ra khỏi lớp và không bao giờ quay trở lại nữa. Vào bữa ăn khuya, tôi liền được biết ngay rằng bố của đứa bạn đó đã hi sinh trong hầm mỏ. Đối với Mẹ tôi, điều này đã trở thành điều hiển nhiên, không còn lạ gì. Bố hiếm khi nào kể rõ mọi chuyện tường tận, tôi thường chỉ nghe được qua bạn bè vào ngày hôm sau mà thôi. Một lần khi tôi đang học lớp 4, cô bạn tóc vàng nhỏ nhắn Dreema của tôi bị gọi ra khỏi lớp. Từ đó tôi không còn được gặp lại nhỏ ấy nữa. Bố của Dreema đã bị một phiến đá sắc chặt đứt đầu khi đường hầm nơi ông đang làm việc bị sụp. Đêm đó, Bố về nhà với đôi tay băng bó, ông đã đổ máu vì cố gắng dời những tảng đá đè lên người thợ mỏ kia. Rồi ông đuổi việc người quản đốc vì thất trách trong việc gia cố trần của khu mỏ thuộc quyền cai quản của người này. Từ đó trở đi, không còn ai đả động gì về việc đã xảy ra nữa. Công ty sẽ buộc gia đình của thợ mỏ tử nạn phải rời khỏi Coalwood nội trong 2 tuần kể từ ngày xảy ra tai nạn. Có lẽ có sự trao đổi gì đó trong các sự việc như vậy nên hầu như chẳng quả phụ nào trong thị trấn còn nhắc nhở cho những người khác về hiểm họa có thể ập đến từ hầm mỏ cả.
Chú Dubonnet cùng một đám thợ mỏ đang tụ tập và lập một cuộc mít tinh ứng khẩu trước nhà đèn. Chú chìa ra vài cuốn sách mỏng thời sự rồi nói với tôi: “Chú nghe nói mấy quả tên lửa của cháu bay được rồi phải không?”
“Nó bay được bao xa?” một người trong đám thợ mỏ thắc mắc. “Lên tới mặt trăng chưa vậy?”
“Hãy đến chứng kiến đi ạ.” Tôi bảo anh ấy.
“Khi nào cháu phóng tiếp, Sonny?” chú Dubonnet hỏi. “Chú muốn tận mắt chứng kiến. Chú cá rằng còn nhiều người cũng có ý nguyện như vậy.”
Đột nhiên tôi cảm thấy thật hứng khởi. “Cháu sẽ dán thông báo ở Big Store và bưu điện.”
Chuông thang máy reo lên hai tiếng và mọi người lần lượt đi vào. “Chú sẽ có mặt,” chú Dubonnet vừa đi vừa nói.
Bố trồi lên theo thang máy. Trước khi ông nhận ra sự có mặt của tôi, tôi nhìn thấy ông rút ra chiếc khăn rằn (bây giờ đã nhuốm màu xám xịt), bụm vào miệng ho liên hồi rồi nhổ mấy bãi đờm xuống cạnh nhà tắm. Ông nhìn lên và vẫy tôi theo vào trong nhà tắm. Ông treo mũ bảo hộ lên móc, tháo giày, cởi nút cổ áo, bước vào dưới vòi sen và bắt đầu thoa xà phòng Lava. “Con đến đây làm gì vậy?” ông vừa hỏi vừa tẩy rửa mấy vết bẩn đen ngòm đang bám trên mặt.
“Bố có thể cho con ít xi-măng được không ạ?”
“Không.” Ông trả lời. Một vũng bùn than đang xoay tròn quanh bàn chân ông. “Con muốn dùng nó làm gì?”
“Chúng con cần xây bệ phóng. Bố xem có còn dư chút xi-măng nào không ạ?”
“Công ty không có xi-măng thừa đâu,” Bố lầm bầm qua màn nước, xoắn miếng khăn tắm cho vào lỗ tai. “Công ty chẳng có dư dả thứ gì cả. Nếu mà cứ có như vậy thì chắc sẽ phá sản mất. Con cần mấy bao?”
“Có lẽ là 4?”
Bố tắm xong và bắt đầu lau người. Tôi thừa biết rằng ông sẽ tắm thêm một lần nữa khi về nhà để kì cọ cho hết than bám trên người. Nhưng bụi than dính trên vùng da ẩm ướt quanh mắt ông sẽ không phai đi - thợ mỏ ở Coalwood đi ra đường với cặp mắt viền đen như Cleopatra vậy. “Nói cho con nghe này,” ông buông khăn xuống rồi nói. “Bố cho một kỹ sư trẻ tính toán xây lối đi lên quạt số 3, hình như là còn dư ít xi-măng. Mấy hôm nay trời đổ mưa nên có lẽ nó bị hư rồi nhưng nếu con muốn thì cứ lấy. Dù sao cũng giúp cho công ty tiết kiệm chi phí khiêng nó ra ngoài để quẳng đi.”
Ông chẳng cần phải nói đến lần thứ hai. Ngay hôm sau, khi đã làm xong một vòng dọn rác, O’Dell mượn xe tải của bố cậu ấy rồi cùng tôi và Sherman chạy men theo đường ray ngoằn ngoèo dẫn đến một trong những cái quạt lớn nhất dùng để thổi không khí xuống hầm mỏ. Ngay đó, bên cạnh cánh cửa khóa trái dẫn vào phòng điều khiển quạt là 4 bao xi-măng không hề bị ướt nước mưa gì cả. Còn có đống cát và sỏi, tất cả mới nguyên.
“Có chắc là bố cậu bảo bọn mình có thể lấy chúng không vậy?” Sherman tỏ vẻ lo lắng. “Mọi thứ thật hoàn hảo.”
Tôi nhún vai. “Ông ấy nói là mưa làm hỏng chúng hết rồi.”
“Mưa nào hả trời?” O’Dell thắc mắc. “Cả tháng nay có mưa đâu. Bố cậu lừa đấy, Sonny. Nhìn kìa, lối đi mới đã hoàn tất. Lẽ ra họ đã khuân xi-măng đi cất chỗ khác sau khi làm xong rồi chứ.”
Tôi suy xét về những lời ngụ ý trong câu nói của O’Dell. Chẳng lẽ Bố đang âm thầm giúp đỡ chúng tôi à? Hay là ông bị nhầm lẫn vì quá lo lắng về việc đội bóng bị đình chỉ hoặc về kế hoạch xây dựng mới trên Caretta. May ra Chúa mới biết được thôi, nhưng tôi không có thời gian để làm sáng tỏ. “Thôi nào,” tôi hối thúc, “chất chúng lên xe đi trước khi có ai đó phát hiện ra chúng ta.”
SAU KHI CHÚNG TÔI ĐÀO MỘT CÁI HỐ ở bãi than cám và đổ một sàn bê-tông kích thước 1,5 mét, rộng 1,5 mét để làm bệ phóng, Cape Coalwood đã sẵn sàng cho quả tên lửa đầu tiên. Lô cốt nằm trên bờ sông cách bệ phóng hơn 27 mét, nó được đóng bằng gỗ và xác định kích thước bằng tay. Quentin miêu tả nó bằng một từ khoa trương “khối đa diện bất qui tắc,” nhưng thật ra nó chẳng hơn gì là một cái kho gỗ bé tẹo. Nó có sàn làm bằng đất, một lối đi không cửa đằng sau, mái lợp tấm thiếc bằng phẳng, và cửa sổ nhìn ra ngoài là khoảng trống hình chữ nhật được lấp lại bởi một tấm nhựa dày 0,6cm bị trày xơ mà O’Dell tìm được trong đống rác phía sau Big Store. Ông Dantzler thường dùng chúng để làm tấm chắn cho quầy thu tiền bằng kính của mình. Ngoài lô cốt, chúng tôi còn dựng cột cờ bằng một ống kẽm đường kính hơn 5cm bị vứt bỏ cạnh nguồn khí ga trên Mudhole Hollow (ông Duncan, thợ ống nước của công ty, nói cho tôi biết). Lá cờ của BCMA, do mẹ của O’Dell may, đang phấp phới tung bay. Tôi yêu lá cờ này lắm. Trên đó có mấy chữ cái B-C-M-A uốn cong quanh hình quả tên lửa được thêu kèm với con cú (biểu tượng của trường trung học) đang cưỡi lên nó.
Để khai trương Cape Coalwood, tôi đổ đầy Auk V một bình hợp chất thuốc súng với keo dán tem đã được trộn kĩ và cất dưới bình đun nước nóng 5 ngày trời. Do tôi đã hứa với chú Dubonnet và mấy người thợ mỏ khác ở nhà than là sẽ báo cho họ biết khi nào phóng tên lửa, nên Sherman dán tờ giấy vở lên bảng thông báo ở Big Store và bưu điện với những dòng chữa in hoa:
PHÓNG TÊN LỬA!
TỔ CHỨC TÊN LỬA BIG CREEK (BCMA)
SẼ PHÓNG TÊN LỬA VÀO THỨ BẢY NÀY, 10 giờ sáng,
TẠI CAPE COALWOOD
(BÃI THẢI THAN cám CÁCH FROG LEVEL 2 DẶM VỀ PHÍA NAM)
Như đã hứa, chú Dubonnet đến dự buổi phóng tên lửa kế tiếp của chúng tôi. Chú đậu chiếc xe Pontiac trắng của mình ở bãi đất trống đối diện với lô cốt. Thông thường có buổi họp thường lệ của Liên minh Công nhân vào mỗi sáng thứ bảy nên tôi biết chú đã phải rất tranh thủ để đến Cape đúng giờ.
Tôi cảm thấy hài lòng vì Jake Mosby cũng đến, đi cùng một kỹ sư trẻ khác tên Tom Musick. Sau khi đỗ chiếc xe Corvette của mình dưới một tán cây khá an toàn, Jake ngồi xuống cạnh chú Dubonnet trên thanh chống sốc phía trước chiếc Pontiac và giơ chai bia về hướng tôi. Tom thì chỉ vẫy tay chào.
Một lúc sau tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy một chiếc xe Edsel khác trờ tới. Hóa ra Jake đã mời Basil Oglethorpe đến cùng, anh vẫy tôi lại để giới thiệu. Basil có dáng người giống Ichabod Crane[25]. Anh mặc bộ đồ màu kem, đội chiếc mũ mềm rộng vành, thắt một chiếc cà vạt dây màu đen, khoác áo vest lụa, và mang đôi giày nhọn bó sát lấy những ngón chân. Anh còn mang đồng hồ có dây đeo bỏ vào túi. Trong đời mình, quả thật tôi chưa bao giờ thấy ai ăn mặc cầu kì đến như vậy nên khi nhìn thấy anh, mồm tôi cứ há hốc cả ra. Anh lờ đi phản ứng của tôi, điều mà có lẽ anh đã quá quen thuộc khi vào tỉnh McDowell và rồi anh nói rằng sẽ làm cho tôi và mấy đứa bạn tên lửa khác nổi tiếng. “Anh sẽ trở thành Lowell Thomas[26] của chú mày, nhóc Sonny ạ,” anh nói với tôi, “và chú mày sẽ là Lawrence của Arab của anh.”
“Basil gắn liền với tờ báo McDowell County Banner.” Jake vừa nói vừa theo dõi phản ứng của tôi, giọng châm biếm. “Đó là cái giẻ rách của tiệm tạp hóa mà thôi.”
“Dù sao đi nữa chúng tôi cũng đang phát triển mà,” Basil khụt khịt, lấy một chiếc khăn tay bằng lụa từ áo vest ra rồi ấn vào mũi. “Anh là tổng-biên-tập kiêm chức cây viết chính.”
“Anh ta còn kiêm chân săn tin nữa đấy,” Jake đế thêm vào. “Anh nghĩ rằng anh ta sẽ giúp cho bọn em lôi kéo thêm được sự chú ý. Với tất cả những công việc tuyệt vời đang thực hiện ở cái bãi than cám này thì các em xứng đáng được như vậy.”
Tôi thầm nghĩ đối với một cây viết thực thụ thì chúng tôi sẽ thú vị đến cỡ nào. Tôi chẳng thể nào tưởng tượng nổi. Nghĩ rồi tôi nhún vai và quay lại với vai trò giám sát công đoạn chuẩn bị phóng tên lửa. Roy Lee châm ngòi cho chiếc tên lửa Auk nhỏ nhắn của chúng tôi rồi phóng vội vào lô cốt. Trước khi cậu ấy kịp chạy vào trong thì ngòi nổ đã cháy hết và quả tên lửa phóng vút khỏi bệ, lên cao khoảng 15 mét rồi xoay mình nhắm thẳng vào mấy người đang ngồi vắt vẻo trên chiếc Pontiac mà lao tới. Chú Dubonnet, Jake, Tom và Basil nhanh như cắt quăng mình ngay xuống đất vừa lúc quả tên lửa hú qua đầu rồi đập xuống phần đường phía sau, lê đi một quãng dài, cắm phập vào con mương đầy bùn. Mọi việc xảy ra quá nhanh và bất ngờ, tôi chẳng kịp manh động một khắc nào cả. “Mẹ kiếp! Chưa bao giờ thấy thứ gì di chuyển nhanh như vậy trong đời đấy,” Roy Lee cất tiếng sau khi quan sát sự việc vừa xảy ra.
Chúng tôi mon men lại chỗ quả tên lửa nằm: Sherman dừng lại một lúc để đỡ chú Dubonnet và Tom đứng dậy. Basil thì vừa nhảy tưng tưng vừa cười hú lên, rồi anh ấy đứng lại và hí hoáy ghi chú vào sổ tay. “Ôi, thật giống y như ở Cape Canaveral vậy,” anh kêu lên nhặng xị. “Ôi, ta khoái chuyện này quá đi mất!”
Jake tự động đứng dậy rồi lật đật đi xuống đường. Nhìn thấy tay Jake run bần bật đưa lên châm thuốc lá rồi lôi chai rượu con trong túi ra, tôi mon men lại gần xem anh có ổn không. Anh vung vẩy điếu thuốc. “Nhìn thấy quả tên lửa ấy lao về phía mình làm anh tưởng như đang quay trở lại với thời chiến ở Hàn Quốc ấy,” anh run rẩy nói.
“Em thật tình xin lỗi anh Jake ạ,” đó là tất cả những gì tôi có thể nói.
“Anh chẳng có ý gì đâu,” Jake đáp, ngón tay vẫn còn run, đẩy chai rượu lên miệng.
Khi tôi đi ngược lên phía trên, chú Dubonnet và Tom đang kiểm tra quả tên lửa, mấy đứa kia đứng quanh họ. Basil vẫn còn ngồi dính trong chiếc Edsel của anh, viết liên hồi. “Mấy nhóc à, lần sau trước khi lên đây chú phải chắc rằng đã trả hết mấy phần bảo hiểm trước thôi.” Chú Dubonnet vừa nói vừa cười hô hố rồi ngửi ngửi quả tên lửa. “Thuốc súng của các cháu tỏa ra nhiều khói quá. Là thuốc súng đen phải không?”
Tôi trả lời với chú rằng đây là hỗn hợp thuốc súng tự chế của chúng tôi. Chú Dubonnet vỗ vỗ vào thân tên lửa làm rơi ra mấy cục thuốc nổ chưa cháy cùng một đống tro. Chú miết chúng trong lòng bàn tay rồi phán. “Vẫn còn ướt đây này. Bọn cháu ủ nó trong bao lâu?”
Tôi cho chú biết là trong 5 ngày.
“Nếu là chú thì chú sẽ để ít nhất 2 tuần đấy Sonny ạ.” Chú bóp vụn nốt phần thuốc súng còn lại giữa mấy ngón tay. “Chú từng lo về chất nổ trước khi công ty đem mấy cái máy khai thác than tự động về mà. Thuốc nổ phải để cho hoàn toàn khô ráo.”
Sau khi chú Dubonnet đi rồi, tiếp theo đến lượt Tom và Jake. Bọn tôi vây quanh Basil cạnh lô cốt thảo luận về kết quả của đợt phóng này. “Chúng ta phải làm cách nào để tên lửa bay thẳng lên ấy,” Sherman tuyên bố.
“Và còn phải tìm phương thức tốt hơn để châm ngòi nổ nữa,” Roy Lee kết luận sau khi quan sát và nhận thức rõ được hậu quả nếu như tên lửa bay theo ngay sau lưng trước khi cậu kịp chạy vào lô cốt.
Quentin lên tiếng: “Tớ sẽ nghĩ về việc này rồi đưa ra vài ý kiến sau nhé.”
“Mong rằng cậu sẽ nghĩ ra cái gì đó hay hơn phương pháp kiểm tra ngu ngốc vừa rồi,” O’Dell châm biếm.
“Thôi đi, O’Dell,” tôi xen vào. “Chúng ta đang là một đội ở đây, nhớ chứ? Quentin, cứ suy nghĩ đi nhé. Chúng ta sẽ tập hợp lại sau kì nghỉ của thợ mỏ. Đồng ý không?”
“Được quá đi chứ,” Roy Lee đồng tình. “Các cậu có thấy quả tên lửa của bọn mình bay như thế nào không? Nó không bay lên thẳng được thì sao chứ? Chúng ta đang làm tốt mọi việc ở đây mà!”
“Roy Lee nói đúng.” tôi nhận xét. “Chúng ta đang tiến triển tốt.” Tôi đưa tay ra, úp lòng bàn tay xuống. “Nào, đặt tay các cậu lên đây, như tụi cầu thủ vẫn thường làm ấy.”
Lần lượt, Sherman, O’Dell, Roy Lee và Quentin long trọng đặt tay lên nhau. “Những cậu bé hỏa tiễn,” tôi hô lên. “Những cậu bé hỏa tiễn muôn năm!”
“Ôi, mọi thứ thật hoàn hảo!” Basil khẽ thốt lên, rồi tiếp tục hí hoáy viết. “Những cậu bé hỏa tiễn muôn năm. Ta yêu việc này quá đi!”
KHU MỎ COALWOOD, cũng như mọi khu mỏ khác rải rác khắp tỉnh McDowell và miền nam của bang, đóng cửa vào hai tuần đầu của tháng 7, cho nên mọi người đều phải nghỉ làm đồng loạt. Bố giải thích mục đích của việc này là để cho nền kinh tế của ngành khai thác than được bảo đảm, và hoạt động lại một cách đồng nhất khi mọi công nhân đều trở lại làm việc sau kì nghỉ như nhau. Cũng cùng lý do đó mà thợ mỏ luôn trả mọi thứ bằng tờ hóa đơn trị giá 2 dollar để mọi thương gia phải nhận ra rằng công ty than quan trọng đối với họ như thế nào. Nhưng rồi vì lý do gì đi nữa thì Coalwood trở nên gần như hoang vắng trong kì nghỉ. Hungry Mother State Park gần Virginia là điểm đến thường lệ của công nhân cùng gia đình họ, và cả Smoky Mountains xa hơn về phía nam Tennessee nữa. Một trong những nơi nghỉ mát truyền thống của thợ mỏ là bãi biển Myrtle, miền Nam Carolina. Chiều theo sự khẩn khoản của Mẹ, nhà chúng tôi đi nghỉ mát ở đấy. Đây là dịp duy nhất trong năm mà Mẹ lôi được Bố ra khỏi những ngọn núi cho riêng mình và ngày bình lặng trôi qua giữa biển trời thơ mộng xanh trong mà không nghe ông nói về những chuyện trong khu mỏ. Tôi để ý thấy Mẹ khẽ chạm vào tay Bố khi ông đang nói chuyện, và đôi khi vào ban đêm, họ ngồi trên xích đu bên hiên nhà trọ, Bố còn vòng tay ôm lấy Mẹ. Họ thậm chí còn ngủ chung giường nữa cơ. Một lần nọ, sau buổi đi mò cua, tôi trở về với cái đầu cá còn treo toòng teng trên dây câu, và thấy cửa nhà trọ đang khóa. Tôi biết rằng bố mẹ đang ở trong đó vì thấy mấy đôi giày còn dính cát của họ nằm ngoài hiên, nhưng cho dù tôi có gõ cửa thế nào thì họ cũng chẳng cho tôi vào. Lúc đó tôi chỉ đơn giản đoán là họ đang ngủ thôi. Và rồi Mẹ khóc òa khi chúng tôi thu dọn mọi thứ lên chiếc Buick để về nhà khi kì nghỉ kết thúc.
Ngay đúng lúc Bố vừa đỗ xe vào sân sau thì chiếc “hắc phôn” đã réo inh ỏi. “Chào mừng đến với Coalwood,” Mẹ lầm bầm sau lưng Bố khi ông đang vội vã phóng lên bậc cầu thang vào nhà để trả lời điện thoại.
Tôi còn 3 quả tên lửa Auk VI, VII và VIII đã được nạp thuốc súng và để cho khô ráo trong thời gian chúng tôi đi nghỉ lễ. Tôi quyết định phóng tất cả vào thứ bảy sau kì nghỉ. Sherman làm vài tờ thông báo để dán ở Big Store và bưu điện. Chúng tôi vẫn còn vấn đề là chưa làm cho mấy quả tên lửa bay thẳng lên được, nên tôi bỏ ra hai ngày lui cui dưới hầm để chắp vá mấy bộ thăng bằng. O’Dell đem đến một tấm nhôm mỏng nhặt được từ đống rác, tôi dùng kéo cắt thiếc và lạng ra vài miếng hình tam giác để làm bộ thăng bằng. Sau đó tôi dùng đinh đục thủng vài cái lỗ ở cạnh bên trong rồi dùng dây kẽm quấn chúng vào hông của thân tên lửa. Sau khi dùng kìm để vặn hết mấy cọng kẽm xuống, trông chúng còn thô thiển lắm nhưng ít ra cũng có vẻ được gắn vào chắc chắn rồi, tôi mong là như vậy. Vào thứ bảy, Roy Lee lái xe qua, tôi bỏ mấy quả tên lửa lên băng ghế trước rồi thẳng tiến đến Cape. Cậu ấy tỏ vẻ ngưỡng mộ kết cấu “cánh” mới và hân hoan: “Hôm nay liệu chúng ta có thu hút được một đám đông nữa không nhỉ.”
Tôi buột miệng thốt lên: “Ước gì Dorothy cũng đến nhỉ.”
Cậu ấy nhún vai. “Sao cậu không mời cô ấy?”
“Tớ sợ rằng nàng sẽ đến cùng một thằng bạn trai khác,” tôi thành thật thú nhận.
“Cô ta đi chơi với những thằng khác mà cậu còn mơ tưởng à?” Roy Lee lắc đầu. “Sonny, bọn mình phải ngồi xuống và nói chuyện đàng hoàng lại thôi.”
“Tớ yêu nàng,” tôi nói, “và một ngày nào đó nàng sẽ yêu tớ thôi.”
Roy Lee chùng người xuống sau tay lái, lắc đầu. “Mọi việc không xảy ra như vậy đâu, nhóc ạ.”
Mấy người đàn ông ngồi ở thềm Big Store vẫy chào chúng tôi. “Những cậu bé hỏa tiễn!” họ hô to. Mấy tên cầu thủ bóng bầu dục thì đi cả đám cùng nhau suốt mùa hè, thách thức bất cứ ai dám nhắc đến việc bị đình chỉ thi đấu của chúng. Bick, anh Jim và mấy tên cục súc còn lại đang tụ tập trước Club House. Chúng trừng mắt nhìn bọn tôi đi qua nhưng chẳng nói gì. Chúng tôi ghé qua rước Sherman rồi đi tiếp. O’Dell thì đi bộ xuống Cape từ Frog Level và đứng đợi sẵn từ lúc nào. Cậu ấy đã gỡ xong cái tổ ong bắp cày trong lô cốt và dọn dẹp sạch bệ phóng. Chú Dubonnet không có mặt hôm nay nhưng Jake và Basil thì đã ở đó. “Anh đang chuẩn bị một bài phóng sự cho các chú mày rồi đấy,” Basil nói. “Hãy chờ xem sức mạnh của báo chí nhé.”
Chúng tôi nhường quyền châm ngòi cho Jake. Anh vừa cười vừa tháo chạy vào trong lô cốt, cặp chân dài của anh nhún nhảy. Lần này tôi đã để dây ngòi dài hơn nên anh kịp chạy vào với Basil và bọn tôi, khum người xuống dè chừng trong niềm phấn khởi. Chú Dubonnet đã đúng trong việc đề nghị để thuốc súng khô lâu hơn: Quả tên lửa rời khỏi bệ phóng trong tiếng xì to nhất từ trước đến nay rồi bay lên gần như ra khỏi tầm mắt. Tôi ra khỏi lô cốt, ngắm khói cuộn theo đuôi khi nó rơi xuống. Rồi tôi cùng với mọi người nhảy loạn lên như bị mất tự chủ. Đây là quả tên lửa tốt nhất từ trước đến nay của chúng tôi. “Nó bay lên cao bao nhiêu nhỉ?” Jake hỏi như ngừng thở, hứng khởi tựa hồ như anh là một cậu bé hỏa tiễn thực thụ vậy.
“Cao gấp đôi ngọn núi đấy,” Sherman hách dịch trả lời.
Như vậy là cao bao nhiêu? Chúng tôi chẳng ai biết.
“Có lẽ vài phép tính lượng giác sẽ giúp chúng ta tìm ra đáp án,” Jake nói.
Chúng tôi chẳng biết gì về lượng giác cả. “Anh tệ môn này lắm nhưng để anh nghĩ xem.” Jake gãi đầu nói.
Auk VII và VIII thì chẳng cần đến lượng giác. Auk VII đánh một vòng hình móng ngựa khi lên cao khoảng 15 mét rồi đâm sầm xuống đất. Auk VIII thì đập vào lô cốt rồi nổ tung trên không thành những mảnh sắt vụn rồi rơi xuống rào rạo trên nóc. “Ôi, chuyện này thú vị quá đi mất,” Basil tuyên bố.
“Lần nào đi với tụi mày, anh cũng tưởng như đang quay lại Hàn Quốc vậy,” Jake nói khi nhìn vào cái lỗ thủng của lô cốt. “Quân đội chắc sẽ khoái các em lắm đấy - nếu như các chú mày còn mạng để sống đến lúc gia nhập ngũ.”
Vào cuối tuần tiếp theo, chú Bykovski gặp tôi, Shermanvà O’Dell tại cửa hàng kim khí của nhà than và dạy bọn tôi căn bản của việc hàn xì và cắt sắt để có thể tự làm tên lửa. Tôi tự nhủ không biết có phải Bố đồng ý việc này vì ông cảm thấy có lỗi khi đày ải chú Bykovski xuống hầm mỏ không. Tôi không thể tưởng tượng được đó là sự thật nhưng tôi chẳng nghĩ khác đi được. Chú Bykovski tỏ ra vui vẻ với công việc mới. Tôi đếm đủ 5 dollar để trả cho mấy cái ống và thanh sắt mình sẽ dùng trong ngày hôm đó. Theo lời chú Bykovski, tôi đặt chúng lên bàn làm việc kèm theo tờ giấy ghi rõ ra dùng chúng vào việc gì.
Khi chúng tôi hoàn thành xong khóa học hôm đó và đi về thì thấy Bố đang nhìn ra từ lan can của văn phòng. Tôi ghé qua để cảm ơn ông. “Sao rồi, bố đoán rằng con đã trở thành một tay thợ hàn lành nghề phải không?” ông hỏi.
“Chưa đâu Bố ạ,” tôi đáp lại. “Con cần phải luyện tập nhiều hơn nữa thì mới thành thạo được.”
Bố nhìn, thoáng vẻ ngạc nhiên trước sự phản ứng của tôi rồi gật gù. “Ít có thứ gì đến dễ dàng trên đời này Sonny à. Nếu có chăng nữa thì cũng phải đề phòng nó. Có lẽ không đáng là bao nhiêu.”
“Việc khó nhất Bố từng học trong đời là gì?” tôi đột ngột hỏi.
Ông tựa lên thành lan can. “En-tro-pi,” cuối cùng ông cũng trả lời.
Tôi chẳng hiểu từ đó là gì và ông cũng biết vậy. “En-tro-pi nói về mọi vật sẽ có xu hướng trở nên lộn xộn và mất trật tự theo thời gian trôi qua,” ông giải thích. “Nó là một phần của định luật đầu tiên của nhiệt động lực học.”
Có lẽ tôi đang đực mặt ra thì phải. “Cho dù sự vật đó hoàn hảo đến mức nào đi nữa,” ông kiên nhẫn tiếp tục nói, “ngay từ khi vật đó được tạo ra là lúc nó bắt đầu phân hủy.”
“Sao thứ này khó học vậy Bố?”
Ông mỉm cười. “Bởi vì mặc dù nó đúng nhưng bố không muốn nó trở thành sự thật. Bố ghét vì nó đúng. Bố chẳng thể tưởng tượng nổi Chúa đang nghĩ gì nữa.” Ông kết luận rồi quay trở vào văn phòng.
MỘT TỐI MÙA HẠ năm ấy, ngay trước lúc trường học khai giảng, Jake gọi vào chiếc “hắc phôn” nhà tôi. Bố bắt máy rồi dĩ nhiên chuyển cho tôi với ánh mắt nghi ngờ. “Nói ngắn gọn thôi đấy.”
“Sonny,” Jake gọi, “mấy đứa em xuống Club House rồi leo lên mái nhà với anh nhé. Có điều này ngạc nhiên lắm đấy.”
Sherman là đứa duy nhất mà tôi có thể thông báo trong thời gian gấp rút như vậy. Tôi leo vội vàng lên mái nhà của Club House còn Sherman thì nhảy lò cò như chó con lên từng bậc thang.
Jake đang nhìn qua miếng kính trên một cái ống hình trụ dài hướng lên trời. “Đẹp tuyệt, đúng không?” anh cười toe đầy vẻ tự hào. “Chiếc kính viễn vọng khúc xạ trung thành cũ kĩ của anh đấy. Mới được gửi tới trong hôm nay thôi. Anh thường chơi cái này khi bằng cỡ tuổi em. Tí nữa là anh quên béng về nó cho đến khi xuống chỗ phóng tên lửa của bọn em.” Đây là chiếc kính viễn vọng đầu tiên mà tôi được trực tiếp chiêm ngưỡng. Anh còn đưa cho tôi một cuốn sách đã cũ mèm. “Anh còn bảo Mẹ gửi cho cái này nữa này. Sách về lượng giác ngày xưa anh học đấy. Hãy đọc nó đi, rồi bọn em sẽ tính được quả tên lửa của mình bay cao bao nhiêu.”
Đêm nay trời thật trong, bao vì sao sáng trải dài khắp bầu trời lung linh như những viên kim cương đang lấp lánh trên một tấm vải nhung đen rộng bạt ngàn. “Nào, tự nhiên đi các chú, anh đang ngắm sao Mộc này.” Jake cười toe toét.
Sherman thử trước, dán mắt cậu ấy vào cái lỗ kính. “Em nhìn thấy được cả mấy dải sao đây này!” cậu hét toáng lên.
Tôi gỡ kính ra để Jake hướng dẫn cách xoay chỉnh cái ống canh tiêu cự. Sao Mộc là một vòng tròn màu vàng lung linh với những đường màu nâu cắt ngang. Tôi cảm thấy như có thể với tay ra chạm lấy nó vậy, phải chi có thể làm được điều đó thật thì hay quá nhỉ.
Jake chỉ lên một dòng sông sao đang vắt ngang qua bầu trời, giữa những rặng núi. “Đó là dải Ngân Hà. Chúng ta đang nhìn vào một bên cạnh của nó thôi đấy.” Tôi nghe tiếng anh vặn mở nút chai và tợp một ngụm rượu rồi huýt sáo một hơi dài. “Kia là chòm sao Thiên Cầm, còn kia là sao Nhân Mã. Nào, nhìn qua bên kia, cạnh sao Thiên Cầm.” Anh sờ soạng cái lỗ kính. “Cho anh biết em nhìn thấy gì nào.”
Sherman nhìn rồi tới lượt tôi. Một cái bánh doughnut[27] rực rỡ. Tôi chỉ đoán lờ mờ. “Một ngôi sao thủng lỗ hả anh?”
Jake bật cười. “Gần đúng rồi đấy. Nó là sao Tinh Vân. Cái vòng tròn đó là phần vỏ tách ra từ khối bên ngoài của ngôi sao.”
Đã quá nửa đêm mà Jake vẫn say sưa chỉ cho Sherman và tôi sự khác nhau giữa hành tinh và ngôi sao đến khi anh ngồi xuống tựa vào ống khói bằng gạch nung rồi ngủ thiếp đi. Trong khi Sherman vẫn nhìn vào kính viễn vọng thì tôi lang thang quanh rìa mái nhà và nhìn xuống thị trấn nhỏ của mình. Nhà thờ đang tắm trong ánh sao bàng bạc, ánh lên rực rỡ trong bóng tối của ngọn núi sau lưng nó; và ở ngọn đồi bên trên bưu điện, tôi có thể nhận thấy được mấy ngọn tháp của biệt thự thuộc về ông Van Dyke. Những tán cây xào xạc trong cơn gió mát lành thổi về từ phía núi đồi, và xa xa kia, tôi còn nghe được tiếng kêu văng vẳng của một con cú lạc loài giữa đêm và những giai điệu ộp oạp của mấy chú ếch lang thang quanh con sông nhỏ chạy dọc cửa hàng kim khí điện máy. Rồi tôi quay lại với chiếc kính viễn vọng, cố chỉnh nó hòng quan sát được quanh Coalwood nhưng cuối cùng nhận ra rằng không thể chỉnh cho tiêu cự gần như vậy được. Tôi chợt nghĩ: thật mỉa mai khi chiếc kính viễn vọng của Jake có thể nhìn được những ngôi sao cách xa hàng triệu năm ánh sáng nhưng lại không quan sát được thị trấn nơi nó đang hiện diện. Có lẽ bản thân tôi cũng đang như vậy. Tôi nhìn thấy rõ được tương lai của mình trong không gian, nhưng chính cuộc sống hiện tại ở Coalwood này thì đôi khi lại quá ư mơ hồ.
Chợt Sherman kêu to làm tôi giật mình nhìn lên và kịp chiêm ngưỡng một cơn mưa sao băng to lớn màu xanh với những tia sáng vàng rực trên đỉnh đầu đang bay về từ phương bắc. Nó lặng lẽ liệng ngang bầu trời rồi rơi xuống sau dãy núi chập trùng trước mắt. Tôi định mở miệng nói một điều gì đó để giữ lại giây phút trang trọng này nhưng chẳng tìm ra được từ nào cho phù hợp. Sherman và tôi nhìn nhau và chỉ có thể thốt lên một tiếng “Ối chà!”. Trong khi đó, Jake vẫn ngáy o o đều đặn.