Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15. CẢNH SÁT TIỂU BANG

❊ ❊ ❊

THẦY HARTSFIELD đẩy ngược cuốn sách trên bàn về phía tôi. “Em làm phiền bữa ăn trưa của thầy bằng thứ vớ vẩn này à? Làm sao các em nghĩ rằng mình có thể học được tích phân trong khi còn chưa hiểu được đại số?” Ý này ám chỉ tôi đấy, vì mấy đứa kia đều được điểm A môn đại số cả.

Quentin xen vào để xin giúp. “Thưa thầy, bọn em cũng đã từng tự học lượng giác.” Vừa nói cậu ấy vừa đưa ra cuốn sách của Jake. “Bọn em cần nó để tính ra độ cao mà tên lửa đạt được. Nhưng có vẻ tụi em không thể nào tự học tích phân được. Chúng em thật sự cần được giúp đỡ, thưa thầy.”

Thầy Hartsfield nhìn Quentin đầy cảm thông. “Có lẽ em có thể tiếp thu được mấy thứ này,” thầy bảo, nhưng rồi lại gục mái đầu bạc xuống. “Nhưng không, thầy không thấy mục đích nào rõ ràng cho việc này cả.”

“Chúng em cần học để có thể biết cách cải thiện việc chế tạo tên lửa, thưa thầy,” tôi nài nỉ. “Điều này hoàn toàn tốt cho tương lai của chúng em, thầy không thấy sao?”

Chợt thầy Hartsfield tỏ vẻ mềm yếu trong giây lát, mắt long lanh ngấn nước, nhưng rồi trở lại ngay vẻ nghiêm khắc thường lệ. “Hickam à, tôi có nghe nói về nhóm của em. Thầy Turner cũng từng nhắc về các em, nhưng không có lời tốt đẹp nào cả.”

“Nếu như chúng em có thể xin thầy Turner chấp nhận cho thầy dạy chúng em thì sao ạ?” tôi hỏi.

Một nụ cười chợt thoáng hiện trên mặt thầy Hartsfield. “Thầy dĩ nhiên sẽ làm theo chỉ thị của thầy Turner. Nhưng hiển nhiên em biết chẳng có hy vọng mong manh gì về lớp học này cả.”

“Sao lại không ạ?” Billy gặng hỏi.

“Bởi vì,” thầy Harstfield thở dài, nhìn xuống và lắc đầu, “đây là trường Big Creek. Nếu như là trường Welch thì hiệu trưởng ở đó có thể tán thành lớp học này, nhưng ở đây thì không. Chúng ta đang ở trong ngôi trường của những người thợ mỏ và cầu thủ bóng bầu dục, và từ đó đến nay, chúng ta luôn là như vậy mà thôi.”

Chúng tôi lao nhao phản đối. “Thật không công bằng chút nào!”

Chợt thầy Hartsfield quắc mắt nhìn bọn tôi. “Ai nói với các em rằng cuộc sống này công bằng hả?” thầy hỏi.

“XEM NÀO, mấy cậu bé chế tạo bom-ống,” thầy Turner cất lời từ bên kia bàn giấy. “Và cả cô Riley nữa? Tôi hy vọng rằng cô không phải tới đây để báo cho tôi biết là đã làm nổ tung lớp hóa học chứ!”

Cô Riley từ tốn trình bày với thầy về mục đích của bọn tôi và đưa cho ông xem cuốn sách hỏa tiễn. “Các em ấy hoàn toàn nghiêm túc trong việc này, thưa thầy Turner,” cô kết lại câu chuyện.

“Vậy là thầy Hartsfield cũng đồng tình à?” ông hỏi.

“Nếu thầy cho phép thì thầy Harstfield sẽ dạy cho chúng em ạ,” tôi đáp.

“Đối đáp rất khéo đấy, Hickam,” thầy Turner quan sát, một bên lông mày nhướng lên. “Cô Riley, cô có thật sự tin rằng đây là ý tưởng tốt không?”

“Vâng có, thưa thầy.”

Thầy nhịp nhịp ngón tay lên mặt bàn láng bóng. “Tôi thấy rằng cô còn phải học lại kỉ luật nhà trường đấy. Cho dù có muốn, tôi cũng không thể cấp phép cho lớp học này. Phải có sự chấp thuận của giám đốc sở nữa, nhưng chắc chắn rằng điều này là vô phương. ‘R. L., cô đang mơ mộng trên mây rồi đấy!’ ông ấy sẽ nói thế.” Nói rồi thầy xua tay ra hiệu cho chúng tôi ra khỏi phòng. “Xong rồi. Các người có thể đi.”

Hôm đó, cô Riley giảng bài mà không có nhiệt huyết như thường lệ, khóe môi cô chùng xuống. Nếu Mẹ tôi nhìn thấy lúc này, ắt hẳn bà sẽ phán ngay rằng cô Riley “đang để bản chất Ireland trỗi dậy,” và vì cô Riley thật sự là người Ireland nên tôi cũng cảm thấy có gì đó nguy hiểm. Trên đường đến lớp học môn Văn sau đó, tôi thấy cô bước ra từ phòng nghỉ giáo viên, thầy Harstfield nối gót đằng sau. Ông đang dán mắt xuống sàn, đầu thì lắc nguầy nguậy. Bất chợt cô bắt gặp ánh mắt của tôi và nháy mắt lại một cái.

Hôm sau, tôi và Quentin đang ngồi trong lớp tập máy đánh chữ thì được lệnh lên trình diện tại văn phòng của thầy Turner. Đến nơi, cô Turner, vợ và cũng đồng thời là thư ký của thầy Turner, đứng bật dậy khỏi ghế, tỏ vẻ cực kì khẩn trương. Cô dắt chúng tôi vào trong. Hai người đàn ông mặc quân phục đang đứng cạnh cửa sổ quay lại nhìn chúng tôi, băng vải trên tay họ tượng trưng cho Cảnh sát Tiểu bang miền Tây Virginia. “Chúng nó đây rồi,” thầy Turner nói, qua giọng điệu này tôi biết rằng mình đang gặp rắc rối lớn.

Mấy chú cảnh sát tiểu bang này trông thật to lớn trong bộ quân phục xám, uy thế của họ có thể làm thoái chí bất cứ ai. Một trong hai người bước về phía chúng tôi, trong tay chú cầm một chiếc ống kim loại dài, có gắn bộ phận thăng bằng. “Mấy chú nhỏ có nhận ra thứ này không?” Chú ấy đưa nó cho chúng tôi xem, cả hai cùng trố mắt nhìn.

“Của các em phải không?” Thầy Turner ra giọng kết tội.

Quentin hoàn hồn trước tôi. “Cho phép cháu xem xét kĩ lại nó được chứ ạ?” Chú cảnh sát đưa vật thể đó cho Quentin và cậu ấy xoay ngược đầu nó lại. “Thật thú vị đấy, phải không?” cậu ấy hỏi tôi. “Nhìn kĩ cách thức bộ thăng bằng được gắn vào này. Thấy không? Có gắn lò xo. Một thiết kế thật tinh vi!”

“Nó là cái gì vậy?” tôi hỏi, rốt cuộc cũng có thể nói nên lời.

“Thôi nào các em,” thầy Turner bảo. “Các em phải nói ra sự thật đi. Thầy nghĩ các em phải biết rõ nó là cái gì chứ. Nó là cái thứ mà các em vẫn gọi là hỏa tiễn chứ còn gì nữa.”

“Không đâu, thưa thầy,” tôi đáp. “Nó không phải ạ. Nhưng mà cái bộ thăng bằng này...” tôi cầm lấy vật thể đó từ tay Quentin. Tôi không biết chắc là mình đang nhìn vào vật gì, nhưng cho dù nó là cái gì đi nữa, tôi vẫn muốn so sánh diện tích của bộ thăng bằng và diện tích của phần ống. Tôi cảm giác rằng có những kiến thức mà mình có thể học hỏi từ đây. “Chú cho bọn cháu cái này được không ạ?”

Chú cảnh sát giật cái ống lại, mặt mày sa sầm. “Không được, nó là vật chứng đấy! Cái hỏa tiễn chết tiệt của các cháu đã làm cháy rừng. Nó đã đốt trụi cả đỉnh núi Davy và tí nữa thì thiêu luôn mấy căn nhà trên Quốc lộ Số 52 rồi.”

Tôi bắt đầu mơ hồ nhớ lại tin tức về vụ cháy này có đăng trên báo Welch Daily News. Có một vài suy đoán rằng đã có kẻ cố tình gây nên vụ hỏa hoạn này. “Chúng cháu không gây nên vụ này đâu!” tôi kêu lên.

“Chú đã đọc tin tức về bọn cháu trên cái tờ báo lá cải đó,” chú cảnh sát thứ hai cất tiếng, bỏ mặc lời phản đối của tôi. Chú ấy có khuôn mặt chữ điền to lớn và đôi mắt luôn dò tìm sự gian dối. “Mấy đứa là những người duy nhất trong cái tỉnh này có thể phóng hỏa tiễn, cho nên thủ phạm không ai khác là bọn cháu.” Nói rồi chú lấy còng ra. “Đi nào. Chú phải giải các cháu về Welch để hầu tòa. Cả hai chính thức bị bắt.”

“Còn mấy đứa nữa cùng tham gia vụ này,” thầy Turner nói. “Để tôi gọi bọn nó lên luôn.”

Bất chợt cô Riley xuất hiện. “Sao các anh lại đe dọa mấy đứa nhỏ này chứ?” cô gặng hỏi rồi chen vào giữa bọn tôi và hai chú cảnh sát với mấy chiếc còng lăm lăm trong tay.

“Bọn nó định đốt trụi cả một nửa cái tỉnh này chứ còn làm sao nữa,” chú cảnh sát đáp.

“Với cái hỏa tiễn này đấy,” chú cảnh sát kia nói thêm.

“Đám cháy xảy ra ở đâu?” cô hỏi lại, giọng ngờ vực.

“Núi Davy. Nằm giữa Coalwood và Welch, vừa vặn đường quạ bay. Hay đường bay của một chiếc tên lửa.”

Cô Turner trở lại văn phòng, trên tay là một tấm bản đồ của tỉnh. Cô nhìn chồng mình, thầy ấy biết (và cô cũng biết rằng ông biết) rằng chính cô đã gọi cô Riley lên để giải cứu chúng tôi. “Có lẽ vật này sẽ giúp được đấy?” cô đáp lại ánh mắt giận dữ của thầy và rồi lui ra ngoài. Chắc chắn cuối ngày hôm nay, một cuộc cãi vã trong nhà Turner sẽ nổ ra.

“Lại đây và chỉ cho mọi người biết tầm hoạt động tên lửa của các em đi,” cô Riley bảo tôi. Nói rồi cô trải tấm bản đồ lên bàn giấy của thầy Turner làm chồng tài liệu trên bàn vương vãi cả ra. Thầy đứng dậy, ngạc nhiên vì sự tự nhiên của cô, tay phủi phủi những vết bụi tưởng tượng trên áo.

Tôi nhoài người lên bàn, ngón tay run rẩy dò tìm ra vị trí của Coalwood rồi rà dọc xuống thung lũng về phía con sông ở Big Branch. “Đây ạ,” tôi chỉ vào điểm phía dưới tượng trưng cho Cape Coalwood.

Hai chú cảnh sát nhìn rồi một trong số họ dằn nắm đấm xuống tọa độ của núi Davy. “Cô thấy chưa, chỉ cách có 2,5cm!”

“2,5cm trên tấm bản đồ này bằng 10 dặm ở ngoài đời đấy,” cô Riley mỉa mai.

Quentin đang quan sát cái ống. “Phải rồi!” cậu ấy thì thào. “Lẽ ra cháu phải phát hiện ra ngay giây phút đầu tiên nhìn thấy bộ thăng bằng này chứ. Chúng có gắn lò xo, tạo lực đẩy để nó bung ra sau khi rời khỏi phần ống mẹ.”

Mọi người trong phòng đều trố mắt nhìn và cố hiểu xem cậu ấy đang nói về cái gì.

“Nó là pháo sáng làm hiệu của hàng không. Cháu đã ngờ ngợ khi nhìn thấy nó. Cháu từng đọc một cuốn sách về ngành hàng không dân dụng khoảng một tháng trước.” Quentin lướt qua tấm bản đồ. “Nhìn này. Phi trường Welch nằm đây, ngay kế bên núi Davy. Chắc chắn đây là pháo sáng rớt ra từ một chiếc máy bay nào đó rồi!”

Mấy chú cảnh sát nhìn cái ống, cầm lấy nó từ tay Quentin, đóng bộ thăng bằng rồi lại mở ra. Sau đó họ nhìn nhau rồi lại nhìn xuống tấm bản đồ. Thầy Turner tỏ vẻ xấu hổ ra mặt trước chúng tôi. Nhưng rồi ông lấy lại vẻ nghiêm nghị, cẩn thận xoay tấm bản đồ lại và xem xét kĩ lưỡng. Sau đó thầy đứng thẳng người lên và nói nhỏ nhẹ với các chú cảnh sát: “Tôi nghĩ các anh nên rời khỏi đây. Cô Riley, cô vui lòng nán lại một lúc nhé? Còn hai em...” Tôi có cảm giác như thầy đang quắc mắt nhìn mình. “Thầy nghĩ hai em nên quay lại lớp đánh máy chữ đi.”

Một tuần sau, thầy Turner cho gọi tôi và Quentin lên văn phòng, lần này không có chú cảnh sát nào đứng đợi chúng tôi cả. Thầy Hartsfield cũng đang ngồi trên chiếc ghế cạnh tường, ngước nhìn bọn tôi. “Big Creek sẽ mở lớp dạy tích phân. Tiết đầu tiên sẽ được bắt đầu trong hai tuần nữa nhưng chỉ giới hạn cho sáu học sinh mà thôi. Ông giám đốc sở chỉ cho phép 5 học sinh, nhưng thầy đã nài nỉ xin được 6 suất để tất cả thành viên trong câu lạc bộ chế tạo bom-ống của em đều có thể tham gia. Đơn đăng ký sẽ được phát ra ngay lập tức.” Thầy đứng dậy. “Được rồi, các em đã có được những gì mình muốn, bây giờ thì hãy đi đi. Và chỉ có trời mới giúp được các em nếu như làm lãng phí thời gian của thầy Hartsfield đấy nhé!”

Vài ngày sau, tôi được gọi lên văn phòng của thầy Turner, ông đang ngồi khoanh tay trên bàn, mặt mày tỏ vẻ buồn rầu. “Thầy đã cho em biết là chỉ có 6 học sinh được tham gia lớp học này, nhưng bây giờ có đến 7 học sinh đăng ký.”

Thầy Turner vỗ lên chồng hồ sơ. “Thầy rất tiếc là điểm số của em lại thấp nhất trong 7 học sinh.” Thầy quan sát tôi. “Hickam à, em vừa học được một bài học lớn của cuộc đời: Cuộc sống đôi khi thật trớ trêu. Em đã làm mọi thứ để có được lớp học này và bây giờ chính bản thân em lại không được tham gia.”

Tôi đứng đó, đầu óc quay mòng mòng, bụng dạ chùng hết xuống. “Thầy có thể cho em biết người nào lấy mất chỗ của em không ạ?” Rốt cuộc tôi cũng thốt nên lời.

“Dorothy Plunk.”

Tôi bước ra khỏi văn phòng, đi lang thang xuống sảnh lớn, lòng cảm thấy thật yếu đuối, rối loạn và thất vọng. Tôi đã định chạy đi tìm cô Riley, nhờ cô giúp đỡ mình vượt qua sự bất công khủng khiếp này. Tại sao không cho phép 7 học sinh mà chỉ được 6? Nhưng tôi đã không làm vậy. Thầy Turner giữ đúng lời hứa. Dorothy cũng có điểm cao hơn và xứng đáng được tham gia lớp học đó. Tôi nhớ lại khi đưa cho nàng xem cuốn sách hỏa tiễn, nàng đã từng nói rằng muốn học tích phân đến mức nào. Nàng cũng xứng đáng có được cơ hội như tôi.

“TỚ SẼ DẠY LẠI TÍCH PHÂN CHO CẬU,” Quentin bảo.

Chúng tôi đang đi lang thang trên sân bóng lạnh lẽo đằng sau lớp học của cô Riley và lớp sinh học của tụi lớp 10. Thầy Mams yêu cầu cô thực hiện một thí nghiệm hóa học có liên quan đến sự phân hủy của hợp chất hữu cơ. Quentin bảo có vài chất hóa học mà chúng tôi sẽ hứng thú. “Tớ không biết nữa, Q,” tôi đáp. “Sao cậu không học và giải quyết những công thức đó đi? Cậu đâu cần đến tớ.”

“Thật là vớ vẩn,” cậu ấy phản đối.

Cô Riley rắc một nhúm bột xám nhỏ lên bãi cỏ. “Đây là bột kẽm,” cô bảo. Rồi cô rắc lưu huỳnh lên đống bột và lấy que trộn đều. “Các em đã từng ngửi mùi trứng thối rồi phải không? Đó là sulfur dioxit sinh ra từ phản ứng hóa học của những chất hữu cơ bị thối rữa. Thí nghiệm này cũng sẽ bốc mùi hôi y như vậy.” Cô quăng một que diêm dài vào đống bột, một đốm lửa chói lòa lóe lên và tỏa ra đầy khói.

“Eo ôi,” lũ học sinh rống lên, đưa tay bịt mũi. Bọn chúng đã không chịu nổi, chạy thình thịch tản ra xung quanh và rùng mình cho đến khi cô Riley tập hợp cả đám trở về lớp.

Tôi và Quentin vẫn đứng lại ngoài sân. “Sonny à,” Quentin nói. “Tớ nghĩ rằng bọn mình vừa có chất nổ đẩy mới cho hỏa tiễn.”

Tôi rất ấn tượng với lượng khói và khí cực lớn mà hỗn hợp này sinh ra nhưng vẫn cảm thấy phân vân. “Q, tại sao chúng ta lại cần chất nổ đẩy mới? Chất nổ kẹo ngọt có vấn đề à?”

“Cậu thật may mắn khi có một nhà khoa học như tớ bên cạnh đấy, bạn già ạ, nếu không chắc cậu sẽ tiếp tục làm nổ tung mấy cái ống nhôm nhỏ bé của mình mà thôi.” Quentin thỉnh thoảng vẫn tỏ ra tự mãn mỗi khi cậu ấy muốn. “Cậu không để ý gì à? Chất nổ kẹo ngọt đã đạt hết công suất của nó rồi. Có làm gì đi nữa thì chúng ta cũng không thể đạt độ cao hơn được. Bọn mình cần một chất nổ đẩy mới.”

Tôi đá vào đống tro còn lại. “Cậu gọi đống này là gì?”

“Bột kẽm và lưu huỳnh.”

“Thứ này nóng hổi,” tôi bảo.

Quentin hất đầu lên rồi gật gật cứ như là một người thầy vừa nghe được câu trả lời đúng từ cậu học sinh tối dạ của mình vậy. “Chính xác,” cậu ấy đáp.

MÙA ĐÔNG 1959 DẦN TRÔI QUA, băng tuyết bắt đầu tan chảy, nhiều công nhân bị nghỉ việc năm ngoái được gọi trở lại khu mỏ. Nhà máy thép trên Ohio vừa nhận được đơn hàng lớn và cần rất nhiều than. Lần đầu tiên sau nhiều năm hoạt động, công nhân phải làm việc đến 3 ca với kế hoạch dày đặc suốt 7 ngày trong tuần. Những chiếc xe mới chở đầy các bộ thăng bằng và crôm đậu trước nhà thợ mỏ, kéo dài suốt từ New Camp đến tận Frog Level, và những bộ đu mới được sơn phết bóng loáng nằm chễm chệ ở sân sau. Phụ nữ và trẻ em được mặc quần áo mới. Những phòng khách đều sáng lên với những chiếc tivi mới cáu, và những chiếc điện thoại - được cung cấp từ công ty điện thoại, không phải từ khu mỏ - cũng xuất hiện trên các bàn nhỏ xinh. Mỗi lần gặp Bố, tôi đều thấy ông trong trạng thái quay cuồng; nhảy tới nhảy lui trả lời “hắc phôn”, vội vàng chạy lên khu mỏ vào lúc nửa đêm. Mẹ thì vẫn cặm cụi vẽ vời trong bếp, dường như bà muốn đem nhà tới bãi biển thì phải.

Cùng thời điểm đó, trong nhà đột nhiên trở nên chộn rộn: những huấn luyện viên của các trường đại học đến nhà mời Jim gia nhập trường của họ. Trái với sự lo lắng của Jim, việc đình chỉ thi đấu năm chẳng ảnh hưởng gì đến danh tiếng của anh ấy cả. Tôi bị đuổi khỏi phòng khách khi mấy người đó đến nhưng vẫn nghe rõ được tất cả mọi chuyện trong bóng tối từ bậc thềm phòng thay đồ. “Vì Chúa, anh bình tĩnh đi Homer,” tôi nghe Mẹ bảo Bố từ trong bếp khi những huấn luyện viên từ Đại học miền Tây Virginia đến thăm. “Anh sẽ bị vỡ tim mất thôi.”

“Em không thấy ai đang ở trong ngôi nhà này à?” ông hỏi vặn lại. Nói rồi ông đặt những ly trà thảo mộc ướp lạnh lên đầy khay, vội vã trở ra phòng khách; lúc đi ngang, ông phát hiện ra tôi và dừng lại. Miệng ông đang nở nụ cười rất tươi, nhưng khi thấy tôi, nụ cười đột ngột tắt ngấm. Chắc tôi trông rất buồn bã. “Có chuyện gì với con vậy?” ông cẩn trọng hỏi.

“Điểm số của con không đủ để vào học lớp tích phân.” Tôi nhún vai rồi kể tóm tắt mọi chuyện vì thấy rằng ông đang nôn nóng muốn trở lại trò chuyện với mấy vị huấn luyện viên như thế nào.

Ông quan sát tôi. “Để bố hệ thống lại nhé. Con đã đấu tranh cho lớp học này và cuối cùng là không được tham gia?”

“Hoàn toàn chính xác ạ,” tôi đáp.

“Con muốn bố nói chuyện với thầy Turner không?”

Tôi lắc đầu. “Không, thưa Bố. Ông ấy đã xử sự công bằng rồi.”

Bố gật đầu. “Đúng, ông ấy đã làm rất công bằng. Bố mừng vì con nhận thấy được điều đó.” Nói rồi ông quay ra phòng khách, không lâu sau, tôi nghe tiếng Bố cười vui vẻ.

Tôi bò lên cầu thang. Sau những bậc thang trên cùng, ngoài hành lang là một kệ sách đồ sộ với 6 tầng cả thảy. Tôi bật đèn hành lang lên và đứng ngắm mấy quyển sách, một hành động nhàn rỗi. Chợt mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy tựa sách Hướng dẫn tự học Toán nâng cao. Nó đã được lật qua rất nhiều, nhiều trang xoăn cả lại. Mục lục trong đó bao gồm các chương về phương trình vi phân và tích phân. Tôi còn tìm thấy một trang giấy tập màu vàng, những công thức viết bằng tay trên đó là của Bố. Thì ra tôi đang cầm trong tay quyển sách Bố từng dùng để tự học toán cần thiết cho công việc của mình. Sau đó tôi tự hỏi sao ông chả chịu cho tôi biết về nó. Chợt tôi cảm thấy bực bội, có lẽ ông không nghĩ tôi có thể học những gì ở trong đó.

Cha Lanier đã từng giảng rằng khi cánh cửa đóng lại trước mặt, chúng ta không nên quá lo lắng; vì một ngày kia, nếu như chúng ta thật sự đủ kiên nhẫn chờ đợi, Chúa sẽ lại mở ra một cánh cửa khác cho mình. Nhưng sự kiên nhẫn chẳng bao giờ là ưu tiên trong đầu Mẹ tôi, bà có một suy nghĩ khác và đã chỉnh sửa lại bài thuyết giảng rằng: một khi cánh cửa đóng lại, hãy tự tìm lấy cửa sổ và trèo vào. Tôi cầm lấy quyển sách của Bố về phòng - bây giờ, nó là của tôi.

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.