Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12. NHỮNG NGƯỜI THỢ MÁY

❊ ❊ ❊

Auk XIV - XV

KHI XUỐNG THĂM LẠI PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA MÌNH, tôi phát hiện Mẹ đã tịch thu mấy dụng cụ làm bếp, chỉ còn lại chiếc nồi đã bị chất nổ kẹo ngọt nổ tung làm méo mó từ lần trước. Nhưng tôi đã có thừa kinh nghiệm đối phó với Mẹ trong những lúc bà nổi giận với mình như vậy, cách tốt nhất là thành khẩn nhận lỗi và cầu xin sự tha thứ ngay tức khắc. Tôi thực hiện ngay khi tìm thấy bà trong bếp: “Mẹ ơi, con xin lỗi Mẹ nhiều lắm,” đầu tôi cúi gằm xuống, miệng lí nhí. Nói rồi tôi len lén liếc xem kết quả ra sao.

Bà thoáng nhìn tôi bằng ánh nhìn nghiêm khắc rồi tiếp tục khuấy đậu trong nồi. “Thứ nhất, con đã nói dối mẹ, thứ hai là, nỡ nói dối vào ngay ngày Chủ nhật thiêng liêng.” bà bảo.

“Con chẳng biết mình lúc đó nghĩ gì nữa,” tôi đáp lại, giọng giả vờ thảm não.

“Theo mẹ thấy thì con chẳng thèm suy nghĩ chút nào cả,” bà ngắt lời và khuấy đậu mạnh tay hơn.

“Con xin lỗi mà!”

Lúc này Mẹ càng khuấy mạnh làm món đậu trở nên nhão như bánh pút-đinh. Bất chợt bà dừng lại và quăng cái tạp dề cho tôi. “Con đừng có lê lết trong phòng bếp này mà không làm việc. Nhìn thấy mấy quả cật trên quầy không? Nấu cho lũ mèo ăn đi.”

Mừng rỡ vì được cơ hội làm việc trước mặt Mẹ, tôi vội vàng đeo tạp dề vào, đem mấy quả cật mỏng tanh bỏ vào bồn, rửa sạch chúng rồi chuẩn bị nồi để luộc. “Khuấy đậu tiếp luôn nhé,” Mẹ ra lệnh. “Đừng có để nó dính xuống đáy nồi đấy. Mẹ ra phòng khách, gác chân lên ghế rồi xem tivi như những người nhà Rockefeller nhàn hạ đây.”

“Vâng, thưa Mẹ,” tôi rầu rĩ nói. Nhưng thật ra tôi chẳng rầu rĩ chút nào cả, trái lại còn lấy làm vui sướng nữa. Mẹ đã tỏ ý tha lỗi, mọi việc có vẻ thật dễ dàng. Tôi luộc mấy quả cật, mùi khai bốc lên làm tôi nhăn cả mũi lại; rồi khuấy tiếp nồi đậu, mặc dù chẳng còn gì cần để khuấy cả. Daisy Mae cạ cạ đầu vào chân tôi, còn bên ngoài Lucifer cũng đang đòi vào nhà. Khi tôi để thức ăn xuống, hai ả mèo gừ gừ chén ngay. Món này bốc mùi như nước tiểu hâm nóng vậy, nhưng mặc kệ, miễn là Mẹ và mấy con mèo hài lòng là được rồi. Sau đó tôi xuống tầng hầm mở một lon thức ăn chó cho Dandy và Poteet rồi vuốt ve nựng nịu chúng để bù lại những ưu ái mà tôi đã dành cho mấy con mèo trên kia. Tiếp theo tôi ra ngoài vườn rắc thóc cho mấy chú chim đang tụ tập trên bàn ăn ngoài trời, quăng cho lũ thỏ ít bắp cải và mấy củ cà rốt. Cuối cùng tôi quành qua chái nhà, thăm nom Chipper. Nó đang chạy trong chiếc vòng bánh xe đồ chơi mà ông McDuff làm cho, cái đuôi bị cắt cụt vểnh hết cả lên. Phần đuôi bị cụt là kết quả của một lần bị kẹt vào chính chiếc bánh xe này. Lúc đó, Mẹ đã cố dán lại phần đuôi rụng lìa ra bằng mảnh băng keo xanh lấy về từ khu mỏ của Bố nhưng vô hiệu. Dù sao đi nữa Chipper vẫn yêu đắm đuối cái vòng bánh xe này. Theo lời Mẹ thì nó chẳng đi đâu xa mà chỉ chăm chăm phóng về cái vòng bánh xe mà thôi.

Lúc đi ngang qua Mẹ, tôi cố tình gây ra nhiều tiếng động nhằm cho bà biết tôi đang cố gắng làm việc như thế nào. Rốt cuộc bà cũng ngẩng đầu lên và nói: “Mẹ rửa mấy cái dụng cụ chế tạo tên lửa của con hết rồi, đang để trong cái túi giấy nằm trên tủ bát đĩa đấy nhé.”

“Cám ơn Mẹ nhiều.”

Mẹ cố nén cười: “Con khúm núm quỵ lụy đủ rồi đấy, đừng làm quá. À này Sonny?”

“Vâng?”

Mẹ nghiêm nghị phán: “Nếu con còn đi xuống cái hầm mỏ ấy một lần nữa thì mẹ sẽ lôi khẩu súng lục của Ông Ngoại Mất Nết cất trong tủ gỗ bấy lâu nay và bắn chết con ngay đấy.”

Tôi mới biết Mẹ cất một khẩu súng lục trong tủ gỗ, song chẳng lấy làm nghi ngờ gì điều này. Nhưng nếu khẩu súng đó là của Ông Ngoại Mất Nết thì sẽ to lắm, Mẹ sẽ phải dùng cả hai tay để nâng nó lên; còn mấy viên đạn chắc phải to bằng hạt của trái mại châu[30].

Theo Roy Lee kể lại từ mẹ cậu ấy thì đường dây thông tin qua hàng rào đã hào hứng xì xầm về cuộc cãi vã ầm ĩ của bố mẹ tôi tại thang máy hầm mỏ. Ai cũng đều nóng lòng chờ đợi diễn biến tiếp theo của vở nhạc kịch của nhà Hickam. Jim cảm thấy rất xấu hổ, một lần trong lúc đang lếch thếch đi bộ về nhà sau khi xuống xe buýt; anh ấy dịu giọng lại nói chuyện với tôi, nhưng cũng chỉ nhằm khuyên tôi biến mất khỏi cõi đời này cho êm chuyện.

Jim thì quá dễ đối phó. Với anh ấy, tôi luôn dùng “vũ khí ngôn luận” đúng chỗ và chọc xoáy vào nỗi đau với giọng điệu bới móc. “Anh nghĩ là mình béo lên vì không được chơi bóng bầu dục hay vì đêm nào cũng nuốt trọng cả cái tủ lạnh vào bụng ấy nhỉ?” Jim sửng cồ lên ra vẻ đe dọa, nhưng dằn lòng lại không đập cho tôi một trận ngay giữa đường, vì như vậy chỉ tổ xấu hổ thêm mà thôi.

Mặc dù tôi không thèm quan tâm đến cảm giác của Jim và đã dàn xếp được với Mẹ nhưng Bố thì vẫn là vấn đề nan giải. Tôi cũng đã từng làm Bố thất vọng song chưa bao giờ trực tiếp đụng chạm lòng tự ái của ông như vậy. Tôi cố nghĩ đủ điều để nói với ông mà không tìm ra điều gì thích hợp và hơn nữa, Bố chẳng cho tôi cơ hội nào để bày tỏ cả. Suốt mấy tuần tiếp theo, ông như lẩn tránh vào trong khu mỏ, chỉ về khi tôi đã ngủ say và rời khỏi nhà trước khi tôi thức giấc. Tôi lo lắng về Bố nhưng không quá chú tâm đến ông. Việc chế tạo tên lửa đã dạy cho tôi một cách suy nghĩ khác. Có quá nhiều thứ phải làm và ghi nhớ trong việc thiết kế và chế tạo tên lửa, bắt buộc tôi phải sắp xếp mọi thứ trong óc một cách trật tự. Tôi đã học được tất cả những bước để phân loại các quả tên lửa Auk. Rồi sau đó sắp chúng theo thứ tự cần phải hoàn thành và theo tầm quan trọng của từng loại. Giống như tôi phải đặt chúng vào những ngăn kéo trong đầu mình, biết rõ mở ngăn nào cần thiết và phải mở vào lúc nào. Khi tôi tâm sự việc này với Quentin, cậu ấy định nghĩa nó là “sự tiếp cận tuần tự” các vấn đề và tỏ ra rất ngưỡng mộ điều này. “Tớ luôn tin rằng điều này sẽ trở thành sự thật. Mọi công việc về chế tạo tên lửa sẽ đem lại cho bản thân chúng ta những thay đổi bất ngờ. Như cậu bây giờ này, suy nghĩ thứ tự đâu ra đó, ngày trước gặp cậu tớ chẳng nghĩ điều đó có thể thành hiện thực.”

Tôi tiếp nhận ý kiến của Quentin như một lời khen ngợi. Trong thời điểm này, về việc của Bố, tôi chẳng thể làm được gì, đành đóng ngăn tủ này lại đến khi tìm được giải pháp. Nhưng còn một thứ - chuyện mà Bố nói về chú Bykovski khi chúng tôi ở trong thang máy - cứ lởn vởn trong đầu tôi. Nó luôn là một ngăn tủ kí ức cứ mở toang. Tôi phải tìm cách đóng nó lại.

Ike và Mary Bykovski không có điện thoại nên tôi bèn cuốc bộ đến nhà họ sau khi tan học. Cô Bykovski mở cửa và lặng đi một lúc khi nhìn thấy tôi. Cô Bykovski trông mảnh dẻ với khuôn mặt nhợt nhạt và đôi gò má hóp. Mái tóc ngắn màu nâu suôn đuột và trông có vẻ không được thẳng cho lắm, dường như cô tự cắt và chẳng màng canh cho nó được thẳng thớm đàng hoàng. Mẹ bảo tôi cô Bykovski lúc nào cũng mang vẻ “tiều tụy”. “Chồng cô vẫn đang ngủ, làm việc ở công trường đã làm ông kiệt quệ rồi.” Cô bảo.

Tôi buột miệng thốt ra lời xin lỗi vì đã báo hại ông bị chuyển đổi công việc. “Không có vấn đề gì đâu Sonny. Dù sao thì tiền lương cũng khá khẩm hơn mà,” cô giả vờ xoa dịu.

Rồi cô mời tôi vào nhà, để tôi ngồi đợi một mình ở đi văng trong phòng khách rồi lên lầu. Căn nhà tràn ngập mùi bánh mì bắp và đậu - nguồn lương thực chủ đạo ở Coalwood. Tôi đảo mắt nhìn quanh và thấy một cặp kính lão nằm cạnh cuốn sách trên bàn kế bên ghế sofa. Nhìn kĩ hơn, tôi đọc được tựa sách: Nguồn nước, thật xa lạ với tôi. Đối diện với đi văng là chiếc tivi được đặt trên một cái kệ sẫm màu trông khá nặng nề. Trên nóc tivi là khung hình, trong đó là ảnh của Esther, con gái nhà Bykovski, đang ngồi xe lăn, đầu ngả vào một trên vai. Cô Bykovski đứng một bên, phía còn lại là chú Bykovski, chẳng ai trong số họ nở lấy một nụ cười.

Một lúc sau, chú Bykovski đi xuống phòng khách, ngáp dài và kéo căng dây đeo quần qua khỏi vai. “Chào anh bạn trẻ,” chú mỉm cười khi cô Bykovski đặt tách trà nghi ngút khói lên chiếc đĩa lót trên bàn cạnh cái ghế bành của mình. Rồi cô Bykovski hỏi tôi muốn dùng gì không, tôi đáp: “Không cần đâu thưa cô.” Cô khuất bóng vào nhà bếp ngay sau đó. Nhận thấy tôi đang nhìn tấm ảnh đặt trên nóc tivi, chú lên tiếng: “Rồi có một ngày nhà chú sẽ đón Esther về nhà và cho nó đi học lại chung với cháu.”

“Cháu cũng mong vậy,” tôi đáp. Thực ra, trong năm lớp 1 và 2, Esther luôn gây nhiều phiền phức, và thật xấu hổ khi chính bản thân tôi cũng cảm thấy hoan hỉ khi bạn ấy rời khỏi trường học. Thông thường, Esther ngồi lặng im tại bàn học của mình, nhìn thầy cô với ánh mắt vô hồn hay gục đầu xuống bàn. Nhưng có những lúc bạn ấy thay đổi trạng thái, gầm gừ và lên cơn co giật, khua hết tập vở, bút viết xuống sàn nhà. Thầy cô thường kiên nhẫn đợi đến khi Esther dứt cơn và bảo mấy đứa con trai nhặt mọi thứ lên xếp về chỗ cũ. Trong khi mọi học sinh khác phải cố gắng để tập viết cho giống những chữ trên bảng thì Esther luôn được tán dương cho mỗi vết gì nhìn giống giống các kí tự. Đến gần cuối năm lớp 2, Esther lên cơn co giật dữ dội, nôn mửa lên người thằng bạn ngồi phía trước, sau đó ngã nhào khỏi ghế và bắt đầu tỏ ra khó thở. Hiệu trưởng Likens vội vã vào lớp tôi, kéo lưỡi bạn ấy ra và nhét một cục giấy vào miệng cho Esther cắn lại. Trong khi cả lũ học sinh chúng tôi co rúm nép người vào sát tường thì bác sĩ tới và cáng Esther ra ngoài. Từ đó không còn thấy bạn ấy trở lại nữa. Không biết vì sao, tin tức đến tai nhà Bykovski rằng tôi chính là thằng bé bị Esther nôn mửa đầy người. Mẹ tôi kể lại, cô Bykovski đã gặp Mẹ ở Big Store và chặn bà lại, xin lỗi rối rít. Nhưng tôi có phải thằng bé đó đâu.

“Cháu đang nghĩ gì vậy, Sonny?” chú Bykovski lên tiếng, xua tan hồi ức về Esther đang diễn ra trong tôi.

Tôi hít một hơi sâu và kể cho chú nghe những gì xảy ra trong hầm mỏ và cả những gì Bố nói về Wernher von Braun và việc chú Bykovski là người Do Thái. “Bố cháu nói rằng nên hỏi chú về việc Tiến sĩ von Braun đã làm việc cho... người Đức và tất cả những cái khác nữa.” Tôi chẳng thể thốt lên được từ Phát xít. Tôi cảm thấy xấu hổ khi thốt ra những lời nguyền rủa trước mặt chú Bykovski.

Chú Bykovski thận trọng đặt tách trà xuống chiếc đĩa lót, căn phòng im ắng ngột ngạt, chỉ còn tiếng lách cách vang lên đơn độc. “Điều này khó đấy,” chú chậm rãi cất lời, dường như đang rất khó tiếp nhận những gì tôi vừa nói. Những ngón tay ông gõ nhịp lộp cộp lên chỗ gác tay. “Cái tên Tiến sĩ von Braun mà cháu vừa nói đến,” chú nói, giọng điệu vẫn rất chậm rãi và cẩn trọng, “đã giúp đỡ cho lũ quái vật, hắn phải gánh chịu mọi tội lỗi đó.” Giọng chú đột ngột đanh lại. “Cũng có những quan niệm về sự tha thứ và sự chuộc lỗi...” chú nhíu mày lại và lắc đầu. “Chúng ta cần phải nghe từ những học giả Do Thái, nhưng họ đang ở cõi Niết bàn, còn chúng ta thì ngồi đây.” Chú nhấp một ngụm trà rồi tiếp tục suy nghĩ. “Sonny, hãy nghe kĩ và nhớ rằng cháu đang nói chuyện với một người đàn ông hoàn toàn ngu dốt.”

Sau đó chú Ike Bykovski tiếp tục thuyết về một người đàn ông có thể thay đổi như thế nào và có thể tha thứ hay quên đi những điều xấu xa đó. “Tội lỗi này không phải của cháu Sonny ạ. Nhưng nếu như cháu hỏi chú rằng có ngưỡng mộ thân phận của Tiến sĩ von Braun bây giờ hay không thì vô ích thôi.”

Cô Bykovski nói vọng ra từ nhà bếp. “Có lẽ có một người bố đang ghen tị với một nhà chế tạo tên lửa đấy mà.”

“Mary!” Chú Bykovski cất giọng quở trách.

“Cô nghĩ rằng Bố cháu đang ghen tị với Wernher von Braun à?” Tôi hướng câu hỏi về cánh cửa bếp đang bỏ ngỏ.

“Chú chắc rằng vợ chú chỉ đang suy đoán vậy thôi,” chú Bykovski nói. Chú nhìn trừng trừng về phía nhà bếp rồi quay lại với tôi. “Dạo này việc chế tạo tên lửa tiến triển như thế nào rồi?” chú tỏ vẻ muốn chuyển đề tài.

Tôi cũng đang muốn lái sang chuyện khác từ nãy giờ. “Chúng cháu đã đạt được tới độ cao 24 mét rồi ạ. Lần sau cháu chắc rằng sẽ lên được tới hơn 300 mét!”

“Tốt quá! Còn cái xưởng kim khí nho nhỏ của cháu thì sao? Cháu có thường xuyên luyện tập không đó?”

“Có chút chút ạ. Nhưng bọn cháu cần thêm vài khóa huấn luyện nữa ạ.” Tôi bắt đầu giải thích về việc tôi và Quentin đã tìm ra giải pháp cho vấn đề miệng tên lửa bị ăn mòn, nhưng cần phải có những kĩ thuật kim khí vượt quá khả năng của chúng tôi.

“Chú sẽ bảo Leon Ferro cho, mọi việc sẽ được giải quyết nhanh chóng thôi.” Chú Bykovski bảo.

“Chú thật sự sẽ nói chứ ạ? Cháu không muốn chú gặp rắc rối gì nữa đâu.”

Chú Bykovski nhún vai, xua đi sự lo lắng của tôi. “Nhưng Leon sẽ đòi được đổi chác đấy. Cháu sẵn sàng cho việc này chưa?”

“Sẵn sàng hơn lần trước rồi ạ,” tôi vừa nói vừa mường tượng lại lúc tôi và O’Dell đi tìm mấy tấm thiếc làm mái nhà.

“Trong lúc cháu trao đổi, có thể tìm cho cô một cái tủ mới không?” tiếng cô Bykovski lại vọng ra từ nhà bếp.

“Mary!”

“Em chỉ đề nghị vậy thôi.”

“Để xem cháu làm được gì cô nhé,” tôi đáp lại trong khi chú Bykovski thầm nở nụ cười.

TUẦN SAU, Quentin bắt xe buýt tới Coalwood rồi cùng tôi đến xưởng kim khí điện máy lớn. Đến nơi, chú Ferro vẫy chúng tôi vào văn phòng. “Ừm, Ike có báo với chú là bọn cháu sẽ đến,” chú vừa nói vừa lùi ghế ra sau rồi gác chân lên bàn. “Nói cho chú nghe bọn cháu muốn gì nào.”

Tôi cho chú biết là mình đang cần một loại sắt thép có khả năng chịu nhiệt, áp suất và ôxy hóa cao để làm miệng tên lửa. “Loại mà bọn cháu đang dùng bị đốt chảy hết cả.”

“Có vẻ phải cần loại dày hơn nhiều đấy,” chú Ferro đáp. Đoạn chú lấy chiếc bút chì, chẳng hiểu vì lý do gì, đặt nó thăng bằng lên môi trên. Sau đó chú lắc lư cái đầu và cố giữ cho chiếc bút không bị rơi.

“Vâng thưa chú,” tôi đáp trong khi vẫn bị cuốn hút bởi thủ thuật của chú. “Bọn cháu nghĩ phải dày cỡ 2,5cm và cần khoan một lỗ ngay giữa luôn thể.”

“Vậy là bọn cháu phải dùng loại sắt SAE 1020 rồi,” chú Ferro kết luận, lấy cây bút chì xuống, gõ vào thái dương rồi giắt lên vành tai. Đoạn chú nhìn lên trần nhà và nói tiếp: “Loại này có nhiệt độ nóng chảy cao và sức căng lớn. Nhưng nó đắt đấy. Và cũng tốn nhiều thời gian để khoan và định hình. Đi theo chú nào.”

Tôi và Quentin lò dò theo bước chân chú xuyên qua cửa hàng, mấy người thợ máy của chú đang bận bịu với những chiếc máy khoan, máy phay và máy tiện. Khi họ nhìn thấy chúng tôi thì đều dừng tay, nhoẻn miệng cười và chào: “Mấy chú nhóc hỏa tiễn,” rồi họ truyền miệng nhau câu chào đó rôm rả cả cửa hàng, lẫn trong tiếng máy rền rĩ. Chú Ferro dừng lại ở chiếc bàn mộc và cầm lên sợi dây đo. “Chú nghĩ là còn phải bắt mấy đinh vít vòng quanh cái vật mà bọn cháu đang nhắc đến để định vị nó. Bọn cháu gọi nó là gì?”

“Miệng tên lửa ạ.”

“Bọn cháu còn cần phải bịt lại khe hở ở trên nữa ạ,” Quentin thêm vào.

Chú Ferro tần ngần nhìn tôi. “Bọn cháu cần một cái nắp chụp trên đầu tên lửa ạ,” tôi “phiên dịch” lại.

Chú gật đầu và lấy cây bút chì trên tai xuống, rồi lôi một tờ giấy từ băng ghế ra. Một số công nhân lảng vảng xung quanh và nhón lên nhìn qua vai chúng tôi. Họ nhe răng cười rồi hỏi chú. “Chúng ta sắp sửa chế tạo tên lửa luôn hả ông chủ?”

Chú Ferro đưa bút chì cho tôi. “Vẽ cho chú cái mà cháu cần làm.”

Tôi phác hai đường thẳng song song tượng trưng cho phần thân tên lửa rồi đến phần nắp trên đỉnh và phần miệng phía dưới (với một cái lỗ to bằng 1/3 đường kính khoan xuyên qua nó). Chú Ferro xem xét bức phác thảo của tôi rồi nói. “Sonny, nếu như cháu muốn chú làm mấy cái này thì phải cung cấp cho chú một bản vẽ kĩ thuật hẳn hoi. Không chỉ là bề mặt đơn giản như vậy mà còn phải có hình chiếu từ trên xuống và cả chi tiết cho phần nắp và miệng nữa. Nếu chú vẽ ra một ví dụ thì cháu có theo đó mà phác thảo lại không?”

“Dạ được, thưa chú,” tôi đáp. Trừ việc chiếm lấy trái tim của Dorothy, vẫn luôn là một câu đố không lời giải, tôi nhận ra rằng nếu như mình cố gắng thật sự thì việc gì tôi cũng làm được cả.

Chúng tôi cùng trở lại văn phòng. Chú Ferro ngồi xuống cạnh bàn giấy trong khi tôi và Quentin vẫn đứng. Chú nhìn tôi rồi nói: “Sonny, cháu biết nơi chú ở chứ?”

Chú ấy thừa hiểu là tôi biết. Chú sống tại một căn trong nguyên dãy nhà gạch cạnh nhà của Dantzler mà người ta thường gọi là Apartments. Tôi đã giao báo ở đó nhiều năm, có một lần còn lỡ quăng một tờ Bluefield Daily Telegraph trúng ngay mấy chai sữa đặt trước hiên nhà chú ấy nữa chứ.

“Mỗi lúc trời mưa là sân sau nhà chú trở thành một vũng bùn nhão nhoẹt ngay,” chú vừa nói vừa ngả người ra sau, tay choàng sau gáy. “Chắc chắn một ít sỏi sẽ cải thiện được vụ này rất nhiều đấy cháu.”

Vậy là cần đổi sỏi để có được nguyên liệu và công chế tác bằng máy. Sỏi, cũng giống như tất cả những thứ khác ở Coalwood này, Bố tôi đều cung cấp được. Sau khi phác thảo xong bản vẽ kĩ thuật cho miệng tên lửa, tôi chẳng còn nào khác ngoài việc lên khu mỏ tìm Bố. Khi tôi bước vào, ông ngước lên nhìn tôi từ chiếc bàn làm việc. “Bố nghe nói con đã đến nói chuyện với Ike Bykovski,” ông nói. “Và bây giờ là đến lượt Leon Ferro. Con đang toan tính chuyện gì phải không?”

Tôi luôn bị bất ngờ, không hiểu vì sao Bố gần như luôn biết được mọi việc mà tôi vừa làm. “Bố à, con thật sự cần sự giúp đỡ của Bố,” tôi phân trần.

“Con cần sỏi.” Ông lắc đầu. “Leon Ferro đã lằng nhằng với bố về vụ này mấy tuần nay rồi. Điều này là không thể, con quên nó đi.”

“Con phải làm gì để nó trở thành hiện thực?”

“Con chẳng làm được gì đâu. Con cầm cái gì đấy?”

Tôi đưa cho ông xem bản phác thảo miệng tên lửa, phần thân và nắp. Ông nhìn qua một lúc rồi phán. “Không đến nỗi tồi,” ông tỏ vẻ đồng tình. “Nhưng con phải chú thích thêm độ dày của cái ống nữa.” Nói rồi ông chỉ tôi cách để vẽ mấy mũi tên và đánh dấu kích thước.

“Cám ơn Bố,” tôi nói.

“Bây giờ thì biến đi. Bố còn nhiều việc phải làm lắm.”

Tôi cuộn bản vẽ lại. “Còn sỏi thì sao ạ?”

Ông nhìn tôi trân trân. “Con chẳng bao giờ chịu từ bỏ ý định phải không?”

“Mẹ nói đó là bản chất của nhà Lavender ạ.”

Lông mày Bố dựng đứng lên. “Chúa cũng phải đồng tình với bố đó là dòng máu của nhà Hickam!”

Tôi cảm thấy mình đang có cơ hội. “Bố, cho con xin lỗi về những gì xảy ra vào hôm Bố dẫn con vào hầm mỏ.”

“Khai thác than luôn nằm trong dòng máu của con, con trai ạ,” ông nhún vai. “Bố chắc là sớm hay muộn, con cũng sẽ tự nhận thức được điều này thôi.”

“Dù sao đi nữa, con vẫn muốn làm việc cho Tiến sĩ von Braun.”

Ông gật gù. “Để rồi xem.”

“Còn sỏi thì sao ạ?”

Ông thở dài. “Để rồi xem.”

“À, Bố này...”

“Gì?”

“Cô Bykovski cần một cái tủ mới nữa ạ.”

“Biến ngay!”

Ngay hôm sau, chú Duncan đến gắn tủ gỗ mới cho cô Bykovski, gần như cùng lúc với chiếc xe tải đầu tiên chở 2,5 tấn sỏi (có tất cả 3 chiếc) đến sân sau nhà chú Ferro. Tôi biết rằng phải cám ơn không ai khác ngoài Bố mình. Khi lên cửa hàng kim khí điện máy, tôi trông chờ được nhìn thấy thợ máy đang tất bật với mấy cái hỏa tiễn của tôi nhưng mọi thứ lại là một sự thất vọng tràn trề. Chú Ferro giải thích là đang bị hết ống sắt để thi công. “Nhưng chắc chắn sẽ có hàng lại nhanh thôi,” chú nói rất tỉnh và chẳng có lấy một lời xin lỗi.

“Nhưng chú đã hứa là sẽ làm nó mà!” tôi phàn nàn.

“Chú cần một ít gỗ để sửa hiên nhà trước, có vài chỗ bị mục rồi,” chú nói, tỏ vẻ bối rối.

Willy Brightwell là người thế chỗ chú Bykovski tại xưởng kim khí điện máy ở nhà than. Tôi biết chú ấy khá rõ. Will, Jr., con trai của chú vẫn thường cùng lũ trẻ xuống từ Mudhole chơi bóng bầu dục với bọn tôi trên khoảng sân xi-măng rộng lớn giữa nhà thờ và Club House. Chú Brightwell lắc đầu nguầy nguậy khi tôi xin chú cho mấy ống sắt. “Không, Sonny à, chú không thể cho cháu được. Cháu biết bố cháu ra sao mà.”

Tôi đề nghị yêu cầu cuối cùng của mình với Bố khi ông vừa đặt lưng xuống ghế và mở báo ra đọc. “Không đời nào,” ông nói rồi lạch xạch giở báo, đoạn nhảy nhổm lên khi nghe tiếng “hắc phôn” réo inh ỏi, “và đây là yêu cầu cuối cùng nhé.”

Hai ngày sau, ống sắt xuất hiện ở sân sau, nằm gác vào góc, cùng với mấy thanh sắt dài nữa. Tôi đón lấy chúng, chẳng hỏi lời nào. Nếu Bố cứ muốn giả vờ rằng không thật sự muốn giúp đỡ thì tôi phải hỏi này hỏi nọ làm gì?

Tại cửa hàng kim khí điện máy, chú Ferro trình cho chúng tôi xem thiết kế hỏa tiễn mới nhất, Auk XIV. Quentin nhấc hỏa tiễn lên xem xét trong khi mấy người thợ máy chế tác ra nó đứng vây quanh. “Cháu e rằng tỉ lệ khối lượng của chất nổ đẩy được nhồi vào và của thân hỏa tiễn rỗng này sẽ là quá nhỏ,” cậu tiếp lời. “Cháu rút ra được là hai khối lượng này có sự liên hệ mật thiết và phải tuân theo một thông số nhất định.”

“Ý cậu ấy là nó quá nặng,” tôi nói lại cho mấy chú thợ máy rồi đón lấy cái hỏa tiễn từ tay Quentin. Nó nặng thật, và không có nhiều khoảng trống lắm để nhét chất nổ đẩy sau khi miệng và nắp tên lửa được cố định. Bộ thăng bằng và cái chóp chỉ tổ tăng thêm trọng lượng mà thôi. Tôi nghi ngờ rằng ngay cả chất nổ kẹo ngọt cũng không đủ sức đẩy cái hỏa tiễn nhỏ nhắn nhưng nặng trịch này lên khỏi mặt đất.

“Cần phải tăng thể tích của phần ống nhưng không được làm khối lượng tăng quá nhiều,” Quentin nói.

“Phải làm nó dài hơn ra,” tôi lại phải “phiên dịch”.

Clinton Caton, một chú thợ máy, giơ tay xung phong. “Để tôi làm cho, ông chủ.”

Chú Ferro gật đầu tán thành. “Được rồi, Clinton, giao cho cậu đấy.”

Hóa ra chú Caton là một người rất có tầm nhìn. Chẳng cần tôi góp ý gì mà chú cũng tự động nối dài nó thêm 77cm, biến nó thành một con quái vật thực thụ và phải mất 1,5 nồi thuốc nổ kẹo ngọt mới đong đầy. Trong khi dung dịch còn mềm, tôi chọc cây que thủy tinh - mượn từ phòng thí nghiệm của cô Riley - vào giữa để tạo ra một lỗ rãnh chạy xuyên suốt chiều dài.

Cuối tuần sau, hỏa tiễn mới của chúng tôi ra mắt trong một cơn gió lạnh lẽo, mạnh mẽ cuốn xoáy khắp Cape Coalwood. Tôi thật e sợ rằng gió sẽ thổi bay chiếc tên lửa của bọn tôi mất. Sherman cùng Billy lôi ra một thanh sắt dài 1,83 mét - O’Dell tìm thấy nó bị vứt lăn lóc cạnh xưởng kim khí điện máy - rồi cắm xuống bãi đất cạnh bệ phóng. Chúng tôi quấn vài vòng dây kẽm quanh phần đầu và phần cuối thân hỏa tiễn rồi gài nó vào thanh sắt. Mấy người thợ máy của chú Ferro đang tụ tập xung quanh, run rẩy trong cơn gió chướng. Jake và chú Dubonnet cũng có mặt. “Trông có vẻ sẽ làm nên chuyện đấy,” Jake nhận xét chiếc thanh sắt định vị. “Mấy quả tên lửa nằm dưới cánh máy bay của anh ở Hàn Quốc cũng được gắn vào mấy cái rãnh ngắn nhằm giúp chúng phóng thẳng lên.”

“Chú nghe nói cháu gặp Ike Bykovski, rồi đến Leon Ferro và cuối cùng là xin bố cháu cung cấp vật liệu. Cháu đã đảo mấy vòng rồi phải không?” chú Dubonnet hỏi.

Tôi nhún vai, dù sao thì chú ấy cũng đã biết rõ mọi chuyện rồi.

“Vài anh bạn trong Liên minh đang tự hỏi rằng John L. Lewis sẽ nghĩ gì khi để hội viên của UMWA cùng tham gia chế tạo tên lửa.”

Tôi không thích cái giọng điệu này. Chú Dubonnet hoàn toàn có quyền cấm mấy người thợ máy làm việc cho tôi. Tôi chẳng biết cuộc chiến tranh ngầm giữa Liên minh Công nhân và bộ máy lãnh đạo sẽ ảnh hưởng gì đến Coalwood nữa. “Chú nghĩ ông ấy sẽ nói gì?” tôi rụt rè hỏi.

Chú ấy cười phá lên. “Chú chỉ thấy cặp lông mày đen rậm giật giật liên hồi. Ông ấy rất thích đề nghị này! Có lẽ chú sẽ đề xuất với ông ấy thành lập Liên Hiệp Mỏ và Công Nhân Hỏa Tiễn Hoa Kỳ sớm thôi!”

Sau khi ổn định cho Jake, chú Dubonnet và mấy anh thợ máy vào trong lô cốt hoặc núp an toàn sau xe hơi, chúng tôi choAuk XIV khai hỏa; nó bắt đầu bay lên từ bệ phóng, xoay một vòng xung quanh thanh sắt trước khi vút thẳng lên trời. Quentin liền phóng ra khỏi lô cốt với máy kinh vĩ trên tay và bắt đầu dõi theo đường bay. Sherman khập khiễng chui ra ngoài và hí hoáy ghi chép lại chi tiết của chuyến bay. Chiếc tên lửa bay nghiêng xuôi theo góc độ của ngọn núi - chúng tôi đặt là núi Hỏa Tiễn - và tiếp tục lên cao nữa. Nó đã trở thành quả tên lửa tuyệt nhất của bọn tôi tính tới thời điểm này. Khi chỉ còn là một chấm đen trên bầu trời xanh thẳm thì nó dừng lại và lao vụt xuống, biến mất sau đỉnh cao nhất của núi Hỏa Tiễn. Chúng tôi xuất phát, băng qua khu rừng. Billy đang dẫn đầu cả đám. Cậu ấy không những chạy nhanh mà còn sở hữu một cái mũi rất nhạy để lần ra dấu vết của mùi chất nổ kẹo ngọt bị cháy khét. Sau một giờ đồng hồ vất vả, đầu gối rớm máu vì va quệt vào mấy tảng đá trên đường leo lên núi, chúng tôi cũng tìm được Auk XIV. Nó cắm đầu xuống tảng đá duy nhất trong vòng 91 dặm lồi lên khỏi mặt đất. Phần thân cong vòng hết cả lại, còn cái chóp thì đã biến thành mùn cưa. Nhưng ít ra phần miệng tên lửa còn nguyên vẹn. Vẫn có sự ăn mòn xảy ra nhưng nó đã tồn tại được. Quentin sau cùng cũng hổn hển đến cạnh chúng tôi; ngay cả Sherman cũng băng qua rừng nhanh hơn cậu ấy. Quentin dừng lại, hai tay tì lên đầu gối, cố lấy lại nhịp thở rồi lướt qua cuốn sách lượng giác của Jake và kết luận: “914 mét”.

Chín trăm mười bốn mét!

“Tớ nghĩ bọn mình nên gọi cho mấy người đang làm việc ở Cape Canaveral, ít nhất cũng dạy họ được một hai thứ hữu ích rồi đấy,” Roy Lee bảo.

Tuần sau, mấy người thợ máy vẫy tôi vào trong xưởng và khoe chiếc tên lửa mà họ tự chế tạo. Nó phỏng theo thiết kế mới nhất của chúng tôi, nhưng dài hơn 15,24cm - vậy là dài 91,44cm cả thảy. Họ còn cố định phần nắp và miệng bằng vít thay vì hàn xì. Có cả đinh khuy được gắn vào phần đầu và cuối thân để gắn lên thanh định vị nữa. Tôi hồ hởi nhận lấy nó và cùng với mấy đứa bạn đong đầy chất nổ vào bên trong. Cuối tuần sau,

Auk XV phóng vút lên không trung trong tràng pháo tay vang dội của mấy người thợ máy. Tôi có thể nhận thấy ngay rằng nó sẽ không thể bay cao hơn chiếc Auk XIV được. Và thực tế đã chứng minh, nó chỉ đạt được phân nửa độ cao mà thôi. Mặc dù vậy, mấy người thợ máy vẫn tỏ ra cực kì hân hoan; còn tôi và Quentin thì lo lắng suốt cả tuần vì màn trình diễn đó, cố gắng tìm hiểu nguyên nhân của việc giảm độ cao.

“Có thể chúng ta đã đạt đến giới hạn mà chất nổ kẹo ngọt có thể làm được,” Quentin nhận xét. “Có lẽ mọi chất nổ đẩy đều có điểm bão hòa của chúng.”

“Chúng ta cần làm thêm nhiều thí nghiệm kiểm chứng nữa để chắc chắn về điều này,” tôi đáp.

Quentin ngước nhìn lên. Cuối cùng tôi cũng phải đồng ý với cậu ấy. “Anh bạn ạ, mặc dù tớ vẫn còn nhiều hoài nghi, nhưng có những lúc, giống như bây giờ này, khi tớ tin rằng cậu hoàn toàn có khả năng học hỏi. Cậu nghĩ như thế nào về việc tham gia hội chợ khoa học năm nay?”

“Chúng ta chưa sẵn sàng đâu,” tôi đáp. “Chúng mình vẫn cần tìm được cuốn sách để biết rằng mình đang nói về cái gì.”

Quentin nhún vai. “Nếu cứ theo đà này, chúng ta có thể tự viết sách ấy chứ.”

SỐ NỮ trong ban nhạc trường Big Creek nhiều gấp 4 lần nam giới. Mặc dù trước khi bị đình chỉ thi đấu, bọn cầu thủ bóng bầu dục luôn chiếm được trái tim của đám bạn nữ, nhưng giờ đây, mấy thằng con trai trong ban nhạc tụi tôi lại dễ tiếp cận với các nàng hơn. Không có trận bóng bầu dục nào diễn ra trong suốt mùa thu năm 1958, nhưng ban nhạc chúng tôi vẫn sang các thị trấn lân cận để diễu hành khi họ mời. Cần 2 xe buýt để tải hết 80 thành viên ban nhạc và tất cả dụng cụ cần thiết. Cảm giác đi xe buýt của ban nhạc rất thoải mái, nhất là sau khi chúng tôi biểu diễn và về lại trường vào ban đêm. Mệt mà vui, bọn tôi ngồi trong chiếc xe buýt tối om, một vài thằng may mắn còn được ngồi cạnh các nàng mà chúng thích, cùng âu yếm đằng sau xe. Dorothy cũng là thành viên chơi kèn saxophone và luôn thích ngồi cạnh tôi. Thỉnh thoảng nàng còn dựa đầu vào vai tôi nghỉ ngơi trong khi tôi thì ngồi cứng đờ như khúc gỗ, luôn sợ rằng nếu mình nhúc nhích sẽ làm phiền giấc nghỉ của thiên thần ấy.

Mọi thành viên ban nhạc đều thích hát thì thầm trong bóng tối, những cơ thể của họ luôn tỏa ra hơi ấm khắp xe buýt. Bài hát được ưa chuộng nhất là: “Hãy cho tôi biết vì sao.”

“Hãy cho tôi biết vì sao những ngôi sao tỏa sáng.

Hãy cho tôi biết vì sao cây thường xuân lại mọc leo.

Hãy cho tôi biết vì sao nước biển màu xanh biếc.

Rồi tôi sẽ cho em biết vì sao tôi yêu em.”

Tôi còn nhớ trong lúc cựa đầu trên vai tôi, Dorothy có thì thầm gì đó.

“Bởi vì Thượng Đế làm những ngôi sao tỏa sáng.

Bởi vì Thượng Đế cho cây thường xuân mọc leo.

Bởi vì Thượng Đế làm cho nước biển xanh biếc.

Bởi vì Thượng Đế tạo ra anh, vì thế em yêu anh.”

Nàng nói gì ấy nhỉ? Những điều mà nàng chỉ có thể nói với tôi trong mơ thôi sao? Tôi cũng hy vọng như vậy và cũng sẵn sàng vờ như được đón nhận chúng. “Mình cũng yêu cậu,” tôi thì thào thật nhỏ đến nỗi cả mình cũng không nghe thấy được, nhưng tim thì vẫn đập loạn xạ vì sự táo bạo đó. Rồi chiếc xe vẫn đều đặn lăn bánh, chở theo đầy những giấc mơ.

TRONG MỘT TIẾT HỌC vào cuối tháng 11, tôi bạo gan mời Dorothy cùng tham dự lễ Noel. “Mình ước gì có thể đi được,” nàng vừa nói vừa lắc đầu buồn bã. “Bạn trai mình quen từ hè vừa rồi đã mời trước và mình đã chấp nhận mất rồi.”

Bạn trai đó là một sinh viên đại học ở Welch, có lần Dorothy đã kể cho tôi biết rồi. “Nhưng cậu đã nói là anh ta đối xử tệ bạc với cậu lắm mà!” tôi phản đối. “Sao cậu lại đồng ý hẹn hò với anh ta nữa vậy?”

“Ừm, nhưng mà anh ấy đã mở lời trước khi mình kịp nhận ra bản chất thật đó.” Nàng giải thích.

“Rốt cuộc là cậu vẫn dự lễ Noel với hắn?”

“Mình đã nhận lời rồi và không muốn làm trái lời hứa,” nàng thở dài. “Nhưng mình sẽ nhớ đến cậu, Sonny à. Mình sẽ nhớ lắm.”

Ánh nhìn của nàng dành cho tôi thật đáng thương, tôi chẳng làm gì khác ngoài việc cảm thấy tội nghiệp cho nàng. Vào đêm buổi lễ diễn ra, tôi vùi mình ở nhà, miễn cưỡng dán mắt vào cuốn Thứ năm ngọt ngào của Steinbeck lấy từ kệ sách trên gác của Bố. Tôi thức đến tận 2 giờ sáng, chỉ đi ngủ khi biết chắc rằng Dorothy đã an toàn về nhà. Hôm sau tôi gặp Roy Lee. Cậu ấy có tham dự buổi lễ nên tôi không thể không hỏi thăm về Dorothy. “Tớ có thấy cô ấy,” cậu ấy đáp một cách lập lờ.

“Cô ấy... cô ấy có vui vẻ không?”

Roy Lee nhìn lướt qua tôi rồi hướng về phía khoảng không vời vợi. “Cậu muốn tớ nói gì nào?”

“Ừm, thì cứ nói sự thật thôi.”

Roy Lee đặt tay lên vai tôi. “Cô ấy lao vào hắn như con thiêu thân vậy.”

NOEL NĂM 1958 không phủ đầy tuyết trắng nhưng lại rét đậm rét hại, thật ra điều này cũng không phải là vấn đề lớn đối với một thị trấn nằm trên hàng tỉ tấn than tinh khiết nhất thế giới này. Như thường lệ, Mẹ vác về cây thông lớn nhất trong thị trấn, rồi tôi cùng Jim hì hục kéo nó vào nhà cho bà. Mẹ không muốn cắt ngắn cái cây đi nên bắt bọn tôi dựng nghiêng nó, ngọn chạm vào trần nhà. Khi Bố về, ông lặng lẽ vác thang ra và cắt đi 6 tấc trên ngọn. Mẹ chẳng hài lòng với công trình của Bố tí nào, bà bảo ông đã làm cho nó nhìn giống bụi cây hơn là một cái cây hoàn hảo. Sau khi bọn tôi vừa hoàn tất việc trang hoàng cây thông thì Daisy Mae cùng Lucifer lôi hết mấy chiếc bóng đèn và vật trang trí trong tầm với của chúng xuống; còn Chipper thì chui vào mai phục bên trong rồi kêu quang quác lên mỗi khi có ai đi ngang qua.

Buổi sáng Noel hôm ấy, Mẹ vào phòng, ngồi xuống giường và đưa tôi một bì thư lớn giấy làm từ cây chuối sợi. Chẳng cần biết trong đó chứa gì, tôi mở ra; và ngạc nhiên xiết bao, đó là một tấm hình của Tiến sĩ Wernher von Braun cùng mấy dòng chữ viết tay của chính ông. Tôi không tin những gì mình đang đọc. Ông chúc mừng thành quả về những chiếc tên lửa của tôi, rồi khuyên tôi nên tiếp tục học hỏi và có thể một ngày nào đó sẽ có cơ hội được làm việc trong ngành không gian! Cuối thư, ông viết: Nếu cháu làm việc cần cù thì sẽ làm được bất cứ thứ gì mình muốn.

Tôi nhìn đăm đắm tấm hình và những dòng thư, đọc từng hàng, từng hàng một. Tôi không thể tin được là mình đang chạm vào vật mà người đàn ông vĩ đại đó đã chạm vào. “Mẹ? Làm sao Mẹ...?”

Bà cười thật tươi, tôi nghĩ bà đang tự hào. “Mẹ viết thư cho ông ấy và kể về con, Sonny ạ. Mẹ nghĩ rằng ông sẽ hứng thú với một người đang sẵn sàng đến giúp chế tạo hỏa tiễn cùng mình.”

Tôi ôm choàng lấy cổ bà và ghì thật chặt. Điều này làm bà ngạc nhiên không khác gì sự ngạc nhiên bà đã dành cho tôi. Tôi chưa từng có một món quà nào tuyệt vời đến vậy! Trong suốt thời gian còn lại của mùa lễ Noel năm ấy, tôi đọc đi đọc lại những dòng chữ của Braun. Tôi còn đưa cho Jim đọc nhưng anh giả vờ bảo rằng chẳng biết Braun là ai. Tôi cũng cố gắng đưa cho Bố đọc nhưng ông chỉ toàn hứa miệng và rồi chẳng bao giờ sờ tới nó cả.

Ngày đầu tiên đi học lại sau lễ Noel, tôi mang theo tấm hình của Braun đến trường. Vào giờ ăn trưa trong giảng đường, Quentin nâng niu nó như một thánh vật thiêng liêng. “Thật phi thường,” cậu ấy thì thầm trong sự tôn kính tuyệt đối.

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.