MỘT ĐÊM THÁNG GIÊNG, trời bắt đầu đổ tuyết, lác đác vài hạt rồi dần dần đều đặn hơn. Trước khi rúc vào chăn ấm, tôi nghe thấy những bước chân lộp xộp của toán thợ mỏ làm việc ca khuya lê trên lớp tuyết dày. Tôi nhổm người lên nhìn ra ngoài nhưng không trông rõ được họ qua màn tuyết trắng xóa. Daisy Mae núp mình vào tôi, grừ grừ. Tôi luồn tay xuống vuốt ve nó và từ từ chìm vào giấc ngủ.
Tôi bị đánh thức bởi tiếng bánh xích kéo lê trên lớp tuyết dày đặc. Nhìn qua cửa sổ, tôi chỉ thấy toàn một màu trắng bao phủ khắp nơi, từ sân nhà, con đường, trạm nhiên liệu và cả những dãy núi trùng điệp đằng xa. Duy chỉ còn nhà than và thang máy, đang ẩn hiện trong đám khói bốc lên từ những đường hầm sâu thẳm nằm bên dưới là vẫn giữ được màu đen truyền thống của chúng. Tôi tròng chiếc quần jeans, áo thun, áo len vào người rồi vội vã xuống bếp, lúc này Mẹ đã bật sẵn đài WELC trên radio. Phát thanh viên Johnny Villani vui vẻ nhận xét về tình hình tuyết rơi, cảnh báo mọi người phải cẩn thận khi ra đường, nhưng tuyệt nhiên chẳng có một thông cáo nghỉ học nào được công bố cả. Khi tôi xuống tới bàn ăn thì Jim đứng bật dậy, càu nhàu rằng phải chi có thể nghỉ một ngày đi trượt tuyết cho thoải mái, rồi biến lên phòng tắm trên lầu. Tôi ực vội tách sô cô la nóng và nuốt trọng miếng bánh mì rồi chạy lên lầu gom góp lại bài tập về nhà vào cuốn sổ tay, sau đó xuống thành cầu thang sắp xếp sách học, cuối cùng là dành vài phút xemToday Show với Dave Garroway trên tivi. Chỉ có một ít tin tức về cuộc đua lên không gian nên khi vừa thấy Jim dùng xong phòng tắm là tôi liền phóng hai bước một lên cầu thang, đánh răng, rồi hối hả trở xuống chộp lấy chiếc áo choàng nặng trịch trong phòng chứa quần áo. Jim đã rời khỏi nhà từ lúc nào rồi, có lẽ khi tôi ra đến cửa thì anh ấy đã lên xe buýt không chừng. Mẹ đuổi theo tôi, áo choàng mặc trong nhà của bà thắt chặt trong cái lạnh buốt giá; bà vừa bắt kịp để đưa cho tôi chiếc túi nâu đựng cơm trưa. “Lại trễ nữa rồi, cậu Hickam nhỏ ạ!” Jack phán và lườm tôi. Chợt thấy Mẹ tôi, ông cất tiếng chào: “Elsie, chào buổi sáng, mọi thứ sao rồi?”
“Mọi thứ sẽ tốt hơn nếu tôi có thể khiến cho Sonny năng động hơn vào buổi sáng, Jack ạ,” bà mỉm cười đáp.
“Chà, một ngày nào đó cậu nhỏ sẽ hiểu ra vấn đề thôi,” Jack nói, đóng cửa xe lại. Mẹ vẫy theo và cẩn thận nhón chân bước đi trên đôi dép ở nhà.
Tôi len lỏi qua lối đi rồi chen vào chiếc ghế đã có Jane Todd và Guylinda Cox đang ngủ gà gật. Phía bên kia là em họ của Jane - Carol Todd cùng Claudia Allision đang ép vào người tôi. Khi băng qua thị trấn, tôi thấy lác đác các bà đang hì hục xúc than chất lên xe đẩy để đổ vào chiếc bếp lò Buổi Sáng Ấm Áp trong nhà. Hầu hết họ đều đi chân đất, những chiếc áo ngủ màu nhạt ẩn hiện thấp thoáng bên dưới lớp áo len; chúng là những món quà mà người thợ mỏ thường dành cho vợ họ vào lễ Noel trong thời kì thịnh vượng. Mẹ thường hay nhắc về khoảng thời gian mà hai vợ chồng còn chung sống ở một ngôi nhà như vậy ngay sau khi kết hôn. Có lần bà phóng ra ngoài trời đông tuyết đến chỗ thùng than mà không mặc gì khác ngoài chiếc áo ngủ làm cả toán thợ mỏ đứng sựng cả lại. Họ dừng lại và buông lời lả lơi.
“Elsie à, Homer phải mua cho cô một cái áo khoác ngay đi thôi.” Chú O’Leary trìu mến nói.
“Đúng là hắn phải mua ngay đi,” chú Larsen đế thêm vào, giọng có vẻ giận dữ nhưng mắt thì lòi cả ra.
“Ây dà, Homer, anh ta thật là một chàng trai tốt số,” chú Salvadore vừa nói vừa đặt ngón tay lên môi.
Mẹ đẩy chiếc xe vào hiên nhà nhưng trên đường bà trượt chân, ngã chổng cả hai vó lên trời, đôi dép lê đi trong nhà màu hồng lượn bay trên không trung. Cũng còn may là lớp tuyết mềm mại đã đỡ bà khỏi một cú ngã chí mạng, cả tấm lưng đập thẳng xuống đất. Mấy người thợ mỏ rục rịch leo qua hàng rào tỏ ý giúp đỡ nhưng bà đã ngăn họ lại ngay, không cho phép họ tiến thêm một bước nào nữa. Bà nói rằng mọi thứ ổn cả song không dám nhúc nhích, vì nếu bà đứng dậy thì họ sẽ nhìn thấy được nhiều thứ nhạy cảm khác, điều mà Mẹ không muốn tí nào, kể cả đối với Bố. Cứ thế bà ngồi thừ người ra đấy, làm tan chảy cả lớp băng bên dưới đến khi mấy người thợ mỏ bỏ đi sau mọi nỗ lực yêu cầu được giúp đỡ bất thành. Ngay sau đó, bà chạy vụt vào nhà. Cả ngày hôm ấy, vì xấu hổ, bà thậm chí không ló mặt ra khỏi cửa. Đến khi Bố về, bếp lò Ấm Áp Buổi Sáng tuyệt nhiên lạnh tanh.
“Sao em không giữ cho lò sưởi hoạt động?” ông càu nhàu, mở cửa lò ra, nhìn vào đống tro tàn trên vỉ. “Anh làm việc vất vả cả ngày, khi về nhà, anh mong đợi được cảm nhận được một thứ gì đó đang cháy trong cái bếp lò này chứ.”
“Anh muốn có gì đang cháy trong này hả?”
“Đương nhiên rồi.”
“Được thôi.” Mẹ lên lầu và trở xuống với chiếc áo ngủ trong tay và cả đôi dép lê, nhét chúng hết vào bếp lò rồi nổi lửa. “Hài lòng chưa?” Bà hỏi. Sau khi nghe thuật lại mọi chuyện xảy ra, Bố còn châm dầu vào lửa khi nói ngôi nhà có mùi khó ngửi suốt nhiều ngày cho mà xem. Và theo Mẹ kể lại thì ngay năm sau, nhà tôi được ưu tiên gắn lò sưởi.
Có thêm khoảng 12 đứa nữa lên xe buýt tại New Camp và đến Substation thì Roy Lee cũng có mặt. Cậu ấy có bài thuyết trình trong lớp nên bắt đầu thực tập với nhỏ Linda Bukovich buồn chán. Khi Carlotta Smith lên xe tại Number Six thì lũ con trai chúng tôi trở nên hoạt bát hơn, ngắm nhìn cô ấy bước men theo lối đi trong lớp áo len bó sát người và áo khoác ngắn để hở. Thật ra cô nàng không phải đẹp gì mấy, chỉ có khuôn mặt trẻ thơ bầu bĩnh lấm tấm mụn và mái tóc xõa; nhưng dáng vẻ và mùi hương toát ra từ cô nàng cũng đủ làm loạn nhịp tim những cậu trai trẻ rồi. Roy Lee chồm người sang, nhếch chân mày và thì thầm vào tai tôi: “Old Glory: Ối, quốc kỳ nước Mỹ,” làm tôi không nhịn được và bật cười khanh khách. Thật ra là vì có một câu châm biếm dành cho những cô nàng có thân hình đẹp nhưng gương mặt thì xấu xí: “Hãy trùm lá cờ lên mặt cô ta rồi bạn sẽ biết quốc kỳ Mỹ dùng để làm gì.” Mà thật ra chúng tôi chắc cũng chẳng bao giờ có cơ hội để làm được điều đó. Carlotta không tìm được chỗ ngồi nên cô nàng đứng cạnh tôi, cặp mông tròn lẳn cách mặt tôi chỉ vài centimet. Chẳng hiểu là do cảm thấy tội lỗi hay xấu hổ, tôi tự động đứng dậy nhường chỗ, cô nàng lí nhí cảm ơn rồi chen vào giữa Jane và Guy Linda - vừa mới tỉnh giấc và xích qua một tí cho Carlotta ngồi. “Hú hu.” Roy Lee cười nhăn nhở, đứng dậy để thì thầm với tôi. “Cậu nghĩ là tỏ ra lịch sự thì sẽ đổi chác lại được gì à? Nàng Dorothy yêu dấu sẽ nghĩ gì về những cái cậu đang toan tính trong đầu nhỉ?” Nói xong, Roy Lee ngồi xuống, cười khẩy. Tôi cố chộp lấy Roy Lee nhưng cậu ấy né được và cười phá lên.
Jack theo dõi hết mấy trò vớ vẩn của chúng tôi qua kính chiếu hậu. “Cậu nhỏ nhà Hickam,” ông quát, “chú mày muốn bị quăng khỏi xe lần nữa à? Không chứ gì? Vậy đi lại ngồi xuống đây nhanh lên!” Tôi len lỏi qua lối đi ảm đạm đầy những kẻ gật gà gật gù rồi ngồi xuống bậc cửa mà Jack chỉ định. Sau đó Jack vào số và xe bắt đầu lăn bánh trên đoạn đường thẳng ngắn ngủi trước khi đến khúc cua vào núi Coalwood.
Khúc cua thứ 5 đặc biệt gieo neo, nó bọc quanh một vách núi thẳng đứng cao hơn 30 mét và mặc nhiên không có một cái cây nào để cản lại nếu xe bị lệch bánh lái. Jack thắng xe lại và ra lệnh: “Tất cả xuống xe, đi bộ qua khúc cua và lên đoạn đường thẳng, chờ ta ở đó. Để đồ đạc lại hết.”
Nói rồi ông mở cửa, tôi cùng cả đám học sinh - một nửa đang còn ngái ngủ - loạng choạng ra khỏi xe. Chúng tôi lặng lẽ lê bước qua khúc quanh đến nơi Jack chỉ định rồi đợi ở đó. Ông nhẹ nhàng lèo lái qua khúc quanh gài số đánh xe đến bên chúng tôi, mở cửa cho cả bọn vào lại bên trong. Tôi lại ngoan ngoãn đóng đô lại trên bậc cửa. Lên đến đỉnh núi Coalwood, chúng tôi còn phải đối mặt với những triền dốc cheo leo, thẳng đứng; tiếp theo đó còn nhiều khúc cua quanh co, trồi lên thụt xuống. Jack gài số nhỏ và đưa chúng tôi chậm rãi vượt qua. Ra đến một đoạn đường thẳng ngắn lại đi vào một khúc cua ngầm khá rộng bao trùm bởi mỏm đá lớn. Tôi ngắm nhìn và tự hỏi cái trụ băng dài 9 mét đang treo mình trên mỏm đá kia có phải là nhũ đá pha lê hay không.
Xe bon bon lăn bánh xuống Little Daytona, đến Caretta, băng qua phần đầu khu mỏ, rồi lên tới núi War; đến đây, Jack lại ra lệnh cho chúng tôi xuống và đi bộ qua một khúc cua đặc biệt nguy hiểm khác. Hôm đó chúng tôi đến trường muộn cả giờ đồng hồ. Đến nơi, thầy Turner đang sốt ruột đứng đợi ngoài cổng trường. “Vào lớp như giờ thường lệ nhanh,” thầy bảo. “Ghi lại bài tập của tiết học trước từ bạn bè nhé. Khẩn trương lên, các trò!”
Trước khi tiết hóa bắt đầu, cô Riley gọi tôi lên bàn giáo viên. “Cô có cái này cho em, Sonny,” cô nói. “gặp cô trước khi về nhà nhé.” Nhưng sau cả ngày thích thú ngắm tuyết rơi và hân hoan khi được về nhà sớm 1 giờ đồng hồ nên đến khi đang trên xe buýt về nhà tôi mới chợt nhớ lẽ ra mình phải đến gặp cô trước đó.
Tuyết vẫn tiếp tục buông suốt cả đêm. Lucifer mò vào trong nhà, rúc xuống tấm thảm dưới bậc thềm cuối của tầng hầm. Dandy cùng Poteet cũng yên vị dưới hầm, họa hoằn lắm mới chạy vụt ra ngoài sân để giải quyết vấn đề cá nhân. Sáng hôm sau, tôi bò ra khỏi giường trong không gian tĩnh lặng. Chẳng có gì khác ngoài đường trừ những người thợ mỏ đang lê bước. Johnny Villani tuyên bố: Trường học vẫn mở cửa nhưng xe buýt tạm ngưng hoạt động. Khuyến khích học sinh nào có thể đi bộ đến trường, số còn lại được phép nghỉ học.
Tôi xuống phòng khách để được hưởng đặc ân hiếm hoi là xem Today Show suốt cả ngày. Nhưng chưa kịp nhìn thấy bóng dáng của J. Fred Muggs thì một quả bóng tuyết đã văng ầm vào cửa sổ. Tôi nhòm ra ngoài, thấy O’Dell, Roy Lee và Sherman đang ngồi trên xe trượt tuyết. Jim và lũ bạn của anh đã lấy xe trượt hướng về trung tâm Coalwood, để chơi đùa trên con đường trước nhà thờ và Club House từ sớm. “Ra đây nào!” O’Dell hét toáng, hăng tiết nhảy dựng lên liên hồi. “Bọn mình đang ra Big Creek! Chưa có ai ra đó bằng xe trượt tuyết đâu nhé! Bọn mình là người tiên phong đấy!”
Mẹ đang từ tốn nhấm nháp cà phê đằng trước bãi biển nhiệt đới của bà. Cây cọ được vẽ xong, hình như bà đã thêm vài trái dừa lên đó thì phải. “Tụi con định trượt tuyết suốt đoạn đường đến Big Creek, Mẹ ạ,” tôi nói.
“Ừm, đừng có để bị chết cóng đấy nhé,” bà thở dài qua mép tách cà phê.
Tôi lon ton chạy xuống hầm, cẩn thận bước qua Lucifer - nó đang giương một mắt lên cáu tiết nhìn tôi. Dandy và Poteet thì lại loăng quăng xung quanh, bị kích động bởi sự hào hứng của tôi. Tôi tìm thấy xe trượt tuyết của mình rồi lôi ra ngoài. Sau đó tôi trở về phòng, tròng thêm một lớp quần jeans, một chiếc áo lót, rồi khoác vào một chiếc áo bằng vải fla-nen dày, hai đôi tất, ủng cao su và sau cùng là một chiếc áo khoác len nặng trịch. Tôi không đội mũ, đó không phải là phong cách của thanh niên miền Tây Virginia; chỉ trừ loại mũ đen rũ ra đằng sau có gắn lông dùng trong các buổi nhảy nhót. Mẹ nhìn thấy tôi định ra khỏi nhà trong tình trạng như vậy bèn gọi ngược vào và đưa cho tôi một chiếc mũ len. “Nếu con không chịu đội vào thì não sẽ bị đóng băng đấy,” bà nói và vẫy mấy đứa kia. “Các cháu điên hết rồi à?”
“Vâng thưa cô!” bọn nó vui vẻ đồng thanh đáp. “Đi cùng chúng cháu nào!”
“Trọn kiếp này cũng không đi đâu!” Mẹ đáp. Tôi cầm lấy chiếc mũ đội lên đầu cho bà hài lòng, rồi tháo xuống ngay khi bà vừa đóng cửa và nhét nó dúm dó vào túi áo khoác. Vài chiếc xe đang chuẩn bị lanh canh lăn bánh. Bọn tôi băng đường qua trạm nhiên liệu và đợi đến khi có xe đi về hướng núi Coalwood. Roy Lee bám vào cái cản sau xe rồi nhảy lên xe trượt tuyết của cậu ấy, lần lượt chúng tôi bám đuôi nhau tạo thành một hàng dài, hai chân đặt về phía trước. Tôi ngồi ở sau cùng. Khi chiếc xe rẽ vào cửa hàng tại Six, chúng tôi buông ra và lũ lượt bước ra đường, tự mình đối mặt với núi Coalwood.
Lớp tuyết còn rất mịn màng, tinh khôi, chúng tôi là những người để lại vết xe đầu tiên. Nó có độ bám tốt, không lâu sau chúng tôi đã lên đến đỉnh núi. Bọn tôi quăng mình lên xe trượt tuyết và hét ầm ĩ, hồ hởi trên đường xuống núi, lượn qua mấy khúc cua trũng, để lại những vết cắt mới toanh. Cả bọn trượt xuống Little Daytona rồi đến Caretta. Tại nhà thờ ở đó, chúng tôi lại nối đuôi bám vào một chiếc xe khác trên suốt chặng đường đến nhà Spaghetti. Nhiều người khác đã đi bộ lên núi War nên chúng tôi men theo dấu vết họ để lại. Chúng tôi rón rén đi qua mấy ngôi nhà nhỏ nằm bấp bênh trên núi cao, hai bên là vách núi gần như dựng đứng. Sau đó cả bọn trượt xuống thị trấn War. Rốt cuộc, đến giờ ăn trưa thì chúng tôi đến được Big Creek. Dựng xe trượt tuyết ở bờ tường ngay cổng trường, chúng tôi hiên ngang bước vào cứ như là những vị vua của trái đất vậy. Nhìn thấy chúng tôi, thầy Turner lên tiếng: “Nếu các em định đi học thì bị một phen thất vọng rồi. Giám đốc sở đã ra thông cáo hủy các lớp học cho mọi người vào chiều nay. Nhưng dù sao đi nữa, các em hãy đến gặp thầy cô của mình để lấy bài tập về nhà đi.”
Tôi tìm tới phòng cô Riley và thật may gặp cô đang ngồi bên bàn giáo viên. “Cho em xin lỗi vì đã quên đến gặp cô hôm qua ạ.” Tôi nói.
Chắc hẳn mặt tôi đang hiện đầy nét ân hận nên cô nhìn tôi vẻ cảm thông. “Làm sao em tới trường được vậy?” Khi tôi kể về hành trình của mình, cô vươn tay ra. “Đưa tay cho cô nào,” cô nói. “Trời ơi, chúng lạnh cóng hết rồi đây này. Em xuống căn tin và mua ngay một tách sô cô la nóng đi.”
Tôi làm theo lời cô. Đến khi trở lại, cô kéo hộc bàn và lôi ra một cuốn sách. Nó trông giống như sách giáo khoa, bìa màu đỏ. “Nó vừa mới được đưa đến vào hôm qua,” cô nói. “Cô Bryson và cô tìm mọi cách đặt nó cho em đấy. Cầm lấy.”
Cô Bryson là người quản lý thư viện. Tôi cầm cuốn sách lên và đọc qua tựa đề mạ vàng trên một dải đen in chìm. Nó là tựa sách kỳ diệu nhất mà tôi từng thấy:
NGUYÊN LÝ HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ HỎA TIỄN
Tôi lật qua vài trang, dõi theo tựa đề của từng chương và trố mắt ngắm chúng lướt qua: “Quan hệ giữa khí động lực và thiết kế hỏa tiễn,” “Chuyển động của gió và phạm vi đạn đạo,” “Lý thuyết động lượng áp dụng cho phản lực,” và “Thổi xuyên qua miệng tên lửa.” Và sau cùng là đến tựa đề tuyệt vời hơn tất cả những cuốn sách mà tôi từng đọc: “Quy tắc cơ bản về bộ máy của hỏa tiễn.”
“Trong đó có phép tính và phương trình vi phân,” cô Riley nói. “Em có thể nhờ thầy Hartsfield giúp đỡ.”
Tôi cung kính nâng niu cuốn sách trong tay. “Em có thể giữ nó một thời gian không ạ?”
“Nó là của em đấy, Sonny. Em có thể giữ nó suốt đời mà.”
Tôi cảm thấy như cô vừa đưa cho tôi một vật mà Chúa ban cho. “Em không biết làm sao để cám ơn cô!” tôi buột miệng thốt lên.
“Cô chỉ đưa cho em một cuốn sách thôi mà,” cô đáp. “Em phải có đủ nghị lực để học những điều trong đó. Nào, em có thể đưa cô ra xe để trả ơn đấy.”
Cô khoác áo choàng vào, rồi tôi đưa cô Riley xuống sảnh lớn, ra ngoài bãi đậu xe. Trên đường, thầy Turner bắt gặp và nhìn chúng tôi tỏ vẻ nghi ngờ. Khi ra đến xe, cô đặt tay lên hai tay tôi. “Sonny, sẽ mất một ít thời gian đấy, nhưng cô tin rằng em sẽ học được những điều bổ ích trong cuốn sách này. Sau đó,” cô mỉm cười, “có lẽ cô và Quentin sẽ có thể thuyết phục em tham dự hội chợ khoa học.”
“Cô Riley,” tôi đáp, “nếu cô muốn, em sẽ tham dự.”
“Khi nào em thực sự sẵn sàng,” cô đáp.
Vào lúc đó, tôi tin rằng mình sẽ sẵn sàng cho bất cứ điều gì chỉ vì cô tin vào khả năng của tôi. Quay trở vào trường, mấy đứa kia chạy tới, vác theo xe trượt tuyết của chúng. “Đi nào Sonny! Bọn mình qua nhà Emily Sue chơi bài đi.” Trông tôi có vẻ lưỡng lự nên O’Dell đế thêm vào. “Dorothy cũng tới đấy!” Roy Lee quan sát tôi, tỏ vẻ không hài lòng. Vì một lý do gì đó, cậu ấy đã bắt đầu ác cảm với tình yêu của đời tôi.
Nhà Emily Sue được cất trên ngọn núi gần như thẳng đứng bên kia sông, cách trường Big Creek không đến 100 mét. Bố cô ấy sở hữu một mảnh đất lớn ở thị trấn War, còn Mẹ cô ấy là giáo viên lớp 3 của trường Tiểu học War.
Vào một ngày-đi-học-nhưng-không-học hiếm hoi như hôm nay và trong cái viễn cảnh tuyết trắng phủ khắp nơi như thế này thì nhà bếp của Emily Sue trở nên thật ấm áp, thú vị và chào mời hơn lúc nào hết. Mẹ cô ấy đón cả bọn vào nhà và để chúng tôi tự do hoạt động. Cả đám quây quần quanh bàn ăn trong bếp, uống rượu táo nóng, nhấm nháp bánh qui vừa ra lò và chơi bài.
Như lời O’Dell quảng cáo, Dorothy cũng có mặt, đang ngồi đối diện tôi. Cứ như là lần đầu tiên, tôi lại phát hiện ra rằng nàng thật tuyệt vời biết bao. Nàng có kiểu cười giật cục làm tôi mê mẩn. Roy Lee khều nhẹ, và tôi theo cậu ấy ra phòng khách. “Cậu làm ơn đừng ngắm Dorothy đắm đuối như một chú cún con đang si tình như vậy nữa được không? Cậu làm tớ bị tiểu đường mất thôi.”
“Cậu nói gì lạ vậy?”
“Cô nàng không yêu cậu đâu, ngốc ạ!”
Tôi muốn đạp cho cậu ta bẹp dí như đạp một con ốc sên. Nhưng thay vì vậy tôi lại nói, “Tớ cá với cậu rằng sẽ làm cho nàng hôn tớ đấy.”
“Khi nào?”
“Ngay bây giờ.”
“Cái này hả,” Roy Lee đáp. “Để xem.”
Chúng tôi quay lại ván bài đang dang dở. “Dorothy,” tôi nói, tim đập thình thịch, “tớ cá với Roy Lee rằng cậu sẽ hôn tớ. Hôm nay. Ngay bây giờ.”
Dorothy ngước lên qua mấy con bài, rồi mở miệng. “Cậu cá gì?”
“Chỉ cá là cậu sẽ làm điều đó.”
Không gian im lặng bao trùm khắp bàn. Dorothy liếc Roy Lee, cậu ấy cũng nhìn nàng với ánh mắt châm biếm. Nàng bỏ mấy con bài xuống, đứng dậy và hôn lên trán tôi. “Rồi đó,” nàng nói.
“Chưa được,” Roy Lee phản đối. “Phải hôn môi cơ.”
Điều này không nằm trong điều khoản cá cược của bọn tôi nhưng tôi không dám phản bác lại cậu ấy. Tôi ngước nhìn Dorothy, chờ đợi. “Tớ nghĩ là cậu ấy nói đúng,” tôi đồng tình đáp.
Nàng thở hắt ra, tỏ vẻ không hài lòng. “Đứng lên đi,” nàng bảo. Tôi làm theo, rồi nàng đi vòng qua bàn và hôn vội lên miệng tôi. “Rồi đấy. Hài lòng chưa nào?” Sau đó, nàng chạy vụt ra khỏi phòng.
“Dorothy?” tôi gọi với theo nàng.
Emily Sue khúc khích cười. “Nụ hôn ngắn nhất trong lịch sử của hành tinh này.”
“Cậu thấy hậu quả chưa?” tôi cáu kỉnh với Roy Lee.
Cậu ấy nhún vai. “Tớ ấy à? Câu hỏi lý ra là, cậu có hiểu điều gì vừa xảy ra không?”
“Quỷ tha ma bắt cậu đi!”
Ván bài bị hủy bỏ, Roy Lee, Sherman và O’Dell khoác áo vào, lũ lượt ra về. “Thôi nào, Sonny,” Sherman nhắc nhở. “Trời sẽ sụp tối mất nếu bọn mình không mau về.”
Tôi nhìn về phía cánh cửa phòng tắm đang đóng im ỉm, nơi Dorothy đã biến mất. “Tớ sẽ theo sau. Cứ đi trước đi.”
Ngay sau khi mấy đứa kia đi khỏi, nàng trở ra. Tôi bắt đầu xin lỗi. “Chỉ tại tên Roy Lee kia thôi,” nàng cắn môi đáp. “Hắn đích thị là một gã chuột cống bẩn thỉu.”
Tôi khoe với nàng cuốn sách cô Riley vừa đưa cho. Nàng bảo tôi ngồi xuống ghế sofa để cùng xem cho rõ hơn. “Mình cũng muốn học tích phân nữa,” nàng nói. “Mình muốn học tất cả những gì có thể.”
Ngay lúc đó chuông điện thoại reo, Emily Sue cho biết là mẹ Dorothy gọi. Bà đang trên đường đến đón nàng về nhà. Tôi lẽo đẽo theo nàng ra cổng. Xe trượt tuyết của tôi đang dựng bên hàng rào ngoài đường. Mẹ của Emily Sue nói vọng ra từ cửa lớn. “Cô thấy mấy đưa kia bắt xe tải về rồi đấy Sonny.”
Mẹ của Dorothy cho tôi quá giang về thị trấn War. Tôi ra khỏi xe và lôi xe trượt tuyết của mình xuống từ cốp sau. Dorothy bước ra cùng và hỏi “Cậu sẽ ổn chứ?”. Tuyết đã bắt đầu rơi lại.
“Mình đã có một ngày vui vẻ,” tôi bảo nàng.
Nàng len lén nhìn quanh, xem chừng có ai dòm ngó hay không. Lúc này mẹ nàng đã đánh xe vào gara và đi vào nhà. Bất ngờ, nàng ôm chặt và đặt một nụ hôn nồng thắm lên môi tôi. Lần này sự âu yếm kéo dài thật lâu và ấm áp. “Cẩn thận nhé,” nàng thì thầm, bờ môi ngọt ngào chạm nhẹ vào tai tôi. “Mình không biết làm gì nếu thiếu cậu đâu.”
Sau khi nàng vào nhà, tôi đứng đó, tê tái mê ly. Hai chiếc xe chạy ngang qua nhưng tôi chẳng nhấc nổi tay lên để bắt. Sau đó, chẳng còn chiếc nào đi ngang qua nữa nên tôi bắt đầu cuốc bộ. Trời dần sụp tối. Nửa đoạn đường lên núi War, gió bắt đầu thổi mạnh và tuyết đổ xuống dày đặc đến nỗi chẳng thể nhìn thấy đèn hắt lên từ những ngôi nhà dưới thung lũng. Hai tai tôi lạnh cóng, và lúc này tôi nhớ đến chiếc mũ len của Mẹ. Tôi lôi nó ra từ túi áo khoác rồi trùm lên đầu, kéo hết xuống che hai tai lại. Cuốn sách của cô Riley vẫn an toàn trước bụng tôi, được thít chặt bởi sợi dây lưng. Tôi lê từng bước, tựa vào luồng gió mà đi đến khi lên được tới đỉnh núi rồi mừng rỡ ngồi lên xe trượt xuống nhà Spaghetti.
Tôi tiếp tục đi bộ xuyên qua Caretta. Bất cứ nhà nào ở đây cũng sẽ sẵn sàng cho tôi ở trọ song tôi chỉ muốn về nhà. Nhưng được nửa đoạn đường đến Little Daytona thì tôi nghĩ rằng mình đã quyết định sai lầm. Gió thổi ồ ạt trên đường mạnh gần như lốc xoáy, tí nữa là vật tôi ngã lăn. Mặt tôi đau rát dưới cơn mưa tuyết và lông mi thì phủ đầy băng. Tôi định quay lại nhưng ngoan cố nghĩ rằng mình cứ đi tiếp cũng sẽ về tới nhà. Tôi không sợ, chính xác là chưa đến lúc sợ.
Trời đã tối đen. Tôi tiếp bước với chiếc xe trượt tuyết trong tay vì biết mình không thể trượt an toàn trên lớp tuyết dày như vậy được. Đến một nơi nào đó trên đỉnh núi Coalwood, tôi mất phương hướng và đi chệch ra khỏi đường rồi rơi xuống một cái rãnh sâu. Sau khi vất vả trèo lên được thì cả quần lẫn áo khoác của tôi đều đã ướt sũng. Tôi cảm thấy được rõ ràng hai chân mình đang tê cóng trong lớp quần jeans và chiếc áo khoác như nặng tới ngàn cân. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy sợ hãi thật sự. Tôi chưa đến nỗi hoảng loạn, nhưng tôi biết thế nào là hoại tử vì bị tê cóng từ lớp học về sức khỏe của huấn luyện viên Gainer và cũng biết mối nguy hiểm của việc bị ướt trong thời tiết băng giá như thế này. Tôi hé nhìn xuống đường, hy vọng sẽ nghe thấy tiếng xe nhưng chẳng có gì khác ngoài sự tĩnh lặng chết chóc. Chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục cất bước cả.
Khi lên đến đỉnh núi, tôi quăng xe trượt xuống và ngồi lên, nhưng nó cứ đứng phỗng ra. Lớp tuyết đã trở nên quá dày và nhớp nháp làm xe trượt không chuyển động được. Tôi gầm gừ, nhấc xe trượt lên và tiếp tục dấn thân vào trong cơn bão tuyết, dò dẫm từng bước một. Có rất nhiều triền dốc quanh con đường mà không hề có đánh dấu hay hàng rào bảo vệ. Nếu như sảy chân một lần thôi thì có thể tôi sẽ bay khỏi vách đá và chẳng ai có thể tìm thấy xác tôi đến khi băng tan hẳn. Tôi luôn cố đi ngay chính giữa con đường. Răng va lập cập vào nhau. Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục tiến lên.
Tôi run lẩy bẩy một cách vô thức khi té nhào, đập cả thân xuống đất, mặt dán lên băng. Tôi nằm đó một lúc và nghĩ rằng mình có thể nghỉ ngơi chút ít, lấy lại sức mạnh để tiếp bước, nhưng rồi tôi cố gượng dậy. Huấn luyện viên Gainer đã từng kể cho chúng tôi nghe trong giờ sức khỏe rằng những người thám hiểm Bắc Cực đã ngủ và bị chết cóng như thế nào. Thầy nói, âu đó cũng là một trong những cái chết nhẹ nhàng, nhưng tôi không muốn thử nghiệm nó chút nào cả. Tôi còn phải chế tạo hỏa tiễn và giành lấy trái tim của Dorothy nữa. Ngoài ra, dù sao thì tôi cũng không thể nhắm mắt với nguyên nhân bị chết cóng trên núi Coalwood này được. Mọi người sẽ truyền miệng đến muôn đời rằng tôi đã ngu ngốc như thế nào. Nghĩ đến đó tôi gượng đứng dậy rồi tiếp tục lê bước cho tới khi nhìn thấy ánh đèn le lói từ mái hiên của một căn nhà ven triền núi ở phía dưới chừng 30 mét. Nó là một căn chòi cũ nát, xiêu vẹo với lớp mái bằng giấy nhám. Tôi biết có người sống trong đó vì thường thấy khói bốc lên từ ống thoát của bếp lò, nhưng là ai thì tôi mù tịt. Tôi tiếp tục bước đi. Cộng đồng phía Nam của miền Tây Virginia không cho phép từ chối giúp đỡ những người lạ mặt giữa đêm đen mịt mù như vậy trong bất cứ trường hợp nào.
“Này nhóc, chú mày làm gì trong đêm lạnh giá thế?”
Tôi nhòm qua màn tuyết xoáy mù và lờ mờ thấy một người phụ nữ đang cầm đèn rọi qua đầu. Cô mặc một chiếc áo khoác bằng vải và đi ủng cao su. “Cháu đang trên đường về nhà ạ,” tôi nói, giọng nhịu cả lại vì lạnh. Tôi chẳng thể cảm giác được mặt mình và hai bàn chân đang cóng lại như hai khối đá rời chứ không còn liền với thân thể tôi nữa.
“Nhà ở đâu?”
“Coalwood ạ.”
“Vậy thì cháu vào nhà sưởi ấm ngay đi, nếu không thì chẳng còn mạng mà về đó đâu.”
Khi tôi tỏ ra ngại ngùng, cô theo sau, nắm lấy áo khoác của tôi và giục. “Vào đi nào cậu bé!”
Tôi nghe theo lời thúc giục và đi cùng cô xuống một con đường dốc dẫn tới ngôi nhà nhỏ. Cô đẩy cánh cửa gỗ tự chế ra rồi cho tôi vào nhà. Nằm giữa căn phòng là một bếp lò thắt eo cổ xưa. Một chiếc ghế sofa vá víu nằm trước cái bếp. Còn có một cái bàn thô sơ đặt ngay cạnh cửa sổ nhìn xuống thung lũng. “Nào, vào đây nào!” cô chào mời khi thấy tôi ngần ngại. Cô cởi áo, đá văng đôi ủng ra, thay bằng đôi giày da đanh[31]. Cô bắc nồi xuống khỏi bếp rồi rót cái gì đó vào tách và mang đến cho tôi. Tôi nhìn cô qua ánh sáng mờ nhạt tỏa ra từ ngọn đèn lồng đặt trên bàn. Cô mặc quần bằng vải bạt và áo choàng len. Tôi đoán cô khoảng 30 tuổi, với mái tóc suôn vàng. Gương mặt gầy gò góc cạnh, toát ra nét thân thiện. “Cháu dùng ít trà nấu từ cây de vàng nhé,” cô nói.
Tôi đón lấy tách trà và ực ngay một cách thèm khát, tận hưởng từng dòng nước nóng hổi tuôn chảy vào bụng. Cô giật lại tách trà trước khi tôi kịp uống hết. “Cháu phải cởi hết đống đồ ướt mèm đó ra ngay. Cởi tất cả mọi thứ, mau.”
Tôi ngần ngại, bẽn lẽn khi nghĩ đến việc cởi đồ trước mặt người lạ. “Ôi dào, cởi ngay đi. Cháu chả cho ta xem những gì khác hơn ngoài mấy thứ mà ta đã thấy nhiều lần lắm rồi, chẳng ngại gì đâu,” cô giục.
Cô có tấm màn - nhìn có vẻ như được vá víu từ những mảnh vải cũ - vắt ngang một cái thanh đóng vào góc phòng tạo thành một không gian riêng. Cô chỉ tay về phía đó và tôi đi ra đằng sau tấm màn, trút bỏ dần từng lớp quần áo. Thật may mắn khi cuốn sách vẫn còn khô ráo. Tôi đặt nó lên chiếc tủ nhỏ hai ngăn ở góc phòng rồi đưa từng mảnh quần áo cho cô. “Ta sẽ phơi nó cạnh bếp,” cô bảo. Nói xong cô quay lại và kéo phăng bức màn ra. “Còn cái quần nữa.” Tôi khoanh tay lại trước ngực. “Quỷ tha ma bắt, thằng nhóc này. Ta chẳng đụng gì đến chú mày đâu. Cởi quần ra mau!”
Thật xấu hổ, tôi ngồi xuống ghế, tháo ủng cao su ra, rồi đến mấy chiếc quần. “Rồi, đâu đến nỗi nào phải không?” Cô đón lấy chúng và khúc khích cười. “Ta chẳng cắn cháu phát nào đâu! Cứ mặc quần lót. Quỷ tha ma bắt, mấy cái quần này ướt sũng hết rồi. Cháu chưa bị hoại tử đấy chứ?”
“Mấy ngón chân cháu đang nhức lắm,” tôi thú nhận.
“Vậy thì cởi tất ra luôn đi!” Cô treo chúng lên, quay lại và kêu tôi lên sofa ngồi rồi quỳ gối, xem xét mấy ngón chân của tôi. “Chưa, cháu chưa bị hoại tử đâu, nhưng cũng xém rồi đấy.” Sau đó cô lục lọi trong rương và lấy ra một chiếc áo sơmi tay dài bằng vải fla-nen. Chiếc áo này hẳn là của đàn ông, nó quá khổ so với cô, làm sao cô có được nó nhỉ. “Mặc nó vào đi rồi cứ ngồi đấy. Uống thêm trà này, nó sẽ làm cho cháu ấm người lên từ trong ra ngoài và đây là cách tốt nhất đấy. Cháu là con nhà ai thế nhỉ?”
Tôi ung dung ngồi trước bếp lửa bập bùng, hớp từng ngụm trà ấm áp. Tôi nhúc nhích mấy ngón chân. Chúng vẫn nhức nhưng có vẻ là phản ứng của sự phục hồi. “Cháu là Sonny Hickam. Con thứ của Homer và Elsie Hickam ạ.”
“Cháu là con của Homer Hickam ư?”
Giọng cô đầy ngờ vực làm tôi có chút hoang mang. Bố có khá nhiều kẻ thù. Phải chăng người đàn bà này là một trong số họ, hay chồng, anh trai của cô? “Vâng, thưa cô,” tôi nói và cẩn trọng thêm vào, “và của Elsie Hickam nữa ạ.”
Cô kéo ghế lại rồi ngồi xuống. “Cô biết bố cháu.” Nói rồi cô quan sát tôi. “Cô chẳng thấy gì cả.”
Tôi đang mặc độc chiếc quần lót nên cái nhìn săm soi của cô làm tôi thấy khó chịu. Tôi chồm người về phía trước, cố kéo căng chiếc áo sơmi trùm hết đùi. “Cô à?”
“Cô không thấy nét nào của ông ấy từ cháu cả. Dạo này ông ấy đang làm gì? Ông ấy có khỏe không?”
Đây là lần đầu tiên có người hỏi thăm tôi về Bố. Tôi nghĩ rằng ai cũng biết về ông. “Ông ấy... bình thường ạ. Làm việc miệt mài. Còn Mẹ vừa tặng Bố chiếc dao cạo râu chạy điện làm quà Giáng Sinh ạ.”
“Thật à, lạy Chúa tôi!”
“Vâng, thưa cô.”
“Ông ấy vui vẻ chứ?”
Bố tôi có vui không ấy à? Tôi chẳng nghĩ ông có trạng thái vui hay buồn gì cả. “Cháu đoán thế ạ.”
Câu trả lời nhạt nhẽo của tôi có vẻ cũng đã làm cô hài lòng. “Ừ, tốt đấy, rất tốt. Tên cô là Geneva Eggers.” Cô bắt tay tôi. Tôi cảm thấy nó thật xương xẩu nhưng ấm áp. “Rất vui vì được gặp cháu. Cô biết bố cháu lâu rồi. Nói đi, cháu muốn vài lát bánh mì chứ?”
Trước khi tôi kịp trả lời thì cô đã lôi ra một cái chảo đen to lớn rồi quăng vào đó vài miếng mỡ thịt nguội lấy từ lọ cà phê đặt trên nóc bếp. Đoạn cô đặt chảo lên bếp, nghiêng qua một bên, rồi mở hộp bánh mì trên chiếc bàn nhỏ ra. Tiếp đó cô bước tới sau một bức màn khác rồi đi ra với hai quả trứng trên tay. Cô đập trứng vào nồi, dùng nĩa đánh chúng tan ra, nhúng vào 4 lát bánh mì, và cuối cùng thả chúng vào chiếc chảo đang nằm trên bếp. Chỉ vậy thôi mà một chốc sau, cả căn phòng đã sực nức mùi thơm của mỡ thịt nguội và trứng nóng hổi.
“Bố cháu và cô cùng lớn lên ở Gary Holler,” cô vừa nấu vừa kể. “Cô theo bố cháu từ khi còn quấn tã lót cơ. Ông ấy luôn chăm sóc mọi người trong cái thung lũng nhỏ đó; luôn lo lắng xem những người già có đủ than trong lò hay thức ăn chuyển đến từ cửa hàng hay không. Ông ấy chẳng giàu có hơn ai nhưng lại tràn đầy lòng nhân ái và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ người nào.” Đoạn cô nhìn tôi. “Cháu đâu có biết là cô quen bố cháu, hả?”
“Không, thưa cô.” Sự thật là tôi chưa từng nghe kể gì về cô cả.
“Cháu cũng biết bố của ông ấy bị cắt cụt hai chân trong hầm mỏ phải không?”
“Vâng, thưa cô. Đó là ông nội Poppy của cháu ạ.”
“Ừm, nhưng đó không phải tất cả những gì xảy ra với ông nội Poppy của cháu đâu. Ông ấy còn bị đập vào đầu ở khu mỏ Gary. Thật đấy! Bị một thanh sắt to đập vào làm ông trở nên ngớ ngẩn. Cả năm sau đó, ông ấy chẳng làm việc được. Bố cháu phải nuôi cả nhà ông ấy đấy,” cô kể. “Nhưng chẳng ai ưa gì sự có mặt của bố cháu cả. Nói cho cháu biết đấy!”
Geneva lấy đĩa ra, xếp mấy lát bánh mì kiểu Pháp lên rồi để trên bàn. Cô còn lôi ra một lọ mật ong nữa. “Ăn đi nào, kẻo nguội mất.”
Bữa ăn thật ngon lành, chắc một phần do được nấu bằng chiếc bếp lò cũ kĩ này. Sau khi ăn xong, tôi hỏi cô chỗ đi vệ sinh. Cô đưa chiếc đèn lồng cho tôi và bảo: “Mang ủng cao su vào. Đi ra lối cửa sau ấy.”
Tôi biết rõ dạng nhà xí xa nhà này. Ông bà ngoại đã về hưu và sống trong một trang trại ở Thung lũng Abb’s, Virginia, và họ cũng có một cái nhà xí tương tự. Tôi lần theo dấu chân của cô Geneva còn hằn lại trên tuyết và tìm thấy nhà xí ở cuối đường. Nhà xí này là loại một lỗ đơn giản, nằm trong phần phụ lục của cuốn catalog Sears, Roebuck[32]. Trời quá lạnh để có thể ngồi nhởn nhơ. Tôi giải quyết thật nhanh rồi trở lại căn chòi ấm áp. Khi về đến nơi, tôi thấy quần áo của mình đang nằm trên chiếc giường nhỏ hẹp của cô. “Cũng gần khô rồi đấy,” cô Geneva vừa nói vừa lấy tay vuốt cho chúng thẳng thớm. Rồi cô tiến về phía bếp lò và quay lưng lại. “Cháu mặc đồ vào đi. Không cần phải ra đằng sau tấm màn. Ta chẳng nhòm trộm đâu!”
Tôi đặt chiếc đèn lồng xuống sàn rồi mặc từng lớp áo rồi quần vào. Bây giờ chúng thật ấm áp và gần như đã khô hẳn. Tôi cầm lấy cuốn sách hỏa tiễn, nhét vào dưới thắt lưng. Đoạn tôi ngước lên và thấy cô Geneva đang nhìn mình, chẳng biết là bao lâu rồi. “Cháu... cháu rất biết ơn, thưa cô Eggers,” tôi lắp bắp. Ngoài Mẹ ra, chưa có ai nhìn tôi thay đồ, mà điều đó cũng xảy ra cách đây lâu rồi.
“Tên cô là Geneva, cưng ạ. Cháu sẽ nói với bố rằng đã gặp cô chứ? Rằng cô đã hong khô và cho cháu ăn bánh mì?”
Nghe có vẻ là một lời đề nghị ai oán nhất đối với tôi. “Vâng thưa cô. Cháu sẽ nói ạ.”
Cô giúp tôi khoác áo choàng vào. “Nói với ông ấy khi không có mặt mẹ cháu nhé. Cô không muốn bà hiểu lầm đâu.”
Tôi không hiểu cô ấy có ý gì nữa nhưng tôi chẳng hỏi lại. Như vậy là không lịch sự. Cô dắt tôi ra đường, chiếc đèn lồng được giơ lên cao. Xa xa, tôi nghe tiếng xe tải lách cách đang cố leo qua núi. Nếu nó vượt qua được, tôi sẽ có thể trượt theo vết xe để lại.
“Nói với bố cháu ngay nhé. Cháu hứa với cô không?”
Tôi gật đầu. “Vâng, thưa cô. Cám ơn vì đã cứu mạng cháu.”
“Quỷ thần ơi, nhóc tì ạ, đừng nhắc lại việc đó nữa.”
Chẳng lâu sau, một chiếc xe tải chở đầy than lù lù xuất hiện. Tôi vẫy tay chào cô Geneva rồi nhảy lên xe trượt và nhanh chóng phóng xuống núi, lao ào ào về phía khu mỏ. Khi bước ra khỏi xe trượt, tôi đã trông thấy nhà mình. Mọi cửa sổ đều đang sáng đèn. Ngay khi tôi vừa đặt chân lên thềm sau nhà thì cửa bật mở. Gương mặt lo âu của Mẹ xuất hiện nhưng bà tỏ vẻ không muốn cho tôi biết. “Đừng đem tuyết vào nhà đấy,” bà cảnh báo rồi nhìn tôi từ đầu xuống chân. “Chưa bao giờ con ăn mặc xấu xí đến vậy.”
Bố xuất hiện, trên tay cầm tờ báo buổi chiều. “Bố đang định lái xe tải đi tìm con đấy, anh bạn trẻ ạ.”
Tôi cảm thấy thật tự hào. “Con đã đến Big Creek rồi trở về trên xe trượt tuyết đấy ạ!” Đoạn tôi lôi cuốn sách từ trong áo khoác ra. “Và nhìn xem cô Riley cho con cái gì này.” Tôi đưa nó cho Bố.
Ông đọc qua tựa đề rồi ngập ngừng lật vài trang ra xem. “Có vẻ đầy đủ nhỉ,” ông nhận xét. Chiếc “hắc phôn” lại réo vang, ông đưa sách lại cho tôi rồi nghe điện thoại. “Cho Số 2 hoạt động nếu Số 3 bị trục trặc nhé!” ông hét lên, và tôi biết ông đang lo lắng rằng quạt thông gió sẽ bị mất điện trong cơn bão tuyết này.
Tôi lên lầu, mở cửa phòng Jim, anh đang nằm ườn trên giường đọc tạp chí. “Bọn em trượt suốt đoạn đường đến Big Creek đấy. Chưa từng có ai làm điều này trước đây đâu nhé.” Tôi khoe khoang.
“Lũ thoái hóa chúng mày đến trường à?” anh làu bàu. “Chúng ta lẽ ra phải ở nhà chứ. Lần sau họ sẽ bắt mọi người đi bộ đến lớp cho mà xem.”
Tôi về phòng, bật đèn bàn và bắt đầu hân hoan đọc sách, thưởng thức tựa đề của từng chương đến khi chợt nhớ về cô Geneva Eggers. Tôi xuống nhà và thấy Bố đang nằm trên ghế bành, đọc báo. Mẹ thì ở trong bếp. “Bố à, có cô Eggers ở trên núi Coalwood đã mời con vào nhà và sưởi ấm cho con. Cô ấy muốn con nói cho Bố biết điều này.”
Bố rời mắt khỏi tờ báo liếc nhìn lên. “Cô nào cơ chứ?”
“Eggers. Geneva Eggers ạ.”
Bố săm soi tôi rồi cẩn thận đặt tờ báo xuống chiếc ghế để chân. “Con đã ở trong nhà của Eggers Geneva thật à?”
“Trên núi Coalwood. Ngôi nhà nhỏ bên vệ đường, khoảng một phần ba đoạn dốc xuống núi ạ. Cô còn cho con ăn bánh mì kiểu Pháp. Cô muốn con phải hứa chắc rằng sẽ kể lại cho Bố biết.”
Chiếc “hắc phôn” lại reo, nhưng ông không hề nhảy nhổm lên để trả lời. Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông không phản ứng như vậy. Ông nhìn tôi chằm chằm. “Cô ta còn làm gì nữa không?”
“Không ạ. Chỉ hong khô quần cho con thôi.”
“Con cởi quần ra à?” Giọng ông có vẻ căng thẳng.
“Cô ấy còn đưa cho con một chiếc áo sơmi tay dài để mặc nữa.”
Ông điếng người. “Và không có chuyện gì xảy ra nữa à? Con chắc không?”
“Vâng thưa Bố. Con chắc ạ.”
Sau cùng Mẹ cũng ra khỏi bếp và nghe điện thoại. Lúc bà vừa nghe máy, một khoảng lặng trôi qua, rồi bà nói: “Tôi không biết đâu, Clyde. Có lẽ ông ấy chết rồi đấy, nếu không thì anh đã nghe giọng ông ta chứ không phải tôi rồi.”
Bố cứ nhìn tôi chằm chằm hồ như ông cố xem tôi có đang đùa cợt gì không. Sau đó, ông lại hò hét ra lệnh qua điện thoại như thường lệ.
Ngày hôm sau, đường vẫn còn quá trơn để xe buýt hoạt động, nhưng lũ nhóc hỏa tiễn chúng tôi chẳng dại vượt núi một lần nữa. Bọn tôi đã thực hiện một lần, thế là đủ rồi. Chắc chắc chúng tôi sẽ được ghi vào sách kỉ lục về những anh hùng thiếu niên mạo hiểm của Coalwood. Đêm đó, Bố vào phòng tôi, đóng cửa lại. “Để bố kể cho con nghe chuyện này,” ông lên tiếng và tôi ngừng đọc cuốn sách hỏa tiễn. Ông ngồi lên giường và có vẻ sắp sửa chẳng nói ra điều gì vui vẻ cả.
“Khi bố còn trẻ, nhỏ tuổi hơn con bây giờ,” ông từ tốn kể, “một căn nhà cùng dãy với nhà bố ở Gary bốc cháy. Những ngôi nhà cũ ở Gary thời đó chỉ làm toàn bằng ván ghép và giấy nhám thôi. Chỉ cần một đốm lửa nhỏ là tất cả bốc cháy như rạ. Lúc đó bố đang lui cui làm việc ở sân sau thì thấy đám cháy. Dường như chẳng có ai xung quanh đó nên bố mon men lại gần, nghĩ rằng có ai bị mắc kẹt bên trong. Bố cố quan sát nhưng khói lan tỏa mù mịt. Rồi bố nghe tiếng em bé khóc. Nhưng bố chẳng biết nó đang ở đâu vì chẳng nhìn thấy gì nên chỉ lần theo âm thanh. Cuối cùng bố tìm thấy một em bé đang khóc ròng trong đám khói, cứ như chẳng có gì trên thế gian này có thể giết chết nó vậy! Bố bế nó lên rồi phóng ra cửa sổ trước khi ngọn lửa kịp nuốt trọn cả hai. Sau đó bố mới biết cả gia đình của em bé đó đều mắc kẹt trong nhà, nhưng bố chẳng thấy ai khác ngoài nó. Cả nhà tám anh em, bố, mẹ đều bị thiêu rụi.”
Bố xoay ngang người, hai tay đặt lên nệm. “Bố cảm thấy day dứt một thời gian dài. Làm thế nào mà bố lại không nhìn thấy những người đó trong căn nhà nhỏ bé ấy chứ?”
Tôi nhìn ông chằm chằm. Chẳng hiểu sao Bố lại kể cho tôi nghe câu chuyện bi thảm này chứ, nhưng vì bất cứ lý do gì, tôi cũng muốn ông dừng lại. Vì một lý do chẳng lý giải được, tôi cảm thấy sợ rằng sẽ biết quá nhiều về ông.
Bố nhìn thẳng vào mắt tôi. “Dù sao đi nữa, em bé đó chính là Geneva Eggers đó.”
“Ồ” đó là tất cả những gì tôi có thể thốt lên. Tôi nghĩ về cô Geneva trong hình hài một em bé tội nghiệp nằm trong vòng tay Bố trên đường tìm đến bình an, mắt tôi chợt rớm lệ. Nhưng tôi cố nén lại.
Bố nhìn lên trần nhà, một chuỗi hình ảnh rời rạc mập mờ tái hiện trong đầu ông. Ông hắng giọng ông nói tiếp. “Sonny, con biết gì về cuộc đời rồi?”
Tôi chẳng hiểu ông muốn nói gì. “Ít thôi ạ, con đoán vậy.”
“Bố nói về... con gái ấy.”
“Ồ.”
“Con chưa từng...”
Tôi đỏ mặt. “Chưa đâu, Bố.”
Bố tập trung nhìn vào một mô hình máy bay nằm trên nóc tủ quần áo. “Bố chẳng đời nào kể cho ai khác nghe về việc mình đã ở trong nhà của Geneva Eggers đâu. Cô ta đang làm vài điều mờ ám ở đó. Mấy tên thợ mỏ tập sự - cô ta gần như là bạn gái của họ vậy.”
Tôi vẫn không hiểu. “Người nào ạ?”
Bố cau mày. “Nhiều hơn một người... khá nhiều đấy. Thỉnh thoảng còn có vài gã đàn ông có vợ rồi nữa cơ.”
Mắt tôi tròn xoe và chắc chắn mồm đang há hốc ra. Bây giờ thì tôi đã hiểu. “Cô ta còn bán rượu lậu nữa,” Bố nói tiếp, mắt vẫn dán vào mô hình máy bay. “Chồng cô ta thiệt mạng trong khu mỏ Gary 5 năm về trước. Cảnh sát truy đuổi cô ta đến đây. Bố đã cho cô ngôi nhà xiêu vẹo đó và bảo Tag để cô ta được yên thân. Mặc cô ta muốn làm gì thì làm.” Nói xong ông đứng dậy và đi ra cửa. “Bây giờ thì con biết mọi chuyện rồi đó. Đừng có gặp cô ta nữa, và đừng bao giờ, không bao giờ kể lại cho Mẹ con những chuyện vừa rồi.”
Bố bước ra và nhẹ nhàng đóng cửa lại. Còn tôi lẻ loi trong phòng, nghĩ suy về những gì ông vừa kể. Tôi mường tượng về người đàn bà trong ngôi nhà xiêu vẹo ấy, về việc cô ấy đã đối xử với tôi tốt thế nào, và cảm giác khi Bố nhảy vào biển lửa ngày ấy. Tôi nghĩ rằng mình chẳng thể nào dũng cảm như vậy. Đột nhiên tôi thấy thật tự hào về ông, chẳng phải chỉ vì hành động nghĩa hiệp xưa kia của ông, mà chính vì ông đã từng là con người như thế nào khi còn ở thị trấn Gary và ông đã trở thành người như thế nào sau bao công việc vất vả đó.
Hôm sau, xe buýt hoạt động trở lại. Tôi thường xuyên tìm bóng dáng của cô Geneva Eggers trên đường qua lại. Đôi lúc cô đứng đó, đơn độc một mình bên vệ đường. Cô dõi theo cửa sổ khi xe buýt chạy ngang, và nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy tôi. Nhưng cô chẳng vẫy tay chào, và tôi cũng vậy. Cô là một bí mật của Bố và tôi lại là bí mật của cô.