Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 87 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
23. HỘI CHỢ KHOA HỌC

❊ ❊ ❊

Auk XXV

BỐ MẸ cùng nhìn vào cái lỗ trên tường rồi đến lỗ nhỏ trên tấm kính cửa sổ và thì thầm bàn thảo với nhau phương cách khắc phục. Sau khi viên đạn nổ thì đã có tiếng bánh xe rít lên trên đường, nên hình như hung thủ đã trốn chạy xuống thung lũng rồi. “Một chút vữa và sơn sẽ vá được chỗ này,” Bố nói khi nhìn lỗ thủng trên tường. “Còn kính trong xưởng mộc ở nhà than. Anh sẽ kêu McDuff cắt cho mình một mảnh.”

Mẹ ngắm nghía phần bọc ghế bị viên đạn làm rách một đường dài. “Em sẽ cắt hết phần chỉ lòi ra rồi đắp lại, sẽ không có ai nhận thấy đâu.”

Tôi chẳng thể tin được vào sự bình tĩnh của họ trong khi mình đang vừa run sợ, vừa giận dữ. Có ai đó đã bắn chúng tôi! “Gọi Tag đi!” tôi yêu cầu. “Anh ấy sẽ tìm ra thủ phạm.”

Bố nhìn như thể tôi vừa chui từ dưới đất lên. “Nếu không phải là Pooky Suggs thì là một trong những tên say xỉn đi theo hắn làm bừa thôi. Tag à? Chúng ta đừng để cậu ấy dây vào vụ này. Bố không muốn cậu ấy bị thương đâu.”

Mẹ lặng lẽ quét kính vỡ vào ki hốt rác. Bà bảo tôi lấy máy hút bụi dọn thật sạch những mảnh kính vụn dưới cửa sổ, sợ chúng sẽ dính vào chân mấy con mèo. Sau đó bà dán băng keo vào lỗ thủng trên cửa kính. Bố vừa trở lên từ tầng hầm, mang theo một can bột mát-tít và trét vào cái lỗ trên tường. “Để nó khô đi anh sẽ chà phẳng lại rồi sơn lên,” ông vừa nói vừa lùi lại ngắm nhìn tác phẩm của mình. “Sẽ chẳng ai nhận thấy vết tích gì nữa.”

Sau khi dọn dẹp sạch sẽ phòng khách, Mẹ ngồi xuống trước mặt Bố, ông đang ngồi vào chiếc ghế khác và tiếp tục đọc báo. “Homer, chúng mình phải đến bãi biển Myrtle thôi,” bà tuyên bố như sét đánh ngang tai.

Bố ngước mắt nhìn lên. “Chúng mình sẽ đi,” ông cau mày. “Vào kì nghỉ của công nhân.”

“Ý em nói là trước đó. Chúng ta có thể đi vào thứ bảy, ở đó ngày Chủ nhật và về lại đây vào thứ hai,” bà nói. “Hầm mỏ sẽ không gặp vấn đề gì nếu anh chỉ vắng mặt có mấy ngày đâu.”

Bố hoang mang. “Tại sao mình lại phải đến bãi biển Myrtle vào lúc này chứ?”

Mẹ chống nạnh và bảo. “Em sẽ mua nhà ở đấy.”

Đây là một trong những lần hiếm thấy Bố tỏ ra bối rối thật sự. Ông đặt tờ báo xuống đùi. “Tạ...tại sao chúng ta lại cần nhà ở bãi biển Myrtle cơ chứ?”

“Không phải cho chúng ta, mà là cho mình em thôi. Em chỉ cần anh xuống đó ký giấy tờ. Họ sẽ không chịu bán cho em nếu không có chữ ký của anh.”

“Elsie, chúng mình làm gì có đủ tiền để mua nhà ở bãi biển Myrtle hay bất cứ nơi nào khác.”

Mẹ lôi ra một quyển sổ màu đen từ trong túi áo tạp dề rồi quăng lên đùi Bố. “Đây là tài khoản tiết kiệm của em ở Welch. Trong 20 năm qua, tháng nào anh cũng đưa tiền để em thanh toán hóa đơn. Em cũng đã thực hiện mọi việc, ngoài ra em còn chơi cổ phiếu. Bây giờ thì em có thể mua cả 2 căn nhà nếu em muốn ấy chứ.”

Bố mở sổ ra và lướt nhìn bằng con mắt còn tỏ của ông. Ông lật đến trang cuối cùng và nhìn vào con số trong đó. “Lạy Chúa tôi, Elsie! Em lấy bao nhiêu tiền từ đâu ra vậy?”

“Em nói rồi. Từ cổ phiếu.”

“Cổ phiếu? Như ở New York ấy à?”

Mẹ gật đầu. “Người môi giới của em ở Bluefield. Em đã liên lạc với ông ấy suốt nhiều năm nay trong khi anh cắm cúi làm việc.”

Bố cố gắng làm rõ sự việc. “Em mua cổ phiếu nào - than và thép à?”

Mẹ cười sảng khoái. “Làm ơn đi Homer. Hãy đánh giá em cao một chút. Không đâu, em tập trung vào những gì có ích cho lũ trẻ, ví dụ như Băng cá nhân. Em đã mua cả tấn cổ phiếu của công ty sản xuất ra mặt hàng tốt nhất.”

Mẹ đã dập tắt sự cố gắng níu kéo thực tại của Bố. “Còn anh thì cũng định sau khi nghỉ hưu -”

“Em không thể chờ đến lúc đó,” Mẹ buồn bã đáp. “Dù sao đi nữa, anh cứ ở lại đây làm việc đến sức cùng lực kiệt đi. Còn em thì không, em sẽ đến sống ở bãi biển Myrtle.”

Bố thật sự bị sốc. “Em bỏ rơi anh à?”

“Hãy xem như em đang chuẩn bị nhà cho tuổi già của chúng ta đi. Em sẽ về đây vào mỗi kì nghỉ hoặc khi nào anh thật sự cần em.”

“Còn mấy đứa con thì sao?”

“Jim thì đi rồi. Em cũng có rất nhiều tiền để lo cho Sonny vào đại học nếu như nó muốn đi. Và em sẽ ở đây đến khi nó đi.”

Bố vẫn còn rất mơ hồ. “Nhưng nếu như vậy thì mọi người ở Coalwood sẽ nói như thế nào về mình?”

Câu trả lời của Mẹ làm cả tôi và Bố giật mình. “Homer,” bà đáp giọng ngọt ngào, “em chả quan tâm mẹ gì đến những điều họ nói cả.”

TRONG CUỘC HỌP CỦA BCMA tại giảng đường ở Big Creek sáng hôm sau, tôi liên tục ngắt lời Billy vì đoán chắc rằng tin tức của mình sẽ quan trọng hơn bất cứ điều gì cậu ấy đang muốn nói. Tôi kể cho bọn nó nghe về vụ nổ súng rồi kết lại câu chuyện, “Nó xuyên qua cửa kính, bay ngang ghế của Bố tớ rồi làm thủng một lỗ lớn trên tường.” Đương nhiên là có chút cường điệu rồi. Nhưng tôi không nhắc gì đến việc Mẹ mua nhà ở bãi biển Myrtle vì tôi vẫn chưa tin nó sẽ trở thành sự thật.

“Nó là loại đạn gì thế?” O’Dell hỏi.

“Loại 22 ly! Mẹ tớ cạy nó từ trong tường ra.”

“Hai hai ly à?” O’Dell cười. “Đó chỉ là súng hơi mà thôi.”

“Ừ, nhưng mà nó cũng bay sát đầu Bố tớ còn gì,” tôi vừa nói vừa nắm chặt tay lại, cảm thấy hơi bực mình vì O’Dell nhận định về vụ nổ súng một cách vô tư như vậy.

Rốt cuộc Billy cũng chen được tin tức của mình ngang những lời huyên thuyên của tôi. “Các cậu có nghe nói cô Riley bị bệnh không? Một loại ung thư thì phải.”

Tôi nín bặt, mồm há hốc ra. Tôi nghe như ruột gan mình lộn ngược hết cả lên. “Cậu nói cái quái gì vậy?” tôi hỏi gặng.

“Thầy Turner nói cho Emily Sue, rồi nhỏ ấy nói lại cho tớ.”

Mọi thứ đột nhiên trở nên thật logic. Sau kì nghỉ Noel đến nay thì cô Riley đã không còn đứng giảng bài nữa, cô chỉ ngồi bên bàn rồi kêu bọn tôi lên làm thí nghiệm. Một lần nọ, vào tháng 2 phủ đầy tuyết trắng, cô rời khỏi lớp học và không trở lại. Chỉ có thầy Turner vào bảo bọn tôi tự học hết chương sách còn lại và giữ trật tự, tuyệt nhiên không giải thích lý do gì về sự vắng mặt của cô. Lúc đó sắc mặt của thầy nhợt nhạt như vừa nhìn thấy cái gì khủng khiếp lắm, và chẳng đứa nào có thể tưởng tượng ra điều gì có thể dọa được thầy Turner cả.

Trong giờ vật lý hôm đó, tôi cố gắng không nhìn cô Riley nhưng không thể kìm được và bị cô bắt gặp vài lần. Cô thật xanh xao, cặp mắt sưng húp. Sau giờ học, cô gọi tôi lại nói chuyện. “Hôm nay em cứ như đang cách xa nghìn dặm vậy,” cô bảo.

Tôi tránh không hỏi về bệnh ung thư của cô. Một tính cách giống Mẹ đã ăn sâu vào trong tôi là không bao giờ chõ mũi vào việc của người khác. Nếu như cô Riley muốn cho tôi biết thì cô sẽ tự nói. “Em đang nghĩ về hội chợ khoa học ạ,” tôi đáp, ít nhất cũng có phần thật. Nó cũng vẫn chỉ là những ý nghĩ thoáng qua. Tôi chẳng biết phải diễn thuyết cái gì và như thế nào nữa.

“Cô cũng định trao đổi với em về hội chợ đó,” cô nói. “Em biết mà, chỉ có một cái tên được đăng ký thôi. Nhưng em lại điền hết tên các thành viên trong nhóm vào. Cô đã phải thay đổi và chỉ có một mình tên em thôi.”

“Nhưng tất cả bọn em cùng chế tạo tên lửa cơ mà.” Tôi phản đối. “Em nghĩ sẽ rất kì cục nếu như chỉ có mình em diễn thuyết trong hội chợ.” Lúc này, tôi chợt nghĩ đến hy vọng của Quentin được mọi người nhận biết để có tiền vào đại học.

“Em sẽ đại diện cho mọi người tại hội chợ,” cô quả quyết. “Vì em là người hiểu rõ nhất.”

“Quentin cũng có thể làm được mà,” tôi nói. “Cậu ấy cũng biết nhiều như em.”

“Có thể vậy,” cô mỉm cười. “Nhưng em biết Quentin mà. Cậu ấy lúc nào cũng cố gắng quá mức, và có khả năng sẽ làm mất lòng ban giám khảo vì những từ ngữ mà cậu ấy hay dùng.”

Tôi nghệt mặt đứng nhìn cô. Cô trở nên nghiêm trang và bảo tôi. “Cô đoán rằng em đã nghe nói cô đang bị bệnh.”

Cô như vừa đặt cả 10 tấn than lên vai tôi. “Vâng ạ!” tôi buột miệng thốt lên. “Có gì không ổn vậy cô?”

Cô bắt đầu giảng giải. “Cô đang bị bệnh Hodgkin. Nó là một loại ung thư tấn công vào bạch cầu. Đây này.” Cô cầm tay tôi đặt lên cổ cô. “Đây là nơi đầu tiên cô cảm thấy bị sưng phù. Thấy cái cục nổi lên không? Đó là một trong những chỗ bị ung thư đấy. Cô cảm thấy mệt mỏi suốt cả năm học nên đã đoán là có vấn đề. Đến khi bác sĩ kiểm tra thì mới xác định được căn bệnh.”

Tôi rụt tay lại, cảm thấy sợ hãi khi phải đụng vào cái vật kinh khủng đang hiện hữu trong cơ thể của cô. Tôi chẳng biết gì hơn về ung thư ngoài việc nó sẽ giết chết mình. Nhưng rồi tôi chợt nhớ Bố đã chống lại được bệnh ung thư ruột của ông. Có cơ may cô Riley cũng sẽ vượt qua bệnh Hodgkin này chứ. “Cô sẽ không sao chứ ạ?”

Cô chống khuỷu tay xuống bàn, đưa hai tay đỡ lấy đầu. Rồi cô nhướng mày lên, nhìn vào mắt tôi. “Cô không biết nữa, bệnh Hodgkin có thể thuyên giảm. Nghĩa là cô vẫn sẽ mang những cục bướu đó nhưng không còn bệnh nặng nữa. Còn bây giờ, cô chỉ có thể ráng chịu đựng mà thôi.”

Nghe có vẻ còn hy vọng. “Cô có phải làm phẫu thuật không ạ?”

“Không, chẳng cần làm gì cả. Bác sĩ chỉ bảo cô phải giữ gìn sức khỏe cho tốt. Ngủ nhiều, thích ăn gì thì ăn, đại loại là như vậy. Điều tệ hại nhất là cô không thể giúp gì cho em về hội chợ khoa học được. Sau một ngày dạy học, cô chẳng thể nào mở mắt nổi nữa. Giờ đây em phải tự chuẩn bị mọi thứ rồi đấy. Em có thể làm được không?”

Tôi cũng không chắc nữa nhưng cứ trả lời, “Vâng được, thưa cô,”. Lúc này thì chuông reo báo giờ vào tiết học sau, và cô xua tay ra hiệu cho tôi đi.

“Chỉ em biết chuyện này thôi đấy nhé,” cô bảo.

Tôi vâng một lần nữa rồi vội vã xuống sảnh, chỉ còn vài học sinh cuối cùng đang lướt nhanh vào lớp học. Tôi đi ngang phòng thầy Turner, điều mà một học sinh đi muộn chẳng bao giờ muốn làm. Thầy nhìn thấy tôi nhưng chẳng nói gì, thậm chí còn gật đầu, mặt buồn bã. Chắc thầy biết tôi vừa ở đâu.

“SONNY, chú vừa được lệnh từ Liên minh Công nhân không được chế tác tên lửa cho cháu nữa,” chú Caton gọi điện thoại báo. “Bọn chú sẽ biểu tình vào ngày mai.”

Tôi choáng váng. “Chú làm xong cho cháu chưa ạ?” tôi hỏi chú. Chú ấy lẽ ra đang phải chế tác Auk XXI cộng thêm nhiều loại miệng, thân và chóp tên lửa cho tôi thuyết trình ở hội chợ khoa học.

“Chưa. Ferro bắt bọn chú nhanh tay hoàn thành công việc cho khu mỏ sau khi nghe thông tin về cuộc biểu tình.”

“Nó sẽ kéo dài trong bao lâu ạ?”

“Khoảng 24 giờ đồng hồ,” Bố nói khi đi ngang qua phòng giải lao. “Nó chẳng kéo dài được bao lâu đâu.”

Chú Caton nghe được lời Bố. “Bố cháu sai rồi Sonny. Lần này không phải là một cuộc biểu tình tự phát đâu. Tất cả những đầu não của Liên minh Công nhân đều đồng tình ủng hộ. Nó sẽ kéo dài đấy.”

Tôi chào tạm biệt chú Caton rồi lại gặp Bố, ông đang ngồi trên ghế bành đọc báo - bây giờ nó đã được dời xa khỏi cửa sổ. “Đừng có làm phiền Bố,” ông cảnh báo. “Bố không gây ra cuộc biểu tình này và cũng không thể ngăn cản nó. Nhưng xưởng kim khí điện máy vẫn mở cửa. Caton hay ai đó muốn làm việc thì cứ làm.”

“Chú ấy không thể chống lại Liên minh Công nhân được.”

“Ừ, thì bố cũng có làm được gì đâu.”

“Bố, con cần sự giúp đỡ. Con cần phải sẵn sàng cho hội chợ khoa học vào tuần tới. Con phải có được những thứ chú Caton đang chế tác cho con.”

Ông vẫn dán con mắt tốt vào tờ báo, mắt còn lại thì nhắm nghiền. Cách đây một năm cả thị trấn đều tung hô sự anh dũng của ông, giờ đây, khi mọi chuyện qua đi, nhiều người chỉ còn cho ông là một lão già một mắt khó chịu. “Xin lỗi cậu nhỏ, Bố chẳng thể ngăn cản liên minh biểu tình bằng bất cứ giá nào.”

Tôi thông báo tình hình cho BCMA vào sáng hôm sau. Chúng tôi thảo luận và lập một kế hoạch. Nó rất rủi ro nhưng tôi chẳng thể nghĩ được gì khác hơn.

Đêm đó, xưởng kim khí điện máy vẫn không khóa như mọi khi; Sherman đứng chờ tôi đạp xe tới. Bọn tôi mở cửa, bật công tắc đèn nê-ông, nó nhấp nháy rồi phủ tràn ánh sáng xanh lên những hàng máy tiện, máy khoan. Tôi tìm thấy máy tiện của chú Caton và đặt một thanh sắt lên đó như từng thấy chú làm. Tôi lấy dụng cụ cắt rồi đặt nó vào cái khuôn chú ấy chế tác đặc biệt cho miệng tên lửa của bọn tôi. Tôi cho máy tiện hoạt động. Vết cắt đầu tiên cũng tàm tạm nhưng đến phần góc trong thì dụng cụ lắc lư rồi bị kẹt lại. “Khốn kiếp thật!” tôi lầm bầm đầy thất vọng. Tôi dừng máy tiện, rút thanh sắt ra và quẳng xuống sàn xi-măng.

Sherman nhặt lên rồi mân mê thanh sắt hỏng trên tay. “Tớ không nghĩ là nó lại khó đến vậy.”

Tôi lau mồ hôi trên trán bằng chiếc khăn rằn. “Tớ cũng vậy,” tôi thừa nhận.

Tôi lấy một thanh sắt mới rồi thử lại. Tôi cũng cắt được phần đầu tiên nhưng đến phần góc trong thì thanh sắt trật ra khỏi khuôn, dụng cụ cắt chui tọt vào trong và gãy làm đôi. Một giờ đồng hồ trôi qua rồi mà tôi chẳng làm được gì ngoài việc cho ra hai thanh sắt hỏng.

Lúc đó cửa xưởng hé mở và chú Caton luồn vào trong, ngón tay đặt lên môi. Tôi muốn ôm chầm lấy chú nhưng dĩ nhiên là không làm vậy. Chú quan sát thành quả tệ hại của bọn tôi. “Cũng không tồi,” chú thì thầm. “Ừ, cắt phần góc trong ấy gian nan lắm. Sao các cháu không về nhà đi? Đừng có cho ai biết về việc này nhé?”

Dĩ nhiên là bọn tôi đồng ý. Sherman và tôi chui ra cửa biến vào đêm đen lạnh giá, ẩm ướt. Tôi đạp xe ngang Club House, Big Store, qua cầu trong bóng tối lặng tờ. Khi tiến đến gần những dãy nhà nhỏ dọc bờ sông, tôi gặp một đám người đang tụ tập trước hiên nhà của Pooky. Một số khác ngồi trên mui xe tải đậu bên kia đường. “Thằng con Homer,” tôi nghe ai đó gọi, vội cắm cúi đạp thật nhanh. Tôi nghe có tiếng cửa đóng sập sau lưng, tim tôi đập nhanh hơn khi nghe thêm tiếng bước chân, nhưng rồi nó im bặt.

Tôi tiếp tục đạp xe đi. Một chiếc xe chạy theo sau tôi, chợt lao lên trước bọc đầu rồi dừng lại bên vệ đường. Tôi nhận ra ba đứa vừa ra khỏi xe. Tụi nó đều là con của mấy người công nhân thất nghiệp, có cả Calvin, con trai của Pooky. Calvin là một trong số mấy đứa từng đánh tôi trong thời gian học tiểu học mỗi khi có biểu tình diễn ra. Nhưng những ngày ấy đã qua lâu lắm rồi nên tôi không để tâm nữa. Còn bây giờ thì bọn nó quá đông, không thể chọi thẳng lại được, nghĩ vậy tôi bèn phóng vụt qua chúng, vứt lại xe đạp rồi trốn khỏi ánh đèn đường và chạy lên đồi. Ở trên đó có đường tắt qua đoạn đường đất đỏ dẫn đến trường Coalwood, và tôi có thể ẩn mình trong bóng đêm. Khi lên tới phần đường, tôi nấp vào đám cỏ dại mọc cao ngút rồi ngồi lì trong đó đến lúc nghe thấy bọn chúng chạy ngang qua. “Sonny?” bọn nó gọi. “Bọn tao chỉ muốn nói chuyện với mày thôi.”

Tôi thừa thông minh để không bị mắc bẫy. Sau vài phút im lặng, tôi mò về chỗ cũ, leo lên xe đạp, đi vòng ra con đường phía sau về nhà. Tới nhà, tôi vùi mình vào chăn ấm, chỉ còn vài tiếng nữa là phải thức dậy bắt xe buýt đến trường rồi. Mất một lúc sau tôi mới chìm vào giấc ngủ, trong mơ, tôi thấy Mẹ, Bố, cô Riley, chú Caton và cả Calvin Suggs ẩn hiện. Chẳng có gì ổn cả, cả thế giới ngả nghiêng.

BÁO CHÍ nói rằng đình công ở Coalwood chỉ là một trong hàng loạt hành động nổ ra xuyên suốt tỉnh. UMWA luôn khét tiếng về việc thiếu thốn tiền bạc cho biểu tình nên nhiều gia đình phải luôn sẵn sàng đối mặt với hoàn cảnh khó khăn. Đội quân Cứu tế làm hết sức có thể để cứu giúp lương thực, nhưng tôi nghe Mẹ xì xào qua hàng rào với bà Sharitz là người dân ở khắp nơi, kể cả Coalwood, rồi sẽ lâm vào cảnh đói kém. Câu lạc bộ Phụ nữ cũng đóng từng giỏ lương thực và chuyển đi cứu tế. Mẹ giúp trong khâu chuẩn bị nhưng không tham gia việc vận chuyển vì bà biết rằng họ sẽ phẫn nộ khi thấy bà.

Thời gian ấy đang vào mùa tranh cử, Thượng Nghị sĩ Kennedy và Humphrey làm náo động cả tiểu bang trong việc giành ghế tổng thống và một cuộc khảo sát mang tầm quốc gia đã diễn ra ở miền Tây Virignia. Nhiều người trong tiểu bang rất phẫn nộ khi phóng viên truyền hình tràn vào và báo cáo rằng người dân ở miền Tây Virginia đang dốt nát, nghèo khó và bất lực như thế nào. Cả Thượng Nghị sĩ Kennedy và Humphrey đều nghĩ rằng giải pháp cho miền Tây Virginia là: khởi động sự trợ giúp từ chính quyền liên bang bằng cách cung cấp lương thực miễn phí và bổ nhiệm thêm những chức vụ cho chính quyền liên bang. Nếu miền Tây Virginia đồng ý bầu cử cho một trong hai người họ thì sẽ có hàng đoàn xe tải chở lương thực đến đây. Khi Humphrey được hỏi về số phận của những người thợ mỏ thất nghiệp, ông bảo họ sẽ được đào tạo lại, và lời đáp đó nhận được sự cổ vũ nhiệt liệt. “Đào tạo lại cho việc gì cơ chứ?” tôi tự hỏi trong khi xem tivi ở nhà Roy Lee.

“Đào tạo lại thợ mỏ à.” Mẹ Roy Lee cười khi đang rửa bát. “Để chờ xem họ dùng xảo thuật gì!”

Bố không thể nào đọc tiếp báo nữa. Ông quẳng tờ báo lên bàn ăn ngay khi tôi vừa trở lên từ phòng thí nghiệm. “Liên minh Công nhân sẽ chẳng bao giờ có thể kết thúc cuộc biểu tình này nếu như họ cứ nghĩ những sự giúp đỡ đang thật sự tới.”

“Anh sẵn sàng tới bãi biển Myrtle chưa?” Mẹ hỏi.

“Tuần tới đi,” ông bực dọc đáp.

“Tuần trước anh cũng nói vậy.”

“Anh phải ở lại đây để đàm phán.”

“Chả có ai đàm phán đâu.”

Tôi lên phòng, đóng cửa lại rồi nằm vật ra giường. Daisy Mae rúc vào khuỷu tay tôi. Bụng tôi đau thắt lại như muốn ói mửa. Gần đây tôi rất hay cảm thấy ruột gan mình lộn lạo hết cả lên. Mọi thứ như chồng chất đè nặng lên người tôi.

MƯA TRÀN VỀ cùng mùa xuân năm 1960, đồng thời dấy lên trong dân chúng nỗi lo về lũ lụt. Vấn đề do nước mưa đọng lại trong những vùng trũng ở bãi than cám. Bình thường thì công ty sẽ cho mở đập cho nước tràn ra nhưng trong thời gian biểu tình họ không thực hiện việc này. Rốt cuộc cũng có một cái đập nhỏ được mở ở vùng trũng gần Six. Một sáng thứ bảy, tôi giật mình thức giấc và chứng kiến một dòng lũ nhỏ chảy ngang khu mỏ, xuống thung lũng đến tận Big Store. Nó không quá sâu nên tôi vẫn đạp xe đi được, nhưng khi đến nhà chú Caton thì cũng đủ làm tôi ướt sũng người. Tôi vòng ra cửa sau rồi gõ cửa, liếc ngang liếc dọc xem có ai nhìn thấy mình hay không. Chú Caton xuất hiện, len lén đưa tôi mấy cái miệng và chóp tên lửa chứa trong túi đựng bột bằng vải. “Phần thân chú để ở lối đi sau xưởng, lẫn trong mấy cái ống bình thường đấy nhé,” chú bảo.

Tôi gật đầu. Roy Lee lãnh nhiệm vụ thu thập và giấu chúng trên băng ghế sau xe.

Trên đường tôi về nhà, Calvin Suggs và hai tên bạn thân của hắn bật dậy từ hiên nhà và băng qua đường rồi rượt theo tôi với đôi chân trần. Tí nữa là chúng đã chộp được tôi, nhưng tôi quay tít cái túi trên đầu làm chúng phải cúi xuống để tránh Việc này cũng giữ không cho bọn nó lại gần đến khi chiếc túi tuột khỏi tay tôi và phóng thẳng xuống dòng sông.

Tôi nhảy xuống xe và thoi một cú thật mạnh vào ngực Calvin. Quá bất ngờ, nó ngồi phịch xuống con đường đang ngập nước và nhìn tôi lao xuống nhánh sông đục ngầu đầy bùn đất và xoáy nước. Cơn lũ xém chút đã làm tôi ngã nhào nhưng tôi vẫn cố trụ lại và sục sạo khắp đáy sông. Nhưng tôi chỉ mò được đá, bùn và nước lạnh. Khi bò lên với đôi bàn tay không, tôi đi thẳng đến Calvin và đấm thêm cho nó một cú nữa. Nó ngã bật ra, mũi đầy máu. Hai đứa kia chạy lại, tôi múa may loạn xa và bọn nó phải tản ra. Khi Calvin lồm cồm bò dậy và cố gắng chộp lấy tôi, tôi bèn ấn cùi chỏ vào sườn nó làm nó lùi lại. “Cậu có vấn đề gì vậy?” nó thở hổn hển, đưa tay lên quẹt máu mũi. Mắt trái của nó đang sưng lên.

“Mày làm tao đánh mất miệng và chóp tên lửa rồi!”

“Mấy dụng cụ tên lửa của cậu à?”

“Đúng, đồ thoái hóa. Dụng cụ tên lửa của tao đó!”

Ba thằng nhóc của Liên minh Công nhân và tôi đứng trong dòng nước xoáy trên đường và nhìn nhau. Calvin chắc chắn sẽ sở hữu con mắt bầm tím sớm thôi. “Calvin, mày đang làm cái khỉ gì vậy?” Pooky hét toáng lên từ hiên nhà.

“Hình như thằng con của Homer cho con ông đo đất rồi đấy Pook,” một thợ mỏ đang ngồi trước hiên nhà buông lời giễu cợt.

“Quỷ tha ma bắt, Calvin, đập nó, đập cho nó một trận đi.”

Calvin mặc kệ bố nó. “Xin lỗi vì mấy dụng cụ cậu vừa đánh mất,” nó nói ra vẻ rất hối hận. “Tớ... bọn tớ thật tình chỉ muốn nói chuyện với cậu thôi.”

Tôi không tin nó và xiết chặt nắm đấm. “Nào nào, giải quyết cho xong luôn đi!”

“Khi nước rút, bọn tớ sẽ giúp cậu tìm lại đồ đã mất,” nó vừa nói vừa vuốt lại mái tóc ướt sũng.

Rốt cuộc tôi đã nhận thấy sẽ không có cuộc ẩu đã nào sẽ xảy ra. Tôi nhìn xuống nhánh sông đầy xoáy nước. “Không cần đâu. Nó mất rồi, cám ơn.”

“Calvin!”

“Im đi Bố!” Calvin giúp tôi dựng xe đạp lên rồi đứng tựa vào nó. “Sonny? Khi cậu lên sống và làm việc ở Cape Canaveral, cậu vui lòng tìm việc cho bọn tớ với nhé?”

Mấy đứa kia cũng gật gù, hy vọng hiện rõ trên khuôn mặt, mớ tóc dài xõa xuống ngang mắt. “Còn lâu nữa tớ mới lên được đó,” tôi đáp.

Calvin buông xe tôi ra. “Không sao. Bọn tớ sẽ ở đây hay trong Quân Đội. Cậu sẽ tìm thấy bọn tớ thôi.”

Tôi vừa đạp xe vừa ngẫm nghĩ, một phần thế giới quen thuộc trong quá khứ như vừa tan biến trong tôi.

Hôm sau, Mẹ bảo vừa nghe tiếng gõ cửa nhẹ, khi bà ra thì thấy Calvin bỏ chạy và để lại một cái túi vải ướt sũng dính đầy bùn đất. Trong đó là miệng và chóp tên lửa của tôi.

CHIỀU THỨ NĂM tuần tiếp theo, Mẹ chở tôi qua núi đến Hội Chợ Khoa Học ở Welch trên tỉnh McDowell. Chiếc Buick được chất đầy băng-rôn, áp phích và dụng cụ tên lửa của tôi cho buổi diễn thuyết trong hội chợ. Tôi quyết định đặt tên cho lối vào quầy trưng bày của mình là Nghiên Cứu Về Kỹ Thuật Tên Lửa Nghiệp Dư. Mấy đứa kia đi theo xe Roy Lee và giúp tôi vác mọi thứ vào trong phòng thể thao của trường Welch nằm trên đỉnh của ngọn đồi dốc. Thầy Turner cho phép bọn tôi nghỉ buổi chiều. Nhưng chỉ có Mẹ giúp đỡ bọn tôi, còn cô Riley đã nghỉ ốm.

Bồn chồn lo lắng, bọn tôi dựng lên quầy trưng bày với một tấm bảng bằng sợi thủy tinh gập làm 3. Trên đó tôi dán nhiều áp phích biểu diễn những tính toán cho miệng tên lửa, đường bay hình pa-ra-pôn của tên lửa, và những phép tính lượng giác bọn tôi sử dụng để tính độ cao. Tôi còn mang theo các bức vẽ miệng tên lửa, phần thân và phương thức hoạt động của chúng nữa. Còn bức hình của Wernher von Braun được đặt ở vị trí trang trọng nhất, và cuối cùng là Auk XXV nằm ngay phía trước. Cạnh đó là những miệng tên lửa được chú Caton bí mật chế tác. Quả là những kiệt tác nghệ thuật, những đường cong cầu kì tỏa lấp lánh ánh bạc dưới ánh đèn.

Bọn tôi quan sát nhanh những đối thủ của mình. Phần trưng bày về thực vật hóa thạch tìm thấy trong hầm mỏ của trường Welch có vẻ là đáng gờm nhất. “Chỉ là một đống đá cũ thôi mà,” O’Dell bảo. “Chẳng có gì đáng ngại đâu.”

Tôi không chắc lắm. Mỗi mẩu thực vật hóa thạch đều được phân tích rõ ràng, có cả biểu đồ tiến hóa của thực vật từ thời đại khủng long đến nay. Tôi cảm thấy đó là một công trình tuyệt hảo và có lẽ ban giám khảo cũng sẽ nghĩ như vậy.

Hội đồng Công nghiệp Pocahontas cho Ngành Giáo Dục là nhà tài trợ của hội chợ này, một ủy ban được thành lập bởi những doanh nghiệp ở Welch và một số mỏ than lớn khác. O’Dell gọi ban giám khảo là “Những chính trị gia chấp pháp của Welch,” mặc kệ nó có nghĩa gì. Họ có 6 người và tạo thành một nửa vòng tròn trước quầy trưng bày của tôi. Mỗi người đều mang theo bìa kẹp hồ sơ. “Em đến từ trường nào vậy?”

“Big Creek thưa ông. Lớp vật lý của cô Riley ạ.”

Một trong số họ liếc nhìn phần thân hỏa tiễn. “Em có bao giờ làm nổ tung cái gì chưa?”

Tôi chợt nghĩ đến hàng rào vườn hồng của Mẹ và vô thức bắt chéo ngón tay lại. “Chúng em rất cẩn trọng ạ.”

“Có phải em đã gây ra đám cháy ở Davy không?”

“Thưa không. Nguyên nhân là do pháo hiệu của máy bay ạ.”

“Cái gì thế kia?” một vị giám khảo khác hỏi và chỉ vào miệng tên lửa. Tôi có cơ hội để diễn giải về công dụng của nó và cách tính kích thước cho nó.

Một vị giám khảo liếc nhìn tấm hình của Braun. “Tôi đã đọc về các em trên tờ báo trong tiệm tạp hóa. Có vẻ các em đang làm những thứ điên rồ thì phải,” ông ta nói thêm.

“Nó bay cao bao nhiêu?” một vị khác vừa chỉ vào Auk XXV vừa hỏi.

“Em nghĩ khoảng chừng 3 dặm,” tôi đáp rồi giải thích cơ sở nhằm đưa ra phán quyết đó và làm cách nào để tính nó khi cần thiết.

Sáu vị giám khảo nện đế giày lộp cộp, nhìn nhau rồi cùng hừmmm lên một tiếng. “Có vẻ thứ này rất nguy hiểm đấy,” người lúc nãy bảo bọn tôi “điên rồ” cất tiếng. Ông ta dừng lại, hí hoáy viết gì đó rồi đi qua những quầy trưng bày khác.

“Mấy gã thoái hóa này sẽ không cho chúng ta thắng đâu,” O’Dell bước ra từ đằng sau tấm bảng trưng bày rồi kêu ca. “Càng không sau khi cậu nói mình đến từ Big Creek.”

“Có vẻ thứ này rất nguy hiểm đấy!” Quentin lầm bầm. “Cái gì thuộc về khoa học mà chẳng như vậy?”

Nếu là như vậy thì tôi vui vẻ chấp nhận. Tôi đã làm hết sức mình. Mẹ dắt chúng tôi đi ăn trưa tại tiệm thuốc ở Flat Iron. Khi bọn tôi quay lại thì thấy ban giám khảo đang đứng chờ trước quầy trưng bày. Vị trưởng ban giám khảo bắt tay và đưa cho tôi một dải lụa màu xanh. “Chúc mừng em, Hickam,” ông bảo. “Có vẻ như em sẽ được đến Bluefield dự chung kết đấy.”

“Tớ biết là chúng ta sẽ thắng mà!” O’Dell hét lên rồi cầm lấy dải lụa xanh từ tay tôi và làm một điệu nhảy khiến các vị giám khảo bật cười.

Mẹ lặng lẽ đứng sang một bên, trên môi bà hiện lên một nụ cười tự hào đầy thỏa mãn. Bà ôm lấy Quentin khi cậu ấy đến bên cạnh.

Tôi vẫn đang cố làm quen với sự thật này. Tôi chưa thể hoàn toàn tin được. Chúng tôi đã thắng! Tôi nóng lòng muốn nói cho cô Riley và cả Bố biết ngay.

CẢ BUỔI CHIỀU HÔM ẤY, Bố ở suốt trong hầm mỏ cùng những đốc công của mình kiểm tra sự an toàn. Mẹ bảo sẽ nói với Bố ngay sáng hôm sau. Ngay sau khi xuống xe buýt, tôi chạy vụt đến lớp học của cô Riley để báo tin. Cô đang ngồi bên bàn. Khi nghe tin chiến thắng của tôi, cô cười thật tươi và cho người đi báo tin vói thầy Turner. Thầy hiệu trưởng tìm gặp tôi trong giờ lịch sử và gọi tôi ra ngoài sảnh. Thầy nhìn tôi chằm chằm. “Thầy vừa thắng vị giám đốc sở 5 dollar đấy,” thầy nói như đang cười. “Cuộc thi tiếp theo diễn ra khi nào?” Tôi cho thầy biết vòng chung kết sẽ diễn ra ở Bluefield sau hai tuần nữa. “Phải đi đặt cược thôi,” thầy bảo rồi chạy như thể nhảy lon ton về văn phòng.

Thắng lợi tại Hội Chợ Khoa Học tỉnh làm chúng tôi nổi tiếng thêm một chút. Câu lạc bộ Phụ nữ Coalwood mời bọn tôi đến phát biểu tại buổi họp hàng tháng trong căn phòng nằm trên bưu điện. Dĩ nhiên thầy cô của chúng tôi cũng có mặt. Mặt họ ánh lên niềm tự hào vô hạn. Quentin và tôi là người phát ngôn chủ yếu, hăng say diễn giải về những khó khăn khi giải quyết những phép tính và hỏa tiễn của bọn tôi bay như thế nào. Các quý bà vỗ tay không ngừng. Tiếp đó chúng tôi được mời xuống Câu lạc bộ Kiwanis ở War và cũng tạo lên cơn sốt ở đó. Hội trưởng câu lạc bộ trao cho bọn tôi bằng cấp hùng biện và xưng danh chúng tôi là “Niềm vinh hạnh của Hollows.”

Mẹ cùng Bố đi xuống bãi biển Myrtle vào thứ sáu, để lại cả căn nhà cho tôi làm chủ. Cuối tuần đó cũng là buổi dạ hội của hai cấp tiểu học và trung học. Không có chiếc Buick nhưng chú Clarence đồng ý cho tôi mượn xe hơi. Lần này tôi mời Melba June, người đã nhảy với tôi trong dạ tiệc Noel, đi cùng và nàng ngả ngay vào vòng tay tôi trong giảng đường khi tôi vừa ngỏ lời. Lúc đó tôi nhìn thấy Dorothy đang ngồi một mình quan sát bọn tôi, nhưng nàng nhanh chóng ngoảnh mặt đi. Theo lời Roy Lee thì nàng đang có bạn trai mới đang học đại học, nhưng mọi chuyện cũng không được suôn sẻ cho lắm. Tôi cố tình làm ra vẻ không quan tâm gì về điều này nữa.

Bọn tôi cũng lên kế hoạch phóng tên lửa vào cùng ngày của buổi dạ hội và như thường lệ, bài văn súc tích của Basil tụ tập các khán giả của chúng tôi:

BCMA sẽ tiếp tục phóng hỏa tiễn tại Cape Coalwood vào thứ bảy này. Và chắc chắn là một buổi trình diễn hoành tráng không thể bỏ lỡ. Phóng viên của các bạn đã nhiều lần miêu tả về những cuộc phiêu lưu vào không gian của họ, nhưng phải nhắc lại cho các bạn rằng chẳng điều gì có thể đoán trước được mỗi khi một quả hỏa tiễn rời khỏi bệ phóng. Như những ai từng chứng kiến lần vừa rồi sẽ thấy được hai cậu bé dũng cảm bò trườn dưới đất với tấm khiên tự chế của họ như thế nào...

Mọi người tụ tập ở bên kia đường như thường lệ, chỉ khác là lần này họ tách ra hai nhóm rạch ròi: gia đình của công ty và của Liên minh Công nhân. Chúng tôi giương cờ và phóng hỏa tiễn. Auk XXV vút lên bầu trời và đạt được độ cao như dự đoán, rơi xuống suôn sẻ, đáp xuống gần cuối bãi than cám trong tiếng uỵch quen thuộc. Vụ va chạm làm phần thân cong veo, còn phần chóp thì vỡ vụn. Tôi đã đưa ra quyết định đắp một lớp vữa nhão vào phần góc trong của miệng tên lửa, hy vọng là nó cản bớt nhiệt. Kết quả đạt được thật mỹ mãn, chỉ có vài lỗ nhỏ bị ăn mòn qua phần cổ mà thôi. Quentin liếc sơ qua rồi đặt tay lên vai tôi. “Phi thường Sonny ạ, thật phi thường.” Cậu ấy nhìn tôi với ánh mắt thật kính trọng. “Cậu biết không, giờ đây tớ thật sự nghĩ cậu là một cậu bé hỏa tiễn rồi đấy.”

Tôi đón Melba June với đóa lan dại trên tay rồi cùng nhau chậm rãi bước vào phòng thể dục của trường Big Creek, thật là một cặp xứng đôi. Chúng tôi tham gia hầu hết các điệu nhảy. Nhưng tôi hơi thất vọng vì Dorothy không tham dự. Khi đưa Melba June về nhà, chúng tôi lướt nhanh qua những ngôi nhà ở Mercury, rồi rốt cuộc nàng cũng trao cho tôi một nụ hôn nồng cháy trước khi bước lên thềm nhà; nơi bố mẹ nàng đang kiên nhẫn âm thầm chờ phút giây nàng say mê âu yếm nhà khoa học hỏa tiễn vừa chiến thắng tại hội chợ khoa học trôi qua. Họ mở cửa ngay khi bàn chân xinh xắn của nàng vừa đặt lên bậc thang đầu tiên.

Bố mẹ trở về vào cuối ngày thứ hai sau khi tôi đã ngủ. Vào thứ ba, khi tôi đi học về thì thấy Mẹ đang đi quanh nhà với nụ cười thỏa mãn trên môi, còn Bố lui cui trong góc tối đựng đồ đạc cũ dưới tầng hầm, ông đang huýt gió. Tôi chưa nghe ông huýt gió bao giờ, thậm chí còn không biết ông có thể làm vậy nữa. “Bố con sẽ nghỉ hưu,” Mẹ đáp khi nghe tôi thắc mắc về thái độ lạ lùng của Bố. “Ông ấy sẽ kinh doanh bất động sản ở bãi biển Myrtle. Ngay sau khi con lên đại học vào mùa thu này thì bố mẹ sẽ chuyển nhà luôn. Bố mẹ đang xem cái gì nên đem đi và cái gì nên bỏ lại.”

Có lẽ Mẹ nhận ra sự nghi ngờ thoáng qua trên mặt tôi nên bà vội vàng khẳng định. “Bố sẽ làm thật đấy, Sonny. Ông ấy đã chịu đựng quá đủ rồi. Ông Butler bảo Bố có thể cùng hợp tác.”

Điều này thì có lý. Chú Butler từng là kỹ sư cho công ty, sau đó chú nghỉ việc và bắt đầu kinh doanh bất động sản ở bãi biển Myrtle. Bố phóng hai bước một lên bậc thang tầng hầm trong tâm trạng hồ hởi vui tươi mà tôi chưa từng thấy bao giờ, trừ cái lần mấy huấn luyện viên của miền Tây Virginia đến chào mời Jim. “Anh không nghĩ mình cần thứ gì dưới đó đâu,” Bố nói về tầng hầm. “Chúng ta có thể bỏ luôn cái máy giặt. Dù gì Sonny cũng làm cái nắp sắp bung ra mất rồi. Chúng ta sẽ mua đồ đạc mới.” Và trong sự ngạc nhiên của tôi, Bố ôm chầm lấy Mẹ.

Tôi xuống hầm trộn thêm một ít chất nổ đẩy. Daisy Mae xuất hiện trên quầy ngắm nhìn tôi làm việc. Nó bắt đầu khều khều tay tôi. Tôi vô thức vuốt ve nó nhưng đang quá bận để thật sự quan tâm đến nó. Một lúc sau, nó thôi không phiền tôi nữa, trèo xuống và đòi ra ngoài. Mừng vì được thoát khỏi sự phiền toái, tôi mở ngay cửa cho nó đi ra.

Sau đó, tôi trở về phòng làm bài tập. Bỗng tôi cảm thấy bụng hơi nôn nao và đầu nhức nhối. Có quá nhiều thứ để chuẩn bị cho hội chợ ở Bluefield. Tôi định nằm dài ra giường nhưng chợt nhớ tới Daisy Mae đang ở ngoài, và khi có nó cuộn mình bên cạnh tôi cũng là một liều thuốc thư giãn hiệu quả. Tôi bị mắc kẹt trong một bài hình học cho đến khi nghe tiếng xe rít trên con đường đối diện với trạm nhiên liệu và băng ngang nhà tôi. Nghe có vẻ đang rất vội vã. Tôi không để ý lắm và tiếp tục vùi đầu vào bài toán khó. Bỗng tôi nghe tiếng cửa đóng sầm lại và tiếng bố mẹ xì xào với nhau. “Em phải nói cho Sonny biết thôi,” tôi nghe Mẹ nói và chợt đoán ra ngay sự việc.

Tôi đi xuống mà chẳng cần nghe ai gọi. Mẹ đang đứng đợi tôi trong phòng giải lao, ôm con mèo nhỏ bé trên tay. Thân thể của Daisy Mae trông oặt oẹo, đôi chân mềm rũ. Đầu nó tựa vào ngực Mẹ, mắt nhắm hờ, máu đang nhỏ giọt ra từ miệng. Tôi không thể nào bước lại gần hơn nữa, sự xúc động chợt dâng lên ngập lòng. Mắt tôi hoa lên, tâm trí tôi điên đảo như đang bị nhấn chìm vào dòng xoáy của những vết đỏ và trắng. Tôi ngồi phịch xuống ghế và nhìn chăm chăm về phía trước. Tôi đã để nó ra ngoài là ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi. Tôi đã để nó ra ngoài. Tôi đã giết chết nó rồi.

Bà Sharitz qua nhà và nhận ra sự việc vừa xảy ra. “Nó sẽ ổn thôi, Elsie,” bà nhắc đi nhắc lại. “Nó sẽ ổn thôi.”

Tôi chợt giật mình trở về thực tại và nhận thức được mọi thứ. Tôi đứng dậy, chạy lên phòng tắm trên lầu và bắt đầu nôn mửa liên hồi như không thể nào dừng lại được.

Đến khi cảm thấy mình có thể cử động lại, tôi lảo đảo bước xuống nhà dưới. Không khí trong nhà thật ngột ngạt, chết chóc. Tôi tìm thấy Mẹ đang ngồi một mình trên ghế ở hiên sau nhà. Bà đã bỏ Daisy Mae vào trong hộp đựng giày và đặt lên đùi mình. Những năm qua, đã có bao nhiêu con mèo được chúng tôi chôn cất trong hộp giày rồi nhỉ? Mọi lần trước, tôi cùng Jim đem chúng đi chôn trên núi và thì thầm những lời cầu nguyện cuối cùng trước cây thánh giá làm bằng hai thanh gỗ bạch dương cột lại với nhau. Và bây giờ, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy nhớ Jim, nhớ đến sức mạnh và sự tập trung cao độ của anh trong đôi tay khi làm việc. Tôi lặng lẽ xuống hầm lấy xẻng rồi trở lại hiên nhà. Mẹ đưa tôi chiếc hộp mà chẳng nói gì. Tôi nhẹ nhàng đặt nó xuống dưới gốc cây táo ở sân sau và bắt đầu đào. Bố bước ra, lặng im nhìn tôi rồi lên chiếc Buick phóng đi đâu đó. Dandy và Poteet ngồi gần bên, run run lặng lẽ, thỉnh thoảng rên lên ư ử. Mẹ cũng bước ra và nhìn tôi, nín lặng. Khi tôi hoàn tất việc chôn cất Daisy Mae thì mấy đứa khác đã xuất hiện, trừ Quentin. Các cậu ấy được thông báo bởi mạng lưới hàng rào hầu như nối kết với mọi người ở Coalwood.

Cả bọn theo tôi lên phòng, nhìn tôi ngồi bên mép giường, thẫn thờ ngó vô định về bức tường đối diện. Roy Lee lên tiếng, “Tớ sẽ tìm ra thủ phạm, Sonny, và tớ dám hứa rằng nó sẽ phải trả giá cho việc này.”

Roy Lee đang ám chỉ ai đó đã đâm vào Daisy Mae. Từ nãy đến giờ tôi chỉ nghĩ đó là tai nạn nhưng trước đó tôi đã nghe tiếng bánh xe rít trên đường. Chắc chắn thủ phạm nổ súng và gây ra việc này là cùng một người.

Tôi gật đầu nhưng không cử động nổi. Bây giờ thì còn ý nghĩa gì nữa? Daisy Mae đã ra đi mãi mãi rồi. Tôi còn nhiều năm dài để sống và giờ đây, tôi đã bắt đầu cảm thấy nhớ nhung tới nó rồi.

NHỮNG GIỜ HỌC của tuần tiếp theo trôi qua tôi trong sự mơ hồ. Roy Lee chở chúng tôi đến Bluefield tham gia hội chợ, và cả bọn cùng nhau dựng những tấm bảng và quầy trưng bày. Một lần nữa, tôi đối đáp với ban giám khảo trong khi mấy đứa còn lại lượn lờ xung quanh. Tôi nói ngắn ngọn và trả lời những câu hỏi của họ mà chẳng quan tâm rằng mình sẽ chiến thắng hay không. Sau giờ ăn trưa, bọn tôi quay lại để nghe tuyên bố giải thưởng. Giải ba và giải nhì lần lượt được công bố. Tôi chợt thấy dạ dày mình quặn lại. Ôi Chúa ơi, thôi rồi, tôi nghĩ. Chắc chúng tôi chẳng được giải gì rồi. Thật là xấu hổ khi trở về Big Creek với hai bàn tay trắng. Ngay sau khi ra khỏi tỉnh lỵ nhỏ bé của mình, bọn tôi đã sớm trở thành những kẻ bại trận hoàn toàn. Vị giám khảo ngẩng mặt lên và tựa vào bục. “Giải nhất thuộc về - và đây là lần đầu tiên trường học này chiến thắng, thưa quí ông quí bà - Trường Trung học Big Creek, đại diện bởi Homer Hadley Hickam, Jr., với Nghiên Cứu Về Kỹ Thuật Tên Lửa Nghiệp Dư.

Quentin không còn kiềm chế được bản thân mình nữa, cậu ấy nhảy dựng lên và hò hét “Hú húuuuuu!” trước khi tẽn tò lùi lại phía sau. O’Dell nhảy nhót vòng quanh, hai tay đưa lên trời như võ sĩ đấm bốc vừa thắng trận. Roy Lee khúc khích cười và bấu chặt lấy tay tôi. Sherman cười lớn và vỗ tay. Billy dựa hẳn vào ghế rồi đưa tay lên lau trán, thở phào nhẹ nhõm. Cả khán phòng vỡ òa trong tràng pháo tay. Còn tôi thì chỉ ngồi đó với nụ cười ngớ ngẩn trên mặt. Không thể tin được. Chúng tôi đã chiến thắng! Chúng tôi được tham dự Hội Chợ Khoa Học Toàn Quốc rồi!

“Tớ đã bảo cậu mà, tớ đã bảo cậu mà, tớ đã bảo cậu mà,” Quentin liên tục lặp lại với tôi câu nói ấy.

Khi mọi việc trở lại trật tự, chúng tôi còn được thêm một phần thưởng nữa. Một Thiếu tá Không Quân đứng dậy và tuyên bố chúng tôi vừa được ban tặng giải nhất vì đã “Xuất sắc trong Lĩnh vực Lực đẩy.” Ông nói về buổi trưng bày của bọn tôi và thừa nhận rằng chưa bao giờ thấy quả tên lửa nào tinh xảo đến như vậy bên ngoài Cape Canaveral. “Ngài hoàn toàn đúng đó, Thiếu tá ơi!” O’Dell réo lên inh ỏi.

Sau buổi lễ trao giải, thiếu tá đến bắt tay tôi. Ông hy vọng tôi sẽ suy nghĩ về việc gia nhập Không Quân. Tôi gọi cả đám lại để giới thiệu, ông mỉm cười bảo, “Không Quân Hoa Kỳ sẵn lòng chào đón tất cả các cháu.” Dường như ông không để ý tới cái chân tong teo của Sherman và sự vụng về đáng ngại của Quentin.

Khi bọn tôi về nhà thì trời đổ mưa trên những con đường ngoằn ngoèo trong thung lũng và những ngôi nhà vấy bẩn bụi than của tỉnh McDowell và Mercer. Mấy hầm mỏ bên đường thật im ắng và trống trải như bị bỏ hoang từ hàng nghìn năm trước. Chợt một chiếc xe buýt chạy vượt qua với tấm băng rôn in dòng chữ BẦU HUBERT HUMPHREY LÀM TỔNG THỐNG dán hai bên thân xe. Nó làm bắn bùn đất lên kính xe bọn tôi. Roy Lee nhấn ga lên một chút để tránh. Thêm một vài dặm thì xe buýt dừng lại. Một người bước ra vẫy tay chào đám đông bên đường. Tôi lại cảm thấy bụng dạ nôn nao và đầu nhức nhối như muốn nứt làm đôi. Roy Lee dừng lại để tôi nôn mửa. Khi tôi trở lên thì mấy đứa kia đã trèo lên bờ đá. Hubert Humphrey hóa ra là một người đàn ông tròn trịa nhỏ nhắn, quai hàm và cánh tay ông như có sợi dây kết nối với nhau. Càng vẫy tay nhiều thì miệng ông càng nói không ngừng nghỉ. Ông rơm rớm nước mắt và tuyên bố với đám đông rằng nếu ông được làm tổng thống thì chính quyền sẽ tới đây ổn định mọi việc, thậm chí sẽ trực tiếp điều hành nếu cần thiết. Sẽ không có ai chịu đói kém dưới “triều đại” của ông, không có áp bức và không có thất nghiệp.

“Hãy hỏi ông ta một câu hỏi về không gian đi,” Sherman đề nghị và vẫy tay về phía ông nhưng Humphrey chẳng nhìn về hướng cậu ấy. Ông ta vẫn nói không ngừng khi Roy Lee băng ngang chiếc xe buýt rồi tăng tốc, qua khỏi thị trấn Keystone, đường xá vắng tanh, chỉ có vài con chó bẩn thỉu đang lang thang trước một cửa hàng bị bỏ hoang.

THẦY TURNER gọi tôi vào văn phòng vào thứ hai tuần tiếp theo, thầy bắt tay tôi và nói. “Em đã vượt qua mọi sự mong đợi của thầy. Thầy sẽ cho họp trường đàng hoàng để làm lễ tiễn đưa long trọng cho các em trước khi đến Indianapolis.”

Trong buổi họp, tất cả thành viên của BCMA phải đứng dậy và cúi đầu chào. Thầy Turner gọi tôi bước lên phía trước. “Em sẽ làm hết khả năng của mình để đại diện cho Big Creek,” tôi nói, cả người tê cứng lại trong ánh đèn sân khấu và cố gắng quên đi cái đầu của mình đang muốn nứt đôi ra. Tôi vẫn còn những cơn buồn nôn và bây giờ là cả đau đầu nữa.

Cô Riley đứng dậy tuyên bố, “Việc này là minh chứng hùng hồn rằng học sinh của Big Creek sẽ có thể làm bất cứ gì mà các em muốn. Cô tin rằng Sonny sẽ càng làm chúng ta tự hào hơn ở Indianapolis.”

Nhìn cô Riley tràn trề sinh lực và hy vọng, làm tôi cảm thấy xấu hổ và chán ghét biểu hiện của mình. Tôi bây giờ chẳng khác gì một bé gái yếu đuối cả.

Đêm đó, chẳng hiểu sao tôi lại bước ra sân sau nhà. Mọi thứ đều lặng im trong bóng đêm, chỉ còn tán lá xôn xao nấp trên ngọn cây táo, xì xào trong từng cơn gió nhẹ đưa. Tôi bước sâu hơn vào ánh đèn hắt ra từ nhà bếp và đứng im, e dè thở thật nhẹ. Chẳng hiểu sao tôi lại đứng đây, mong rằng một điều gì đó trong lòng mình sẽ trả lời được câu hỏi này. Không khí về đêm thật trong lành. Khi tôi ngước lên trời, những ngôi sao như đang kết thành những chiếc cầu màu xanh trắng bắc ngang qua mấy ngọn núi cao. Tôi như bị mê hoặc và để tâm trí mình hân hoan lang thang trên vệt sao sáng cho đến khi giật mình thấy có ai đó đang đứng bên hàng rào nhìn sang. Mặc dù trời tối nhưng nhìn thấy cái kiểu nghiêng đầu là tôi nhận ra được ngay. “Roy Lee hả?” tôi gọi. “Cậu làm gì ở đây vậy?”

“Tớ nhìn qua cửa sổ và thấy cậu ra sân sau,” cậu ấy nói. “Tớ muốn nói với cậu điều này nhưng phải vào lúc riêng tư, hiểu không? Có lẽ cái sân sau cũ kĩ này là chốn riêng tư nhất ở Coalwood rồi.”

Tôi kiên nhẫn chờ đợi khi Roy Lee tựa vào hàng rào, ngập ngừng, hắng giọng, nghiêng đầu rồi lại vuốt tóc. Cho dù là gì đi nữa thì chắc chắn là điều mà cậu ấy không thực sự muốn nói cho lắm. “Roy Lee, cái gì vậy?” cuối cùng tôi cũng phải gặng hỏi.

“Tớ tìm ra chuyện gì đã xảy ra với nó rồi.” Cậu ấy hất đầu về phía cây táo và tôi hiểu Roy Lee đang nói về Daisy Mae. “Tớ đã tìm ra ai là thủ phạm giết nó như đã hứa với cậu.”

Tôi bước lại gần hàng rào. “Là ai?” tôi rít lên, sẵn sàng giết người ngay lập tức. “Phải Pooky không?”

“Không. Nhưng là một trong những gã ngu ngốc đáng trách thường đi theo hắn. Hình như bị Pooky xúi giục.”

Trong cơn giận dữ với Pooky, thật ngạc nhiên khi kẻ đầu tiên tôi nghĩ đến lại là Calvin. Calvin từng đối xử tệ bạc với tôi cả đời hắn nhưng tôi đã thay đổi cách nhìn từ khi hắn tìm lại cho tôi mấy dụng cụ tên lửa. Nhưng nếu như Pooky đã sát hại Daisy Mae thì tôi chẳng thể tha thứ cho hắn, ngay cả số phận của Calvin nữa. “Tớ phải làm một cái gì đó thôi, Roy Lee,” tôi bảo. “Tớ không thể để hắn thoát tội như vậy được.”

“Cậu không phải làm gì đâu Sonny ạ,” Roy Lee nói. “Pooky đã rời khỏi thị trấn rồi. Theo tớ được biết, trong khi Calvin cố ngăn cản hắn đánh đập mẹ cậu ta thì cũng dính một đòn nặng. Hàng xóm gọi Tag và anh ấy có mặt tức khắc, đạp tung cửa và quẳng Pooky xuống sông. Tag cảnh cáo rằng nếu còn nhìn thấy mặt Pooky một lần nữa thì anh ấy sẽ quẳng hắn xuống hầm than. Pooky biến mất ngay tức khắc, còn Tag thì thật sự đang điên lên.”

“Còn Calvin và mẹ cậu ấy thì sao?”

“Bà góa phụ Clowers ở Six sẽ cho họ ở nhờ đến khi Calvin tốt nghiệp và gia nhập quân đội.”

“Còn cái gã đã cán chết Daisy Mae thì sao?” tôi hỏi.

Roy Lee lại lưỡng lự và rốt cuộc lại nhìn về phía những ngọn núi âm u đằng xa. Ánh đèn hắt ra từ trạm nhiên liệu làm mái tóc đen nhánh được chải chuốt kĩ càng của cậu ấy bóng lưỡng cả lên. “Tớ sẽ nói tên của hắn cho cậu nếu cậu bắt buộc tớ. Nhưng theo tớ biết thì hắn đã rất hối hận khi làm điều này. Cậu có thật sự muốn biết không?”

Tôi suy ngẫm một hồi rồi lắc đầu. Có gì tốt lành nếu như tôi biết mình đang sống trong cùng một thị trấn với kẻ thù chứ? Tôi chẳng thấy điều đó hay ho gì cả. Dù sao đi nữa, tôi cũng biết rằng thủ phạm giết chết Daisy Mae rồi sẽ lãnh hậu quả mà không cần tôi phải làm gì. Như công lý rốt cuộc cũng đã được thực thi với Pooky - bằng luật của Coalwood. Dường như thị trấn này sẽ có cách dàn xếp mọi thứ nếu như mọi người có đủ kiên nhẫn để mọi chuyện xuôi theo tự nhiên.

“Cám ơn cậu đã cho tớ biết, Roy Lee ạ,” tôi nói và chợt cảm thấy cậu ấy quan trọng đối với tôi như thế nào. Bỗng tôi muốn nói với Roy Lee rằng tôi mong chúng tôi luôn là bạn của nhau trong bất kì hoàn cảnh nào, dù gần nhau hay cách trở. Nhưng thay vì nói, tôi chỉ đấm một phát vào vai Roy Lee và để cậu ấy đánh lại một cái rõ mạnh. Nhưng điều đó đã tượng trưng cho tất cả những gì bọn tôi cần nói với nhau.

Tôi chúc Roy Lee ngủ ngon rồi rời khỏi hàng rào và bước lại cây táo; lúc này tôi chỉ muốn được ở gần bên Daisy Mae. Tôi quỳ xuống, vỗ nhẹ lên ngôi mộ của nó rồi bốc một nắm đất; dự định sẽ bỏ vào hũ và đem theo bên mình đến Indianapolis. Rồi tôi đứng dậy, hít một hơi thật sâu cái không khí mát lành của núi vào lồng ngực và chợt ngộ ra một điều nữa. Những điều mà ngày ấy chú Dubonnet nói với tôi cạnh đường ray cũ nhiều năm trước đây là hoàn toàn đúng. Chú đã từng nói rằng tôi được sinh ra ở miền núi này và đây sẽ luôn là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi cho dù có đi nơi đâu hay làm gì chăng nữa. Lúc đó tôi không hiểu ý của chú nhưng bây giờ thì khác rồi. Coalwood, những người dân ở đây, cả những rặng núi kia sẽ luôn là một phần cơ thể của tôi và ngược lại, tôi cũng là một phần không thể thiếu của họ. Tôi còn hồi tưởng lại cái đêm Bố vừa trở về từ Cleveland và tranh cãi với mình trong phòng riêng của tôi. Sau lúc đó, tôi đến bên cửa sổ nhìn những người công nhân ra vào hầm mỏ, ghen tị vì họ luôn biết rõ mục tiêu đời mình. Giờ đây, khi đứng dưới tán cây táo, bên cạnh nơi chôn cất Daisy Mae, tôi không còn cảm thấy phải ghen tị gì nữa: Tôi cũng biết mình là ai và mình phải làm gì. Ngay khi đó, dường như có ai đã thức tỉnh mình; tôi không còn cảm thấy bụng và đầu mình nhức nhối nữa.

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.