Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 156 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. SPUTNIK

❊ ❊ ❊

KHI TÔI 11 TUỔI thì Đội Trưởng về hưu và Bố lên tiếp quản vị trí của ông. Nhà của Đội Trưởng, một căn nhà lớn bằng gỗ có cấu trúc giống như chuồng gia súc và nằm gần nhà than nhất, trở thành nhà của chúng tôi. Tôi thích lần dọn nhà này, vì đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi không phải ở chung phòng với Jim nữa, anh ấy chưa bao giờ tỏ ra thích tôi hay muốn tôi ở quanh anh. Trong kí ức non nớt của tôi hiện lên rất rõ: anh luôn đổ lỗi cho sự xung đột căng thẳng giữa Bố và Mẹ lên đầu tôi. Có lẽ cốt lõi của sự thật cũng đúng với lời buộc tội của anh tôi. Tôi nghe Mẹ kể rằng Bố muốn con gái, nên khi tôi chào đời Bố đã hoàn toàn thất vọng và nói huỵch toẹt ra điều đó, và Mẹ đã trả đũa bằng cách đặt tên tôi theo tên của Bố: Homer Hadley Hickam Con. Tôi cũng chẳng biết sự việc trên có là nguyên nhân gây ra tất cả những cuộc cãi vã giữa họ về sau hay không, chỉ biết rằng sự bất mãn của họ đã để lại cho tôi một cái tên thật dài dòng và nặng nề. May thay rồi Mẹ đặt ngay cho tôi cái tên “Sunny” vì Mẹ bảo tôi là một đứa trẻ vui vẻ, hạnh phúc. Và từ đó mọi người đều gọi tôi với cái tên này, mặc dù cô giáo lớp 1 đổi thành một tên gọi nam tính hơn là “Sonny”.

Ông McDuff, thợ mộc của khu mỏ, đóng cho tôi một cái bàn và kệ sách đặt trong phòng mới của tôi, nơi tôi xếp đầy tiểu thuyết khoa học giả tưởng và trưng bày những mô hình máy bay. Từ đó tôi luôn có thể ngồi chơi vui vẻ hàng giờ liền trong căn phòng yêu dấu của mình.

Vào mùa thu năm 1957, sau 9 năm mài đũng quần tại trường Coalwood, tôi chuyển sang trường cấp 3 của quận mang tên Big Creek nằm bên kia núi và học hết lớp 12 ở đây. Ngoài việc phải dậy sớm để bắt kịp chuyến xe buýt đến trường vào lúc 6 giờ 30 phút sáng, còn lại tôi hoàn toàn yêu thích ngôi trường này. Ở đây tập hợp học sinh từ nhiều thị trấn nhỏ trong quận, và tôi bắt đầu làm quen với rất nhiều bạn mới, mặc dù vậy, nhóm bạn thân của tôi vẫn là những đứa từ Coalwood - Roy Lee, Sherman và O’Dell.

Có thể nói, cuộc đời tôi ở miền Tây Virginia được chia ra làm hai giai đoạn rõ rệt: trước và sau ngày 5 tháng 10 năm 1957. Sáng hôm đó Mẹ đánh thức tôi dậy sớm và hối thúc tôi nghe radio. “Gì vậy Mẹ?” Tôi làu bàu trong chăn ấm. Cao cao trên những ngọn núi, Coalwood là một nơi lạnh giá và ẩm ướt vào độ thu sang, và ắt hẳn tôi sẽ rất vui sướng nếu được vùi trong chăn thêm ít nhất vài giờ nữa giữa tiết trời như thế này.

“Lại đây nghe này,” Mẹ nói, giọng bà đầy vẻ thúc giục. Tôi hé mắt nhìn Mẹ từ dưới chăn. Ánh nhìn nghiêm nghị của Mẹ nói cho tôi biết rằng tốt hơn hết là làm theo lời bà một cách nhanh chóng.

Tôi vội mặc quần áo và chạy xuống bếp, sô-cô-la nóng và bánh mì phết bơ nóng hổi đã nằm sẵn trên quầy bếp. Chúng tôi chỉ bắt được đài WELC vào buổi sáng phát từ Welch. Thông thường, vào những lúc sớm như vậy, đài WELC phát một đĩa nhạc gồm những bài hát mà học sinh cấp 3 chúng tôi yêu cầu tặng cho nhau. Jim, học trên tôi một lớp và là một cầu thủ bóng bầu dục nổi tiếng, thường được những đứa con gái hâm mộ gửi tặng bài hát mỗi ngày. Nhưng bây giờ, thay vì những âm thanh Rock ‘n’ Roll sôi động, tôi chỉ nghe thấy một hồi tiếng “bíp bíp bíp” ngân dài. Sau đó người phát ngôn viên thông báo hiện tượng này bị gây ra bởi một vật thể gọi là Sputnik. Nó thuộc về người Nga và đang nằm trên không gian. Mẹ hết nhìn cái radio rồi nhìn tôi, hỏi: “Nó là cái quái gì thế, Sonny?”

Tôi biết chính xác nó là cái gì. Tất cả những cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng và tạp chí của Bố mà tôi đã đọc qua giúp tôi trả lời một cách lưu loát: “Nó là vệ tinh không gian và chúng ta lẽ ra sẽ phóng một cái giống như vậy vào vũ trụ trong năm nay, con không ngờ rằng người Nga đã qua mặt chúng ta!”

Mẹ nhìn tôi qua miệng tách cà phê rồi hỏi: “Thế nó được dùng vào việc gì?”

“Nó di chuyển theo quỹ đạo xung quanh trái đất giống như mặt trăng ấy, nhưng gần hơn nhiều. Nó mang theo các thiết bị khoa học dùng đo đạc những số liệu như độ nóng, lạnh ngoài không gian. Vệ tinh của chúng ta cũng có nhiệm vụ tương tự như vậy, Mẹ ạ!”

“Vậy nó có bay qua Mỹ không con?”

Tôi trả lời mà không chắc chắn lắm: “Có lẽ là có đấy Mẹ!”

Mẹ lắc đầu: “Nếu nó bay qua đây, Bố con sẽ bực bội chết mất thôi!”

Tôi biết đó là sự thật. Một lời đùa cợt cay nghiệt đã nói rằng đảng viên đảng Cộng Hòa sẽ không bao giờ được phép có một hơi thở nào tại miền Tây Virginia, Bố tôi ghét cay ghét đắng những Cộng sản Nga chỉ sau các chính trị gia Mỹ. Đối với Bố, Franklin Delano Roosevelt là kẻ thù của Chúa, Harry S. Truman[6] là trợ tá kẻ thù của Chúa, và John L. Lewis, chủ tịch UMWA[7] chính là một tên ma vương. Tôi nghe Bố liệt kê vanh vách những sự bất tài của họ mỗi khi bác Ken - anh của Mẹ - đến thăm. Bác Ken là một đảng viên trung thành của đảng Dân Chủ như ông ngoại. Bác nói rằng ông ngoại thà rằng bầu cử cho con chó Dandy nhà tôi còn hơn là bỏ phiếu cho một tên đảng viên đảng Cộng Hòa nào. Bố nói cũng sẽ làm như vậy trước khi bỏ phiếu kín cho một đảng viên đảng Dân Chủ nào đó. Dandy nghiễm nhiên trở thành một chính trị gia nổi tiếng trong nhà tôi.

Suốt thứ bảy hôm ấy, đài phát thanh tiếp tục đưa tin về Sputnik của Nga. Có vẻ như mỗi lần có thêm tin tức, người phát thanh viên tỏ ra vừa thích thú, vừa lo lắng. Một số lời đồn đãi về việc vệ tinh này có gắn máy quay phim và đang theo dõi từng đường đi nước bước của Mỹ. Lại có lời đoán mò rằng nó chứa cả một trái bom nguyên tử và sẵn sàng phát nổ bất cứ lúc nào. Bố làm việc ở khu mỏ cả ngày nên tôi không nghe được ý kiến nào của ông về những gì đang diễn ra. Đến khi Bố về thì tôi đã ngủ say và ông trở lại khu mỏ lúc trời tờ mờ sáng. Theo Mẹ biết thì có vấn đề gì đó với một trong những cái máy khai thác than, hình như có một tảng đá lớn đã rơi trúng nó. Tại nhà thờ, Đức cha Lanier không nhắc gì đến người Nga hay Sputnik trong bài thuyết giáo hôm đó cả. Hầu hết những câu chuyện bên lề nhà thờ đều về đội bóng bầu dục và một mùa giải toàn thắng của họ. Phải qua một khoảng thời gian thì Sputnik mới có thể ảnh hưởng đến người dân, nhất là ở Coalwood.

Đến sáng thứ hai, hầu như những gì phát ra từ radio đều nói về Sputnik. Johnny Villani cứ phát đi phát lại tiếng “bíp bíp bíp”. Anh nói thẳng với toàn thể học sinh tỉnh McDowell rằng chúng tôi phải cố gắng học hành hơn để bắt kịp người Nga. Dường như anh ấy nghĩ rằng nếu tiếp tục cho chúng tôi nghe các bản nhạc Rock’n’Roll thì chúng tôi sẽ ngày càng thua kém những đứa trẻ Nga. Trong khi nghe những tiếng “bíp”, trong đầu tôi hiện lên hình ảnh những đứa trẻ Nga nhấc Sputnik lên rồi gắn vào đầu chiếc tên lửa to lớn, bóng lưỡng. Tôi thật lấy làm ghen tị, tại sao chúng lại có thể thông minh như vậy? Lúc này thì giọng Mẹ ngắt ngang dòng suy nghĩ say sưa của tôi: “Mẹ thấy rằng con chỉ còn 5 phút để bắt kịp chuyến xe buýt tới trường thôi, con trai ạ!”

Tôi ực vội ly sô-cô-la nóng hổi rồi lao xuống cầu thang, vượt qua mặt anh Jim. Chẳng lấy gì làm lạ khi trông thấy mái tóc vàng của Jim luôn ngay hàng thẳng lối, những lọn tóc quăn trước trán cũng vậy, đó là kết quả của việc chải chuốt cả giờ đồng hồ trước chiếc gương của hộp y tế trong nhà tắm duy nhất của gia đình. Hôm nay Jim khoác chiếc áo đồng phục xanh sọc trắng của đội bóng bầu dục, vận bên trong là sơmi hồng sọc đen cài nút kín từ trên xuống dưới (nhưng cổ áo thì lại bẻ ngược lên), diện chiếc quần vải Chino có khóa phía sau; chân mang tất hồng và giày da bóng loáng. Jim luôn là học sinh ăn mặc thanh lịch nhất trường. Một lần khi nhận được hóa đơn từ tiệm quần áo của Jim, Mẹ phải thốt lên: “Anh Jim mày chắc đã đi nghỉ mát nhầm với nhà Rockefeller[8] mất rồi!”. Còn tôi thì hoàn toàn trái ngược, chỉ vận một chiếc áo len vải Flanen sọc vuông và hôm nay vẫn là chiếc quần Cotton đã mặc cả tuần trước cùng đôi giày da mòn hết cả đế mà tôi vừa mang để chạy chơi hôm qua quanh con sông sau nhà. Khi đi ngang qua nhau trên cầu thang, tôi và Jim chẳng thèm nói một lời; mà thật ra cũng chẳng có gì để nói cả. Vài năm sau nữa tôi chắc sẽ nói với mọi người rằng tôi là con một trong nhà và có lẽ Jim cũng sẽ làm điều tương tự.

Cũng không phải tôi và anh Jim không có chuyện đâu. Từ khi biết nhận thức, chúng tôi đã bắt đầu hay cãi vã. Mặc dù tôi nhỏ con hơn, thường phải lẩn tránh hơn nhưng chúng tôi đã đánh nhau quá nhiều lần nên tôi biết tất cả những đòn tấn công của Jim, và tôi biết rằng khi tôi vẫn còn nằm trong tầm những cú đấm của Jim thì anh sẽ chẳng bao giờ giết chết tôi cả. Vào mùa thu 1957, chúng tôi bắt đầu một thỏa hiệp không dễ dàng chút nào trong vòng hai tháng. Tất cả là từ cuộc đánh nhau gần nhất mà hậu quả đã làm hai anh em cực kì hoảng sợ. Chuyện bắt nguồn lúc Jim tìm thấy xe đạp của tôi nằm đè lên xe anh ấy. Có lẽ tôi đã không gạt chống xe xuống hết mức nên xe tôi đổ kềnh kéo theo xe anh bên cạnh. Anh Jim tức giận đến nỗi khiêng xe tôi ném xuống sông. Lúc đó Mẹ đi mua sắm ở Welch còn Bố thì đang làm việc ở khu mỏ. Jim xông vào phòng tôi trong lúc tôi đang nằm ườn trên giường đọc sách, anh đóng sập cửa lại và nói cho tôi biết anh đã làm gì và vì sao lại như vậy. Jim còn gầm lên: “Nếu bất cứ đồ đạc gì của mày còn động vào những thứ của tao thì tao sẽ đập mày một trận không thương tiếc!”

“Vậy đánh luôn bây giờ thì sao, hả thằng mập?” Tôi hét lên rồi lao vào Jim. Chúng tôi ngã lăn xuống sàn, tôi nép vào trong rồi thụi túi bụi vào bụng Jim, còn Jim thì tru tréo lên rồi đấm đá loạn xạ vào không khí đến khi cả hai lộn tùng phèo xuống cầu thang, lăn vào phòng nghỉ; lúc đó tôi may mắn cho được một đòn cùi chỏ nặng vào tai Jim. Anh tru lên, nhấc bổng tôi ném vào phòng ăn, nhưng tôi bật phắt dậy, chộp lấy chiếc ghế gỗ xoan đào yêu quí của Mẹ, phang lại Jim đến gãy cả một chân ghế. Jim rượt tôi vào bếp, ở đó tôi chộp lấy cái nồi kim loại trong bếp lò, đập trả lại chiếc ca Jim ném tới. Rồi tôi thoát ra được hiên sau nhà, nhưng Jim đốn ngã tôi và hai thằng lăn ầm vào cánh cửa bình phong, nó bị giật bung ra khỏi bản lề. Sau đó chúng tôi vật lộn trên bãi cỏ đến khi Jim nằm đè được lên lưng tôi. Lúc này tôi thấy xương sườn mình rệu rã, ngực thì đau kinh khủng và tôi bắt đầu khóc nhưng chẳng thành tiếng vì không thở được. Chân anh nằm ngay mặt tôi nên tôi dùng hết sức bình sinh ngoạm một cú thật sâu. Jim hét to đau đớn và nhảy dựng lên, còn tôi thì nằm ngửa ra thở hổn hển. Xương sườn tôi như bẹp dúm cả lại, máu ộc ra đầy mũi. Đầu Jim nổi lên một cục u lớn và sắp tới chân anh sẽ xuất hiện vết bầm tím thật đậm từ cú táp của tôi. Chúng tôi đã đả thương nhau khá nghiêm trọng và cả hai đều biết rằng mình đã đi quá xa.

Khi Mẹ trở về thì xe đạp của chúng tôi đều được dựng lên ngay ngắn cạnh nhau ở sân sau, còn hai anh em ngồi nhìn nhau một cách “ngây thơ vô số tội” trong phòng khách. Jim vừa bâng quơ xoa nhẹ đầu vừa đọc trang thể thao của tờ Welch Daily News. Tôi ngồi gần đó xem tivi, lòng cố kìm nén những tiếng rên vì lồng ngực đau nhói mỗi khi thở ra hít vào. Xương sườn tôi đau đớn suốt cả tháng trời. Chiếc ghế được dán chân lại một cách cẩn thận và đặt ngay ngắn vào bàn ăn. Hai anh em luôn canh chừng không để cho ai ngồi lên nó đến khi keo khô hẳn. Nguyên nhân cánh cửa sập được đổ tội cho mấy con chó. Còn Mẹ thì không để ý hay cố tình không nhắc đến vết lõm trên cái nồi của bà.

Trong khi tôi đang cuống cuồng chuẩn bị đồ đạc thì Jim đã ra đến trạm xe buýt. Tôi chỉ mất 2 phút trong nhà tắm để đánh răng và vuốt ướt tóc. Tôi thừa hưởng mái tóc đen, dày và xoăn từ Mẹ. Tóc bà bắt đầu ngả xám khi qua tuổi 30 và tôi nhắm rằng chuyện này rồi cũng sẽ xảy ra tương tự với mình. Có vẻ tôi chẳng thừa hưởng chút gien nào từ bên nội cả. Mẹ nói tôi hoàn toàn thuộc về dòng họ Lavender của bà, và Bố chẳng bao giờ cãi lại điều đó nên tôi đoán rằng bà nói đúng, chuyện này đối với tôi cũng bình thường mà thôi. Tôi cảm thấy nhà Hickam bên Bố toàn là những người nóng nảy. Bố, chú Clarence và cô Bennie không bao giờ chậm rãi được, họ lúc nào cũng nhảy nhổm lên, đi rất vội vã đến nơi họ muốn tới, thậm chí lúc nào cũng nói rất nhanh. Trong khi nhà Lavender bên Mẹ thì lại khá từ tốn, chỉ trừ ông ngoại tôi, có biệt danh “Cha Mất Nết”, ông từng bị bắn vào tay khi mò vào buồng ngủ của một quí bà nào đó trong khi chồng người ta đi làm việc ca đêm trong khu mỏ ở Gary. Mẹ kể là bà ngoại đã giúp ông khoác áo choàng đến khi tay ông lành lại, còn Mẹ thì đừng hòng như vậy trừ khi “Cha Mất Nết” chịu chạy rông trần truồng ngoài tuyết lạnh.

Trong ngày đầu tiên đi học lại sau sự kiện Sputnik, tôi khoác chiếc áo choàng Cotton mà Jim nhượng lại, cầm lấy mấy cuốn sách ở lan can, chộp chiếc túi nâu đựng cơm trưa từ Mẹ ở cửa nhà rồi phóng vội ra trạm xe. Chiếc xe buýt màu vàng đã đến trước ngôi nhà của gia đình Todd và tài xế Jack Martin thì chẳng bao giờ chờ đợi ai. Ông nhìn tôi một cách cáu kỉnh, điếu xì gà chưa châm lửa kẹp giữa hai hàm răng, tôi vừa leo kịp lên xe trước khi cửa đóng sập lại rồi nói: “Chậm chút nữa là cuốc bộ nhé, nhóc Sonny!”. Tôi biết rõ rằng lão đang không nói đùa. Jack rất độc tài, bất cứ ai trên xe mắc một lỗi nhỏ nào sẽ bị đuổi xuống, không cần biết chúng tôi đang đi đến đâu. Tôi tìm được một khoảng ghế nhỏ rồi chen vào giữa Linda DeHaven và Margie Jones, hai bạn nữ học cùng tôi từ lớp 1. Họ dịch sang một chút rồi tiếp tục ngủ. Jack sang số xe làm chúng tôi đều giật nảy người. Coalhican O’Dell, thằng bạn chí cốt của tôi, đang gà gật ở băng ghế trên cùng sau lưng Jack. O’Dell nhỏ con nhưng sôi nổi với mái tóc nhạt như màu lụa. Sherman ngồi ngủ ngay đằng sau O’Dell, cậu ấy đô con và chắc nịch với gương mặt rộng, thông minh. Tiếc rằng chân trái của Sherman bị teo lại và rất yếu ớt do bị viêm tủy sống; dù vậy từ nhỏ đến lớn cậu ấy chẳng bao giờ than phiền về điều đó và tôi cũng không hề để ý đến nó. Có lúc cậu ấy bắt kịp chúng tôi, có lúc bị tụt lại phía sau.

Roy Lee - cậu bạn gầy gò và có đôi chân dài ngoằng - vừa lên xe từ trạm kế tiếp, len lỏi dọc theo lối đi và chen vào ngồi phía sau tôi. Trong kí ức tôi, Roy Lee từng là thằng bạn thân. Hằng ngày, hai thằng qua lại nhà nhau, rủ rê lên núi chơi trò cao bồi, phi hành gia, cướp biển hay bất cứ thứ gì chúng tôi có thể tưởng tượng ra. Roy Lee khác biệt và nổi trội nhất trong bọn. Cậu ấy sở hữu xe hơi riêng, nó là phần đền bù của bảo hiểm sau khi bố Roy tử nạn trong hầm mỏ. Mẹ Roy vẫn muốn cho cậu ấy ở lại Coalwood nên đã cố gắng vận động bằng mọi cách để giữ lại căn nhà của công ty. Thật đáng ngạc nhiên, cuối cùng họ đã được chấp thuận ở lại, có lẽ vì anh của Roy vẫn còn là thợ mỏ của Coalwood. Roy Lee khá đẹp mã và cậu ấy luôn ý thức được điều đó. Roy có một mái tóc đen nhánh như than luôn được vuốt keo rồi chải ngược vểnh ra sau, chúng tôi thường gọi là Đ.V - Đít Vịt. Cậu chàng hao hao giống Elvis lúc trẻ. Roy Lee luôn cho mình là một chàng sát gái có hạng, và tôi cũng đồng tình với ý kiến đó do cậu ấy luôn hẹn hò vào cuối tuần. Việc có xe hơi riêng có lẽ cũng hỗ trợ đắc lực cho món này cũng nên!

Tôi rất lấy làm hạnh phúc khi có những người bạn như Roy Lee, Sherman và O’Dell. Từ dạo vào lớp 1, trộn lẫn giữa bọn con trai trong thị trấn, tôi hiển nhiên được chú ý bởi chức vụ của Bố mình. Trong những bữa ăn tối, hiệp hội những ông bố thường chỉ ra Homer Hickam là kẻ địch, từ đó những thằng con trai của họ luôn nảy sinh ý định trả thù. Jim luôn lớn con hơn những đứa bạn cùng tuổi và quá nổi tiếng với tính khí nóng nảy, cộc cằn. Vì thế, tôi luôn trở thành mục tiêu dễ dàng hơn của các cuộc phục kích trong giờ giải lao ở trường hoặc lúc lảng vảng quanh Big Store. Dù vậy, mỗi khi trở về nhà với mình mẩy máu me, tôi chẳng bao giờ hé nửa lời với Mẹ rằng ai đã đánh mình và Bố thì không bao giờ biết về chuyện đó. Những thằng nhóc ở Coalwood chẳng hé răng về điều này. Tôi luôn chống trả quyết liệt nhằm vào những đứa nhỏ con đứng gần mình nhất và càng ngày tôi càng tự vệ tốt hơn khi đã đấm vỡ mũi được nhiều đứa khác. Riêng Roy Lee, Sherman và O’Dell thì chả bao giờ quan tâm Bố tôi là ai. Đối với họ, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ở Coalwood như nhau mà thôi.

Đường ra khỏi thị trấn băng ngang khu mỏ, mỗi lần đến nhà than Jack luôn bấm còi inh ỏi. Những đứa còn thức trên xe thường vẫy tay chào đám công nhân đứng cạnh cần trục rồi xe tiếp tục thẳng tiến tới Lòng Chảo 6 (được đặt tên dựa theo sáu cái hầm thông gió chôn ở đây với nhiều ngôi nhà xây xung quanh chúng) để đón những đứa học sinh cuối cùng. Sau đó chúng tôi bắt đầu vượt qua ngọn núi đầu tiên. Từ Coalwood tới Trường cấp 3 Big Creek là một đoạn đường ngoằn ngoèo đầy ổ gà dài khoảng 8 dặm; Jack thường mất 45 phút để vượt qua trừ khi có tuyết rơi.

Đường lên núi Coalwood có rất nhiều đoạn nghiêng dốc gấp khúc quanh co nối tiếp nhau. Lũ học sinh chúng tôi thường ngồi chêm ba người trên một băng ghế ngủ gà ngủ gật, rồi dựa hẳn vào nhau, nghiêng hết bên này đến bên kia ở mỗi khúc quanh. Đến đỉnh núi thì xe bắt đầu đổ dốc, trồi lên thụt xuống từng chập tới khi đi vào thung lũng hẹp và dài. Khúc này là đoạn đường thẳng dài nhất trong vùng, và được trải nhựa khoảng một dặm. Ở giữa đoạn đường, sau hàng rào dây kẽm gai là một trong những cái quạt khổng lồ dùng thông gió cho khu mỏ. Vào những tối thứ bảy hàng tuần, đoạn đường thẳng thớm này - được mang tên Little Daytona - náo nhiệt với những tay đua choai choai so tài, và cũng là nơi của các cổ động viên nhiệt tình dừng lại để cổ vũ hay tự tình hôn hít nhau. Trong hoàn cảnh của tôi, không có bằng lái, bạn gái cũng không, nên những điều đó tôi chỉ được nghe kể lại mà thôi chứ chưa được thực tế tham gia chứng kiến bao giờ. Và Roy Lee luôn là nguồn thông tin thường xuyên nhất của tôi. Cậu ấy thường chở bạn gái đến đây sau khi kết thúc cuộc chơi ở Dugout. Dugout nằm dưới tầng hầm của nhà hàng Tổ Cú đối diện trường học, có tổ chức khiêu vũ nhảy nhót vào thứ bảy hằng đêm. Tôi cũng chưa bao giờ được đến đó chơi nhưng nghe đồn rằng nơi ấy rất vui và thú vị. Ed Johnson, một trong những người quản lý của trường Big Creek là người chỉnh nhạc, Roy Lee nói với tôi rằng anh có một trong những bộ sưu tầm đĩa nhạc đặc sắc nhất của American Bandstand[9].

Sau một vòng cua gắt cuối đường Little Daytona, chúng tôi bắt đầu vào thị trấn của mỏ Caretta. Caretta và Coalwood thuộc cùng chủ quyền của một công ty. Những đường hầm của nó đã chạy xuyên qua khu mỏ của chúng tôi vào năm ngoái. Ở đây có hai sàn sa thạch cực lớn nằm giữa hai khu mỏ, và Bố đã đấu tranh giành lấy nó, quyết liệt cứ như trong thời chiến vậy. Đến cuối cùng, khi khu liên mỏ hình thành thì việc thông gió trở nên cực kì phức tạp, rồi Bố phải lo giải quyết vấn đề này cho cả hai bên. Tôi nghe lỏm được Mẹ nói chuyện với bác Joe rằng rất nhiều người ở Caretta đã nói những điều khó nghe về Bố, gọi Bố là “Gã Ngạo Mạn”. Đa số mọi người đều không phục vì Bố không có bằng cấp như Đội Trưởng, nhưng tôi cảm thấy thật vô lý - bản thân họ cũng có tấm giấy lộn nào đâu mà ganh tị như vậy. Còn Mẹ bảo bác Joe rằng, với bà, những kẻ ở Caretta rặt “một lũ láo xược và chẳng thú vị gì cả”. Mỗi khi nói chuyện với anh chị em trong nhà, Mẹ thường dùng tiếng địa phương, còn bác Joe thì luôn gật đầu đồng tình với Mẹ một cách rất nghiêm túc.

Sau khi qua khỏi Caretta, chúng tôi gặp một ngã ba thuộc địa phận Premier, chỗ này có một tòa nhà gạch trắng xiêu vẹo cũ kĩ mang tên nhà Spaghetti. Tôi chưa vào đó bao giờ nhưng Roy Lee thì đã từng đến rồi. Cậu ấy bảo rằng trong đó có nhiều gái điếm, toàn những mụ già nhếch nhác đem lại bệnh lậu cho khách. Tôi chẳng hiểu “bệnh lậu” là gì nhưng nghe ra tôi chẳng muốn nhận lấy nó tí nào. Roy Lee bảo lần đó cậu ấy vào chỉ để đổi 1 dollar ra tiền lẻ, nhưng thay vì tiền họ lại đưa cậu 4 cái bao cao su. Đến bây giờ cậu ấy vẫn còn giữ đủ cả 4, tôi biết vì cậu ấy từng đưa cho tôi xem. Roy luôn bỏ một cái vào trong ví, trông nó có vẻ khá cũ kĩ rồi.

Núi War không dốc như ngọn núi gần Coalwood nhưng những con đường ở đây hẹp hơn nhiều, đặc biệt có hai khúc quanh gần như nằm đấu lưng nhau. Mỗi lần đến đây, Jack thường giảm tốc độ, bóp còi và thận trọng chở chúng tôi vòng qua. Những đứa ngồi bìa ngoài thì chồm ra nhìn xuống con sông dưới thung lũng mà chẳng thấy được con đường phía dưới hay ngay cả bóng bả vai của mình; trong khi đó những đứa ngồi trong thì ngắm những bờ đá cuội lởm chởm cách xe chỉ vài centimet. Qua khỏi đoạn cua đó, xe chúng tôi bon bon thẳng tiến đến thị trấn War.

Thị trấn War đã phát triển hơn nhiều so với ngày xưa. Con đường chính chỉ có những cửa hàng cũ, nhà băng, vài trạm xăng và một khách sạn đổ nát. Vào những năm 1920, theo những gì mà đám trẻ ở War được bố mẹ kể lại, thị trấn War từng là một nơi hoang dại, dâm ô của những vũ trường và sòng bạc. Có lẽ vì vậy mỗi khi quý bà nào xức quá nhiều nước hoa đi ngang, Mẹ tôi thường bảo nghe mùi họ khiến bà liên tưởng đến “buổi sáng Chủ nhật ở thị trấn War”.

Trường cấp 3 Big Creek nằm ở rìa ngoài thị trấn War cạnh dòng sông mang mà người ta đã lấy tên nó làm tên của thị trấn. Trường là một tòa nhà gạch 3 tầng đầy bụi bẩn nhưng sân bóng bầu dục đằng trước thì được chăm sóc rất kĩ lưỡng. Phía đối diện bên kia sân bóng là một đường ray xe lửa. Lớp học của chúng tôi thường bị gián đoạn bởi những đợt rung chuyển do tàu chạy qua và tiếng kêu rền rĩ của đầu máy xe lửa. Điều này thỉnh thoảng tạo cho chúng tôi cảm giác về những đoàn tàu vòng quanh thế giới cứ liên tục chạy qua không dứt ở phía xa xa.

Sau khi đến trường Big Creek, chúng tôi thường có một tiếng trước giờ học. Tôi, Roy Lee, Sherman và O’Dell tụ nhau lại trong giảng đường trao đổi bài tập đồng thời ngắm nhìn các nàng nữ sinh lượn lờ qua lại lối đi. Sáng hôm đó, tôi muốn ngồi bàn về môn đại số với họ vì tôi chưa tìm được đáp án thỏa đáng. Nhưng có vẻ chẳng ai màng đến môn đại số khi có quá nhiều chuyện để bàn tán về Sputnik. Roy Lee quả quyết rằng: “Người Nga không thể thông minh đến nỗi có thể chế tạo tên lửa được! Chắc chắn là họ ăn cắp công nghệ từ chúng ta rồi!” Tôi phản đối rồi nói lên suy nghĩ của mình: “Người Nga đã chế tạo được bom nguyên tử, bom hydro và cả máy bay ném bom sang Mỹ, thế thì cớ gì mà họ không thể làm được một thứ như Sputnik?”.

“Nếu mình là người Nga thì sẽ như thế nào nhỉ?” Sherman tự hỏi bâng quơ và biết chắc rằng chẳng đứa nào để ý đến câu nói đó. Nhưng chẳng có gì lạ, vì Sherman luôn tự tưởng tượng rằng sống ở nơi khác sẽ có gì thay đổi so với miền Tây Virginia, còn tôi thì không bao giờ nghĩ đến điều đó cả. Đối với tôi, nơi nào cũng như nhau, chỉ có điều theo tivi có đề cập đến, nếu muốn sống ở những thành phố lớn như New York hay Chicago, bạn cần phải thật vững mạnh và ngoan cường.

Lúc này Roy Lee lên tiếng: “Bố tớ bảo rằng người Nga từng ăn con của chính họ trong chiến trận và người Đức đã rất đúng đắn khi tấn công họ. Bố còn tiếc rằng sao chúng ta không chung sức với người Đức diệt luôn người Nga để không còn nhiều điều phiền toái do chúng gây ra như bây giờ!”

O’Dell vừa dán mắt vào một chị hoạt náo viên đứng ở lối đi vừa suy tưởng: “Nếu mà bây giờ tớ trườn tới và hôn vào chân nàng thì có được nàng âu yếm không nhỉ?”

“Ừm, thằng bạn trai của cô ta sẽ “nựng” cậu ngay”, Sherman châm biếm khi thấy một cầu thủ bóng bầu dục to kềnh hiên ngang đi tới và nắm lấy tay cô. Những anh chàng chơi bóng bầu dục này ít nhiều gì cũng cuốn hút các nàng ở trường hơn cả.

Đến lúc này thì tôi phải thốt lên một cách tuyệt vọng: “Trời ạ, có ai giải được bài đại số không?”

Chỉ có một trong ba đứa nhìn tôi. “Vậy cậu làm xong bài Ngữ Văn chưa?” Cuối cùng Roy Lee hỏi.

Tôi đã làm được một số câu ngữ pháp. Thế là chúng tôi vừa bàn thảo vừa hối hả chép bài của nhau. Điều này cũng không phải gian lận gì, và nó cũng là cách duy nhất để tôi lấy điểm từ môn đại số. Thầy giáo dạy Toán của trường Big Creek, thầy Hartsfield, không bao giờ nhân nhượng trong bài kiểm tra, chỉ có đúng hoặc sai mà thôi. Có vẻ như càng nản chí thì tôi sẽ càng mắc nhiều sai lầm, không những với môn đại số mà trong hầu hết mọi việc.

Sputnik lại trở thành đề tài nóng hổi hôm đó trong tiết sinh học của thầy Mams. Trong khi đó, tôi lặng lẽ theo dõi con giun tội nghiệp bị xát muối đang quằn quại trong chiếc khay sắt vuông. Quả thật may mắn cho tôi vì được chung nhóm với Dorothy Plunk trong giờ thực hành giải phẫu giun đất này. Theo tôi, Dorothy Plunk, sinh trưởng tại thị trấn War, là hoa khôi của lớp hay thậm chí có thể là của cả trường Big Creek nữa. Cô có chỏm tóc đuôi ngựa vàng óng ả và đôi mắt xanh trong như màu chiếc Buick 1957 của Bố tôi, cộng với một cơ thể nảy nở căng tràn nhựa sống làm tôi luôn muốn nổ tung mỗi khi ngắm nhìn. Có đôi lúc tôi ngượng ngùng chào cô trong đại sảnh nhưng chưa bao giờ tìm được cách bắt chuyện thật sự cả. Ngay cả trong lúc này tôi cũng chẳng biết nói gì với cô ấy khi đứng trước xác con giun tội nghiệp đang chờ đến lúc bị mổ xẻ. Trước khi tôi kịp có hành động gì thì tiếng lạch tạch phát ra từ hệ thống loa nội bộ của trường cắt ngang. Giọng nói thầy hiệu trưởng R.L. Turner vang lên một cách trịnh trọng:

“Như các trò đều biết, người Nga đã phóng vệ tinh lên không gian. Đã có rất nhiều yêu cầu nước Mỹ phải đáp trả hành động này. Hội đồng sinh viên Big Creek của chúng ta hôm nay đã có giải pháp về điều đó, thầy nhắc lại nguyên văn “hiểm họaSputnik”, và nó đang nằm trong tay thầy, là tập trung trong thời gian còn lại của năm học để bồi dưỡng, nâng cao kết quả học tập. Thầy đã thông qua điều này. Mọi chuyện chỉ có vậy.”

Dorothy và tôi cùng nhìn chằm chặp vào chiếc loa điện đàm. Khi chúng tôi nhìn xuống, ánh mắt hai đứa chợt bắt gặp và khóa chặt lấy nhau. Tim tôi bỗng hơi loạn nhịp. Dorothy bất ngờ hỏi: “Cậu có sợ không?”

“Sợ người Nga ấy à?”, tôi nuốt khan và cố hít vào. Thật ra, tôi chẳng hiểu vì sao, giây phút ấy Dorothy còn làm tôi sợ hơn cả tỉ tên Nga.

Cô thoáng trao tôi một nụ cười nhẹ làm tim tôi như muốn rớt ra khỏi lồng ngực. Giữa bầu không khí sặc mùi phoọc môn này, tôi vẫn có thể ngửi được mùi hương hoa tỏa ra từ Dorothy. “Không, mình không sợ đâu, ngốc ạ. Lo mà mổ con giun của chúng mình đi.”

Con giun của chúng mình! Tại sao chỉ là con giun của chúng mình, mà không phải là đôi tim của chúng mình, đôi tay của chúng mình hay đôi môi của chúng mình nhỉ? Và tôi khẳng định lại một lần nữa: “Ai chứ mình thì chắc chắn không sợ!” rồi giơ con dao mổ lên, đợi lệnh bắt đầu của thầy Mams. Khi thầy ra lệnh, tôi cắt một đường dài dọc theo thân mẫu vật. Dorothy nhìn qua một cái, bặm môi, rồi bỏ ra phía cửa lớp, chỏm tóc đuôi ngựa của cô tung lên hạ xuống. “Cậu định làm gì thế hả?” Roy Lee cười như nắc nẻ từ phía sau lưng tôi. “Hẹn cô nàng đi chơi chắc?”

Tôi chưa bao giờ mời cô gái nào đi chơi cả, chứ đừng nói là một Dorothy cao quí như vậy. Tôi quay xuống thầm hỏi Roy Lee: “Cậu nghĩ là cô ấy có chịu nhận lời mình không?”

Roy Lee nhếch mày, mặt thoáng vẻ đểu cáng: “Mình có xe, có băng ghế sau và mình sẵn sàng làm tài xế cho cậu bất cứ lúc nào.”

Emily Sue Buckberry, bạn thân nhất của Dorothy, nhìn chằm chằm vào tôi, cả khuôn mặt tròn vành vạnh của cô ấy toát lên vẻ nghi ngờ rồi nói thẳng: “Cậu ấy có bạn trai rồi Sonny ạ, không những một mà là hai người, một trong số họ đang học đại học đấy.”

Roy Lee đốp lại: “Ối giời, bọn đó không đáng là đối thủ. Cậu không biết Sonny thế nào đâu. Một kẻ thành thạo ở băng ghế sau đấy.”

Mặt tôi đỏ bừng lên trước sự khoác lác của Roy Lee. Tôi chưa bao giờ ngồi với bất cứ cô gái nào ở băng ghế sau xe hơi hay một nơi nào khác cả. Duy nhất một lần tôi hôn lên trán của Teresa Anello sau khi nhảy một bản nhạc lúc còn học tiểu học, chỉ có vậy thôi! Tôi quay lại với con giun, cắt một đường nữa và cắm đinh định vị xác con giun rồi ghi chú một cách tỉ mỉ. Tôi thầm nghĩ, Roy Lee thật chẳng hiểu gì cả, Dorothy không phải là một cô gái bình thường. Chẳng nhẽ cậu ấy không thấy nàng là một tuyệt tác hoàn hảo của Chúa? Nàng phải được tôn thờ, không phải chỉ để sờ mó. Tự vui sướng với giấc mơ ban ngày của mình, tôi cắt rồi ghi, ghi rồi cắt đầy hứng khởi. Tôi làm cả phần việc cho Dorothy và chắc còn hơn thế nữa. Trong khi thực hiện xong phần việc còn lại trên con giun ngâm phoọc môn trương phình đó, tôi quyết định rằng sẽ giành lấy Dorothy về mình.

Roy Lee lảng vảng quanh bàn, nhìn chằm chặp vào biểu hiện hân hoan của tôi và thốt lên ai oán: “Thượng Đế ơi! Cậu yêu mất rồi!”

Emily cũng đồng tình từ phía bên kia bàn: “Mình nghĩ cậu đúng, việc này nghiêm túc rồi đấy”.

“Rồi đây cuộc tình như lá bay xa, con tim than khóc vỡ òa đúng không?” Roy Lee ngâm nga cứ như một chuyên gia tình yêu đang chất vấn một người khác vậy.

“Không còn nghi ngờ gì nữa!” Emily đáp lại. “Sonny à, hôm này là ngày gì, này, Sonny, cậu nghe không?”

Tôi bỏ mặc họ. Chỉ còn cái tên Dorothy Plunk cứ vang lên liên tu bất tận trong bản nhạc của lòng tôi. Dorothy Plunk, Dorothy Plunk.

NHỮNG BẬC THỀM của Big Store luôn là nơi thường xuyên tụ tập của cánh thợ mỏ vừa tan ca, ở đây họ nghỉ ngơi, nhai thuốc lá rồi cùng nhau tán gẫu. Mỗi khi có một chủ đề được đề cập đến về những việc xảy ra ngoài phạm vi Coalwood nhưng không liên quan đến khai thác mỏ hay bóng bầu dục thì chắc chắn là vấn đề quan trọng. Sputnik trở thành chủ đề bàn tán của họ sau nửa tuần kể từ khi nó được phóng lên không gian. Khi đi vào cửa hàng để mua chai nước ngọt, tôi tình cờ nghe một trong số họ bức xúc: “Chúng ta nên bắn rơi cái Sputnikker vớ vẩn đó xuống cho xong!”. Một khoảng lặng chợt bao trùm khi mọi người ngừng nói rồi trầm ngâm nhổ bã thuốc lá vào chiếc ly giấy trên tay. Cuối cùng một người lên tiếng: “Để tôi bảo cho các anh chúng ta nên bắn cái gì. Lũ khốn kiếp ở Charleston cố tình gian lận để đội Big Creek của chúng ta không thể giành chức vô địch làm tôi điên máu lên đây này! Tôi đang muốn vặn ngược cổ chúng ngay bây giờ đây!” Vấn đề này đã nhận được nhiều lời đồng tình từ cả nhóm, thậm chí còn được phụ họa thêm bởi những tiếng khạc nhổ cộc cằn. Ở Coalwood chỉ có việc khai thác mỏ là quan trọng hơn bóng bầu dục, cònSputnik hay bất cứ thứ gì sẽ mãi đứng ở vị trí thứ 3 mà thôi!

Nguyên nhân làm cho những người thợ mỏ ở đây “điên máu” là đáng lẽ đội Big Creek đang thẳng tiến trên con đường bất khả chiến bại trong mùa giải này, nhưng theo Hiệp hội Bóng Bầu Dục các trường Cấp 3 miền Tây Virginia thì Big Creek không hợp lệ để trở thành nhà vô địch, vì họ đã đấu với quá nhiều trường ở Virginia. Trên những chuyến xe đưa thợ đến mỏ, ở các cửa hàng hay thậm chí trong nhà thờ, sự kiện trên trở thành vấn đề chính cho những cuộc bàn luận không ngưng nghỉ và dữ dội. Đội Big Creek tiếp tục giành chiến thắng nhưng những lãnh đạo cấp cao của môn bóng bầu dục ở Charleston vẫn khăng khăng là điều này chẳng gây ảnh hưởng gì, chẳng có cơ hội nào để chúng tôi trở thành nhà vô địch của bang. Không cần phải là thiên tài mới nhận ra rằng đang có một vấn đề gì đó tiềm ẩn phía sau câu chuyện. Cuối cùng, khi mọi việc sáng tỏ, hóa ra Bố tôi chính là nhân vật gây ra vấn đề này.

JIM là một cầu thủ bóng bầu dục mạnh mẽ. Anh luôn được giao nhiệm vụ cản phá những đợt tấn công và là trung vệ thòng trong khâu phòng thủ, hầu hết những tiền vệ của đội bạn luôn chạy trốn khỏi Jim như một chú thỏ đế. Jim hung bạo như một chiếc đầu máy xe lửa và luôn là mẫu cầu thủ truy cản hủy diệt. Vào thời đó, cầu thủ sáng giá như Jim được sánh ngang hàng với những tượng đài ngôi sao trong vùng Big Creek và thậm chí còn có thể so sánh như Johnny Unitas[10] hay Bart Starr[11] đối với thế giới bên ngoài. Mọi người đều nể sợ hoàn toàn về năng lực của Jim trên sân bóng nên việc Bố tôi được bầu làm hội trưởng Hội Phụ huynh cầu thủ bóng bầu dục của Big Creek là điều hiển nhiên. Một đêm tôi đang xem tivi trong phòng khách, sau khi Bố vừa khoe khoang với một trong những người quản đốc dưới trướng ông về Jim thì Mẹ bảo rằng có lẽ tốt hơn hết là Bố đôi lúc hãy khoe về tôi... Bố thoáng nghĩ một lát rồi thốt lên rõ to một cách thành thật: “Khoe về cái gì bây giờ?”, mặc dù biết tôi đang ngồi ngay đấy.

Ngay cả bản thân tôi cũng chẳng biết mình có gì để khoe. Tôi không có thiên hướng giỏi về bóng bầu dục hay bất cứ thứ gì cả. Còn một điều tệ hơn nữa là tôi bị cận thị nặng. Vào năm tôi học lớp 3, “Thầy lang”

Lassiter mang đến trường một biểu đồ đo mắt và cả lớp xếp hàng để đọc những dòng chữ từ lớn tới nhỏ trên biểu đồ đó. Tất cả các bà mẹ đều được thông báo đến theo dõi sự việc này. Tôi đã học thuộc lòng hầu hết những dòng chữ trên biểu đồ, nhưng “Thầy lang” đã lừa tôi bằng cách thay bằng một biểu đồ khác và tất cả những gì tôi có thể thấy chỉ là một mớ chữ lờ mờ xám xịt. “Thầy lang” nhẹ nhàng bảo tôi hãy từ từ bước tới gần hơn đến khi có thể thấy được chữ cái trên cùng. Mãi đến lúc mũi gần đụng tường thì tôi mới reo lên mừng rỡ khi đọc được chữ “E!”; lúc đó Mẹ tôi khóc ròng trong sự an ủi của những phụ huynh khác.

Tôi cũng đã từng cố gắng gia nhập đội bóng trong 3 năm liền ở trường cấp 2 Coalwood nhưng tôi chẳng thể làm gì hơn những cú cản phá vớ vẩn. Một lần trong lúc luyện tập, huấn luyện viên Tom Morgan nói móc tôi với chú Clarence: “Sonny nhỏ con, nhưng được cái... chậm chạp nữa”. Nghe đến đây tất cả cầu thủ đứng dọc biên ngoài sân được một trận cười ra trò. Dẫu vậy, tôi không bao giờ có ý nghĩ rút lui cả, nếu tôi làm vậy chắc chắn Mẹ sẽ bắt tôi quay lại ngay. Đó là một trong những điều luật nghiêm ngặt của bà: Một khi đã bắt đầu làm việc gì thì phải kết thúc nó!

Khi tôi vào trường Big Creek, huấn luyện viên Merill Gainer, một huấn luyện viên có thành tích chiến thắng hiển hách nhất trong lịch sử miền Tây Virginia, đã yêu cầu tôi rời khỏi sân bóng của ông khi nhìn thấy thân thể nhỏ bé của tôi lọt thỏm trong bộ đồng phục bóng bầu dục. Sau đó tôi gia nhập đội trống diễu hành của trường. Mẹ nói bà thích bộ đồng phục của tôi, còn Bố không thèm cho một ý kiến gì. Jim thì được dịp nhục mạ, than phiền về điều này bên bàn ăn khuya nhà tôi. Vừa nhồm nhoàm nhai thìa khoai tây ghiền đầy vung, anh vừa thao thao bất tuyệt về sự mất mát nghiêm trọng bản chất đàn ông của một thằng con trai sinh hoạt trong đội trống: “Con trai mà không chơi bóng bầu dục có vẻ là những thằng chết nhát. Còn con trai mà chơi trong đội trống thì quả là những thằng chết nhát thực thụ!”. Jim tham lam ngốn thêm khoai tây, nuốt vội rồi hùng hồn kết luận: “Em trai của tôi quả thật thành một em gái mất rồi!”

“Ừm, còn anh tôi là một thằng ngốc!” Tôi phản ứng ngay một cách bình tĩnh và theo tôi đó là điều hiển nhiên, khách quan mà thôi.

“Nếu hai đứa không thể nói những điều tốt lành trong bàn ăn này thì hãy làm ơn đừng nói gì cả!” Mẹ tôi thốt lên với vẻ chán nản hoàn toàn.

Những từ ngữ châm chích của Jim vẫn tuôn ra nhưng tôi thì ngoan ngoãn lặng im. Tôi chẳng thể hiểu nổi bóng bầu dục hấp dẫn chỗ nào và vì sao những thằng chơi môn thể thao này lại được tôn sùng như anh hùng. Những cầu thủ ra sân dưới sự điều khiển của trọng tài nhằm đảm bảo mọi luật lệ được tuân thủ; rồi họ còn đeo miếng đệm vai, hông, đùi, đầu gối rồi cả mũ bảo hộ trên đầu. Vậy thì anh hùng quái gì khi họ đồng loạt chấp hành luật chơi và đeo những thứ bảo vệ họ khỏi bị thương như vậy? Tôi mãi mãi không đồng cảm được với điều này.

Bố nãy giờ vẫn giữ im lặng nhưng lại trao đổi những ánh mắt âm thầm với Jim và theo tôi hiểu ngầm rằng ông cũng đồng tình việc tôi chơi trong đội trống là điều xấu hổ, mất mặt. Tôi quay sang Mẹ cầu cứu nhưng bà đang mông lung nhìn ra ngoài cửa sổ, có lẽ vài con chim tụ tập ở chỗ mẹ rải thức ăn. Tôi tự nhủ, mình thích bộ đồng phục này và thích chơi trống. Đặc biệt là Dorothy Plunk cũng chung đội trống với tôi. Suy nghĩ này là động lực để tôi bắn cho Jim một ánh nhìn tự mãn làm Jim thắc mắc không ngừng.

SUỐT MÙA THU NĂM ẤY, tờ Welch Daily News và Bluefield Daily Telegraph tràn ngập tin tức về các nhà khoa học, kỹ sư Mỹ tại Cape Canaveral[12] ở bang Florida đang nỗ lực nghiên cứu để bắt kịp thành tựu của người Nga. Có vẻ như những thứ tôi đọc được trong các cuốn tiểu thuyết viễn tưởng đang được hiện thực hóa. Dần dần, tôi bị toàn bộ câu chuyện cuốn hút. Tôi nghiền ngẫm tất cả các bài báo về những người làm việc tại Cape và dán mắt vào tivi để theo dõi đến cùng những gì họ đang triển khai. Tôi bắt đầu biết đến Tiến sĩ Wernher von Braun, một nhà khoa học nghiên cứu về tên lửa, nghe ra có vẻ là một cái tên nước ngoài thú vị. Tôi xem tivi thấy Tiến sĩ von Braun trả lời phỏng vấn bằng chất giọng Đức đặc trưng rằng nếu được phép ông có thể phóng vệ tinh lên quỹ đạo trong vòng 30 ngày. Nhưng theo báo chí cho biết ông còn phải nhường quyền ưu tiên cho dự án mang tên Vanguard. Vanguard là Chương trình vệ tinh của Năm Dự án Địa lý quốc tế của Mỹ và vì von Braun phục vụ cho quân đội nên ông bị cản trở không được thành người Mỹ đầu tiên đưa vệ tinh lên quỹ đạo. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, tôi luôn nghĩ ngay bây giờ đây Tiến sĩ Braun đang làm gì ở Cape. Tôi hằng tưởng tượng thấy ông đang nằm ngửa trên giàn cần cẩu cao, như Michelangelo, cầm mỏ-lết chỉnh sửa những bình nhiên liệu cho hàng loạt tên lửa của ông. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyến phiêu lưu mạo hiểm khi được làm việc cho ông, giúp ông trong quá trình chế tạo và phóng tên lửa vào không gian sâu thẳm. Theo những gì tôi biết, một con người với đầy tài năng và sự thuyết phục như vậy thậm chí có thể dẫn cả đoàn thám hiểm vào không gian như Lewis hay Clark không chừng. Và dù thế nào đi nữa, tôi cũng muốn được làm việc với ông. Tôi cũng nhận thức được rằng để làm được điều này tôi sẽ phải tự trang bị cho mình những kiến thức đặc biệt về một lĩnh vực nào đó. Mọi việc trong tôi vẫn còn mơ hồ lắm, nhưng ít nhất tôi biết được rằng tôi sẽ phải trở thành như các anh hùng trong những cuốn tiểu thuyết tôi đọc qua với lòng dũng cảm và mưu trí hơn người. Từ đó tôi dần dần cảm thấy mình vượt ra khỏi Coalwood. Và bản trường ca trong thâm tâm tôi bây giờ luôn hiện hữu hai tên gọiWernber von Braun và Dorothy Plunk.

Khi báo chí đăng tin Sputnik sắp sửa bay qua phía nam của miền Tây Virginia, tôi quyết định phải tận mắt chứng kiến nó. Tôi nói cho Mẹ biết và thật nhanh chóng tin tức được lan truyền từ nhà này sang nhà khác. Những người nào muốn nhìn Sputnik có thể tụ tập ở sân sau nhà tôi để cùng nhau thưởng ngoạn giây phút nó xuất hiện.

Không khó để tụ tập một đám đông ở Coalwood này. Trong đêm đó, Mẹ tham gia cùng tôi tại sân sau nhà, cùng nhiều bà mẹ và trẻ nhỏ khác. Roy Lee, Sherman, và O’Dell cũng đến. Các bà tập hợp xung quanh Mẹ, và bà trở thành người chủ trì đám đông. Từ khi Bố lên nắm chức vụ mới, Mẹ luôn được tin tưởng giao phó trách nhiệm về việc nắm những thông tin mới nhất từ tổng công ty - kế hoạch gì sắp thực hiện, quản đốc nào bị sa thải, người nào được thăng chức. Tôi vừa ngắm nhìn Mẹ vừa cảm thấy tự hào vì Mẹ đẹp biết bao. Sau này, mỗi lần tôi mường tượng lại, tôi thấy thật sự Mẹ đẹp hơn vạn lần. Mỗi khi Mẹ cười, không gian như rực sáng lên bởi chiếc bóng đèn 100watt. Mái tóc xoăn xõa ngang vai, đôi mắt màu hạt dẻ ánh xanh to tròn, giọng nói nhẹ nhàng êm ả - trừ những lúc la mắng tôi và Jim. Với sắc đẹp đó, chẳng người thợ mỏ nào có thể đi ngang cửa nhà tôi mà không dừng lại mỗi khi Mẹ đang tỉa tót vườn hoa trong chiếc quần short và áo yếm hở lưng. Họ đứng đó, vỗ nhẹ vào mũ bảo hộ trên tay, cười toe toét với những chiếc răng nhuốm màu thuốc lá nhai rồi cất giọng: “Hidy, Elsie này, những bông hoa nở thật rực rỡ trông thật đẹp mắt, chắc chắn là như vậy”. Nhưng tôi không nghĩ rằng họ đang ngắm nhìn những bông hoa ấy đâu...

Trời tối dần, những ngôi sao nối đuôi nhau lấp lánh. Tôi ngồi trên bậc thềm sau nhà, cứ vài giây lại ngoái đầu kiểm tra giờ từ chiếc đồng hồ trong bếp. Tôi sợ rằng Spunik sẽ không xuất hiện, hay dù có đi chăng nữa chúng tôi cũng sẽ lỡ mất thời cơ ngắm nhìn nó. Núi đồi trùng điệp bao bọc xung quanh, chỉ chừa lại cho chúng tôi một khoảng trời nhỏ để quan sát. Tôi cũng không biết rằngSputnik bay nhanh đến cỡ nào, nó sẽ chỉ vụt qua hay chầm chậm băng qua trong tầm mắt chúng tôi. Dù sao đi nữa, tôi biết rằng được thấy nó là một điều may mắn.

Bố bước ra tìm Mẹ. Nhìn thấy Mẹ tụ tập ở sân sau với đám phụ nữ ngắm sao, ít nhiều làm Bố bực mình. “Elsie? Bà ngắm cái quỷ gì trên trời đấy?”

“Sputnik, Homer ạ.”

“Bay ngang qua miền Tây Virginia ấy à?” Giọng Bố vang lên ngờ vực.

“Sonny nó đọc trên báo thấy nói vậy mà.”

“Tổng thống Eisenhower[13] chẳng bao giờ cho phép điều đó xảy ra đâu.” Bố quả quyết.

“Chúng ta cứ chờ xem.” Mẹ ngâm nga, đây là câu ưa thích của Mẹ.

“Tôi đi...”

“Đến mỏ làm việc.” Bố mẹ tôi kết thúc mẩu đối thoại rất đồng thanh đồng khí.

Bố định nói gì nữa nhưng Mẹ nhướng mày nhìn Bố rồi ông có vẻ nhận ra rằng tốt nhất là im lặng. Bố là một người đàn ông cao to lực lưỡng, chỉ dưới 1,8 mét một chút nhưng Mẹ vẫn dễ dàng nắm cán được ông. Bố chụp mũ lên đầu rồi lê bước về khu mỏ. Ông chẳng ngước nhìn trời dù chỉ một lần.

Roy Lee đến ngồi cạnh tôi. Trước đó không lâu, cậu cho tôi một lời khuyên vớ vẩn để cưa đổ Dorothy, nữ thần của lòng tôi. “Cậu chỉ việc làm thế này Sonny...”, vừa nói vừa choàng tay qua vai tôi, “...mời nàng ta đi xem phim kinh dị như Frankenstein đại chiến Người Sói chẳng hạn. Trong lúc xem phim, cậu cứ thủ sẵn tay trên thành ghế sau lưng nàng, đến khúc ghê rợn, đợi đúng giây phút nàng ta không để ý thì nhẹ nhàng trườn tay xuống vai đến khi...” Đúng lúc này Roy chọc vào đầu ngực làm tôi nhảy nhổm lên. Roy ôm bụng cười ngặt nghẽo còn tôi thì chẳng thấy điều này đáng cười tí nào.

Jim lảng vảng bên ngoài quan sát chúng tôi, miệng gặm chiếc bánh trung thu rồi kết luận: “Lũ ngốc - những thằng lớp 10 thoái hóa”. Lúc nào Jim cũng ăn nói như vậy đấy. Đoạn Jim nhét cả chiếc bánh vào mồm nhai ngấu nghiến một cách thỏa mãn. Một cô bé hàng xóm nhìn thấy Jim và bạo dạn tiến đến thật gần anh ta. Jim cười kiêu ngạo rồi đưa tay cọ cọ vào tấm lưng nhỏ của cô bé làm nó run lên vì bối rối và vui sướng. Roy Lee nhìn chăm chăm một cách thán phục. “Tớ không quan tâm rằng chúng nó sẽ bẻ gãy bao nhiêu cái xương của mình nhưng năm sau tớ quyết tâm vào đội bóng bầu dục!”

“Nhìn kìa! Nhìn kìa!” O’Dell bất thần hét toáng, vừa nhảy cẫng vừa chỉ tay lên trời. “Sputnik!”

Roy Lee bật đứng thẳng dậy thét to: “Tớ cũng thấy nó rồi!”, tiếp đó Sherman kêu lên một tiếng rồi chỉ tay lên trời. Tôi trượt chân khỏi bậc thềm, ngã sóng xoài nhưng vẫn cố liếc mắt nhìn về hướng mọi người cùng nhìn tới. Nhưng lúc đó mắt tôi hoa lên cả triệu ngôi sao. “Kia kìa”, Mẹ nói rồi xoay đầu tôi về phía Sputnik đang bay.

Ở đó tôi thấy một trái bóng sáng nhỏ nhắn bay xuyên qua cả trời sao nhỏ, thấp thoáng giữa những rặng núi một cách oai vệ, uy nghiêm. Tôi ngắm nhìn nó một cách say mê cứ như đang được thật sự chứng kiến Chúa trời cưỡi xe ngựa vàng bay qua trên kia vậy. Khi nó vút qua, tôi cảm thấy như nó mang theo một ý đồ nguy hiểm, bất di bất dịch, cứ như không có gì trên dãy thiên hà này có thể cản được. Cả đời tôi, những gì quan trọng đều xảy ra ở một nơi bâng quơ xa xôi nào đó. Nhưng bây giờ Sputnik đang ở ngay trước mắt tôi trên sân sau nhà ở Coalwood, tỉnh McDowell, miền Tây Virginia của Mỹ này. Tôi không thể nào tin nổi. Dường như nếu tôi có thể vươn xa hơn một chút nữa thôi thì tôi đã có thể chạm vào nó... Rồi chỉ không đầy một phút ngắn ngủi, nó mất hút vào không gian sâu thẳm.

“Thật là một vật xinh xắn.” Mẹ tóm lại mọi cảm xúc, phản ứng của đám đông đang đứng trong sân nhà. Rồi bà cùng những phụ nữ khác lại quây quần nói chuyện phiếm. Một giờ trôi qua vui vẻ đến khi mọi người lũ lượt ra về, tôi vẫn còn nán lại ngửa mặt lên trời. Tôi cố khép miệng lại nhưng rồi mồm cứ há hốc ra. Tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng nào tuyệt vời đến vậy trong đời mình. Đến khi Bố trở về, tôi vẫn còn đứng tần ngần trong sân sau. Mở cửa bước vào, trông thấy tôi, Bố ngạc nhiên hỏi: “Mày vẫn còn đứng ngoài đây khuya như vậy à?”

Tôi không mảy may đáp lại vì không muốn phá tan phép màu mà Sputnik đã phủ lên mình tôi.

Bố cùng nhìn lên trời với tôi rồi gặng hỏi: “Mày vẫn còn tìm cái Sputnik quái quỷ đó à?”

“Thấy nó rồi”, cuối cùng tôi cũng thốt nên lời. Tôi vẫn còn quá choáng ngợp đến nỗi quên cả xưng “Bố ạ” một cách lễ phép cuối câu nói của mình.

Bố còn nhìn lên trời một lúc nữa nhưng khi thấy tôi không hé thêm nửa lời, ông lắc đầu rồi bỏ đi xuống tầng hầm. Một chốc sau tôi nghe tiếng nước chảy hòa lẫn với tiếng cọ mình bằng bàn chải và xà phòng Lava của Bố. Thông thường Bố luôn tắm ở khu mỏ trước khi về nhà, nhưng Mẹ sẽ chẳng bao giờ để ông vào nhà nếu như còn một phân tử than nào trên thân thể.

Đêm đó tôi thao thức trong phòng mình, đầu óc cứ ám ảnh về Sputnik đến khi không thể cưỡng lại cơn buồn ngủ nữa, tôi thiếp đi. Rồi tôi chợt bị đánh thức bởi tiếng công nhân lê giày và trò chuyện với nhau trên đường đến nhà than. Tôi quỳ gối nhìn ra cửa sổ, quan sát những bóng đen trải dọc đường. Những người thợ làm ca đêm này có nhiệm vụ làm vệ sinh bụi than và đảm bảo an toàn, họ phải phun bột đá nặng vào không khí để kéo những bụi than xuống đất. Họ cũng phải kiểm tra hệ thống đường ray trong hầm, những cột chống đường hầm, và cả những mối liên kết trên mái. Công việc của họ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hai ca khai thác than trong ngày. Cái dáng họ dưới ánh trăng, cặm cụi trong bụi bặm, làm tôi mường tượng đến những phi hành gia trên mặt trăng. Nhà than sáng lên trong ánh đèn báo hiệu nhìn như trạm không gian. Để trí tưởng tượng của tôi bay xa hơn nữa, tôi thấy những người đầu tiên khám phá mặt trăng đang cất bước về phía trạm gác sau một ngày dạo quanh những cánh đồng bao la và những miệng núi lửa im ắng. Tôi đoán rằng Wernher von Braun đang ở trên kia, chỉ đạo đội ngũ tinh nhuệ của ông. Những người thợ băng ngang qua đường ray, những tia sáng ánh lên hộp cơm của họ đưa tôi trở lại thực tại. Họ chẳng phải là các nhà thám hiểm mặt trăng, họ đơn giản chỉ là những người thợ mỏ của Coalwood đang trong ca làm việc. Và tôi cũng không phải là thành viên trong đội ngũ của von Braun, chỉ là một thằng nhóc ở Coalwood, miền Tây Virginia. Đột nhiên, tôi thấy mọi chuyện thật chẳng thỏa đáng tí nào cả.

***

VÀO NGÀY 3 THÁNG 11 năm ấy, người Nga lại vượt lên một lần nữa, phóng Sputnik II vào không gian. Lần này nó mang theo cả một con chó cái tên Laika, ảnh trên báo của nó nhìn hao hao như con Poteet nhà tôi. Tôi bước ra sân, kêu Poteet lại rồi nhấc bổng nó lên. Nó không to nhưng có vẻ nặng cân. Mẹ nhìn thấy, bước ra theo rồi hỏi: “Con làm gì với con chó vậy?”

“Con đang thắc mắc là tên lửa phải to cỡ nào thì mới mang nó lên quĩ đạo được.”

“Nếu nó cứ tiếp tục tè vào những bụi hồng của mẹ thì nó sẽ bay thẳng lên quĩ đạo ngay, chẳng cần tên lửa gì cả!” Mẹ quả quyết.

Poteet rên rỉ rồi rúc vào nách tôi. Nó không hiểu hết được mỗi từ ngữ nhưng chắc chắn nó hiểu Mẹ tôi muốn nói gì. Đến khi Mẹ bỏ vào nhà tôi mới để Poteet xuống, nó chạy ngay đến cạnh bụi hồng rồi ngồi xuống. Tôi chẳng buồn theo dõi nó làm gì tiếp theo.

Mỗi tuần Bố nhận được 2 tờ báo trong thùng thư, tờ Newsweek và Life. Khi chúng được đưa đến, Bố đọc từ bìa này sang bìa kia rồi đến lượt tôi. Trong số tháng 11 của tờ Life, tôi thích thú khi tìm thấy nhiều biểu đồ kết cấu máy móc bên trong của nhiều loại tên lửa. Tôi nghiên cứu chúng thật kĩ, nhớ những gì Wernher von Braun từng làm khi bắt đầu chế tạo tên lửa lúc nhỏ. Một niềm hứng khởi trào dâng trong lòng tôi. Tại bàn ăn tối hôm đó, tôi bỏ nĩa xuống rồi hùng hổ tuyên bố rằng tôi sẽ chế tạo ra tên lửa. Bố đang xì xụp với ly sữa bột bắp nên chẳng nói gì. Ông bận giải quyết một số vấn đề về việc thông gió tại hầm mỏ, tôi đoán rằng có lẽ ông thậm chí chẳng nghe tôi nói gì. Jim thì cười khúc khích, chắc anh đang nghĩ đó lại là việc làm của một đứa em gái. Chỉ có Mẹ nhìn tôi một lúc lâu rồi nhẹ nhàng ủng hộ: “Được, cố lên, đừng nản lòng con nhé!”

Tôi tập hợp Roy Lee, O’Dell và Sherman vào phòng tôi. Nhóc Chipper, con sóc yêu của Mẹ, đang treo ngược trên rèm cửa quan sát chúng tôi bằng ánh mắt tinh quái. Chipper thường chạy vòng quanh nhà và hay tò mò tham gia vào các cuộc tụ tập. “Chúng ta sẽ bắt đầu chế tạo tên lửa”, tôi nói lúc Chipper phóng lên vai mình. Nó đáp xuống rồi rón rén xích gần bên tai tôi. Tôi lơ đãng vuốt ve nó.

Mấy đứa bạn nhìn nhau rồi nhún vai. Roy Lee mở lời đầu tiên: “Chúng ta sẽ phóng tên lửa ở đâu?”. Đây là tất cả những gì cậu ấy muốn biết. Chipper ngọ nguậy mũi nhìn về phía Roy Lee, nhảy khỏi vai tôi xuống giường rồi xuống đất. Phóng tới tấn công bất ngờ là trò chơi yêu thích của Chipper.

Tôi trả lời: “Sẽ phóng từ hàng rào cạnh những bụi hồng gai”. Nhà tôi nằm lọt thỏm giữa hai ngọn núi và con sông nhỏ nhưng có một khoảng khá trống trải đằng sau vườn hồng của Mẹ.

“Chúng ta cần đồ để đếm ngược đấy”, Sherman tuyên bố một cách thẳng thừng.

“Ừm, đương nhiên là chúng ta phải có đồ để đếm ngược rồi”. O’Dell cãi mặc dù chẳng ai màng tranh cãi với cậu ấy cả. “Nhưng chúng ta cần gì để làm tên lửa. Nói cậu cần gì đi, mình sẽ tìm cho.” Bố của O’Dell, chú Red, làm nghề thu dọn phế liệu trong thị trấn. Vào cuối tuần, O’Dell cùng anh em trong nhà đi theo giúp việc; rong ruổi trên chiếc xe tải, cậu ấy nhìn thấy hầu như mọi thứ ở Coalwood, không lúc này thì lúc khác.

Sherman luôn là người thực tế và có suy nghĩ tuần tự, hợp lý nhất. Sherman thắc mắc: “Vậy thực ra chúng ta có biết làm thế nào để chế tạo tên lửa không?”

Tôi đưa tạp chí Life ra và giải thích: “Bọn mình chỉ cần bỏ nhiên liệu vào trong một cái ống và đục một cái lỗ dưới đáy.”

“Phải dùng loại nhiên liệu gì?”

Tôi cũng đã chuẩn bị một số ý: “Mình còn 12 trái pháo anh đào sót lại từ ngày 4 tháng 7[14]. Mình dành để đốt vào dịp đầu năm. Chúng ta sẽ dùng thuốc pháo lấy ra trong ruột chúng.”

Được trả lời một cách thỏa đáng, Sherman gật đầu đồng tình: “Ok, vậy thì ổn rồi. Chúng ta sẽ bắt đầu đếm ngược vào lúc 10 giờ nhé.”

“Nó sẽ bay cao được tới cỡ nào nhỉ?” O’Dell thắc mắc.

“Sẽ cao đấy.” Tôi đoán vậy.

Chúng tôi quây thành vòng tròn rồi đưa mắt nhìn nhau. Tôi không phải nói ra, đây là thời khắc quan trọng và chúng tôi đều biết. Những thằng nhóc Coalwood chúng tôi sẽ hợp nhau tạo ra bệ phóng: “Được rồi, chúng ta hãy tiến hành đi.” Roy Lee vừa nói xong thì Chipper đáp ngay lên mái tóc Đ.V. của cậu ấy. Roy Lee đứng bật dậy rồi vụt túi bụi một cách vô ích vào kẻ tấn công. Chipper cười khúc khích rồi phóng lên màn cửa.

“Chipper! Con sóc hư đốn này!” Tôi hét lên nhưng nó chẳng màng, chỉ nhắm đôi mắt tròn và tinh ranh rồi rung lên sung sướng một cách lộ liễu.

Roy Lee cuộn tờ tạp chí Life lại, nhưng trước khi cậu ấy kịp vung tay lên thì Chipper đã phóng đi như tia chớp xuống nửa cầu thang, nằm trong khu vực an toàn - trong tầm kiểm soát của Mẹ đứng ở bếp. Roy Lee lầm bầm: “Mình mong mùa săn sóc đến sớm quá!”

Tôi tự tôn mình làm sếp đội thiết kế tên lửa. O’Dell cung cấp cho tôi một cái đèn pin bằng nhựa đã hỏng dùng làm thân tên lửa. Tôi tháo pin ra rồi dùng đinh đục một lỗ dưới đáy. Tôi vặn gãy quả pháo anh đào, trút thuốc pháo của nó vào trong thân cây đèn pin rồi quấn lại bằng băng keo quấn điện. Tôi rút ngòi nổ của một trái pháo anh đào ra gắn vào lỗ rồi dán keo dính tổ hợp thí nghiệm đó vào trong thân chiếc máy bay mô hình bằng nhựa đã được tháo mất hai cánh. Tôi đặt tên nó là F-100 Siêu Kỵ Sĩ. Do Sherman chạy không được nhanh cho lắm, hơn nữa ý kiến đếm ngược cũng từ cậu mà ra cho nên Sherman được giao trọng trách này, và được lùi ra xa hơn bọn tôi. Roy Lee đem diêm tới. O’Dell sẽ là người quẹt diêm và chuyển cho tôi. Tôi sẽ châm ngòi và chạy ra khỏi vùng nguy hiểm. Mỗi người đều được phân công rất rõ ràng.

Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi chỉnh lại quả tên lửa cho thăng bằng, nhìn nó thật bóng bẩy và nguy hiểm ngất ngưởng trên hàng rào vườn hồng của Mẹ. Hàng rào đó là khơi nguồn một phần kiêu hãnh và sự hài lòng của bà. Mẹ đã mất 6 tháng để nhắc nhở Bố cho ông McDuff từ khu mỏ lên đây xây dựng nó. Đêm nay trời lạnh và trong, thật lý tưởng để chúng tôi có thể dõi theo dấu vết khi tên lửa phóng nhanh qua bầu trời tối mịt đầy sao. Chúng tôi đợi đến khi có vài chiếc xe than ầm ĩ chạy ngang qua, rồi tôi châm ngòi và chạy về phía bãi cỏ trong góc những bụi hồng. O’Dell tự bịt miệng để ngăn bớt những tiếng cười thích thú của mình.

Những tia lửa xẹt ra từ ngòi nổ. Sherman đếm ngược từ 10. Chúng tôi nín thở chờ đợi trong hy vọng, và rồi Sherman cũng đếm đến 0 và hét lớn: “Nổ tung lên nào!” đúng ngay khoảnh khắc thuốc pháo của trái pháo anh đào phát nổ.

Một người thợ mỏ đang đứng đợi xe ở trạm gas bên đường đã chứng kiến tận mắt sự việc trên. Vào vai trò của một người bắt đầu nên những câu chuyện bên lề về sự kiện này, anh thuật lại điều đã trông thấy: Có một ánh chớp chói lòa từ sân nhà Hickam và nổ to như Chúa vừa vỗ tay. Sau đó một vòng cung lửa điện bắn lên cao, cao mãi vào bóng đêm, đổi hướng, quay vòng rồi xẹt ra những tia sáng lóa. Theo lời anh kể thì tên lửa của chúng tôi nhìn rất đẹp và vô cùng rực rỡ; và tôi cũng đoán rằng anh tường thuật lại đúng những gì đã diễn ra. Chỉ có một vấn đề nghiêm trọng là vật phóng lên bầu trời đêm lạnh giá, trong vắt và đầy sao không phải là tên lửa của chúng tôi...

Vật đó lại là... hàng rào vườn hồng của Mẹ!

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.