Auk XXII, A, B, C, và D
BÂY GIỜ CHÍNH LÀ THỜI ĐIỂM cho những bước tiến vượt bậc. Vào mùa thu, Quentin và Billy cùng trở về, bọn tôi tụ họp trên Cape Coalwood để thử nghiệm những quả tên lửa kẽm lưu huỳnh đầu tiên. Những người thợ máy cũng có mặt, cùng Cha Richard và ít nhất là một trăm người dân Coalwood. Cha xứ vẫy tôi lại rồi tháo mũ xuống. “Ta cầu nguyện cho con nhiều lắm, ta biết rằng con cần điều đó,” ông nói.
Rồi ông kể tôi nghe về giấc mơ của ông, trong đó ông thấy loài người đặt chân lên mặt trăng và tôi là một trong số họ. Khi tỉnh dậy, ông lật Kinh Thánh ra và dán mắt vào chúc thư của Thánh Peter. “Theo lời hứa của Người, một ngày rồi chúng ta sẽ tìm thấy thiên đường và hành tinh mới, nơi mà ta có thể cư ngụ một cách chính đáng,” ông trích dẫn.
“Con cũng hy vọng như vậy, thưa cha,” tôi đáp, và ông tỏ vẻ hài lòng.
Chúng tôi dốc ngược đầu quả tên lửa lại trên bệ phóng, đổ hỗn hợp thuốc nổ màu xám vào rồi lấy búa gõ gõ lên phần thân nhằm đảm bảo chúng được nén đều bên trong. Khi tôi vừa chập ngòi nổ thì Auk XXII nổ tung ngay trên bệ phóng thành những mảnh vụn cắm sâu xuống đất và một đám khói màu xanh trắng bốc lên trời mù mịt. Chúng tôi đã đảm bảo về những mặt quan trọng cho chất nổ đẩy mới này chưa nhỉ? Tôi không thể tin nổi, chắc chắn đã có sai sót gì ở đây rồi.
Đám đông lục tục kéo lại giúp bọn tôi xem xét những mảnh vỡ vụn tả tơi như lá trà. “Chắc Chúa trời không muốn cho cái này bay lên rồi,” Cha Richard lầm bầm trong khi tôi cứ lật qua lật lại miếng kim loại lởm chởm trên tay mình, cố tìm ra nguyên nhân vụ nổ vừa rồi.
Sau khi tất cả khán giả đã lái xe bỏ đi hết thì BCMA nhanh chóng tổ chức một cuộc họp khẩn. Nhưng kết luận sau cùng là hiện tại chúng tôi chưa biết mình đã làm gì với chất nổ đẩy mới này. Chẳng có một manh mối nào cả. Mọi việc chỉ đơn giản là đã xảy ra như vậy mà thôi.
Đêm đó về nhà, tôi thật không vui và cảm thấy bối rối. Khi đi ngang qua bếp, Mẹ nhìn tôi với ánh mắt cho biết bà đang có điều gì muốn nói. “Chuyện gì vậy Mẹ?” tôi hỏi bà.
“Công ty đang rao bán những căn nhà ở đây,” bà đáp.
VÀO MÙA THU NĂM 1959, báo đài và tivi tràn ngập tin tức về hỏa tiễn của Mỹ rốt cuộc đã thành công, gầm rú phóng lên trời. A-OK! Chúng ta đã bay lên thành công! Mọi thứ đã hoạt động rồi! Ngôn ngữ của kỹ sư tên lửa đã trở thành một phần tất yếu trong những cuộc trò chuyện thường nhật của chúng tôi.
Vào tháng 9 năm 1959, tôi đọc tin thấy NASA đã phóng thử Mercury - chiếc phi thuyền mô hình có gắn tên lửa Big Joe. Nó chỉ là cú phóng lốp không hết một vòng quĩ đạo và mặc dù nó trống không nhưng báo chí đều nói rằng đó chính là tiền đề mở ra cho chương trình của Mỹ nhằm đưa con người lên không gian. Tôi run lên vì sung sướng. Tôi bắt đầu nghĩ về những phi thuyền có thể mang cả gia đình bay lên - tới mặt trăng, sao Hỏa hay cả những ngôi sao khác nữa. Cũng như Cha Richard đã nói về việc tìm kiếm thiên đường và hành tinh mới. Lúc này, tôi thường cảm thấy rằng một hành tinh mới quả thật là kế hoạch tuyệt vời cho tương lai của mình.
Hầu hết mọi người trong Coalwood đều đang bận tâm đến những vấn đề thực tế hơn trên trái đất này. Chẳng những công ty quyết định rao bán tất cả nhà cửa, mà cả hệ thống nước và đường ống thoát chất thải và nhà thờ cũng chịu chung số phận. Phải chăng tiến tới sẽ đến lượt khu mỏ? Ông Van Dyke cùng Bố xuống phòng họp của Liên minh Công nhân, ngồi vào hội nghị bàn tròn để thông báo cho những vị lãnh đạo của liên minh biết về việc rao bán này. Tôi nghe lén Bố thì thầm với Mẹ về chi tiết của buổi họp đó. “Dubonnet thẳng thừng chất vấn tôi, rằng làm sao mọi người có thể chi trả cho việc mua nhà và những thứ khác nữa,” Bố nói.
“Vậy họ sẽ ra sao?” Mẹ băn khoăn.
“Công ty sẽ cho họ vay số tiền đó, gần như không lấy lời và được trả chậm trong 20 năm.”
“Đó vẫn là số tiền nằm ngoài khả năng chi trả của họ,” Mẹ lý luận, “và nếu như họ mua căn nhà trong 20 năm, chẳng hạn họ muốn nghỉ hưu và chuyển đi nơi khác thì ai sẽ mua lại nó? Anh có bao giờ tĩnh tâm suy nghĩ vì sao công ty muốn rao bán tất cả nhà cửa không? Vì họ nghĩ rằng khu mỏ này không còn có lợi trong tương lai nữa. Em nghe mọi người bảo vậy đấy.”
Bố giương con mắt còn lành lặn nhìn Mẹ tỏ vẻ ngờ vực. “Em đã nói chuyện với ai vậy?”
“Đó là kiến thức thông thường thôi mà.”
“Kiến thức thông thường đó hoàn toàn sai rồi,” ông gầm lên. “Công ty rao bán nhà vì họ đã nghe theo lời một tên chuyên gia tài chính ngu ngốc nào đấy, hắn bảo họ rằng bán nhà sẽ có lợi nhuận hơn là giữ lại, bảo quản rồi cho thuê. Đội Trưởng Laird đã hiểu về việc này từ 30 năm trước rồi, nhưng ông ấy không quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Ông bảo rằng nếu như công nhân được sống trong nhà của công ty, họ sẽ cảm thấy rằng mình thuộc về công ty và sẽ trung thành hơn. Dù sao đi nữa, Van Dyke cũng sẽ lên Ohio để cho họ biết rằng đó không phải là một ý kiến hay ho gì. Chúng ta cũng vẫn muốn giữ nguyên hiện trạng của Coalwood mà. Anh nghĩ ông ấy sẽ quay về với tin tức tốt lành thôi.”
“Ôi, Homer ơi,” Mẹ thở dài tuyệt vọng.
Một tuần sau, Mẹ cho tôi biết rằng ông Van Dyke bị sa thải. Mẹ đoán chính vì ông ấy dám chỉ trích việc buôn bán tài sản, nhưng bà không thật sự chắc chắn về điều này. Cho dù vì lý do gì đi nữa thì cũng đã có một tổng quản đốc mới được điều xuống Coalwood để đảm bảo cho việc mua bán nhà ở, nhà thờ và những hệ thống thiết bị được diễn ra suôn sẻ. Bố lại rút vào trong khu mỏ. Sảnh họp của Liên minh Công nhân thì suốt ngày ầm ĩ với tiếng la oán hận. Trên đường đến xưởng kim khí điện máy, tôi nghe vang vọng tiếng hô: “Đình công, đình công, đình công!”
RỐT CUỘC, tôi cũng kết luận rằng hỗn hợp kẽm-lưu huỳnh quá lỏng lẻo, có lẽ vì còn nhiều túi khí trong đó. Đây chính là nguyên do làm cho quả tên lửa vừa rồi nổ tung lên như vậy. Chúng tôi cũng đã từng gặp trường hợp này với thuốc súng đen và sau đó là kali nitrát và đường. Trước đó, thuốc súng đen được giải quyết bằng chất kết dính, rồi đến kali nitrát và đường được nung chảy cho ra thuốc nổ kẹo ngọt. Không thể nung kẽm và lưu huỳnh được, chắc chắn chúng sẽ nổ tung trước khi được nung. Tôi thử dùng đextroza cùng nước để xem chúng có tạo thành chất kết dính được không; nhưng rồi hỗn hợp này chỉ sủi chút bọt trong bình nấu nước nóng. Tôi cũng không hiểu vì sao lại như vậy. “Có lẽ nước làm cho kẽm bị ôxy hóa,” Quentin bảo.
“Nếu như trộn với xăng thì sao nhỉ?” O’Dell đề nghị.
“Quá nguy hiểm,” Quentin nói. “Và tớ cũng không chắc rằng xăng có phản ứng được với kẽm không nữa.”
Chúng tôi tranh luận về rất nhiều loại chất lỏng. Náp-ta-lin? Trong khu mỏ có rất nhiều dung môi được làm ra từ nhựa than đá nhưng tất cả đều quá dễ bay hơi. Dầu diesel? Không đủ bay hơi. Chất nửa rắn như paraffin? Quá bẩn. Billy đề nghị dùng rượu và mắt Quentin sáng rực lên. “Đúng rồi! Rượu rất ổn định và cũng bốc hơi nhanh. Thật hoàn hảo!”
Chúng tôi đổ dồn mắt về “trùm xoáy vặt” O’Dell và cậu ấy cười toe toét. Chỉ có duy nhất một nơi ở Coalwood bán rượu 100% nguyên chất và 200% bảo đảm là thật mà thôi.
“CẬU CÓ CHẮC rằng bọn mình sẽ không bị Tag bắt không?” tôi lo ngại hỏi vọng lên từ băng ghế sau xe của Roy Lee khi chúng tôi xóc nảy trên đoạn đường đất dẫn đến Snakeroot. Roy Lee, O’Dell và tôi đang thực hiện một phi vụ mà lúc đầu nghe ra thì hay ho nhưng bây giờ tôi lại cảm thấy lo lắng.
“Tag chẳng bắt được gì đâu,” Roy Lee vừa nói vừa bám chặt tay lái, bẻ qua bẻ lại để tránh mấy cái ổ gà trên đường.
“Anh ấy đã bắt quả tang cậu và O’Dell trong cái chuồng la rồi còn gì.”
Roy Lee nhún vai. “Lần đó là khác. Bây giờ là thời khắc truyền thống trọng đại. Thằng nhóc nào trong thị trấn này sớm muộn gì cũng tìm đến tiệm của John Eye thôi.”
Lúc này là tối thứ sáu nên Roy Lee phải vất vả kiếm chỗ đậu xe. Một hàng dài xe hơi nối đuôi nhau ngay đường rãnh trước cung điện rượu lậu của John Eye Blevin. Tôi run rẩy cầm trong tay 4 dollar mà cả bọn gom góp được, số này có thể mua được gần 4 lít rượu tốt từ John Eye. Bọn tôi lén lút chờ đợi trong bóng tối đến khi có một chỗ trống là chen chân ngay lên những bậc thang gỗ, cắt ngang được dòng khách còn dài dằng dặc phía sau. Một cô bé tóc tết bím đang đu đưa bên mái hiên, mở to mắt nhìn bọn tôi. “Các anh còn quá trẻ để được mua rượu lậu mà,” cô bé tuyên bố dõng dạc.
“Em là cái quái gì ở đây chứ, cảnh sát bắt rượu lậu chắc?” Roy Lee hỏi.
“Hông... hông.” Cô bé lắc đầu. “Em chỉ sáng suốt hơn các anh thôi.”
Một gã lực lưỡng đột ngột chắn ngang cửa. “Mấy đứa bay muốn gì?” Giọng nói nghe như từ đáy giếng sâu vang vọng lên. Tôi chìa tiền ra. “Vào đây nào!”
Phòng khách nhỏ xíu chỉ có một bộ sofa cũ nát và vài chiếc ghế bành và đồ đạc sơ sài xung quanh. Một chiếc radio to kềnh cũ kĩ lấp đầy góc phòng, trên đó chễm chệ máy quay đĩa rẻ tiền. Thứ âm nhạc đang phát ra từ đó thật lạ lẫm với tôi, hình như mang hơi hướng jazz thì phải. Một tấm màn bằng dây gỗ treo lủng lẳng ngăn cách với phòng bếp phía trên, nơi có 3 người Mỹ Đen ngồi ở bàn ăn. Họ đang chơi bài và chẳng màng đến những gì đang diễn ra trong phòng khách. John Eye nhìn bọn tôi, lông mày nhíu lại như đang phải đưa ra một quyết định gì đó khó khăn lắm. Rốt cuộc ông ta chìa bàn tay to lớn ra và lật ngửa lên. Tôi đếm đủ 4 dollar, ông ta gật đầu rồi khẽ lách người qua tấm màn dây gỗ. Tôi biết rõ huyền thoại về John Eye - rằng thanh đà nơi nhóm của ông làm việc đã sập xuống như thế nào, và ông hứng chịu mọi thứ trên đôi vai to lớn ra sao để cho những người khác thoát ra. Sau khi trần hầm được đào lên thì một mảnh sắt đã cắt đứt bàn chân của ông ngang phần mắt cá. Đó chính là lý do mà công ty - chính xác hơn là Bố tôi - nhắm mắt làm ngơ cho ông kinh doanh những thứ này sau nhà ông như vậy.
John Eye bước ra, trong tay là bốn chai thủy tinh đựng thứ nước trong suốt. Roy Lee cầm một chai đưa ra ánh sáng vẻ thành thạo. “Không pha nước trong này chứ ạ?”
“Tao không giảm bớt lượng rượu đâu!” John Eye gầm lên. “Nó hoàn toàn tinh khiết và nguyên chất đấy. Muốn uống thử một ngụm không?”
Roy Lee hớn hở. “Vâng!”
“Tớ nghĩ chúng ta không nên,” tôi nói nhanh. “Nó đâu phải để uống mà dùng cho mục đích khoa học.” Tôi do dự, vì tôi không cố tình thú nhận điều này.
John Eye thu mấy cái chai lại. “Chúng mày nói vậy là sao? Bọn mày không định uống rượu của ta à? Đây là thứ rượu ngon nhất toàn tỉnh đấy! Thật ngu ngốc khi không thưởng thức nó!”
“À, cậu ấy chỉ đùa thôi, John Eye à,” Roy Lee nói và lôi tôi ra góc phòng. “Mấy người ở đây đều có dao đấy,” cậu ấy thì thầm. “Phải tỏ ra lịch sự nếu không họ sẽ cắt cổ mình đấy. Vả lại bọn mình cũng phải bảo đảm mấy thứ này thực sự tinh chất mà, phải không?”
“Xem nào...”
“Cậu chưa từng uống rượu bao giờ phải không?”
“Không hẳn.”
Roy Lee nháy mắt với tôi. “Cậu tưởng Wernher von Braun không uống rượu ở Cape Canaveral à? Tớ dám cá rằng họ đều uống trước và sau khi phóng tên lửa, và cả theo đuổi phụ nữ nữa.”
Tôi không thể phản bác lại lý luận của cậu ấy nên đành gật đầu tán thành. “A-OK, John Eye!” Roy Lee nói với ông ta.
Ông chủ nháy mắt và biến vào bếp. Tôi nghe tiếng tủ kẽo kẹt mở và tiếng ly tách được lấy ra, va vào nhau lách cách. Mấy người ngồi ở bàn ăn nhìn và cười vang. John Eye đem ra một khay đựng ba chiếc ly nhỏ chứa đầy rượu. Ông đưa ra và bọn tôi kính cẩn đón lấy. Roy Lee nâng ly lên. “Hãy uống vì Wernher von Braun!” Cậu ấy đặt chiếc ly xuống, liếm mép, mắt tròn xoe và thốt lên: “Quỷ thần ơi, ngon quá đi!”
O’Dell răm rắp làm theo rồi đưa tay lên quẹt miệng, nước mắt trào xuống má. “Ngon!” cậu ấy hét lên, nhưng chỉ có một âm thanh nhỏ méo mó được thốt ra.
Mọi người quay sang nhìn tôi. Dù sao thì cũng vì Wernher von Braun mà. Tôi nuốt chửng ngụm rượu, thậm chí không để nó dính vào lưỡi. Rượu trôi tuột xuống dạ dày tôi, phừng phừng bốc cháy. Tôi xém tí nữa là gập cả người lại khi cảm nhận nó rực cháy suốt từ miệng xuống ruột. Tôi cố gắng thở nhưng không thể. Roy Lee vỗ vào lưng tôi. “Thấy nó thế nào nhóc? Có phải là nguyên liệu tên lửa không hay là thứ gì khác?”
“Tất cả... hệ thống... hoạt động!” rốt cuộc tôi cũng khò khè thốt được nên lời.
“Muốn làm một ly nữa không?” John Eye cười nhăn nhở, mấy chiếc răng vàng lóe sáng.
Bọn tôi nhìn nhau và cùng đưa ly ra. “Vì Werrer va Brah!” chúng tôi đồng thanh rống lên, O’Dell và tôi ngồi phịch xuống. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mấy cái ghế trong phòng khách của John Eye đều gãy hết cả.
Một lúc sau, cả bọn cùng nhau hát bài “Đồi việt quất” khi Roy Lee chuếnh choáng lái xe trên con đường đất của Snakeroot. Tag chặn xe lại khi chúng tôi leo lên đống nhựa trải đường gần nhà thờ. Anh đưa tay xua mùi rượu nồng nặc bốc ra từ trong xe khi Roy Lee quay cửa kính xuống. “Chào Roy Lee, O’Dell, Sonny. Mấy em đang làm gì vậy?”
Một giờ 30 phút sau, tôi ngồi trong bếp, đối diện với Mẹ, người tôi lắc lư, nụ cười bệnh hoạn chực chờ trên mặt. “Con say rồi à?” bà hỏi, tỏ vẻ không thể tin nổi.
Tôi chẳng biết mình có say hay không, nhưng chắc chắn là bệnh rồi. Trước đó tôi đã cùng O’Dell gục đầu xuống rãnh nước cả giờ đồng hồ. Tag đưa từng đứa trong bọn tôi về đến tận nhà. Trừng phạt, nhận định đúng hay sai được nhường lại cho gia đình phán xét. Mẹ Roy Lee xấn đến xách tai cậu ấy rồi lôi vào nhà. Chú Red bước ra từ hàng hiên, nghe xong câu chuyện bèn chỉ tay ra hiệu cho O’Dell đi thẳng về căn chòi ở sân sau. Hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy là cậu ấy thất thểu gục đầu đi men theo con đường, ông bố kè kè theo sau.
Trong khi Mẹ lom lom soi tôi từ đầu đến chân thì tôi vẫn ôm khư khư bốn chai rượu lậu quí báu của mình. Tag đã cho phép chúng tôi giữ lại sau khi nghe mục đích thật sự của nó. Thật đáng ngạc nhiên khi anh ấy lại thật sự tin tưởng bọn tôi. “Quỷ thần ơi, mấy đứa nhóc này,” anh hét toáng lên. “Sao các em không nói, anh sẽ mua hộ cho!”
Tôi chưa quá say hay bệnh đến nỗi quên nịnh nọt Mẹ. “Mẹ ơi, con thật tình, thật sự, thật lòng xin lỗi!”
Bà cười to. “Lần này thì khác, cậu nhóc quái đản của tôi ơi. Con không thể rửa chén, dọn phòng, nấu cật hay làm bất cứ thứ gì để chuộc lỗi này đâu. Bây giờ thì đem mấy cái lọ nước lửa của John Eye xuống tầng hầm đi - à, mẹ biết mấy thứ này dành cho việc chế tạo tên lửa rồi - cất chúng với mấy cái thứ quỷ quái con đang có dưới đó, chúng có thể làm nổ tan tành cả căn nhà này lên ấy. Sau đó thì lên lầu, tắm rửa, đánh răng, tẩy hết mùi rượu ra khỏi người và đi ngủ đi.”
“Chỉ vậy thôi hả Mẹ?”
“Chỉ có vậy thôi, cho đến khi mẹ nghĩ ra cái gì đó để trừng phạt con đích đáng,” bà nói, giọng điệu có vẻ thích thú.
“Nhưng con phải qua được cơn này đã!” tôi gào lên.
“Ừm, khó chịu lắm phải không? Bây giờ thì biến đi cho khuất mắt mẹ. Mẹ chẳng thể nào chịu nổi mấy tên say xỉn.”
“Mẹ...” tôi rên rỉ. “Đánh con hay bắt con làm cái gì đi!”
Bà lắc đầu và nhoẻn miệng cười. “Không.”
Tôi quỳ sụp gối và ngả đầu lên đùi bà. “Con xin lỗi,” tôi thều thào vào nếp gấp của chiếc áo ngủ của bà. “Con xin lỗi. Con xin lỗi. Con xin lỗi.”
Mẹ xoa đầu tôi trìu mến. “Sonny, mẹ chẳng trừng phạt gì con đâu,” bà nhỏ nhẹ nói. Tôi nhìn lên, môi khẽ nở nụ cười. Bà nhận ra ngay vẻ mặt tôi. “Thằng con hư đốn của mẹ ạ. Đáng lẽ mẹ sẽ đánh con một trận bằng roi mây. Nhưng nếu con hứa với mẹ rằng không bao giờ uống cái thứ đó nữa thì mẹ sẽ bỏ qua. Bây giờ thì đem nó xuống tầng hầm và làm theo lời mẹ dặn đi.”
Tôi gượng đứng thẳng dậy, gật đầu, rồi đi xuống hầm với mấy chai rượu lậu. Khi Bố về nhà, ông nhận ra ngay trong mấy cái chai đựng gì. Sau khi vừa “ôm ấp” cái lavabô lần nữa, tôi đi ra và nhìn thấy ông trong bếp. “Elsie, em có biết -”
“Có, Homer.”
“Em định cho nó cả quả ô liu để uống rượu martini vào lần sau luôn à?”
“Để xem.”
Cầu phúc cho Mẹ, tôi nghĩ, và tôi phóng vội vào toilet. Mặc dù đang chúi đầu vào trong bồn cầu, tôi vẫn nghe thấy cả hai cười vang. Rất lâu rồi tôi mới nghe họ cười lâu và sảng khoái đến vậy. Ước gì tôi có thể được cùng cười với họ.
ÔNG TỔNG QUẢN ĐỐC TẠM THỜI tên là Fuller được phái xuống từ công ty thép ở Youngstown. Ông ấy nói liến thoắng như súng liên thanh và cũng chả lịch thiệp chút nào. Ông không dọn vào pháo đài trên đồi mà lại ở trọ tại Club House, tỏ rõ hơn vai trò tạm thời của mình. Một ngày, ông triệu tập chú Dubonnet và những lãnh đạo của Liên minh Công nhân lại, nói rằng sẽ có những điều khoản công bằng được đặt ra nhưng việc mua bán phải được tiến hành ngay tức khắc, nếu ai không thích thì ông ấy sẽ phải trục xuất họ khỏi đây. Fuller thách thức UMWA về việc đình công và gạt phắt những thỏa thuận cuối cùng của Liên minh Công nhân. “Chẳng việc gì mà chúng tôi phải cho các người nhà ở, điện nước hay bất cứ thứ gì khác cả. Tên nào có ý kiến ngược lại thì quả là cực kì ngớ ngẩn.”
Chú Dubonnet phải nhún nhường và việc mua bán được tiến hành. Những hệ thống nước và chất thải ngoài Bluefield bị khóa lại, và một tháng sau thì mọi người ở Coalwood bắt đầu nhận hóa đơn cho những thứ mà trước đây họ nghiễm nhiên coi đó là miễn phí. Bảng hiệu NHÀ BÁN cũng mọc lên trước cửa nhà thờ. Tôi nghe mọi người bàn tán với nhau trước cửa Big Store rằng họ cảm thấy như công ty muốn đuổi cả Chúa trời ra khỏi thị trấn này thì phải.
Cha Richard và giáo đoàn của ông đã dành dụm đủ tiền mua lại nhà thờ và cứu được nó. Còn Cha Lanier thì bị mất việc khi hội Giám Lý tịch thu lại nhà thờ của ông. Mặc dù Cha xứ cũng thuộc hội Giám Lý nhưng ông lại nhận lương từ công ty nên giáo hội cho rằng ông đã suy đồi và chẳng muốn đón nhận. Người đàn ông tội nghiệp ấy phải cuốn gói ra đi, Mẹ bảo hình như ông ấy đến California. Sau này tôi nghe ông nói làm việc ở đài phát thanh trên đó. Trong khi hội Giám Lý tìm người xung phong đến phục vụ tại các vùng hoang dã của miền Tây Virginia thì lần đầu tiên trong đời, Nhà thờ Cộng Đồng của Coalwood bị khóa cửa.
Khi mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Ông Fuller cho sa thải rất nhiều nhân viên và rất nhiều người bị nhận thư thôi việc. Chú Dubonnet tổ chức một cuộc họp khẩn tại sảnh lớn của hội liên minh và mời công ty đến giải thích rõ sự việc, nhưng ông Fuller đã không xuất hiện. Tôi nghe Bố bảo với Mẹ rằng công ty cũng ra lệnh cho ông không được tham gia. Chú Dubonnet lại đến nhà tôi lần nữa. Bố mời chú ấy vào nhà và cuộc cãi vã diễn ra ầm ĩ, kéo dài dai dẳng. Tôi ở dưới hầm mà nghe họ quát tháo nhau gần cả tiếng đồng hồ, chẳng ai chịu nhường ai một lời. Rốt cuộc tôi nghe Mẹ bước vào can thiệp và yêu cầu cả hai ra khỏi nhà. “Tôi không thể chấp nhận các anh lớn tiếng trong nhà này được nữa, Homer, John,” bà bảo. Họ ra khỏi nhà và vẫn tiếp tục to tiếng, đi về đâu thì tôi mù tịt.
Tôi tiếp tục nghiên cứu mấy quả tên lửa của mình. Tôi trộn rượu vào hỗn hợp kẽm lưu huỳnh và cho ra một hợp chất màu xám đặc như đất sét. Tôi nhét chúng vào lõi cuộn giấy vệ sinh rồi ủ nó trong lò nấu nước nóng cho đến cuối tuần sau. Khi mấy đứa kia có mặt, tôi quẳng cái ống đó vào lửa, trong khi cửa lò vẫn khép hờ, và nó nổ tung kèm theo một tiếng vuuuuuúut rõ to! Tốc độ của cú nổ mạnh đến nỗi làm bật tung nắp lò, thổi bay ống khói lò và rồi khói xộc lên sân lùa theo cả bọn và lũ chó. Sự việc còn trở nên trầm trọng hơn, khi tôi trở vào bếp thì khói cũng đã bốc lên mù mịt. Tôi hốt hoảng chạy khắp nhà, mở toang hết mọi cửa sổ. Mấy đứa kia cũng theo tôi vào trong rồi dùng tạp chí và khăn quạt cho khói bay ra ngoài.
Cả Bố và Mẹ đều không ở nhà. Giờ này Bố vẫn còn đang ở khu mỏ, còn Mẹ thì đang đi mua sắm ở Welch. Mấy người đang loanh quanh ở trạm nhiên liệu phóng qua hàng rào chạy vào, họ đoán chắc rằng nhà đang bốc cháy. Có ai đó đang hét toáng lên rằng anh ta đã thông báo cho đội cứu hỏa ở Welch rồi. “Gọi lại nói họ đừng đến!” tôi van nài. “Không cháy đâu! Mọi việc ổn rồi!”
Tôi nghe tiếng bước chân giậm thình thịch từ hiên sau nhà và rồi Tag xuất hiện cùng một người đàn ông thấp đậm, có dáng vẻ của một thùng thuốc súng di động. Tôi chưa gặp ông ta lần nào song cũng biết ngay đấy là ai. “Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra ở đây thế này?” Ông Fuller hỏi gặng, điếu xì gà nghiến chặt giữa kẽ răng.
“À, chỉ là mấy cậu bé hỏa tiễn thôi,” Tag vừa nói vừa nhăn răng cười. “Các chú mày không làm cháy hết mấy chai rượu lậu đấy chứ?”
“Rượu lậu?” Ông Fuller đảo điếu xì gà qua phía bên kia mép, ánh mắt hiểm độc hướng về phía tôi.
Trong khi mấy đứa kia vẫn ra sức xua khói ra khỏi nhà thì tôi giải thích ngắn gọn cho ông tổng quản đốc mới về việc chế tạo tên lửa của bọn tôi và mấy chai rượu này được dùng vào mục đích gì. Ông cáu kỉnh hỏi, “Tụi bay cho phóng mấy quả tên lửa này ở đâu?”
“Một nơi rất xa ngoài thị trấn ạ,” tôi cam đoan với ông. “Rất rất xa ạ.”
“Có thuộc địa phận của công ty không?”
“Chỉ một tí thôi ạ,” tôi ngượng ngùng đáp. Sự bất đồng tình thể hiện rõ trên nét mặt cau có của ông.
Ông Fuller quay gót bỏ đi, anh cảnh sát lẽo đẽo theo sau. Lúc Mẹ về, bà khịt mũi khi nhận thấy mùi lưu huỳnh, rồi đi xuống tầng hầm, đứng nhìn cái lò nấu nước nóng bị hỏng. Quentin và tôi xuống theo đứng cạnh bà, chờ đợi cơn giận dữ khó tránh khỏi bùng lên. Vai Mẹ rung lên - tôi nghĩ bà đang khóc - nhưng không, thật sự là đang cười mới lạ chứ. Bà choàng tay ôm ngang hông tôi và Quentin. “Mấy con thật sự là ánh sáng của đời mẹ,” bà bảo. “Mẹ chờ ngày tống khứ cái lò than cũ rích này từ lâu lắm rồi. Lần này Homer sẽ phải mua cho mẹ một cái lò điện mới. Và sau này thì nước nóng sẽ luôn sẵn sàng mỗi khi mẹ mở vòi. Giống y như gia đình nhà Rockefeller vậy!”
Quentin sững người bên cửa nhìn Mẹ bước đi rồi thì thầm với tôi. “Cậu có một bà mẹ tuyệt vời nhất thế giới đấy!”
Tôi ngoảnh mặt lại bảo, “Mẹ tớ luôn có cách hành xử rất riêng”. Tôi mong rằng khi Bố về và phát hiện ra sự việc thì bà sẽ xử sự như vậy giúp chúng tôi vượt qua chuyện này.
Mặc dù tôi chắc chắn rằng ông Fuller đã kể lại hết cho Bố nghe về lần thí nghiệm thất bại này nhưng ông chẳng có ý kiến gì cả. Ngày hôm sau, Junior từ Big Store chở tới một chiếc bình nấu nước nóng chạy điện. Nó vang rền reo vui trong khi tôi đang nhồi thuốc nổ vào Auk XXII-A trên nắp máy giặt. Lần này tôi quyết định nhồi thuốc nổ đẩy vào theo từng đợt, mỗi lần chỉ vài centimet thôi. Tôi dùng cán chổi để nhồi hỗn hợp kẽm-lưu huỳnh và rượu lậu - tôi đặt tên là zincoshine - vào trong thân hỏa tiễn. Sau mỗi đợt nhồi, tôi hướng phần mở của thân ống về phía quạt để hong cho khô. Đợi đủ 3 giờ đồng hồ, tôi mới tiếp tục nhồi đợt tiếp theo. Cách này tốn nhiều thời gian nhưng cũng chỉ một tuần sau thì quả tên lửa mới đã sẵn sàng. Chúng tôi dán áp phích lên những nơi quen thuộc và Basil giúp quảng cáo thêm trên tờ báo của anh. Tuần sau đó đã có hơn 200 người đến theo dõi buổi phóng tên lửa tiếp theo. Có nhiều lời châm biếm rằng, một là chúng tôi sẽ có buổi phóng tên lửa tuyệt vời, nếu không thì sẽ làm nổ tung cả Coalwood như đã từng làm với lò đun nước nóng của Mẹ Elsie. Nhưng dù sao đi nữa cũng sẽ có một tiết mục hoành tráng cho mà xem.
Auk XXII-A không làm mọi người thất vọng. Nó điên cuồng phát ra động lực mạnh mẽ từ bệ phóng, vút lên khỏi cây định vị và xé toang thung lũng bằng âm thanh to như sấm nổ. Đám đông lùi hết cả lại, và đồng loạt thốt lên ahhh khi tên lửa biến mất sau vệt khói trắng dài tít tắp. Quentin lăn ra khỏi lô cốt rồi rút máy kinh vĩ, giơ lên trời. “Nó đâu rồi?” cậu gào lên. “Tớ không thấy nó đâu cả.”
Chẳng có ai trong bọn tôi có thể nhìn thấy nó cả. Nó đã bay ra khỏi tầm nhìn, đuôi khói đột ngột tan biến. Một lúc sau, tôi bất chợt lo ngại việc nó sẽ rơi xuống đâu và nhìn về phía khán giả của mình. “Tất cả vào trong xe mau!” tôi vẫy tay và hét lên bảo họ. Một số người còn vẫy lại.
“Tính giờ!” Quentin hét lên.
“Để tớ đếm!” Sherman đáp rồi nhìn xuống chiếc đồng hồ đã mượn của ai đó.
Tôi tiếp tục kiên trì ngước lên trời để tìm dấu vết của quả tên lửa mặc dù biết rằng việc nhìn thấy nó đầu tiên với cặp mắt bị cận thị của mình là không thể. Đám đông đứng bên kia đường như cũng đang dõi theo vết tích của nó như bọn tôi. Tôi bắt đầu lấm tấm mồ hôi. Nó ở đâu rồi? Rốt cuộc, Billy phát hiện ra nó trước tiên. Rồi tôi nghe thấy tiếng nó rít khi đang lao xuống. Cảm giác như nó đang rơi thẳng xuống đầu bọn tôi. Cả đám quyết định nấp vào lô cốt. Có tiếng cây gãy đằng sau, và rồi tôi nghe tiếng Pầm! đặc trưng của thép va vào nền đất núi.
“Ba mươi tám giây!” Sherman bảo.
Roy Lee nhìn Sherman thắc mắc: “Biết thời gian để làm gì?”
Sherman giải thích cách tính toán mới của bọn tôi cho Roy Lee hiểu. Quentin, tôi và Quentin đã thảo luận với nhau sau khi được cô Riley dạy cho một ít định luật Newton. Một vật rơi xuống mặt đất có gia tốc 98m/s. Công thức để tính ra quãng đường nó đã rơi là S = ½ at2, hay 16 lần bình phương của thời gian rơi. Nếu như cho rằng thời gian để tên lửa đạt tới độ cao tối đa ngang bằng với thời gian nó rơi xuống - một giả thuyết khá đúng, vì zincoshine cháy quá nhanh nên ngay từ lúc tên lửa rời khỏi bệ phóng thì nó đã bay như không có trọng lực - rồi chia đôi thời gian này ra, bình phương lên, và nhân với 16 thì sẽ cho ra độ cao gần đúng mà nó đã đạt tới. Một nửa của 38 là 19, bình phương lên là 361, và nhân với 16 là... “Một nghìn bảy trăm sáu mươi mét!” Sherman hớn hở tuyên bố.
Chúng tôi đã thành công! Chúng tôi đã vượt qua được mức 1 dặm! Billy lội qua con suối đến chỗ quả tên lửa rồi nâng cao nó lên khỏi đầu. Đám đông hò reo bên đường trong khi chúng tôi nhảy nhót cuồng loạn. “Một dặm! Một dặm! Chúng ta đã bay được một dặm!”
“Chúng ta sẽ bay vào không gian,” Quentin nói khi chúng tôi dừng lại để thở. “Chúng ta thực sự sẽ làm được.”
“Tớ thật sự muốn nói cho các cậu về điều này,” tôi gọi mọi người lại gần. “ Tớ đã đọc sách và họ nói rằng lên được đến 38 dặm là chúng ta có thể bắt đầu bay vào không gian. Tớ nghĩ rằng bọn mình sẽ làm được.”
Vào giây phút ấy, mọi người đều đồng loạt tin tưởng vào ý niệm đó, kể cả Roy Lee. “Hãy cùng nhau thực hiện nào!” cậu ấy ngửa cổ hét toáng lên trời cao.
“Thật phi thường!” Quentin hò theo. “Chúng ta chắc chắn sẽ được lên bìa báo Life!”
Sau khi bình tĩnh lại chút ít, bọn tôi dọn dẹp quanh lô cốt và vác quả tên lửa cùng dụng cụ khác ra xe của Roy Lee. Tôi nhìn thấy chiếc xe tải cuối cùng của người xem lăn bánh. Thì ra là xe tải của công ty và ngạc nhiên hơn nữa, người lái lại là ông Fuller.
Chiếc ống bạc lấp lánh bùng lên, kéo theo ngọn lửa rực cháy và cột khói nghi ngút, cưỡi trên ngọn gió và vút thẳng vào không trung. Một thông điệp của những cậu bé của Big Creek, họ đã dùng trí óc chứ không phải cơ bắp; và họ nghiên cứu với lửa của Apollo chứ không phải cứ lăn mình hùng hục với bóng bầu dục. Ôi, hỏa tiễn siêu tốc, tiếng gầm vang dội như sấm của mi tràn khắp thung lũng, làm thót tim biết bao chú nai và những người leo núi. Bay cao bao nhiêu nhỉ? Cả đám đông hoan hỉ hỏi. Nó còn bay cao hơn bao nhiêu nữa? Mấy chú bé ùa ra từ trong lô cốt và chạy xuống bãi đất nơi phóng tên lửa, gương mặt của những nhà khoa học trẻ ấy rạng ngời niềm vui. Ôi, Những Cậu Bé Hỏa Tiễn, vầng hào quang của quả tên lửa ánh lên bầu trời thật tuyệt vời. Một dặm, một dặm, họ reo vang. Chúng ta đã bay cao được một dặm rồi!
McDowell County Banner, Tháng 10 năm 1959
Bước tiếp theo, bọn tôi phải áp dụng được những công thức trong sách cho miệng tên lửa. Nhưng còn thiếu một con số quan trọng - xung lực chính xác của zincoshine. Theo định nghĩa trong sách, xung lực là lực đẩy mà tên lửa sinh ra khi đốt hết 0,54kg nhiên liệu trong một giây. Để làm được phép tính này thì bọn tôi phải tìm được cách cố định tên lửa lại trong khi đo đạc lực đẩy phát sinh. O’Dell nói chuyện với chú Fields, người bán thịt ở Big Store, để mượn cái cân - loại treo lên trần nhà dùng để cân sườn bò - và hứa rằng sẽ trả lại nguyên vẹn không trầy xước.
Tại Cape Coalwood, bọn tôi kẹp chiếc cân vào bên dưới tấm gỗ dài được gác trên giàn cưa. Sau đó bọn tôi chạy dây từ chiếc móc của cái cân đến phần đuôi của quả tên lửa đang được đặt trong một chiếc ống to hơn một chút, và chiếc ống sau đó cũng được kẹp vào tấm gỗ bằng một đai sắt cách điệu. Ý kiến của Quentin trong trường hợp này là quả tên lửa khi châm ngòi sẽ di chuyển xuống phía dưới cái ống và bị níu lại bởi sợi cáp nối vào chiếc cọc cắm thẳng dưới đất. Chúng tôi sẽ quan sát khoảng cách dây giãn ra bằng ống nhòm xem độ lớn của lực đẩy được tạo ra rồi đem số đó chia cho khối lượng chất nổ đẩy đã cháy và thời gian thí nghiệm diễn ra. Kết quả sẽ là số đo xung lực chính xác.
Chúng tôi có ý tưởng tốt nhưng kết quả thật tồi tệ và tình cảnh xảy ra hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của BCMA. Khi châm ngòi quả tên lửa Auk XXI-B, nó xịt ra đầy khói lửa và phóng xuống dọc theo chiếc ống, giật tung tấm ván gỗ ra khỏi giàn cưa, cắm xuống đất, bật nảy lên rồi ngắm ngay hướng bọn tôi phóng tới. Nó rít lên dữ dội bên trên lô cốt, cái cân cùng chiếc cọc của nó phóng theo sợi cáp, đập vào tảng đá ở dưới sông rồi bay vào rừng cây, va trúng tổ ong bắp cày. Mấy con ong bắp cày rõ ràng chẳng dễ gì bỏ qua, và rượt chúng tôi lên núi qua bên kia bãi than cám. Bọn tôi nấp ở đó và nhìn chúng lùng sục khắp nơi như cơn lốc xoáy. Khi hoàng hôn dần buông xuống thì chúng mới chịu giải tán. Sau đó chúng tôi quay về và tìm thấy chiếc cân đã vỡ tan tành. BCMA mất bốn buổi chiều Chủ nhật lau chùi cửa hàng thịt để bồi thường. Lúc đó ông Fuller ra khỏi văn phòng đến nhìn chúng tôi làm việc, chỉ nhìn mà chẳng nói gì, tôi thừa biết là ông đã nghe nói về những gì đã xảy ra.
Lần thử nghiệm tiếp theo là một dạng biến thể của lần trước và sử dụng chiếc cân trong phòng tắm của Mẹ. Tôi rất tin tưởng là sẽ trả nó về chỗ cũ nguyên vẹn vì lần này bọn tôi sử dụng một thiết kế tốt hơn (mà tôi là người nghĩ ra). Bọn tôi dùng vài thanh sắt nhặt ở sau xưởng kim khí điện máy và chế tạo ra một vật giống như là giàn khoan dầu thu nhỏ, đặt nó lên chiếc cân làm thanh chèn cho cái ống đựng hỏa tiễn. Chúng tôi còn để một chiếc gương ở trên “giàn khoan” để có thể đọc được chỉ số của chiếc cân qua ống nhòm. Sau đó bọn tôi chổng ngược đầu Auk XXII-C xuống đất rồi châm ngòi. Bị chiếc cân và bệ phóng chặn lại nên nó chỉ có thể đẩy. Tôi biết là nó sẽ hoạt động được và thực tế đã chứng minh thành quả của tôi. Trong vài giây đầu, chúng tôi đọc được chỉ số trên chiếc cân. Nhưng không may sau đó, Auk XXII-C biến thành một chiếc búa khoan. Nó bật lên bật xuống trong ống, tấn công chiếc cân liên hồi kỳ trận. Chiếc cân chịu được vài cú đập đầu tiên nhưng một tiếng rắc vang lên và nó vỡ bung ra. Khi chất nổ đẩy xì xèo cháy hết thì chiếc cân trong phòng tắm của Mẹ cũng tan thành từng mảnh rơi vãi trên bệ phóng.
Tôi cố gắng gắn lại các mảnh vụn với nhau, cố gắng đặt hết chúng vào trong và đậy nắp lại cho nhìn giống giống hình dạng ban đầu. Rồi tôi đem nó về chỗ cũ, thầm mong Mẹ sẽ không để ý. Trong khi tiếng xả nước trong phòng tắm còn chưa dứt thì Mẹ đã đạp tung cửa phòng tôi và tuyên bố. “Mẹ muốn có cái cân mới trong vòng một ngày.”
O’Dell đem lại một chiếc cân mới để trong phòng tắm cho Mẹ. Tôi không biết cậu ấy tìm thấy nó ở đâu và cũng không tiện hỏi mà chỉ đặt nó vào phòng tắm rồi trở ra.
Chúng tôi đã đem lại rắc rối cho mình - chẳng có gì lạ - nhưng cũng đã có được những số đo xung lực mới sáng chói cho zincoshine. Bây giờ mọi thứ gần như đã trở thành có thể.
AUK XXII-D là chiếc cuối cùng trong dòng tên lửa có khoét loe miệng. Tôi yêu cầu mấy người thợ máy thực hiện một thay đổi nhỏ cho Auk XXII-D là thu nhỏ kích thước bộ thăng bằng lại. Tôi để ý thấy quả tên lửa kẹo ngọt ngày trước đã lắc lư khi bay qua núi và bị cuốn vào luồng gió khi qua đỉnh. Tôi nghĩ rằng bộ thăng bằng nhỏ hơn thì sẽ tránh được tình trạng này và tên lửa sẽ bay chính xác hơn. Chỉ có một điều tôi không biết là O’Dell cùng Sherman, có nhiệm vụ đặt tên lửa lên bệ phóng, cũng để ý đến sự ảnh hưởng của gió. Các cậu ấy muốn tạo sự cân bằng nên để nghiêng một góc nhỏ về phía ngược hướng gió. Ngày phóng Auk XXII-Dlại có gió to. Gió rít ngang qua bãi than cám. Tôi quan sát mây, chúng đang cùng nhau trôi về phía tây ra khỏi Coalwood.
Để tạo sự cân bằng, O’Dell và Sherman nghiêng cây định vị một góc lớn hơn bình thường về phía ngược hướng gió. Tôi đang bận ổn định mọi việc trong lô cốt nên không để ý việc các cậu ấy vừa làm. Tôi đi dây ngòi nổ, xem Quentin và Billy đã chuẩn bị máy kinh vĩ chưa, kiểm tra với Roy Lee để đảm bảo bộ điều khiển mới đẹp mã có hoạt động không, và rồi tập hợp tất cả vào trong.
Nhiều lời đồn sau lần phóng tên lửa vừa rồi rằng quả tên lửa to lớn mới của chúng tôi sẽ rất nguy hiểm cho người xem. Nhưng điều này không làm họ sợ hãi, chỉ có điều tôi thấy một vài người cũng đem theo mũ bảo hộ lao động. Roy Lee giương cờ BCMA lên cột. Đó là tín hiệu cuối cùng. Tôi nhìn lá cờ, lòng lo ngại. Nó đang bay phần phật trong gió - phật phật phật.
Tôi dẹp nỗi lo của mình sang một bên. Đây là một quả tên lửa to lớn, nặng nề, chắc sẽ bay thẳng và chính xác. Tôi trở vào trong lô cốt, quỳ gối bên cạnh bộ điều khiển bằng gỗ Sherman và O’Dell chế tạo. Các cậu ấy còn gắn một nút bấm tận dụng lại từ bộ biến thế cũ của xe lửa chạy điện. Tôi bấm nút và hỏa tiễn zincoshine phóng lên trong tiếng gầm hoang dại. Nó bay thẳng, cắt ngang đỉnh núi mà không lắc lư. Sherman bắt đầu đếm, “Mười, mười một, mười hai...”
Tôi dõi theo đuôi khói của Auk và nó biến mất - vẫn hướng về Coalwood. “Không!” Tôi hoảng hốt hét lên.
Sherman rời mắt khỏi đồng hồ nhìn lên. “Hả?”
Roy Lee nhìn thấy việc tôi vừa phát hiện. “Thôi chết rồi!”
Mấy đứa kia cũng nhìn lên và khán giả cũng vậy. Mọi người đều gần như đồng thanh lặp lại câu Roy Lee vừa nói. Chúng tôi chạy vội về xe hơi của Roy Lee, đám đông đang giãn ra trước mặt bọn tôi. Cả bọn hét ầm trên đường đi, dán mặt vào cửa sổ xe hơi, cố tìm dấu vết chiếc Auk bướng bỉnh. “Các cậu biết không,” Quentin nói vẻ uyên bác, “tớ đoán là vận tốc tên lửa cũng ảnh hưởng đến sự ổn định của nó vào thời khắc ứng suất đạt mức cao nhất -”
“Im đi, Quentin.”
“Có lẽ tỷ lệ của áp suất gió và vận tốc có thể tính toán được. Thú vị nhỉ! Tớ nghĩ -”
“Câm ngay đi, Quentin!”
Frog Level vẫn yên bình, chúng tôi tiếp tục đi. Lên một đoạn nữa tại Middletown, chúng tôi trông thấy một đám đông tụ tập bên đường. Mọi người đang chạy đến xem chuyện gì xảy ra. Roy Lee rên rỉ. “Chắc bọn mình giết chết ai đó rồi!”
Auk XXII-D đã rơi xuống khoảng sân cạnh nhà thờ của Cha Richard Bé Nhỏ, nơi thường diễn ra những trận bóng bầu dục và bóng chày mini. Chúng tôi thật sự hoảng loạn, chắc đã giết chết một người chơi nào đó rồi. Cả bọn chen qua đám đông và nhìn thấy quả tên lửa nằm vùi trong cỏ, chỉ còn bộ thăng bằng và phần miệng trồi lên trên mặt đất. Mùi lưu huỳnh nồng nặc. Tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm rồi bắt đầu cười, và mọi người cũng cười vang cùng bọn tôi. “Trời ạ, mấy chú mày có thể bay thẳng đến Washington DC nếu cứ tiếp tục như thế này,” Tom Tickle kêu tướng lên. Bác Tom già là một thợ mỏ luôn ủng hộ bọn tôi.
Roy Lee vác các xẻng từ thùng xe ra rồi bắt đầu đào quả tên lửa lên trong khi mọi người xì xào về việc mình đang ở đâu khi nó rơi, rằng nó phát ra tiếng động và làm rung chuyển mặt đất như thế nào. Ông Fuller xuất hiện với chiếc xe tải, ngó qua rồi tuyên bố. “Chúng mày là một lũ gây rối! Đây là quả tên lửa cuối cùng trong thị trấn này.”
Lại nữa rồi, tôi nghĩ.
“Nhìn đây này,” Cha Richard bảo ông Fuller, “đừng có lăng nhăng bảo mấy đứa trẻ ngừng việc này lại. Chúng tôi tự hào về bọn nó lắm!”
“Ông không thể ngăn cấm những cậu bé hỏa tiễn được,” Tom nói. “Để chúng nó yên. Chẳng có ai bị thương đâu!”
Những tiếng phản đối vang lên từ đám đông. Ông Fuller tăm tia bọn tôi. “Bọn nó phóng tên lửa trong địa phận của công ty, và theo tôi thấy thì bọn nó còn sử dụng tài sản của công ty nữa. Tôi là người của công ty và tôi nói cho các người biết là bọn nó sẽ không được phóng nữa.”
“Xì,” Cha Richard bảo, “ông có thể là công ty nhưng những người đàn ông và phụ nữ ở đây, họ chính là thị trấn này.”
“Mấy đứa nhỏ vẫn tiếp tục được phóng tên lửa,” Tom bước về phía ông Fuller nói. “Ông có thể bán nhà, và kiếm lợi trên cả không khí chúng tôi đang thở, nhưng tôi cho ông biết, đừng hòng ngăn cản mấy đứa nhỏ này.”
Một phụ nữ, mà tôi nhận ra là người chơi đàn piano trong nhà thờ của Cha Richard, hích vào người ông Fuller. “Thị trấn này rất tốt trước khi ông xuất hiện. Bây giờ thì đừng có giở cái giọng Mỹ lai[34] ở đây và lảm nhảm những gì ông muốn và không muốn làm.”
Ông Fuller rút lui vào trong xe tải, hất hàm về phía tôi. “Ta sẽ nói chuyện với bố mày!”
“Cứ tiếp tục đi, mấy đứa,” Tom bảo bọn tôi. “Hãy tiếp tục phóng những quả tên lửa đó trên trời.”
“Nhưng tốt hơn hết là hướng chúng về phía đó nhé.” Một người khác nói và chỉ về phía Cape Coalwood.
NGAY LÚC vừa về đến nhà thì Bố gọi tôi lên khu mỏ. Tôi hít một hơi dài và lên đường. Cửa văn phòng của ông chỉ khép hờ. Ông đang suy tư bên tấm bản đồ của khu mỏ, một tay che con mắt hỏng. Ông quay sang khi nghe tôi gõ cửa. Khi nhìn thấy Bố, tôi thật sự bị sốc vì diện mạo của ông - không hẳn vì con mắt hỏng nhòe nước mà bởi gương mặt hốc hác. Từ khi có tuyên bố bán nhà, tôi rất hiếm thấy bóng dáng ông. Ông cầm lấy mũ. “Đi một vòng nào,” ông bảo rồi đưa tôi ra xe. Tôi để ý thấy ông khập khiễng mặc dù theo tôi biết thì tai nạn không ảnh hưởng gì đến chân ông. Ông trông có vẻ nhỏ hơn so với bình thường tôi vẫn thấy.
Tôi muốn hỏi ông đang đưa tôi đi đâu và làm gì nhưng rồi kìm lại. Ông lái xe chậm rãi xuống đường, ngang qua nhà chúng tôi, trường Coalwood và dãy nhà dẫn tới trung tâm thị trấn. Tôi giật mình khi thấy một ngôi nhà bên kia sông đang được sơn màu vàng chói. Nằm giữa dãy nhà màu trắng của công ty, ngôi nhà ấy nổi bật báo hiệu mọi thứ sẽ không còn như cũ. Nó là một trong những ngôi nhà đầu tiên được bán. Bố nhìn nó rồi đưa tay quẹt miệng như vừa xua đi điều gì muốn nói.
Ông chạy ngang qua nhà thờ Cộng đồng, cây thánh giá trên nóc hơi bị lệch. Cái khóa to đùng trên cánh cửa đôi, có vẻ thích hợp với cửa thiên đàng hay địa ngục hơn là cho một nhà thờ nhỏ ở miền Tây Virginia này. Sau đó chúng tôi đi ngang nhà thờ của Cha Richard Bé Nhỏ, qua Frog Level. Rõ ràng là đang hướng về Cape Coalwood. “Bố nghĩ con nên tận mắt chứng kiến việc này hơn là chỉ nghe nói lại.” Ông bảo trong khi tôi nhìn ông đầy thắc mắc.
Khi Cape Coalwood hiện ra, tôi nhìn thấy một chiếc xe ủi đang nằm trên bệ phóng của bọn tôi. Ông Fuller đi cạnh chiếc xe ủi, chỉ thị tài xế. Mấy tấm ván của lô cốt đang nằm vương vãi bên vệ đường, và một hàng rào kẽm gai chắn ngang lối vào bãi than cám. Trên đó treo một tấm kim loại vuông đề thông điệp từ ông Fuller, công ty, và xưởng thép đang sở hữu nó:
CẤM VÀO.
Máu tôi sôi lên khi nhìn thấy nó. “Bố, chính Bố cho con khu đất này mà!”
Ông nắm chặt tay lái và nhìn chăm chăm chiếc xe ủi. “Con đã hứa là sẽ không để quả tên lửa nào rơi xuống Coalwood nữa.”
“Đó chỉ là một sai sót kỹ thuật thôi, và bọn con đã sửa nó rồi.”
“Ông Fuller đưa ra quyết định này, và ông ấy hoàn toàn có quyền làm vậy,” Bố nói.
“Quyền gì chứ? Bố cho con mấy thanh gỗ đó, bọn con có ăn cắp đâu. Ngay cả xi-măng xây bệ phóng cũng vậy.”
Bố cân nhắc một lúc như đang suy nghĩ nên tiếp tục như thế nào. “Nghe này cậu nhỏ,” rốt cuộc ông nói, “Bố chẳng thể làm cái quái gì trong chuyện này cả. Con không thích cách mọi việc diễn ra ở đây? Đi học đại học rồi trở về đây. Vài năm sau, bố cá rằng con sẽ nắm quyền cả vùng đất này.”
Sự ngạo mạn dâng trào trong tôi. Tôi nói, “Bố, một khi thoát khỏi cái lỗ bẩn thỉu này thì cả bầy ngựa hoang cũng không thể kéo con quay lại được đâu.”
Lời tôi nói chủ đích công kích Bố và thực sự đã làm đau lòng ông. Ông thở dồn, giơ tay lên hướng về phía tôi. Tôi chờ đợi, biết mình đã đi quá xa, nhưng không có gì xảy ra. Ông buông tay xuống đùi. “Bố không thể tin là con nói về Coalwood như vậy,” ông bảo.
Tôi lập tức xin lỗi rối rít. Con và cái miệng bậy bạ của con thật khốn kiếp! Ngay sau đó, Roy Lee và O’Dell chạy ra từ xe của Roy Lee. Tụi nó đứng quan sát cảnh tượng đang xảy ra rồi nhìn tôi chờ chỉ thị. Tôi ra khỏi xe và dẫn tụi nó lại đống gỗ. Tôi nhặt một tấm ván lên và hai đứa kia làm theo. “Chúng ta sẽ dựng lại lô cốt,” tôi nói.
Một chiếc xe khác trờ tới, lần này là Sherman và bố cậu ấy. Sau đó lại thêm một chiếc khác của mấy chú thợ máy; rồi tiếp theo là chú Dubonnet, Tom Tickle và một vài thợ mỏ khác xuất hiện. Họ tụ tập trước hàng rào kẽm tai. Bố ra khỏi xe và khập khiễng bước về phía bọn tôi. “Homer, điều này không đúng tí nào cả,” chú Dubonnet bảo ông.
“Đây là vấn đề của công ty,” Bố đáp lại, trong giọng nói của ông thiếu đi sự dữ dội như thường lệ.
“Chúng tôi không phải là công ty mà là Liên minh Công nhân,” Tom nói.
“Các người về nhà đi,” Bố nói nhưng lời ông chẳng tạo được hiệu ứng gì.
“Chúng tôi sẽ chưa đi chừng nào chưa dựng lại lô cốt cho tụi nhỏ,” Tom bảo.
Mấy người đàn ông kéo sập hàng rào kẽm gai và bước vào bãi than cám với những thanh gỗ trong tay. Ông Fuller chạy ngược lên và bắt đầu chửi rủa, nhưng họ đẩy ông sang một bên. Chú Dubonnet dừng xe ủi lại, nói vài lời với tài xế và ông ấy lập tức rời khỏi bệ phóng. Tôi nhìn về phía lô cốt và thấy Bố bước về phía ông Fuller, lúc này ông ta đang nhảy cẫng lên và hò hét với tất cả mọi người. Bố chạm vào vai ông; ông ta quay phắt lại, kiễng chân và hét thẳng vào mặt Bố. Bố đứng nhịn một lúc rồi bất ngờ sấn tới, nắm lấy cổ áo ông Fuller rồi nhấc bổng ông ta khỏi mặt đất. Roy Lee chỉ về phía họ, cười khúc khích nói: “Hình như bố cậu đang dàn xếp thì phải.” Chú Dubonnet nhìn và cười phá lên.
Ông Fuller huỳnh huỵch rời khỏi bãi than cám, Bố quay lại và kéo tôi ra một bên. “Con có cả khu đất rộng lớn rồi đó. Nếu con cần thêm ống sắt, máy móc, tấm nhôm, thì cứ nói với Leon Ferro rồi bố sẽ kí duyệt cho. Lần này mà thất bại thì đừng có đổ lỗi cho bố. Con chỉ còn tự trách mình thôi đó. Hiểu chưa?”
Tôi nhe răng cười với ông. “Con hiểu, thưa Bố.”