Những Cậu Bé Hỏa Tiễn

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
20. KHO BÁU CỦA O’DELL

❊ ❊ ❊

MẮT CỦA BỐ KHÔNG THỂ HOÀN TOÀN LÀNH LẠI. Ông đã không đánh mất con mắt đó nhưng giờ đây nó chẳng điều chỉnh được tiêu điểm và lúc nào cũng nhòe nước. Bác sĩ ở Welch cho biết tình trạng này sẽ kéo dài cho đến cuối đời Bố. Ông phải đưa tay lên che con mắt hỏng lại để đọc báo hay xem tivi. Sau mọi việc, Bố và Mẹ vẫn giữ được sự hòa bình trong nhà tốt hơn tôi tưởng. Mặc dù rất hiếm khi nói chuyện nhưng họ lại làm như chưa có chuyện gì xảy ra. Còn tôi với Bố thì gần như chả có gì để nói rồi. Mẹ vẫn nhẹ nhàng hỏi han tôi về việc học nhưng chẳng đâu vào đâu cả. Còn đối với tôi thì Jim không khác nào một bóng ma trong nhà này. Thật hiếm hoi mỗi khi cả nhà ngồi ăn tối với nhau, nhưng cũng chỉ trong sự im lặng ngột ngạt và tiếng dao nĩa khua lách cách. Duy chỉ có Daisy Mae luôn là người bạn dịu dàng trung thành của tôi, không hề thay đổi.

Bây giờ, sáng sáng Mẹ ở trong phòng và để cho anh em tôi tự thức dậy đi học. Không có sự thúc giục của bà thì Jim vẫn không gặp vấn đề gì, vẫn kịp đứng điệu đàng cả giờ đồng hồ trong phòng tắm; nhưng tôi đã trễ xe buýt hai lần và phải xin quá giang đến trường. Vào lớp muộn, tôi bị gọi lên phòng thầy Turner cảnh cáo. Thầy bảo nếu như chuyện này còn xảy ra một lần nữa thì tôi sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng hơn những gì tôi có thể tưởng tượng ra. Nhưng rồi vào giữa tháng 5, sự việc này lại tái diễn, mặc cho tôi đã cố gắng mượn đồng hồ báo thức của O’Dell cũng không giúp ích được gì. Sáng hôm đó, tôi lại giơ tay bắt xe tại trạm nhiên liệu bên kia đường. Một lúc thì tôi thấy Jake trờ tới trong chiếc Corvette của anh. “Đi đâu đây?” anh mở toang cửa và hỏi tôi. Thật may mắn khi được gặp anh. Từ khi tai nạn xảy ra, anh ấy cứ ở mãi trên Ohio và tôi cũng chẳng biết vì lý do gì nữa.

“Đến trường Big Creek ạ, em đang bị trễ lắm rồi anh ơi!” tôi trườn nhanh vào xe.

Mắt Jake sáng rỡ lên. “Được thôi!” anh hét toáng lên và nhấn ga. Chúng tôi bắn nhanh qua khu mỏ và hướng về núi Coalwood. Anh hớp vài ngụm rượu rồi đưa chai cho tôi. “Em biết uống chứ hả?”

“Trước giờ học thì không ạ,” tôi trả lời một cách thành thật.

Anh lại đưa chai lên miệng tu ừng ực và rồi đánh vòng qua ba khúc cua một cách hoàn hảo mà không cần nhìn đường. Chợt tôi trông thấy Geneva Eggers vận chiếc quần vải dù và áo choàng len đang ngồi vắt vẻo trên tường rào trước cửa nhà. Tôi chùng người xuống ghế khi Jake giảm tốc độ, chạy rì rì và xoay cửa xe xuống. “Chào cô Eggers,” anh làm động tác giở mũ chào và chuyển sang giọng miền nam của vùng Tây Virginia. “Sáng nay cô khỏe không?”

“Ổn thôi Jake à,” cô đáp rồi liếc vào trong xe. “Em đang chở ai vậy? Ồ!” Cô nở nụ cười dễ thương khi nhận ra tôi. “Cháu khỏe không, Sonny? Cháu lại trễ xe buýt nữa à?”

Tôi càng chùng người xuống sâu hơn. “Vâng thưa cô,” tôi lí nhí đáp.

“Ừ, chẳng có chuyện gì đâu,” rốt cuộc cô nói sau khi hai chúng tôi đều im lặng nhìn nhau.

“Ồ, đó là một phụ nữ tốt đấy!” anh nói trong tiếng rít của bánh xe. “Hình như cô ấy rất thích em thì phải. Làm sao mà em biết người phụ nữ này?”

Tôi nhún vai. “Một lần nọ khi trời đầy tuyết, cô ấy đã cho em sưởi ấm bên bếp lò của cô.”

Jake ngoác miệng hết cỡ và cười hô hố như thường lệ.

Khi đến Big Creek, tôi cảm ơn Jake rồi vội vàng chạy vào lớp Hóa học. Khi vào đến nơi tôi mới nhận ra là đã để quên sách trên xe. Lúc Jake lững thững mang chúng vào, cô Riley thản nhiên nhìn sự xuất hiện của bọn tôi. Cô liếc nhìn anh khoảng vài giây, lâu hơn mức cần thiết rồi quay lại với tờ giấy điểm danh. Tôi vẫy vẫy tay ra hiệu cho anh đem sách lại cho tôi. “Cô giáo của em là ai vậy?’ đó là tất cả những gì anh muốn biết.

Tôi giới thiệu và họ bắt tay nhau. “Tôi nghĩ anh là kỹ sư phải không, anh Mosby?” cô Riley hỏi giọng thật dịu dàng mà trước giờ tôi chưa từng nghe thấy.

“Tôi có bằng cấp hẳn hoi Freida ạ, vậy mà nhiều người vẫn cứ phải hỏi rằng tôi có phải là kỹ sư hay không,” anh cũng đáp lại rất mượt mà. “Mấy cậu nhóc hỏa tiễn bảo tôi rằng cô là cô giáo yêu thích nhất của chúng, và tôi thật sự ấn tượng với khiếu thẩm mỹ của lũ trẻ.”

Cô đỏ mặt thẹn thùng rồi nhìn xuống đống sách vở trên bàn. “Ừm, nhớ ghé lại đấy nhé, anh Mosby.”

“Cứ gọi tôi là Jake,” anh đáp, nhấp nháy lông mày tỏ vẻ sẵn sàng. “Chắc chắn là vậy rồi, Freida ạ.”

Anh đi ra và ngoái đầu lại nói với tôi. “Quên xe buýt của trường đi nhé, nhóc. Anh lúc nào cũng sẵn lòng chở em đi học!”

Tôi không chắc rằng mình đã lờ mờ nhận ra Jake và cô Riley hẹn hò với nhau hay không nhưng một ngày nọ, cô gọi tôi đến bàn cô sau giờ học và tò mò muốn biết thêm nhiều thông tin về “anh Mosby”, rằng bạn bè của anh là ai, những người nào để ý đến anh ấy, vân vân và vân vân. Tôi nói dối, đương nhiên rồi, và nói với cô rằng anh được yêu mến và tôn trọng như thế nào ở Coalwood. Tôi cảm thấy mình nợ Jake ít nhất một lời tán dương. Mọi chuyện như một bài tập tạo mẫu nhân cách vậy, thật ngạc nhiên khi tôi nhận ra rằng mình đang ghen tị.

Vào giai đoạn cuối của năm học, đám học sinh lớp dưới và tôi đi qua sảnh với tâm trạng âu lo. Chúng tôi nghi ngại rằng những điều tốt đẹp đang dần trôi qua. Một cuộc họp của BCMA diễn ra trong phòng tôi trước khi năm học kết thúc, có rất nhiều thứ để bàn thảo. Bọn tôi cần tiền để mua bột kẽm. Ngoài ra, chúng tôi vẫn còn nợ ông Van Dyke tiền trả cho mấy cái điện thoại.

O’Dell nhòm quanh như muốn chắc chắn rằng không có ai đang nghe trộm. Nhưng trong phòng chỉ có bọn tôi và Chipper, Daisy Mae đang ngái ngủ. Thấy vậy, cậu bảo chúng tôi tụm lại gần hơn. “Ngoài kia có rất nhiều sắt vụn đấy các cậu ạ,” cậu ấy thì thầm. “Nó quí như vàng vậy. Chúng ta chỉ việc đào lên mà thôi.”

Cậu ấy tiếp tục giải thích. Sau khi đường ray bị tháo dỡ khỏi Coalwood, Công ty Đường Sắt N&W đã bỏ lại đoạn đường sắt ở vùng Big Branch hoang dã, cách Cape Coalwood 8km về phía tây. Nằm dưới những đường sắt là hệ thống thoát nước bằng gang. “Chúng ta sẽ làm thế này: đào những cái ống đó lên, đập chúng ra từng đoạn nhỏ rồi bán cho nhà thu mua phế liệu. Làm như vậy sẽ thu được rất nhiều tiền và hoàn toàn hợp pháp!” O’Dell quả quyết.

“Sao chúng ta không lấy mấy cái đường ray?” Roy Lee hỏi trong giọng điệu nghi ngờ và tỏ ra mình đang suy luận rất logic. “Lấy mấy cái đó dễ dàng hơn chứ.”

“Nếu chúng ta lấy đường ray thì nhà thu mua phế liệu sẽ nghi ngờ và báo với công ty đường sắt,” O’Dell trả lời.

“Có gì khác nhau nhỉ?” Sherman thắc mắc. “Nếu đào ống nước là hợp pháp thì sao lấy đường sắt lại phạm luật?”

Sự nghi vấn của Sherman và Roy Lee không nằm trong hành tinh của O’Dell. “Không,” cậu ấy đáp ngắn gọn như một câu trả lời.

Chúng tôi mất cả tháng để chuẩn bị cho chuyến thám hiểm, nên đến cuối tháng 6 thì chú Red mới chở tôi, Sherman, O’Dell và Roy Lee trên thùng sau của chiếc xe rác đến nơi có đường ray bị bỏ hoang. Quentin và Billy thì bận đi thăm họ hàng ở ngoại ô trong dịp hè. Bố của O’Dell bỏ chúng tôi lại cùng cả đống dụng cụ hỗn hợp đủ loại gồm lều bạt, túi ngủ, bếp trại, bốn túi chứa đầy đồ hộp (hầu hết là bò hầm), vài lốc nước có ga, vài bịch bánh mì trắng, hai thùng bánh trung thu lớn, nhiều hộp diêm, xe cút kít, hai xẻng, hai chiếc búa tạ, và một cái cuốc chim. Dụng cụ và xe cút kít được chúng tôi mượn từ nhiều gia đình khác nhau và góp những khoản tiền dành dụm nhỏ nhoi để mua thức ăn. Đầu tiên chúng tôi dựng lều trại trên một bãi đất trống nhỏ, bằng phẳng rồi bắt đầu đi dò tìm đường ống nước. Sau cùng cũng tìm thấy nó, nằm cách cầu gỗ khoảng 100 mét. Bọn tôi nhìn qua bờ bên kia, chỗ ống nước lồi lên. “Trời đất,” Roy Lee rên rỉ. “Nó nằm sâu dưới đất phải đến 3 mét ấy!”

“Vậy chứ cậu tưởng gì?” O’Dell gặng hỏi. “Cậu nghĩ công ty đường sắt lại để ống nước nằm lồ lộ trên mặt đất chắc?” Nói rồi cậu ấy cắm xẻng xuống vết đường ray còn để lại, nhưng xẻng chỉ lún được khoảng 1cm. “Đất cứng thật,” cậu ấy thừa nhận.

Tôi cầm cây cuốc khác lên thì bất chợt một con rắn hổ mang từ bên dưới trườn lên. Tôi nhảy dựng lên rồi bỏ chạy. “Lùi lại mau,” O’Dell hô to. “Để đấy cho tớ.”

Cậu ấy phạt một nhát xẻng về phía con rắn nhưng hụt khỏi con bò sát dễ sợ ấy phải đến 15cm; bị mất thăng bằng O’Dell ngã nhào xuống bờ đê. Tôi chạy đến mép đê tìm cậu nhưng chỉ thấy lớp bùn đen của dòng sông nằm sâu bên dưới. Tôi gọi cậu ấy nhưng không có tiếng trả lời. Cả Roy Lee và Sherman ngồi xuống vệt đường ray, ôm bụng cười. “Nếu cậu ấy té gãy cổ thì sao?” tôi lo lắng.

“Phải rớt từ độ cao 30 mét thì may ra mới làm cậu ấy bị thương được,” Roy Lee nói, giọng cực kì nghiêm túc.

Rốt cuộc O’Dell cũng bò lên vệt đường ray, cả người ướt sũng nhưng không bị thương gì, và cả bọn bắt đầu hì hục đào xới. Chúng tôi đào cả ngày hôm đó, hôm sau rồi hôm sau nữa. Ngày nào trời cũng đổ mưa, cả bọn cần mẫn đào, người lấm lem bùn đất. Ở chỗ cắm trại mọi thứ bị bám mốc và thức ăn bắt đầu thối rữa.

Tôi chẳng quan tâm đến điều đó. Sau mỗi ngày làm việc, bọn tôi xuống sông tắm rửa và ngồi quanh đống lửa trại lắng nghe âm thanh vọng ra từ rừng rậm - tiếng gió xào xạc trên những ngọn cây, tiếng nai đang nhai táo tóp tép, tiếng gấu trúc lạo xạo dưới bụi cây, và tiếng cú buồn rầu sầu thảm. Sau nhiều tháng sống trong lo âu và áp lực, tôi thật vui mừng khi thoát khỏi Coalwood và những rắc rối ở đó. Tôi đã không nhận ra mình cô đơn và khổ sở như thế nào cho đến tận khi tới sống ở vùng hoang dã Big Branch này. Ở đây, không có ai khác ngoài Roy Lee, Sherman và O’Dell, tôi như được làm một đứa trẻ hoàn toàn khác. Tôi gạt Coalwood và cả bố mẹ ra khỏi đầu để cảm nhận những âm thanh, khung cảnh và mùi vị của thiên nhiên mà Chúa ban tặng xung quanh mình. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi thật sự cảm nhận được niềm vui.

Khi màn đêm buông xuống và dòng sông sao bắt đầu vắt ngang bầu trời cao, bọn tôi trải túi ngủ ra rồi nằm lên đó trò chuyện. Sau khi nói chán chê về đề tài phụ nữ thì bọn tôi chuyển sang đề tài tương lai. Cả bọn đều nhất trí sẽ cùng bay vào không gian. Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ cần những chàng trai như chúng tôi để làm những nhà thám hiểm, những người phiêu lưu. Rồi sẽ có một cuộc phiêu lưu giống như chúng tôi đang làm ở Big Branch hiện giờ. Nếu chúng tôi nằm đây lâu hơn, có lẽ sẽ được diễm phúc trông thấy vệ tinh - của Mỹ hay Nga, ai biết được - bay ngang bầu trời. Nghĩ đến việc được nhìn thấy nó vẫn làm tim tôi đập nhanh hơn.

Sau 5 ngày đào xới, rốt cuộc bọn tôi được tưởng thưởng bằng tiếng cuốc chim chạm vào gang. Đến khi hoàn tất việc đào hết lớp đất bao phủ đường ống, cả nhóm trông giống như những người bùn ở Borneo đang đứng tôn sùng một di tích cổ. Sherman cầm búa tạ lên, giáng mạnh xuống đường ống cứng đầu. Sau đó đến lượt tôi đập liên hồi tới khi có vết nứt hiện ra. Và rồi O’Dell cũng thành công khi đập vỡ toang ra một mảnh. Tất cả chúng tôi cùng nhau nhảy xuống hố và nâng niu mảnh kim loại hình tam giác vừa văng ra. Dù gì cũng mất cả tuần lễ mới đập ra được một mảnh bé tí này mà. Cả bọn không hề nản lòng và mạnh mẽ lên theo từng ngày, kĩ thuật đào bới cũng được cải thiện đáng kể. Chú Red chở thêm thức ăn tới. Hai tuần sau, chúng tôi đã đào được một đống kho báu bằng gang chất cao ngang với chiếc lều.

Đến ống nước thứ mười, tới phiên tôi nhảy vào cái hố sâu hoắm để đập vỡ nó. Sau khi dùng búa tạ nện vỡ ra được một đống kim loại lởm chởm thì tôi trèo lên. Trong lúc lồm cồm bò lên, tôi bị trượt và vội đưa tay ra sau tự đỡ mình. Lúc đó tay tôi quẹt vào đống kim loại và cảm thấy một cạnh sắt đã cắt ngang cổ tay.

Không đến nỗi quá đau. Roy Lee bắt đầu cười, không phải vì cú ngã của tôi có gì buồn cười, mà do cậu ấy đã quá mệt nên bị choáng. Tôi nhấc tay ra khỏi đống gang rồi nhìn vào cổ tay mình đang nhuốm máu đỏ tươi, sau đó một tia máu bắn ra. Tôi cười khi thấy một dòng máu tuôn xối xả. O’Dell cũng nhìn thấy và cười theo,

Sherman cũng vậy. “Nhìn này,” tôi cười khúc khích và bò ra khỏi hố, “tớ đang chảy máu đến chết đây.”

Roy Lee ngồi xuống, mặt đỏ lựng lên vì cười quá nhiều. “Đúng rồi,” cậu ấy cười như nắc nẻ. “Cậu thật sự chảy máu đến chết rồi đấy!”

“Để tớ xem nào!” O’Dell nói, giọng nghiêm trang rồi cầm lấy cổ tay tôi. Có một vết cắt ngang dài 2,54cm và tôi có thể thấy một hình chữ O nằm lồ lộ trên động mạch chủ. Đột nhiên tôi cảm thấy chóng mặt, ngồi xuống và đờ người nhìn vào dòng máu đỏ tươi đến khi bắt đầu cười lại, và tiếp đó cả đám cùng nhìn nhau cười một cách ngốc nghếch. “Chúng ta phải làm cho máu ngừng chảy ngay,” rốt cuộc O’Dell phán. Cậu ấy cởi áo sơmi ra, rịt vào vết đứt, rồi xé một mảnh làm ga-rô. Cậu ấy dùng nó rồi buộc trên vết thương 15cm rồi xiên một cây que qua và xoắn cho chặt lại. “Chúng ta phải tìm “Thầy lang” thôi,” cậu bảo.

Tôi không còn cười được nữa. Mặc dù ngày hè hôm ấy rất oi bức nhưng tôi lại cảm thấy thật lạnh. Tôi buông mình ngồi xuống đường ray, tay ôm đầu, đầu óc quay cuồng. “Tớ sẽ chờ ở đây, cậu đi tìm “Thầy lang” đi,” tôi nói, mắt bỗng dưng nặng trĩu. “Chắc tớ chợp mắt một lúc.”

“Bọn tớ mà đi là sẽ hết cả ngày hôm nay đấy,” O’Dell bảo và nhìn độ cao của mặt trời, “và trời sẽ sụp tối. Đến lúc bọn tớ quay lại thì...” Cậu ấy nhìn tôi. “Sonny, thức dậy đi! Cậu phải đi theo bọn tớ thôi.”

Tôi trượt khỏi đường ray, đẫm mình vào bùn đất, nắng thiêu đốt trên mặt. “Không, tớ không đi đâu...”

Sherman và Roy Lee lại cười, nhưng O’Dell ngăn bọn họ lại. “Chúng ta phải đi tìm “Thầy lang” ngay, các cậu ạ. Việc này nghiêm trọng rồi đấy!” Cậu ấy xoắn cái ga-rô chặt hơn. “Chúng ta phải làm nhanh lên không thì cậu ấy sẽ chết mất.”

“Chết?” tôi ngóc đầu lên. “Ai sẽ chết?”

“Cậu chứ còn ai nữa, ngốc ạ!” O’Dell quát rồi xốc nách tôi, cố sức kéo tôi đứng dậy. Mấy đứa kia cũng bắt đầu tỏ ra nghiêm túc và xúm lại giúp đỡ. Tôi tựa vào Sherman và bọn tôi tập tễnh bước đi dọc theo đường ray.

Mất 6 tiếng để đi bộ ra khỏi đó. Đến Frog Level thì trời đã nhá nhem tối. Tôi nằm lăn ra giữa đường trong khi O’Dell chạy đi tìm bố cậu ấy. Trong lúc này, tôi lờ mờ nhìn thấy vệ tinh và rồi thêm một cái nữa, hàng loạt vệ tinh vút ngang thiên đường, đỏ và hồng và trắng và xanh dương và xanh lá cây, và rồi cả bầu trời bắt đầu xoay, ban đầu chầm chậm, sau nhanh dần, nhanh dần. Sherman và Roy Lee lần lượt đánh thức tôi dậy, nhưng lúc O’Dell quay lại thì tôi đã bất tỉnh hoàn toàn. Chú Red bế tôi lên đặt trong thùng xe rác. Đến nhà “Thầy lang”, vợ ông ra mở cửa, bà bịt mũi vì mùi hôi và bảo rằng ông không có nhà, có lẽ đang ở văn phòng. Và thật may chúng tôi tìm thấy ông ở đó. Ông cũng bịt mũi (thùng sau của xe rác đã tăng thêm chất nhờn và mùi hôi mốc từ khu trại của bọn tôi lên tột đỉnh) và đưa tôi vào phòng khám. Ông đặt tôi lên bàn, tháo ga-rô đã ướt sũng ra, rồi quan sát chăm chú phần máu nhợt nhạt ít ỏi còn sót lại trong tôi và lấy dụng cụ khâu. “Cháu có muốn ta chích thuốc tê không?” ông hỏi.

“Vâng có, thưa Bác sĩ,” tôi nói trong trạng thái chếch choáng.

Ông nhún vai. “Bố cháu lãnh hết mấy mũi khâu lên trán mà không cần một tí thuốc tê nào cả.”

Tôi đột nhiên muốn thử thách với ông. “Vậy cháu cũng không cần.”

Ngay sau đó “Thầy lang” đâm kim vào da tôi. Tôi đau quá, hét toáng lên. “Làm tê đi. Làm tê đi.”

“Không được, đã quá muộn rồi,” “Thầy lang” bảo. Ông vui vẻ khâu trong khi mồ hôi đọng thành từng hạt to trên trán tôi. Tôi quay cuồng, gần như muốn ngất xỉu mỗi khi kim xuyên qua da thịt. “Tốt lắm, Sonny,” cuối cùng ông cũng lên tiếng, thời gian trôi qua như dài cả thế kỷ. “Xong hết rồi. Ngồi dậy đi.”

Tôi ngồi bật dậy rồi ngất xỉu ngay sau đó. Tôi thức dậy trên chiếc giường có chấn song, Mẹ đang nhìn tôi, khăn mùi xoa bịt chặt trước mũi. “Sonny, lạy Chúa, con làm mẹ lo lắng quá.”

“Chào Mẹ.” tôi mỉm cười yếu ớt.

“Thầy lang” ló mặt vào. “Mấy đứa kia dìu nó ra đây. Cái ga-rô đã thật sự giữ được mạng nó đấy.” Nói rồi ông nhấc tay tôi lên và quan sát miếng băng xung quanh cổ tay. “Cháu sẽ có một vết sẹo lớn đấy, anh bạn trẻ à, nó sẽ luôn nhắc nhở cháu về cuộc phiêu lưu đặc biệt này.”

“Chúng tôi về nhà được chưa Bác sĩ?” Mẹ hỏi.

“Tôi hy vọng là vậy,” ông nói. “Mấy cái máy xông hơi lúc nào cũng sẵn sàng cả.”

Mẹ dìu tôi ra ngoài, mấy đứa kia bật dậy trong phòng chờ. Tụi nó vây quanh xe khi tôi buông mình xuống băng ghế. “Đi thu lượm đống phế liệu đi,” tôi thì thào.

Mẹ bắt tôi tắm rửa sạch sẽ dưới hầm rồi mới cho lên nhà. Tôi nằm trên giường và nghe Bố vừa trở về từ khu mỏ. Rồi cửa phòng tôi mở toang ra. Bố và Mẹ cùng đi vào. “Con không sao chứ, cậu nhỏ?”

Thật tuyệt khi được nghe giọng Bố. “Con ổn rồi,” tôi đáp và nhìn lên bố mẹ mình. Nhìn họ đứng cùng nhau, tôi cảm thấy thật hạnh phúc và phải thật cố gắng để nén lại những giọt nước mắt. “Cho con xin lỗi như mọi khi.”

Bố nói, “Con chẳng việc gì phải...” nhưng tôi đã chìm sâu vào giấc ngủ trước khi ông kịp nói hết câu. Giấc ngủ hôm ấy mang những mộng mị đầy màu sắc xoay quanh, như thể tôi đang nằm trong một chiếc kính vạn hoa khổng lồ đang quay tròn. Một lần tôi tỉnh dậy và ngạc nhiên thấy Jim đang ngồi trên bàn trong phòng và nhìn tôi, tỏ vẻ quan tâm. Tôi đang mơ chăng?

Hôm sau, trong khi tôi còn ngủ, mấy đứa kia quay lại Big Branch và chất đống phế liệu lên xe rác chở đến Nhà thu mua phế liệu Chester Matney ở Welch; bỏ lại đống dụng cụ và chiếc xe cút kít. Chú Matney cân cẩn thận - hơn 180kg! - rồi đếm 25 dollar 50 xu trả cho chúng tôi. Vậy mà bọn tôi đã dự toán rằng sẽ được ít nhất 1 dollar cho 0,5kg. Nhưng chú Matney phản bác và cho biết giá cả đã tụt xuống trầm trọng. Sau khi khấu hao đi tiền lương thực, không tính chi phí cho đống dụng cụ bị mất và túi ngủ bị hỏng, chúng tôi kiếm được 4 dollar. Đó là trước khi “Thầy lang” gửi cho tôi một hóa đơn cá nhân trị giá 5 dollar cho “mấy mũi khâu và tiền công.”

Nhưng Jake đã đứng ra giúp đỡ chúng tôi. Nếu như bọn tôi hứa sẽ chùi rửa và đánh bóng cho chiếc Corvette của anh suốt đời thì anh sẽ trả nợ cho. Chúng tôi thỏa thuận rồi trả nợ cho ông Van Dyke, “Thầy lang” và cả những người cho chúng tôi mượn dụng cụ.

Chúng tôi cũng mua được 4,5kg bột kẽm.

Người dịch:Lâm Thanh Tùng - Làm ebook: thanhbt - Ngày hoàn thành: 04/09/2015
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.