TỪ MẸ, TÔI THU THẬP được tin tức của những gì vừa xảy ra. Ba giờ trước, hai chiếc quạt gió bị sét đánh, và 30 phút sau, một vụ nổ đã xảy ra gần công trường. Sau đó dĩ nhiên là chiếc “hắc phôn” reo inh ỏi, Bố biết rằng hầm đã bị sụp, nhiều công nhân bị thương và có lẽ bị mắc kẹt bên trong, khí mê-tan chắc chắn đang lan tràn khắp đường hầm. Nếu quạt gió không hoạt động trở lại, một vụ nổ lớn sẽ bùng lên khắp hầm mỏ. Bố ra lệnh cho mọi người ra khỏi hầm ngay, sau đó ông dập điện thoại và lao về khu mỏ.
“Mẹ đã bảo ông ấy đừng có vào trong đấy,” bà thốt lên cay đắng. “Hãy để cho đội cứu hộ làm việc này. Nhưng đó không phải là cách Bố cam chịu. ‘Anh phải đích thân đi,’ ông ấy nói. Mẹ bảo ông ấy chẳng bao giờ có thể để ai khác vào khu mỏ yêu dấu đó mà không có sự có mặt của mình phải không.”
“Rốt cuộc con cũng về nhà rồi,” bà bảo tôi. “Mẹ không cần biết con đã ở đâu. Bây giờ thì về phòng và đi ngủ đi. Jim cũng đang ngủ. Bất kể điều gì xảy ra trong cái hầm bẩn thỉu ấy không liên quan gì đến hai con đâu.”
Nghe lời Mẹ, tôi về phòng rồi ngóng ra ngoài cửa sổ, nhìn thấy xe hơi và xe tải băng qua vội vã hướng về phía khu mỏ. Sau đó tôi nhìn thấy xe cứu thương đến từ Welch bên kia núi. Sấm rền vang dữ dội, chớp chói lòa và mưa xối xả tuôn như muốn nhận chìm mọi vật. Dân cư trong thị trấn nháo nhác dưới những chiếc dù, áo khoác kéo khít lên đến cổ.
Tôi không thể lẩn trốn trong phòng và không biết chuyện gì đang xảy ra được. Tôi bèn mở cửa sổ, leo ra ngoài mái hiên, tuột xuống gờ mái, bám vào bậu cửa sổ và thả mình xuống sân. Rồi tôi phóng qua hàng rào, hòa mình cùng dòng người đang tuôn về phía khu mỏ. Hầu hết mọi người ở Coalwood đang tụ tập ở đấy. Một rào chắn được dựng lên, đứng phía trong là những người phụ nữ có chồng đang mắc kẹt dưới mỏ. Tôi nghe mọi người bàn tán xôn xao. Đội cứu hộ đã xuống đó vài tiếng rồi nhưng chưa nghe có phản hồi gì.
Tôi nấp dưới bóng của nhà tắm và quan sát. Đầu óc tôi rối loạn - có quá nhiều chuyện xảy ra trong đêm nay. Dorothy đã thực sự đi ra khỏi đời tôi. Sau đêm nay, khi thấy nàng cặp kè cùng Jim, cảm giác của tôi về nàng đã không còn như trước nữa. Tôi trông thấy thành viên của Đội quân Cứu tế[33] đang ban lời cầu nguyện cho những ai cần nó. Chợt tôi nghĩ về Valentine và chẳng cảm thấy vui vẻ gì. Kỉ niệm đầu đời của tôi thật bi đát. Valentine đã yêu tôi bằng lòng thương hại.
“Thầy lang” đứng đợi cạnh xe cứu thương cùng đội của ông, còn ông Van Dyke thì cùng mấy người thuộc hạ và kỹ sư đứng nhìn ra từ hiên nhà ngoài văn phòng của Bố. Jake cũng có mặt. Những đứa trẻ tụ tập xung quanh bố mẹ chúng và cũng lặng im như người lớn. Bỗng một em bé khóc òa lên sau hàng rào, một cô thuộc Đội quân Cứu tế bồng nó và dỗ dành trong khi Mẹ nó chùng xuống trong vòng tay của một người phụ nữ khác.
Giông tố đã lặng im, mọi người bắt đầu xì xào phấn khích khi thấy thang máy kẽo kẹt đi lên, nhưng trong đó chỉ có vài công nhân của đội rải bụi đá. Họ báo lại rằng đội cứu hộ đã mò xuống được gần công trường, nhưng chiếc xe nâng bị chôn vùi khi hầm bị sập lấp mất đường đi, và họ đang cố gắng kéo nó ra. Thông tin này làm mọi người được dịp lao xao. Tôi lại gần nghe ngóng hai người công nhân đã nghỉ hưu khò khè giải thích cho “Thầy lang”. “Họ sẽ phải dùng tay đào chiếc xe nâng đó ra, Bác sĩ à, rồi họ sẽ dùng cột dây và dùng máy kéo nó ra khỏi đó.”
“Sao họ không nổ tung nó cho rồi?” “Thầy lang” thắc mắc.
“Không được, làm vậy thì cái khí mỏ đen sì dưới đó sẽ nổ tung lên,” người thợ mỏ già phản bác bằng ngôn ngữ chuyên ngành. “Hoặc là nó sẽ làm cho banh chành cả dãy trần. Không được đâu, chỉ còn cách đào bằng tay mà thôi.”
“Việc này mất bao lâu nhỉ?”
“Khoảng vài giờ hay hơn nữa không chừng, phụ thuộc vào lượng đất đã ập xuống. Mấy người đó vẫn còn cơ hội sống sót nếu đội cứu hộ xuyên thủng được sớm. Còn nhiều không khí trong đó lắm, mà tôi nghe mấy cái quạt đã được sửa rồi. Họ chỉ cần đào một lỗ nhỏ là được. Không sao đâu Bác sĩ, họ vẫn còn nhiều cơ may. Ông cứ chờ xem nhé!”
Đêm chậm chạp trôi qua, mưa đã ngừng hẳn, mây xám tản dần đi, và những đốm sao lần lượt nhấp nháy hiện ra, trông thật lạnh lẽo và xa vời. Cái lạnh vần vũ trên những ngọn cây men theo sườn núi, nhưng cũng giống như những người khác, bây giờ tôi chỉ tập trung cùng sự im lặng tại nhà than và cái trục kéo thang máy đang đông cứng kia. Dường như đường hầm đang thở dài não nề theo từng đợt khói bốc lên từ dưới lòng đất, và như đang thì thầm một lời cảnh báo. Ông Van Dyke vừa nói chuyện điện thoại xong và đi ra ngoài hiên văn phòng; lời bàn tán bắt đầu râm ran: Một người trong đội cứu hộ bị thương nhưng họ đã xuyên thủng được bức tường sụp. Thậm chí có một vài người đã tử nạn. Những người vợ đứng sau hàng rào gục đầu lầm rầm cầu nguyện. Bỗng trục kéo thang máy kẽo kẹt, mọi người ngước lên và bắt đầu nhìn về phía nó. “Thầy lang”, Cha Lanier và Richard tiến lại đường hầm, đứng chờ cạnh cánh cửa trong khi dây kéo thang máy ì ạch chuyển động. Ai cũng căng thẳng, mặc nhiên hiểu rằng đây là điều họ đang mong chờ.
Khi thang máy lên đến nơi, hai thành viên của đội cứu hộ lộ dần, được nhận diện bởi chiếc mũ bảo hộ với hình chữ thập màu xanh. Họ khiêng ra một cái cáng, thi thể nằm trên đó được phủ một tấm chăn màu xám. Một người thợ mỏ mở cửa thang máy rồi tránh sang một bên để nhường đường khiêng cáng ra ngoài. “Thầy lang” kéo chăn lên, bỏ mũ xuống và nói gì đó với những người vợ. Hàng rào mở ra và một phụ nữ xiết chặt áo khoác vào người, dường như đang cảm thấy rất lạnh, lặng lẽ bước tới. Bà đĩnh đạc đi theo chiếc cáng lên xe cứu thương. Khi bà đi ngang qua, dưới ánh đèn của phòng tắm, tôi nhận ra đó là Mary Bykovski. Tôi buột miệng rên lên. Cầu xin đức Chúa, con muốn cơn ác mộng này kết thúc thật nhanh.
Tôi định cất bước theo cô, nhưng có giọng ai gọi giật lại. “Không, không phải lúc này.” Thì ra là Mẹ.
Khi bà ra khỏi góc tối, ánh mắt bà như xuyên thấu tim tôi. Tôi bắt đầu buông những lời bào chữa hèn nhát mong bà hiểu cho tôi, nhưng trước khi tôi kịp mở miệng thì bà đã dùng hết sức bình sinh táng tôi thật mạnh. Tôi choáng váng, má nóng bừng và nước mắt trào ra, có lẽ vì bàng hoàng hơn là cơn đau vừa nhận lấy. Mặt bà nhăn nhúm lại vì giận dữ. “Mẹ đã bảo con không được đến đây mà,” bà quát.
Tôi đứng như trời trồng. “Con lo cho Bố mà.”
“Không phải,” bà rít lên. “Con chẳng lo lắng cho ai khác ngoài bản thân mình cả. Con luôn như thế mà - thật ích kỉ!” Bà quay phắt vẻ khinh bỉ rồi bước đi, hòa lẫn vào đám đông, khuất khỏi tầm mắt tôi.
Tôi đổ phịch vào tường nhà tắm, tay áp chặt lên má như vừa bị dán keo. Lời Mẹ cứ đánh loạn lên trong óc tôi: ích kỉ. Xe cứu thương chở chú Bykovski bắt đầu lăn bánh và từ từ hướng xuống đồi, ra đường Cái. Tôi dõi theo và cầu nguyện: Hãy cho mọi đau khổ qua đi. Cầu xin ơn Chúa ban phước lành, hãy cho mọi đau khổ qua đi. Lời cầu nguyện của tôi nghẹn lại trong cổ. Thi thể chú Bykovski đang nằm trong chiếc xe cứu thương kia rồi, lời cầu nguyện này chỉ còn dành cho riêng tôi mà thôi. Có lẽ Mẹ nói đúng. Tôi luôn là thằng ích kỉ. Lại thêm một lý do để tôi tự khinh miệt bản thân mình.
Thang máy lại kẽo kẹt chuyển động đi lên, những người vợ đang đứng đợi chợt rùng mình như có một ngọn gió lạnh buốt vừa thổi qua người họ. Khoảnh khắc đó như kéo dài bất tận, nhưng rồi rốt cuộc một toán người cũng bước ra, mặt họ đen sì như bầu trời đêm. Một vài người phải tựa vào người khác mà đi. Một thành viên của đội cứu hộ đặt chân lên mặt đất và tuyên bố dõng dạc với những người vợ: “Tất cả đều sống sót.”
Tất cả đều sống sót! Những người vợ xô ngã hàng rào, ùa đến cạnh chồng họ. Một vài người té ngã nhưng đứng bật dậy tiếp bước ngay. Họ lao vào chồng, chẳng màng tới lớp bụi than lấm lem dính đầy vào quần áo. Những đứa bé cũng mừng rỡ vây quanh, bám lấy chân của bố chúng.
Sau cùng tôi cũng trông thấy Bố bước ra khỏi thang máy một mình. Mũ bảo hộ của Bố đã biến mất, còn trên mắt ông là một miếng băng nhuốm đầy máu. Bố cất bước khó nhọc về phía ông Van Dyke. Ông tổng quản đốc bước xuống từ hiên văn phòng và trịnh trọng bắt tay Bố. Sau đó đội cứu hộ vây quanh và vỗ lên lưng ông biểu hiện sự thân mật. Ông lờ đờ đón nhận những lời tán thưởng rồi loạng choạng bước đi, chân nặng nề như đeo chì. Mẹ tôi rời khỏi đám đông nhưng lại không đến bên cạnh Bố. Bà chỉ bước theo sau. Tôi nghĩ bà biết rằng lúc này, quan trọng hơn hết là phải để ông tự mình đi về nhà. Tôi đợi đến khi họ đi xuống đồi ra đến đường Cái rồi bước theo, chỗ bị Mẹ tát trên má tôi vẫn còn nóng bừng.
Mẹ và Bố đang ở dưới tầng hầm - tôi nghe thấy tiếng nước chảy - khi tôi lách vào nhà rồi chuồn lên phòng. Sau đó tôi nghe tiếng bước chân họ lên cầu thang rồi nghe Bố đặt mình xuống giường. Còn Mẹ trở xuống nhà dưới.
Chiếc “hắc phôn” reo vang. Tôi cảm giác bây giờ nó to gấp 10 lần so với ngày thường. Mẹ chạy vội vào nhưng bà không nhấc máy mà giật phăng nó khỏi tường, mở cửa trước và quẳng nó ra sân. Tôi bước ra khỏi phòng, lo rằng bà sẽ tự làm đau mình.
Chiếc “hắc phôn” trong phòng Bố vẫn còn réo vang. Bà phóng hai bước một lên lầu, đẩy Jim - đang ngái ngủ và càu nhàu xem việc gì đang diễn ra - sang một bên. Bà xẹt ngang qua tôi rồi mở toang cửa phòng Bố, mở cửa sổ và giật nốt chiếc “hắc phôn” còn lại khỏi tường rồi quẳng ra ngoài. “Đi mời Bác sĩ tới đây,” bà ra lệnh cho tôi. Tôi định xuống cầu thang nhưng “Thầy lang” đã tới nơi, đang bước vào hành lang dưới và bước lên lầu. Ông chẳng nói gì với tôi nhưng ôm chầm lấy Mẹ. “Mọi việc sẽ ổn thôi Elsie.” Ông bảo.
“Từ lúc nào chứ?” bà nức nở. Cả hai đi vào phòng Bố và đóng cửa lại.
Khi “Thầy lang” bước ra, tôi cùng Jim đang đứng đợi trong sảnh. Bọn tôi chẳng nói với nhau nửa lời. Thực tình, chúng tôi chẳng có gì để nói với nhau cả. “Tôi đã khâu 12 mũi trên trán ông ấy,” ông thuật lại. “Sợi cáp họ dùng để kéo chiếc xe nâng bị đứt và quật vào đầu ông ấy. Sức bật của nó đã cắt đôi chiếc mũ bảo hộ. Có thể ông ấy sẽ bị mất đi mắt phải đấy. Tôi sẽ đưa ông ấy đến bệnh viện vào ngày mai rồi xem mọi chuyện sẽ như thế nào sau.”
“Thầy lang” bước ra thành cầu thang rồi quay sang nhìn chúng tôi. “Sẽ có nhiều người thiệt mạng đêm nay nếu không có bố cháu. Bọn cháu là con của ông ấy, hãy nhớ lấy điều này.”
Tôi theo “Thầy lang” ra đến cửa sau. “Còn chú Bykovski thì sao ạ?” tôi hỏi.
“Ông ấy lái chiếc xe nâng bị chôn vùi đó.”
Thế là quá đủ. Tôi chẳng thể chịu đựng thêm nữa. Tôi ngửa mặt và khóc òa lên. “Thầy lang” đặt tay lên vai tôi. “Gì nữa đây?”
“Tất cả là lỗi của cháu! Nếu không tại cháu thì chú Bykovski đâu phải làm việc ở dưới đó!” Rồi tôi thuật lại câu chuyện cho “Thầy lang” nghe. “Và nếu như chú ấy không phải làm việc ở công trường thì đã không mất mạng như thế,” tôi kết thúc câu chuyện, giọng tôi nghẹn ngào trong tiếng nấc và nước mắt. Tôi nhìn lên và bắt gặp ánh mắt của ông.
“Đừng có mít ướt nữa,” “Thầy lang” rít lên. “Quỷ tha ma bắt, cháu không hiểu cái chốn này là như thế nào à? Mỗi ngày, những người đàn ông ở thị trấn này vào trong mỏ than làm việc luôn có thể cận kề cái chết bất cứ lúc nào.”
Tôi không thể kìm được nước mắt và cảm thấy thật xấu hổ vì điều này. Lệ chảy thành dòng trên má rồi lăn xuống cằm. Càng như vậy tôi càng tự thấy căm ghét bản thân mình.
“Ike chế tạo tên lửa cho cháu,” “Thầy lang” nói giọng cương quyết, “vì ông ấy muốn những điều tốt nhất đến với cháu, ông ấy xem cháu như con ruột của mình vậy. Cháu và những đứa trẻ ở Coalwood này thuộc về tất cả mọi người ở đây. Luật lệ này không được viết thành văn nhưng nó đã luôn nằm trong lòng của mọi người trong thị trấn này.”
Nói xong ông đi ra xe, bước vào trong, nổ máy và xoay cửa kính xuống. “Chú nói với cháu điều này mà có lẽ bố cháu cũng đồng tình. Đừng để chú thấy cháu khóc rống lên như đàn bà một lần nữa. Nếu không, thề có Chúa rằng, chú sẽ cho cháu một trận ra trò đấy. Coalwood không phải là nơi dành cho những kẻ yếu đuối, nếu muốn thì cháu hãy giữ nó ở trong lòng, còn không thì biến khỏi đây càng sớm càng tốt.”
Tôi đứng ở cửa và nhìn theo đến khi “Thầy lang” lái xe đi khuất. Tôi nhìn lên con đường dẫn tới nhà than và trông thấy mọi người đang lũ lượt kéo về nhà. Tôi nghe thấy những cuộc trò chuyện thật bình thường, có vài người còn cười rất thoải mái nữa. Chú Bykovski đã tử nạn, còn Bố tôi thì bị thương nặng, vậy mà họ làm như chẳng có chuyện gì xảy ra. Chỉ có một người chết. Chỉ có một người mà thôi! Lúc nào cũng có một người sẽ mất mạng trong những hầm mỏ của tỉnh McDowell này. Những lời cầu nguyện tại đường hầm có vẻ đã đủ công hiệu. Tôi ghê tởm nhìn họ đi ngang qua tôi, ghê tởm vì thấy trong thực tế, họ lại dửng dưng đối với lòng dũng cảm, sự chịu đựng và ngay cả cái chết của người khác như vậy. Tôi chẳng muốn giống như bọn họ chút nào. Tôi chỉ muốn quay lưng và được giải thoát khỏi Coalwood mà thôi.
Clyde Bishop, một đốc công của ca làm việc ban ngày, đi ngang qua cổng nhà rồi trèo vào cứ như tôi không hiện diện ở đây vậy. Mẹ chặn chú ấy lại trước cửa nhà. “Tôi cần nói chuyện với Homer,” chú ấy cộc cằn bảo. “Điện thoại của anh ấy bị gì rồi.”
“Ông ấy không có đây,” bà quạt lại.
“Gì nữa đây, Elsie...”
“Ông ấy không phải chỉ ở đây vì anh, Clyde, và ông ấy sẽ không ở đây nữa. Đừng cố gọi ông ấy làm gì. Tôi đã quẳng mấy cái phone ra ngoài sân rồi, và từ nay chúng sẽ ở đó mãi.”
Hôm sau, Mẹ chở Bố đến bệnh viện. Tôi ngồi ở hiên sau và chờ họ trở về. Dandy tìm thấy tôi, dường như đánh hơi được tôi đang buồn, bèn gác đầu lên đầu gối của tôi. Tôi vuốt ve chỏm lông vàng mềm mại trên đầu nó. Thỉnh thoảng, nó cũng thở dài như đang miên man nghĩ về điều gì đó. Một lúc sau, Poteet lân la lại gần, ngồi lên chân tôi như đang canh gác. Khi bố mẹ về thì bọn tôi vẫn ngồi đấy. Đầu Bố được băng bó và một miếng dán bịt ngang mắt ông. Khi ra khỏi chiếc Buick, ông phải tựa vào nó để giữ thăng bằng. Mẹ khoác tay ông lên vai, đỡ ông vào nhà. Tôi đứng dậy để giúp mở cửa. Mặc dù thấy Mẹ đang rất vất vả, nhưng ánh mắt giận dữ của bà làm tôi phải tránh ra xa.
Tôi nhìn theo bố mẹ bước vào nhà. Tôi chùn bước khi cánh cửa đóng sầm lại sau lưng họ, nghe to như tiếng súng nổ. Tôi muốn đi theo nhưng không thể, chân tôi như bám rễ xuống sân. Tiếng sập cửa vang vọng khắp không trung, cứ như tất cả cánh cửa ở Coalwood vừa đóng sầm lại từng cái một trước mặt tôi vậy. Cả đời mình, tôi luôn bận bịu với bao nhiêu kế hoạch hòng làm mọi thứ diễn ra theo ý mình. Bây giờ tôi biết rằng tôi chẳng thể làm gì để mọi thứ tốt đẹp trở lại cả. Bây giờ không thể và mai này cũng vậy thôi. Khi ngộ ra điều này, bao nhiêu năng lượng như trôi tuột khỏi người tôi. Hai tay buông thõng, tôi cúi đầu trong sự xấu hổ, tuyệt vọng. Mặc dù “Thầy lang” đã cảnh báo, tôi vẫn bắt đầu cảm thấy mủi lòng hơn lúc nào hết. Sau đó, cứ như có một tên trộm lẻn đến từ phía sau và nó lấy đi hết những gì tôi từng tin là đúng và cao cả. Đột nhiên tôi có một cảm giác thật tệ hại, kinh khủng. Nó đến thật bất ngờ và tôi nhận ra ngay là mình đang sai nhưng chẳng thể xua tan cảm giác đó đi được. Thằng nhóc đang ngước đầu lên nhìn những ngọn núi xấu xí bao bọc xung quanh nó lúc này thật khác xa với chính bản thân nó cách đây không lâu. Có lẽ tôi không nhếch mép cười khinh bỉ nhưng cũng có thể chuyện đó đã xảy ra. Điều tệ hại nhất tôi từng cảm thấy trong đời mình đang hoàn toàn điều khiển bản thân tôi. Tôi đang cảm thấy: trống rỗng.