Từ rất nhiều, rất nhiều năm về trước, tại Nara — cố đô của Nhật Bản, có một vị đại thần uy bác tên là Prince Toyonari Fujiwara. Vợ ông là một người phụ nữ quý phái, đức hạnh và xinh đẹp tên là công chúa Murasaki (tức Hoa Tử). Hai người kết hôn từ khi còn rất trẻ theo phong tục Nhật Bản và từ đó sống bên nhau vô cùng hạnh phúc. Thế nhưng, họ có một nỗi buồn lớn khôn nguôi, bởi qua năm tháng mà vẫn chẳng bề có mụn con nào. Điều này khiến họ vô cùng phiền muộn, vì cả hai đều khắc khoải mong mỏi có được một giọt máu để khi tuổi già bóng xế có đứa trẻ quây quần vui vầy, nối dõi tông đường và thờ cúng tổ tiên sau khi họ khuất núi. Sau bao ngày bàn tính và ngẫm suy, vị Quan đại thần cùng người vợ tuyệt vời của ông quyết định thực hiện một chuyến hành hương đến ngôi đền Hase-no-Kwannon (Nữ thần Từ Bi tại Hase). Bởi họ tin rằng, theo truyền thống tốt đẹp của tôn giáo xứ sở, Mẫu Thần Từ Bi Kwannon luôn hiển linh đáp lại lời cầu nguyện của trần gian dưới hình hài mà họ khao khát nhất. Chắc chắn rằng, sau bao năm dài tháng rộng khấn vái, Người sẽ ban cho họ một đứa con yêu dấu để đáp đền chuyến hành hương đặc biệt này, bởi đó là ước nguyện thiết tha nhất trong cuộc đời của cả hai. Mọi thứ cuộc đời này có thể ban tặng, họ đều đã có đủ, nhưng tất cả đều trở nên vô nghĩa bởi tiếng gọi từ sâu thẳm trái tim vẫn chưa được thỏa nguyện.
Thế là Prince Toyonari cùng vợ lên đường đến ngôi đền của nữ thần Kwannon tại Hase, lưu lại đó một thời gian dài, ngày ngày thành kính dâng hương và cầu nguyện lên vị Mẫu Thần Thiên Giới Kwannon hãy rủ lòng ban cho họ tâm nguyện cả đời. Và lời cầu khẩn ấy cuối cùng cũng đã thấu suốt.
Công chúa Murasaki cuối cùng đã hạ sinh một tiểu công chúa, mang lại niềm vui khôn tả xiết cho trái tim người mẹ. Khi bồng đứa trẻ ra mắt phu quân, cả hai quyết định gọi con là Hase-Hime, hay Công chúa Hase, bởi đây chính là món quà thiêng liêng mà nữ thần Kwannon tại chốn linh nghiêm ấy ban tặng. Họ hết mực nâng niu, chăm bẵm, và đứa trẻ cứ thế lớn lên trong sự khỏe mạnh cùng sắc đẹp phơi phới.
Năm tiểu cô nương tròn năm tuổi, người mẹ lâm trọng bệnh và dẫu trăm phương ngàn kế cùng bao thứ thuốc thang của ngự y cũng không thể cứu vãn. Khoảng khắc trước lúc lâm chung, bà gọi con gái lại gần, dịu dàng vuốt tóc con và trăn trối:
“Hase-Hime, con có biết rằng mẹ không thể sống tiếp được nữa không? Dù mẹ có đi xa, con cũng phải lớn lên thành một người con gái ngoan ngoãn. Hãy cố gắng hết sức để không làm phiền lòng nhũ mẫu hay bất kỳ ai trong gia đình. Có lẽ cha con rồi sẽ đi thêm bước nữa và sẽ có người thay thế vị trí của mẹ bên cạnh con. Nếu điều đó xảy ra, xin đừng đau buồn vì mẹ, hãy xem người vợ thứ hai của cha như chính người mẹ ruột thịt, đồng thời phải luôn vâng lời, hiếu kính với cả cha lẫn mẹ. Hãy ghi nhớ rằng khi trưởng thành, con phải biết cúi đầu trước những bậc bề trên và đối xử tử tế với những kẻ dưới tay mình. Đừng bao giờ quên điều đó. Mẹ nhắm mắt xuôi tay với niềm hy vọng con sẽ khôn lớn thành một người phụ nữ mẫu mực.”
Hase-Hime đứng cung kính lắng nghe từng lời mẹ dạy và hứa sẽ thực hiện trọn vẹn mọi điều. Người xưa có câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, và cứ thế, Hase-Hime lớn lên đúng như ước nguyện của người mẹ quá cố — trở thành một tiểu công chúa ngoan ngoãn, dẫu khi ấy con bé còn quá nhỏ để thấu hiểu nỗi mất mát lớn lao nhường nào.
Chẳng bao lâu sau ngày người vợ đầu qua đời, Prince Toyonari tái giá với một tiểu thư danh giá tên là công chúa Terute. Than ôi, tính cách của người phụ nữ này lại hoàn toàn trái ngược với người vợ hiền đức, thông tuệ Murasaki; mụ ta mang một tâm địa độc ác, tàn nhẫn. Mụ chẳng hề yêu thương gì đứa con chồng, thường xuyên đối xử cay nghiệt với cô bé bất hạnh thiếu vắng tình mẫu tử, và tự lẩm bẩm trong lòng:
“Đây đâu phải con ta! Đây chẳng phải con ta!”
Thế nhưng, Hase-Hime vẫn nhẫn nại chịu đựng mọi sự cay nghiệt, thậm chí vẫn tận tụy chăm sóc mẹ kế, tuân lệnh mụ trong mọi chuyện và chẳng bao giờ gây phiền hà gì — y hệt như những gì người mẹ ruột đã dạy dỗ. Nhờ vậy mà phu nhân Terute chẳng thể tìm được lý do nào để bắt bẻ nàng.
Tiểu công chúa vốn là người rất chăm chỉ, và những môn học yêu thích nhất của nàng chính là âm nhạc cùng thi ca. Nàng dành ra vài giờ mỗi ngày để luyện tập, và người cha đã tìm kiếm những bậc thầy giỏi nhất để dạy nàng chơi đàn koto (hạc cầm Nhật Bản), cũng như nghệ thuật làm thơ và viết thư. Khi tròn mười hai tuổi, nàng đã có thể tấu lên những khúc nhạc du dương đến mức cả nàng và mẹ kế đều được triệu vào cung để biểu diễn trước Thiên Hoàng.
Đó là dịp Lễ hội Hoa Anh Đào, và triều đình đang mở hội lớn vui mừng. Thiên Hoàng hòa mình vào bầu không khí hoan hỉ của mùa xuân, ban chiếu chỉ truyền rằng Công chúa Hase sẽ tấu đàn koto trước ngự giá, còn người mẹ kế — công chúa Terute — sẽ thổi sáo hòa tấu cùng nàng.
Hoàng đế ngự trên chiếc ngai cao, trước mặt che một bức rèm làm bằng những thanh tre mỏng tang buông rủ tua rua tía, cốt để Thiên nhan có thể thu hết mọi cảnh vật vào tầm mắt mà không bị ai nhìn thấy, bởi phàm là thần dân bình thường thì không ai được phép nhìn trực diện thánh nhan.
Dẫu tuổi đời còn rất trẻ, Hase-Hime đã là một nhạc công điêu luyện, thường khiến các bậc thầy phải kinh ngạc bởi trí nhớ và tài năng thiên bẩm tuyệt vời. Trong dịp trọng đại này, nàng đã hoàn thành xuất sắc phần biểu diễn của mình. Ngược lại, phu nhân Terute — người vốn lười biếng và chưa từng chịu khó luyện tập mỗi ngày — đã chơi sai nhịp phần hòa tấu và buộc phải cầu cứu một cung nữ lên thay thế. Đó là một nỗi nhục nhã khôn cùng, khiến mụ ta nổi trận lôi đình vì ghen ghét khi thấy bản thân thì thất bại thảm hại trong khi con chồng lại tỏa sáng rực rỡ. Đã thế, để trêu ngươi hơn nữa, Thiên Hoàng còn ban thưởng rất nhiều bảo vật quý giá cho tiểu công chúa vì thành tích biểu diễn tuyệt vời tại cung điện.
Từ lúc ấy, công chúa Terute lại có thêm một lý do nữa để căm hận đứa con chồng, bởi mụ ta đã may mắn hạ sinh được một hoàng tử kháu khỉnh, và tận sâu trong đáy lòng, mụ cứ mãi canh cánh một ý nghĩ:
“Giá như Hase-Hime không còn ở đây, thì toàn bộ tình yêu thương của cha nó sẽ thuộc về con ta.”
Và vì chưa từng học được cách kiềm chế bản thân, mụ đã để cho ý nghĩ độc ác đó lớn dần thành một tội ác tột cùng: tước đoạt mạng sống của đứa con chồng.
Thế là vào một ngày nọ, mụ lén lút mua thuốc độc rồi bỏ vào một bình rượu ngọt. Mụ đặt bình rượu độc này cạnh một bình rượu ngon khác y hệt. Hôm đó là Tiết Đoan Ngọ — lễ hội dành cho các bé trai, và Hase-Hime đang chơi đùa cùng người em trai nhỏ. Toàn bộ đồ chơi hình các chiến binh và dũng sĩ của cậu bé được bày la liệt, còn nàng đang ân cần kể cho em nghe những câu chuyện kỳ thú về từng nhân vật ấy. Cả hai đang vô cùng thích thú, cười vang giòn giã cùng bầy tôi thì người mẹ bước vào trên tay mang theo hai bình rượu cùng vài chiếc bánh ngọt thơm phức.
“Các con chơi vui vẻ và ngoan ngoãn quá,” công chúa Terute tàn độc nở một nụ cười giả tạo nói, “nên ta mang đến đây ít rượu ngọt để thưởng cho các con — và còn có cả bánh ngon cho những đứa con ngoan của ta nữa đây.”
Nói đoạn, mụ rót đầy hai chiếc chén từ hai bình rượu khác nhau.
Hase-Hime, hoàn toàn không mảy may nghi ngờ màn kịch tàn độc mà mẹ kế đang dựng lên, cầm lấy một chén rượu rồi đưa chén rượu vừa rót phần còn lại cho đứa em trai nhỏ.
Người phụ nữ độc ác đã cẩn thận đánh dấu cái bình đựng thuốc độc, nhưng khi bước vào phòng, mụ lạiâm thầm hoảng hốt, để rồi trong lúc vội vàng rót rượu đã vô thức trao chén rượu độc cho chính đứa con ruột của mình. Suốt khoảng thời gian đó, mụ ta thấp thỏm dán mắt theo dõi tiểu công chúa, nhưng ngạc nhiên thay, gương mặt của thiếu nữ vẫn bình thản không chút biến sắc. Bất thình lình, cậu con trai nhỏ hét lên thất thanh rồi ngã quỵ xuống sàn, quằn quại vì những cơn đau thắt ruột gan. Người mẹ lao bổ tới, không quên tiện tay hất đổ hai chiếc bình nhỏ đựng rượu vừa mang vào phòng, rồi ômốc cậu bé lên. Bọn gia nhân hộc tốc chạy đi tìm thầy thuốc, nhưng chẳng gì có thể cứu nổi sinh mệnh đứa trẻ — cậu bé đã chút hơi thở cuối cùng trong vòng tay mẹ chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ sau đó. Y học thời cổ đại vốn chưa phát triển, và người ta đinh ninh rằng do chén rượu không hợp với cơ thể nên cậu bé mới bị co giật rồi mất mạng.
Cứ như thế, mụ phụ nữ ác độc đã phải trả giá đắt khi tự tay cướp đi sinh mạng đứa con ruột thịt trong lúc mưu hại con chồng; thế nhưng, thay vì tự vấn bản thân, nỗi cay đắng cùng sự khốn cùng trong tâm hồn lại khiến mụ càng thêm căm hận Hase-Hime thấu xương, và mụ ngóng chờ từng ngày để tìm cơ hội hãm hại nàng, dẫu cơ hội ấy mãi vẫn chưa đến.
Năm Hase-Hime mười ba tuổi, tên tuổi nàng đã được biết đến rộng rãi như một nữ thi sĩ có tài năng thực thụ. Đây là một bộ môn nghệ thuật rất được phụ nữ Nhật Bản thời cổ kính trọng và mài giũa.
Đó là mùa mưa lũ tại Nara, và những bản tin ngập lụt gây tàn phá khắp vùng cứ dồn dập báo về mỗi ngày. Sông Tatsuta chảy uốn lượn qua khuôn viên Hoàng cung nước dâng tràn bờ, dòng chảy xiết gầm rú qua lòng sông hẹp đã quấy rầy giấc ngủ ngày đêm của Thiên Hoàng, khiến ngàiâm ỉ mắc chứng rối loạn thần kinh trầm trọng. Triều đình ban hành chiếu chỉ khắp các ngôi đền Phật giáo, truyền lệnh cho các tăng lữ ngày đêm tụng kinh cầu nguyện trời cao để dẹp yên tiếng gầm thét của dòng nước lũ. Thế nhưng, tất cả đều vô ích.
Rồi trong chốn hoàng cung râm ran lời đồn đại rằng Công chúa Hase — ái nữ của tả đại thần Prince Toyonari Fujiwara — chính là nữ thi sĩ tài hoa bậc nhất đương thời dẫu tuổi đời hãy còn rất trẻ, và các vị thầy của nàng cũng đã lên tiếng xác thực điều đó. Thuở xưa, từng có một nàng thơ xinh đẹp tài sắc vẹn toàn đã lay động cả đất trời bằng những vần thơ cầu nguyện, đem những giọt mưa rới xuống mảnh đất đang oằn mình vì hạn hán — theo như lời các nhà biên sử cổ đại viết về nữ sĩ Ono-no-Komachi. Nếu Công chúa Hase làm một bài thơ rồi dâng lên làm lễ vật cầu nguyện, liệu nó có thể khuất phục được tiếng gầm rú của dòng sông cuồn cuộn và tiêu trừ căn nguyên bệnh trạng của Thiên Hoàng chăng? Những lời bàn tán trong triều cuối cùng cũng lọt đến tai Thiên Hoàng, và ngài lập tức hạ lệnh truyền cho vị đại thần Prince Toyonari thực thi việc này.
Hase-Hime không giấu nổi vẻ kinh ngạc và nỗi sợ hãi tột cùng khi người cha cho gọi nàng đến và truyền đạt lại yêu cầu ấy. Trách nhiệm đặt lên đôi vai gầy guộc của nàng quả thực quá đỗi nặng nề — gánh vác sứ mệnh cứu lấy sinh mạng Thiên Hoàng bằng tài thơ ca của chính mình.
Cuối cùng ngày ấy cũng đến và bài thơ của nàng đã hoàn thành. Tác phẩm được viết trên một tờ giấy xuyến chỉ điểm xuyết dày đặc bụi vàng lấp lánh. Cùng với phụ thân, gia nhân và một số quan lại trong triều, nàng tiến ra bờ sông đang cuồn cuộn sóng dữ, hướng cõi lòng thanh tịnh về phương trời cao xanh, cất cao ngâm đọc bài thơ do chính mình chắp bút, hai tay cung kính nâng cao tấm thiệp hướng về bầu trời.
Một điều kỳ lạ diễn ra trước mắt bao người đang đứng vây quanh. Dòng nước đột ngột ngưng bặt tiếng gầm rú, dòng sông trở nên phẳng lặng tựa như một sự đáp đền trực diện cho lời khấn nguyện của nàng. Chẳng bao lâu sau đó, sức khỏe của Thiên Hoàng cũng dần bình phục.
Thiên Hoàng vô cùng hoan hỉ, truyền triệu nàng vào cung và ban tặng phẩm tước Chinjo — bậc Tướng quân — nhằm đặc biệt sủng ái và vinh danh nàng. Kể từ đó, người ta gọi nàng là Chinjo-hime, tức Nữ tướng quân Công chúa, và ai nấy đều kính trọng, yêu mến nàng.
Chỉ duy nhất có một kẻ chẳng mảy may vui mừng trước thành công của Hase-Hime. Đó chính là người mẹ kế. Ngày đêm đắm chìm trong nỗi dằn vặt về cái chết của đứa con trai do chính tay mụ gây ra trong lúc toan hãm hại con chồng, mụ càng thêm uất hận khi phải chứng kiến nàng từng bước chạm tay tới quyền lực và vinh quang, được ơn huệ hoàng đế sủng ái cùng sự thán phục của toàn triều đình. Lửa hờn ghen đố kỵ bùng cháy trong lồng ngực mụ như thiêu như đốt. Mụ ta đã dùng biết bao lời vu khống, bị đặt đủ điều xấu xa về Hase-Hime để rót vào tai chồng, nhưng tất cả đều trôi tuột vào hư không. Ông tuyệt đối không nghe bất kỳ lời rèm pha nào của mụ, thậm chí còn lạnh lùng quở trách rằng mụ đã hoàn toàn nhầm lẫn.
Cuối cùng, chớp lấy thời điểm người chồng vắng nhà, người mẹ kế liền sai một tên gia nhân già đưa cô gái ngây thơ đến dãy núi Hibari — vùng hoang vu hiểm trở nhất xứ sở — để thủ tiêu nàng. Mụ bịa ra một câu chuyện rùng rợn về tiểu công chúa, khẳng định rằng đó là cách duy nhất để ngăn chặn tai họa nhục nhã giáng xuống gia tộc.
Katoda, kẻ bề tôi trung thành của gia đình, buộc phải tuân lệnh chủ nhân. Dù sao đi nữa, hắn nhận thức được rằng giả vờ vâng lời trong lúc vắng mặt vị phụ thân của cô bé chính là kế sách khôn ngoan nhất, thế là hắn liền xóc kiệu đưa Hase-Hime đến chốn thâm sơn cùng cốc quạnh hiu nhất mà hắn có thể tìm thấy. Tội nghiệp đứa trẻ, nàng thừa biết việc cãi lại người mẹ kế cay nghiệt lúc này cũng chẳng ích gì, đành phó mặc số phận bước đi theo lệnh.
Thế nhưng, vị gia nhân già thừa hiểu tiểu công chúa hoàn toàn trong sạch trước những lời bị đặt tội lỗi mà người mẹ kế đã trút lên đầu nàng nhằm che đậy mệnh lệnh tàn độc, và hắn hạ quyết tâm cứu lấy mạng sống cho nàng. Dẫu vậy, nếu không giết nàng, hắn sẽ chẳng thể trở về đối mặt với mụ nữ chủ nhân tàn nhẫn, vì thế hắn quyết định sẽ ẩn dật luôn chốn rừng thiêng nước độc. Nhờ sự giúp đỡ của vài người dân làng, chẳng mấy chốc hắn đã dựng lên một căn lược nhỏ, rồi bí mật phái người đón vợ đến đoàn tụ. Hai con người già nua tốt bụng ấy dốc toàn lực để chăm lo cho vị tiểu công chúa bất hạnh từ nay lưu lạc chốn rừng sâu. Suốt quãng thời gian đó, nàng vẫn một lòng tin tưởng nơi người cha, đinh ninh rằng ngay khi ngài trở về nhà và phát hiện nàng vắng bóng, ngài nhất định sẽ đi tìm nàng.
Vài tuần sau, Prince Toyonari trở về phủ, liền bị người vợ tâu rằng tiểu thư Hime đã phạm phải lỗi lầm tày trời và sợ tội nên đã bỏ trốn. Nghe xong, ông lo lắng đến ngả bệnh. Hết thảy người trong nhà đều khai chung một kịch bản — rằng Hase-Hime đã đột ngột biến mất chẳng ai hay nguyên do vì đâu hay đi về phương nào. Vì sợ điều tiếng thị phi râm ran thiên hạ, ông đành nén lòng giữ kín sự việc và sai quân lùng sục khắp mọi ngóc ngách có thể nghĩ đến, nhưng mọi nỗ lực đều dã tràng xe cát.
Một ngày nọ, để khuây khỏa nỗi lo âu tột cùng đang gặm nhấm tâm can, ông triệu tập toàn bộ gia nhân chuẩn bị cho chuyến đi săn kéo dài mấy ngày trong chốn sơn câm. Chẳng mấy chốc đoàn người đã sẵn sàng trên yên ngựa, tề tựu chờ đợi chủ nhân ngoài cổng lớn. Ông phóng ngựa như bay hướng thẳng đến vùng núi Hibari, theo sau là một đoàn tùy tùng đông đảo. Chẳng mấy chốc ông đã bỏ xa tất cả mọi người đằng sau, để rồi bỗng chốc nhận ra mình đang lạc vào một thung lũng hẹp mang phong cảnh hữu tình.
Đưa mắt ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ xung quanh, ông bất chợt chú ý đến một ngôi nhà nhỏ bé nằm chơ vơ trên sườn đồi ngay sát bên, và rồi rành rọt bên tai ông vang lên tiếng đọc sách lanh lảnh, trong trẻo. Bị sự tò mò kích thích không hiểu ai lại có thể miệt mài dùi minh kinh sử chốn hoang vu này, ông tung chân xuống ngựa, giao phó vật kỵ cho tùy tùng rồi một mình bước dọc sườn đồi tiến về phía căn lược. Khi đến gần hơn, sự kinh ngạc trong lòng ông càng dâng cao, bởi ông nhận ra người đang cất giọng đọc sách chính là một thiếu nữ kiều diễm. Căn lược mở toang các cửa và nàng đang ngồi hướng mặt về cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Chăm chú lắng nghe, ông nhận ra nàng đang trì tụng kinh phật với lòng thành kính vô biên. Càng thêm phần tò mò tột độ, ông rảo bước tiến đến cánh cổng rào bé xíu rồi bước vào khoảng sân nhỏ, ngẩng đầu lên và sững sờ nhận ra đứa con gái thất lạc lâu ngày — chính là Hase-Hime của ông. Nàng đang quá đỗi tập trung vào câu kinh tiếng kệ nên chẳng hề hay biết hay nhìn thấy cha cho đến khi ông cất lời.
“Hase-Hime!” ông cất tiếng gọi nghẹn ngào, “thật sự là con sao, Hase-Hime của cha!”
Bị đánh trúng bất ngờ, nàng ngẩn ngơ chẳng dám tin rằng chính người cha kính yêu đang gọi tên mình, và trong khoảnh khắc, nàng hoàn toàn câm nín, chết trân chẳng thể cất lời hay nhúc nhích nổi thân thể.
“Cha ơi, phụ thân ơi! Đúng là người thật rồi — ôi cha ơi!” đó là tất cả những gì nàng có thể thốt lên, rồi lao bổ vào lòng ông, siết chặt lấy vạt áo dày dặn và vùi mặt vào ngực bật khóc nức nở.
Người cha dịu dàng vuốt ve mái tóc đen nhánh của con gái, ân cần gặng hỏi ngọn ngành mọi chuyện đã xảy ra, nhưng nàng chỉ biết ôm lấy ông khóc nghẹn ngào, khiến ông ngỡ như mình đang chìm trong một giấc chiêm bao kỳ lạ.
Đúng lúc ấy, vị gia nhân trung thành Katoda bước ra, sụp lạy sát đất trước tôn nhan chủ nhân, và tuôn trào câu chuyện dài đằng đẵng về nỗi oan khiên, tường thuật tường tận mọi uẩn khúc đã xảy ra, cũng như lý do vì sao ngài lại tìm thấy ái nữ giữa chốn sơn câm cùng cốc hoang vu chỉ với hai mảnh đời già nua kề cận chăm sóc.
Sự kinh hoàng và lòng căm phẫn trong lòng Prince Toyonari bùng nổ đến tột độ không gì kìm nã nổi. Ngài lập tức hủy bỏ chuyến đi săn, vội vã hồi gia cùng con gái. Một kỵ sĩ trong đoàn phi ngựa tiên phong về phủ báo tin vui, và người mẹ kế khi nghe tin sét đánh ấy, vì quá khiếp sợ viễn cảnh phải đối mặt với phu quân nay tội ác đã bị vạch trần, liền trơ trẽn bỏ trốn khỏi phủ để quay về nương náu trong sự nhục nhã dưới mái nhà cha đẻ, và từ đó bặt vô âm tín chẳng ai còn hay tin tức gì về mụ nữa.
Vị gia nhân già Katoda được ban thưởng bậc tước vị cao quý nhất trong phủ đại thần, sống những ngày tháng an nhàn hạnh phúc đến cuối đời, trọn kiếp trung thành với tiểu công chúa — người chưa từng nguôi ngoai khắc ghi ơn nghĩa sinh thành tái tạo mà vị gia nhân trung can ấy đã ban tặng. Nàng giờ đây chẳng còn phải chịu đựng bất kỳ sự cay nghiệt nào từ người mẹ kế nữa, những ngày tháng trôi qua bình yên và hạnh phúc bên người cha kính yêu.
Bởi Prince Toyonari không có con trai nối dõi, ngài đã nhận một người con trai út trong số các gia tộc quý tộc triều đình làm con nuôi để kế thừa gia nghiệp, đồng thời gả tiểu thư Hase-Hime cho cậu ta, và hôn lễ đã diễn ra chỉ ít lâu sau đó. Hase-Hime sống một đời thọ trường an khang, và ai nấy trong vùng đều ca tụng nàng là người nữ chủ nhân uy bác, thành kính và xinh đẹp nhất từng cai quản dinh cơ cổ kính của dòng họ Prince Toyonari. Nàng còn vinh dự đón nhận niềm hạnh phúc tột cùng khi được bồng bế đứa con trai — vị chủ nhân tương lai của dòng họ — ra mắt phụ thân ngay trước thềm ngài lui về ở ẩn.
Cho đến tận ngày nay, tại một ngôi chùa Phật giáo ở Kyoto vẫn còn lưu giữ một tác phẩm thêu thùa nghệ thuật vô giá. Đó là một bức tranh thêu lụa tuyệt mỹ khắc họa hình tượng đức Phật bằng những sợi tơ óng ả được rút ra từ chính phần cuống của đóa hoa sen. Tương truyền rằng, đó chính là kiệt tác được thêu dệt nên bởi đôi bàn tay khéo léo của vị công chúa nhân từ Hase.