[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Ngày xửa ngày xưa, có một lão tiều phu chuyên đốn tre già. Lão vừa nghèo khổ lại vừa cô quạnh, bởi trời chẳng ban cho lão mụn con nào để sưởi ấm tuổi già, và trong lòng lão chẳng có lấy một tia hy vọng được nghỉ ngơi cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt, nằm xuống nấm mồ yên bình.
Mỗi buổi sáng, lão lại lên rừng vào núi, tìm đến những nơi có khóm tre vươn những chiếc lông vũ xanh mướt uốn lượn giữa bầu trời. Khi đã chọn được cây vừa ý, lão liền đốn hạ những "cành lá" của chốn rừng xanh ấy, rồi chẻ dọc hoặc cắt ra thành từng gióng, mang thân tre về nhà để chế tác thành đủ thứ vật dụng gia đình. Nhờ bán những món đồ đó mà hai vợ chồng già kiếm qua ngày đoạn tháng.
Một buổi sáng nọ, như thường lệ, lão lên đường làm việc. Sau khi tìm được một khóm tre đẹp, lão bắt đầu chặt vài cây. Bỗng nhiên, cả khu rừng tre xanh ngắt bừng sáng lên một thứ ánh sáng dịu dàng và rực rỡ, tựa như vầng trăng tròn vừa mọc lên ngay tại chốn đó. Ngạc nhiên ngoảnh lại, lão thấy luồng hào quang ấy tỏa ra từ một gốc tre. Quá đỗi kinh ngạc, lão tiều phu đánh rơi cả rìu, bước về phía ánh sáng. Lại gần hơn, lão nhận ra vẻ rực rỡ dịu ngọt ấy phát ra từ một cái bọng bên trong thân tre xanh; và kỳ lạ thay, ở ngay giữa tâm điểm chói lọi đó là một sinh linh nhỏ bé, cao chừng ba thốn, với dung mạo xinh đẹp tuyệt trần.
Lão thầm nghĩ: "Chắc hẳn đây là đứa trẻ mà Trời xanh phái đến cho ta, bởi ta tìm thấy ngươi ở đây, giữa chùm tre nơi công việc hằng ngày của ta diễn ra." Nghĩ vậy, lão nâng sinh linh bé nhỏ vào lòng rồi đem về cho vợ nuôi nấng. Cô bé tí xíu ấy quá đỗi xinh đẹp lại vừa bé bỏng, nên bà lão bèn đặt cô vào trong một chiếc giỏ để đảm bảo an toàn tuyệt đối, tránh cho cô bé khỏi bất kỳ tổn thương nào dẫu là nhỏ nhất.
Giờ đây, đôi vợ chồng già vô cùng hạnh phúc, bởi nỗi niềm tiếc nuối suốt đời vì không có con cái nay đã được khỏa lấp; với tất cả niềm hân hoan, họ dồn trọn tình thương của tuổi xế chiều cho đứa trẻ đã đến với họ theo một cách thức kỳ diệu nhường ấy.
Từ đó trở đi, mỗi khi đốn tre và chẻ củi, lão tiều phu thường bắt gặp vàng giắt trong các đốt tre; chẳng những có vàng mà còn có cả đá quý nữa, thế là dần dà lão trở nên giàu có. Lão tự tay xây một ngôi nhà khang trang, và người ta không còn gọi lão là gã tiều phu nghèo khổ nữa, mà xem lão như một phú ông.
Ba tháng trôi qua vùn vụt, và điều kỳ diệu là trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, đứa trẻ ngậm tre đã lớn vụt thành một thiếu nữ trọn vẹn. Thế là cha mẹ nuôi bèn búi tóc và khoác lên người cô những bộ kimono lộng lẫy. Nàng sở hữu một vẻ đẹp diệu kỳ đến mức họ phải đặt nàng ngồi phía sau những tấm bình phong như một nàng công chúa, không cho bất kỳ ai nhìn thấy, và tự tay họ phục dịch nàng. Trông nàng cứ như thể được tạo nên từ ánh sáng vậy, bởi ngôi nhà luôn ngập tràn một thứ ánh sáng dịu ngọt, khiến cho dẫu là đêm tối mịt mờ thì không gian vẫn sáng bừng như ban ngày. Sự hiện diện của nàng dường như mang lại nguồn phước lành cho những ai ở quanh đó. Mỗi khi lão tiều phu cảm thấy u buồn, lão chỉ cần ngắm nhìn đứa con gái nuôi là mọi sầu muộn đều tan biến, và lão lại vui tươi như thời trai trẻ.
Cuối cùng, ngày đặt tên cho đứa con gái tìm được cũng đã đến. Đôi vợ chồng già liền mời một vị chuyên gia đặt tên danh tiếng đến, và ông đã ban cho nàng cái tên Công chúa Ánh Trăng, bởi thân thể nàng tỏa ra thứ ánh sáng dịu dàng rực rỡ đến mức nàng trông tựa như ái nữ của Thần Mặt Trăng.
Lễ hội kéo dài ròng rã ba ngày trời với tiếng ca, điệu múa và khúc nhạc rộn ràng. Tất cả bạn bè và họ hàng của đôi vợ chồng già đều tề tựu đông đủ, và ai nấy đều hết mực tận hưởng những khúc ca mừng ngày đặt tên cho Công chúa Ánh Trăng. Bất cứ ai nhìn thấy nàng cũng đều thốt lên rằng chưa từng có đóa hồng nhan nào kiều diễm đến thế; họ bảo rằng tất cả những giai nhân khắp chốn non sông đều sẽ trở nên nhợt nhạt khi đứng cạnh nàng. Tiếng tăm về nhan sắc của Công chúa lan xa muôn phương, thu hút vô số các vương tôn công tử khao khát được chiếm lấy trái tim nàng, hoặc chí ít là được ngắm nhìn nàng một lần.
Những kẻ cầu hôn từ muôn nơi kéo đến túc trực bên ngoài ngôi nhà, trổ những lỗ nhỏ trên hàng rào với hy vọng lén nhìn Công chúa khi nàng đi qua lại giữa các gian phòng dọc theo dãy hành lang. Họ bám trụ ở đó cả ngày lẫn đêm, hy sinh cả giấc ngủ chỉ để đổi lấy cơ hội được nhìn thấy nàng, nhưng mọi nỗ lực đều dã tràng xe cát. Họ bèn tiến lại gần ngôi nhà, tìm cách bắt chuyện với lão tiều phu, vợ lão hoặc bất kỳ gia nhân nào, nhưng ngay cả đặc ân đó cũng không được đoái hoài.
Thế nhưng, dẫu phải đối mặt với biết bao thất vọng, họ vẫn ngày đêm kiên nhẫn bám trụ, xem nhẹ mọi gian khổ bởi khát khao được chiêm ngưỡng Công chúa quá đỗi cuồng nhiệt.
Cuối cùng, phần lớn những kẻ si tình ấy, khi nhận ra cuộc săn đuổi này chỉ là hoài công vô ích, đã dần nản lòng thoái chí và lũ lượt quay về quê nhà. Ngoại trừ năm vị hiệp sĩ mà ngọn lửa đam mê và sự quyết tâm của họ không hề suy giảm, trái lại dường như còn sục sôi mãnh liệt hơn trước những thử thách. Năm người đàn ông ấy thậm chí còn bỏ cả bữa ăn, chỉ tranh thủ ăn vội bất cứ thứ gì người ta mang tới, cốt sao vẫn có thể túc trực mãi trước hiên nhà. Họ đứng đó mặc cho thời tiết đổi thay, dãi dầu dưới nắng gắt lẫn mưa dầm.
Thỉnh thoảng, họ viết thư gửi cho Công chúa, nhưng chẳng mảy may nhận lại được một lời hồi đáp. Khi những bức thư không mang lại kết quả, họ chuyển sang làm thơ dâng lên nàng, giãi bày nỗi niềm yêu đương vô vọng khiến họ mất ăn mất ngủ, chẳng thể yên giấc, quên cả chốn dừng chân lẫn mái nhà tranh. Thế nhưng Công chúa Ánh Trăng vẫn làm ngơ, không một chút mảy may cho thấy nàng đã tiếp nhận những vần thơ ấy.
Mùa đông trôi qua trong vô vọng như thế. Băng tuyết, sương giá cùng những cơn gió lạnh dần nhường chỗ cho hơi ấm dịu dàng của mùa xuân. Rồi mùa hạ đến, ánh mặt trời thiêu đốt trắng xóa và gay gắt trên bầu trời lẫn mặt đất, vậy mà những vị hiệp sĩ trung kiên ấy vẫn bền bỉ canh gác và chờ đợi. Khi những tháng ngày đằng đẵng ấy khép lại, họ cất lời khẩn khoản lão tiều phu rủ lòng thương xót mà cho phép họ được diện kiến Công chúa, nhưng lão chỉ đáp rằng vì bản thân không phải là cha ruột nên lão chẳng thể ép buộc nàng làm trái với ý nguyện của mình.
Nhận được câu trả lời đanh thép ấy, năm vị hiệp sĩ đành quay về tư dinh của mỗi người, trăn trỏ tìm kiếm thượng sách để lay động trái tim kiêu hãnh của Công chúa, mong nàng dẫu chỉ ban cho họ một cơ hội để giãi bày. Họ cầm tràng hạt trên tay, quỳ gối trước bàn thờ gia tiên, đốt những nén trầm hương quý giá và cầu nguyện Đức Phật ban cho điều ước ái tình thành hiện thực. Cứ thế, dẫu vài ngày trôi qua, họ vẫn chẳng thể tìm được phút giây yên bình trong tâm hồn.
Thế là họ lại lên đường trở về ngôi nhà của lão tiều phu. Lần này, lão già bước ra gặp họ, và họ khẩn thiết xin lão cho biết liệu có phải Công chúa quyết tâm không bao giờ nhìn mặt bất kỳ nam nhân nào hay không. Họ nài nỉ lão thay lời thưa với nàng về tình yêu sâu sắc của họ, về khoảng thời gian đằng đẵng họ đã kiên nhẫn đợi chờ qua mùa đông buốt giá lẫn mùa hè oi ả, chịu đựng cảnh màn trời chiếu đất dưới mọi thời tiết khắc nghiệt, đói khát và mỏi mệt, với niềm hy vọng cháy bỏng là chinh phục được trái tim nàng; và họ nguyện xem chuỗi ngày canh gác dằng dặc ấy là niềm hạnh phúc nếu nàng chỉ ban cho họ dù chỉ một cơ hội duy nhất để tỏ bày tâm sự.
Lão tiều phu đã mủi lòng lắng nghe câu chuyện tình của họ, bởi trong sâu thẳm trái tim, lão thấy thương hại cho những kẻ si tình trung kiên này và rất muốn gả đứa con gái nuôi xinh đẹp cho một trong số họ. Thế là lão bước vào trong, cung kính thưa với Công chúa Ánh Trăng rằng:
"Dẫu con vẫn luôn tựa như một vị thần tiên giáng trần trong mắt ta, nhưng ta đã chịu ơn nuôi nấng con khôn lớn như con đẻ của mình, và con cũng từng nương náu dưới mái tranh này với niềm hân hoan. Chẳng lẽ con nỡ từ chối một điều ta mong muốn hay sao?"
Công chúa Ánh Trăng liền đáp rằng không có việc gì là nàng không thể làm vì ông, rằng nàng kính trọng và yêu thương ông như chính cha ruột của mình, còn về phần bản thân, nàng thậm chí chẳng thể nhớ nổi ký ức từ trước khi đặt chân xuống cõi trần.
Lão tiều phu lắng nghe những lời lẽ hiếu thảo ấy với niềm hoan hỉ khôn cùng. Đoạn, lão bày tỏ nỗi niềm bận lòng của mình, rằng lão hằng mong mỏi được thấy nàng yên bề gia thất một cách bình an và hạnh phúc trước khi lão nhắm mắt xuôi tay.
"Ta nay đã là một lão già hơn bảy mươi tuổi, và ngày tàn của ta có thể ập đến bất cứ lúc nào. Việc con gặp gỡ năm người cầu hôn này và chọn lấy một người là điều vô cùng cần thiết và đúng đắn."
Công chúa đau khổ thốt lên: "Ôi, tại sao con lại phải làm thế chứ? Con chẳng hề có ý định kết hôn lúc này."
Lão tiều phu đáp: "Nhiều năm về trước, ta đã tìm thấy con khi con chỉ là một sinh linh bé nhỏ cao ba thốn, chìm ngập giữa thứ ánh sáng rực rỡ ngút ngàn. Ánh sáng ấy tỏa ra từ thân cây tre giấu con bên trong và dẫn đường cho ta đến với con. Thế nên ta vẫn luôninh đinh rằng con không phải là người phàm trần. Khi ta còn sống, con muốn duy trì cảnh độc thân thế nào cũng được, nhưng rồi sẽ có ngày ta tạ thế, và lúc ấy ai sẽ là kẻ chăm sóc cho con? Vì vậy, ta nài xin con hãy gặp gỡ năm dũng sĩ ấy, từng người một, rồi đưa ra quyết định kết hôn với một trong số họ!"
Công chúa bấy giờ mới đáp rằng nàng chắc chắn mình không hề xinh đẹp như lời đồn thổi, và dẫu nàng có đồng ý kết hôn với bất kỳ ai trong số họ đi nữa, vì vốn dĩ chưa từng thực sự thấu hiểu nàng từ trước, trái tim kẻ đó có thể sẽ đổi thay sau này. Thế nên, bởi nàng không dám chắc về lòng dạ họ dẫu người cha có khẳng định họ là những bậc hiệp sĩ xứng đáng, nàng vẫn thấy việc gặp mặt họ là không khôn ngoan chút nào.
Lão tiều phu nói: "Những lời con nói đều vô cùng hợp lý, nhưng rốt cuộc con sẽ đồng ý gặp những mẫu đàn ông nào đây? Ta không nghĩ năm con người đã kiên nhẫn đợi chờ con ròng rã suốt bao tháng trời kia là những kẻ hời hợt. Họ đã đứng ngoài ngôi nhà này suốt mùa đông lẫn mùa hạ, không ít lần tự khắt khe nhịn ăn nhịn ngủ chỉ để chiếm được trái tim con. Con còn đòi hỏi điều gì hơn thế nữa cơ chứ?"
Lúc bấy giờ, Công chúa Ánh Trăng mới bảo rằng nàng phải thử thách thêm tình yêu của họ trước khi chấp thuận lời thỉnh cầu được diện kiến nàng. Năm vị dũng sĩ ấy phải chứng minh tình cảm của mình bằng cách mỗi người mang về từ những phương trời xa thẳm một món đồ mà nàng ao ước có được.
Ngay chiều hôm đó, những kẻ cầu hôn đã kéo đến, lần lượt tấu khúc sáo và cất cao những bài ca do chính họ sáng tác để giãi bày nỗi lòng yêu thương mãnh liệt chẳng quản mệt mỏi. Lão tiều phu bước ra ngoài, bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với tất cả những gian khổ và sự kiên nhẫn mà họ đã thể hiện trong hành trình chinh phục con gái nuôi của lão. Rồi lão truyền lại thông điệp của nàng: Công chúa sẽ đồng ý kết hôn với bất kỳ ai mang về thành công món đồ mà nàng mong muốn. Đây chính là cách để thử thách họ.
Cả năm người đều chấp nhận cuộc thử thách và xem đây là một kế sách tuyệt vời, bởi nó sẽ ngăn chặn sự ghen ghét đố kỵ lẫn nhau giữa họ.
Công chúa Ánh Trăng liền cho người nhắn với Vị Hiệp Sĩ Thứ Nhất rằng nàng muốn ông mang về chiếc bình đá từng thuộc về Đức Phật ở xứ Ấn Độ.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Hai được yêu cầu lên Ngọn Núi Horai, tương truyền nằm ở vùng Biển Đông, để mang về cho nàng một cành của loài cây kỳ diệu mọc trên đỉnh núi ấy. Rễ của cây này bằng bạc, thân bằng vàng, và những cành cây trĩu quả là những viên ngọc bích trắng.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Ba được bảo hãy sang Trung Hoa để truy tìm loài chuột lửa và mang tấm da của nó về cho nàng.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Tư được lệnh đi tìm con rồng mang trên đầu viên ngọc phát ra năm sắc màu rực rỡ và dâng viên ngọc ấy cho nàng.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Năm thì phải tìm cho ra loài chim én ngậm vỏ sò trong dạ dày và mang chiếc vỏ sò đó về cho nàng.
Lão tiều phu cho rằng đây là những thử thách quá ư cay đắng và chần chừ không muốn truyền đạt lại, nhưng Công chúa nhất quyết không chịu nhượng bộ bất kỳ điều kiện nào khác. Thế là mệnh lệnh của nàng được truyền đạt từng câu từng chữ cho năm người đàn ông nọ; và khi nghe rõ những yêu cầu ấy, tất cả đều chết lặng, cảm thấy ghê sợ trước những nhiệm vụ vốn dĩ bất khả thi đối với họ, để rồi tuyệt vọng quay gót trở về tư dinh.
Thế nhưng sau một thời gian, khi hồi tưởng lại hình bóng Công chúa, ngọn lửa tình trong lòng họ bùng cháy trở lại, và họ quyết định dốc sức làm cho bằng được điều nàng hằng mong muốn.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Nhất cho người nhắn tin đến chỗ Công chúa rằng ông ta đang lên đường thực hiện sứ mệnh tìm kiếm chiếc bình của Đức Phật, và hy vọng sẽ sớm mang nó về dâng lên nàng. Nhưng ngặt một nỗi ông ta chẳng có đủ lòng dũng cảm để lặn lội đến tận xứ Ấn Độ xa xôi, bởi việc đi lại vào thời buổi ấy vô cùng gian nan và hiểm trở; thế là ông ta bèn ghé vào một ngôi chùa ở Kyoto, mua lại chiếc bình đá đặt trên bàn thờ tại đó với cái giá cắt cổ trả cho vị trụ trì. Sau đó, ông ta gói nó trong một tấm vải dệt bằng vàng, kiên nhẫn đợi chờ ròng rã ba năm trời rồi mới quay về mang dâng cho lão tiều phu.
Công chúa Ánh Trăng vô cùng kinh ngạc khi thấy vị Hiệp Sĩ quay lại quá sớm như vậy. Nàng nhận chiếc bình ra khỏi lớp vải bọc bằng vàng, thầm mong nó sẽ khiến cả căn phòng ngập tràn ánh sáng, nhưng hỡi ôi, chiếc bình hoàn toàn tối thui chẳng phát ra một tia sáng nào. Biết ngay đây là hàng giả chứ không phải bình thật của Đức Phật, nàng liền trả lại ngay lập tức và từ chối gặp mặt ông ta. Vị Hiệp Sĩ ném phăng chiếc bình đi rồi tuyệt vọng quay về nhà, chính thức từ bỏ mọi hy vọng chinh phục được Công chúa.
Vị Hiệp Sĩ Thứ Hai thưa với cha mẹ rằng ông ta cần đi đổi gió để tẩm bổ sức khỏe, bởi ông ta quá hổ thẹn không dám thú nhận rằng nỗi tương tư Công chúa Ánh Trăng mới chính là nguyên nhân thực sự khiến ông rời xa gia đình. Ông ta bèn lên đường, đồng thời cho người nhắn tin đến chỗ Công chúa rằng mình đang khởi hành hướng đến Núi Horai với hy vọng kiếm được cành cây vàng bạc mà nàng hằng ao ước. Ông ta chỉ cho phép gia nhân đi theo đến nửa đường rồi bắt họ quay về. Tự mình tiến ra bờ biển, ông ta thuê một con thuyền nhỏ, lênh đênh buồm lướt ba ngày đêm rồi cập bến, sau đó thuê vài người thợ mộc dựng lên một căn nhà kín cổng cao tường để không một ai có thể bén mảng tới gần. Tại đây, ông ta tự giam mình cùng sáu nghệ nhân kim hoàn lành nghề, nỗ lực chế tác một cành cây vàng bạc sao cho có thể qua mắt được Công chúa, khiến nàng tin rằng nó được cắt ra từ cội cây kỳ diệu mọc trên đỉnh Núi Horai. Trong khi đó, tất cả những người ông ta từng hỏi han đều khẳng định rằng Núi Horai chỉ tồn tại trong thần thoại chứ chẳng có thật ở cõi đời này.
Khi cành cây đã hoàn thiện, ông ta lên đường về nhà, cố tạo vẻ bề ngoài phờ phạc, mệt lả vì đường xá xa xôi. Ông ta đặt cành cây dát ngọc vào một chiếc tráp sơn mài rồi mang đến chỗ lão tiều phu, khẩn khoản nhờ lão dâng lên Công chúa.
Lão tiều phu đã hoàn toàn bị đánh lừa bởi vẻ ngoài bám bụi đường gió sương của vị Hiệp Sĩ, cứ nginh đinh rằng ông ta vừa mới trở về sau chuyến hải trình dài ngày mang cành cây quý giá ấy về. Thế là lão tìm cách thuyết phục Công chúa đồng ý gặp mặt người đàn ông này. Nhưng nàng vẫn im lặng với đôi mắt đượm buồn. Lão già bèn lấy cành cây ra, hết lời ca ngợi nó là báu vật có một không hai chẳng nơi nào trên khắp cõi giang sơn này tìm thấy được. Đoạn, lão kể về vị Hiệp Sĩ, tán dương sự tuấn tú và lòng dũng cảm của ông ta khi dám dấn thân thực hiện chuyến đi đến một nơi xa xôi hẻo lánh nhường ấy như Núi Horai.
Công chúa Ánh Trăng đón lấy cành cây trong tay, ngắm nghía thật kỹ lưỡng. Sau đó, nàng thưa với cha nuôi rằng nàng thừa biết việc tìm kiếm và mang về một cành cây vàng bạc từ Núi Horai trong thời gian ngắn ngủi và dễ dàng đến thế là điều bất khả thi, và nàng rất tiếc phải khẳng định rằng đây chỉ là hàng nhân tạo.
Lão tiều phu đành bước ra gặp vị Hiệp Sĩ đang thấp thỏm chờ đợi gần nhà, hỏi ông ta đã tìm thấy cành cây ở đâu. Nghe vậy, gã đàn ông liền trơ trẽn bịa ra một câu chuyện dài dằng dặc.
“Hai năm trước, tôi xuống thuyền khởi hành đi tìm Núi Horai. Xuôi theo chiều gió một thời gian, cuối cùng tôi cũng chạm tới vùng Biển Đông xa xôi. Bấy giờ một trận cuồng phong nổi lên khiến thuyền tròng trành suốt bao nhiêu ngày trời, mất sạch phương hướng, để rồi cuối cùng bị thổi dạt vào một hòn đảo hoang sơ chưa từng được biết đến. Tại đó, tôi phát hiện nơi này do loài ác quỷ thống trị, chúng từng dọa giết và ăn thịt tôi. Tuy nhiên, tôi đã xoay sở làm thân được với những sinh vật gớm ghiếc ấy, chúng đã giúp tôi và các thủy thủ sửa sang lại thuyền bè để tôi tiếp tục ra khơi. Lương thực cạn kiệt, anh em trên tàu lâm trọng bệnh vô cùng khổ sở. Cuối cùng, vào ngày thứ năm mươi kể từ ngày khởi hành, tôi nhìn thấy bóng dáng một đỉnh núi mờ ảo ở tận chân trời. Lại gần hơn, hóa ra đó là một hòn đảo với ngọn núi cao sừng sững tọa lạc ở trung tâm. Tôi lên bờ, lang thang hai ba ngày thì bắt gặp một sinh linh tỏa sáng rực rỡ đang tiến về phía mình trên bãi cát, tay cầm một chiếc bình vàng. Tôi bước đến hỏi ngài ấy rằng liệu tôi có may mắn tìm được hòn đảo Núi Horai hay không, và ngài ấy đã đáp rằng:”
‘Đúng vậy, đây chính là Núi Horai!’
“Tôi đã leo lên đỉnh núi với muôn vàn trắc trở, nơi đây mọc lên cội cây vàng rực với phần rễ cắm sâu vào lòng đất bằng bạc. Những điều kỳ diệu ở chốn quái lạ ấy nhiều vô kể, nếu kể ra thì chẳng bao giờ dứt. Dù rất muốn lưu lại đó lâu hơn, nhưng vừa bẻ được cành cây là tôi vội vã quay về ngay. Phải mất đến bốn trăm ngày với tốc độ nhanh nhất tôi mới trở lại được đây, và như ông thấy đấy, quần áo tôi vẫn còn ẩm ướt do hơi nước mặn mòi trong chuyến hải trình dài đằng đẵng. Tôi thậm chí chẳng thèm thay y phục, chỉ vì quá nôn nóng mang cành cây về cho Công chúa càng sớm càng tốt.”
Đúng lúc ấy, sáu người thợ kim hoàn từng được thuê chế tác cành cây nhưng vẫn chưa được vị Hiệp Sĩ trả công đã kéo đến trước cửa nhà, dâng thư tòi tiền công lao động lên Công chúa. Họ khai rằng họ đã làm việc suốt hơn một ngàn ngày để chế tạo cành cây bằng vàng với những nhành lá bằng bạc và hoa quả bằng ngọc thạch đang được vị Hiệp Sĩ dâng lên nàng, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được một xu tiền công nào. Thế là trò bịp bợm của vị Hiệp Sĩ đã bị phơi bày, và Công chúa, mừng rỡ vì thoát được thêm một kẻ cầu hôn phiền phức, vui mừng khôn xiết khi trả lại cành cây ấy. Nàng cho gọi những người thợ vào và thưởng cho họ một khoản tiền hào phóng, khiến họ hoan hỉ ra về. Nhưng dọc đường về, họ bị gã đàn ông cay cú phục kích, đánh cho suýt chết vì dám cả gan bí mật, và họ phải chật vật lắm mới giữ lại được tính mạng. Vị Hiệp Sĩ bấy giờ tức tối quay về nhà, lòng căm phẫn ngùn ngụt; và vì tuyệt vọng chẳng thể nào cưới được Công chúa, ông ta quyết định từ bỏ trần thế để sống ẩn dật cô độc chốn thâm sơn cùng cốc.
Lại nói về Vị Hiệp Sĩ Thứ Ba, ông ta có một người bạn ở Trung Hoa nên đã viết thư nhờ người đó mua hộ tấm da của loài chuột lửa. Phép nhiệm màu từ bất kỳ bộ phận nào của con vật này là lửa dữ cỡ nào cũng chẳng thể bén tới. Ông ta hứa sẽ hậu tạ người bạn bất kỳ số tiền nào nếu hắn mua được món đồ quý giá ấy. Ngay khi nhận được tin con thuyền chở người bạn về tới cảng, ông ta liền phi ngựa suốt bảy ngày đêm để ra đón. Trao cho bạn một khoản tiền kếch xù, ông ta nhận lại tấm da chuột lửa. Khi về đến nhà, ông ta cẩn thận đặt nó vào trong một chiếc hộp rồi gửi vào cho Công chúa, còn bản thân thì đứng đợi câu trả lời ở bên ngoài.
Lão tiều phu nhận chiếc hộp từ tay vị Hiệp Sĩ, như mọi lần, mang vào trong và tìm cách nài nỉ nàng chịu gặp mặt người đó ngay lập tức, nhưng Công chúa Ánh Trăng vẫn một mực từ chối, bảo rằng nàng phải thử thách tấm da trước bằng cách ném nó vào lửa. Nếu đây là đồ thật thì nó sẽ chẳng hề hấn gì. Thế là nàng tháo lớp vải bọc bằng lụa crepe, mở hộp ra rồi ném thẳng tấm da vào đống lửa. Tấm da lập tức phát ra tiếng lép bép rồi cháy rụi thành tro, và Công chúa biết rằng kẻ này cũng chẳng giữ lời hứa. Thế là Vị Hiệp Sĩ Thứ Ba cũng chuốc lấy thất bại thảm hại.
Về phần Vị Hiệp Sĩ Thứ Tư, ông ta cũng chẳng hề kiên trì hơn những kẻ khác. Thay vì tự mình cất bước lên đường truy tìm con rồng mang viên ngọc phát ra ngũ sắc trên đầu, ông ta triệu tập toàn bộ gia nhân lại và giao cho họ mệnh lệnh sục sạo khắp nơi từ Nhật Bản đến Trung Hoa để tìm cho ra, đồng thời cấm tiệt bọn họ quay về nếu chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Đông đảo gia nhân và tôi tớ của ông ta tỏa ra khắp ngả, dĩ nhiên chẳng có mảy may ý định tuân lệnh một yêu cầu mà họ cho là hoang đường. Họ đơn giản chỉ xem đây là một dịp nghỉ mát, cùng nhau kéo đến những vùng quê ngoạn mục và buông lời oán thán sự vô lý của người chủ.
Trong khi đó, vị Hiệp Sĩ đinh ninh rằng đám tôi tớ chắc chắn không thể thất bại trong việc tìm kiếm viên ngọc, liền quay về nhà, trang hoàng lộng lẫy để nghênh đón Công chúa, bởi ông ta quá đỗi tự tin sẽ chiếm được trái tim nàng.
Một năm mòn mỏi chờ đợi trôi qua, vậy mà đám gia nhân vẫn bặt vô âm tín chẳng thấy mang viên ngọc rồng về. Vị Hiệp Sĩ trở nên tuyệt vọng cùng cực. Không thể đợi thêm được nữa, ông ta mang theo vỏn vẹn hai người tùy tùng, thuê một con thuyền và ép viên thuyền trưởng phải lên đường đi tìm rồng; dù thuyền trưởng và thủy thủ đoàn một mực từ chối chuyến hải trình mà họ gọi là điên rồ ấy, vị Hiệp Sĩ vẫn dùng vũ lực ép họ phải nhổ neo ra khơi.
Chỉ vừa ra khơi được vài ngày, họ đã đụng độ một trận cuồng phong dữ dội kéo dài đến mức khi cơn thịnh nộ của trời đất dịu xuống, vị Hiệp Sĩ đã quyết định từ bỏ cuộc săn lùng con rồng. Cuối cùng, thuyền bị thổi dạt vào bờ, bởi ngành hàng hải vào thời kỳ đó hãy còn rất thô sơ. Kiệt quệ vì đường xá xa xôi và những lo âu chồng chất, kẻ cầu hôn thứ tư đành buông xuôi để nghỉ ngơi. Ông ta vướng phải một trận cảm lạnh nặng đến mức phải nằm liệt giường với cái mặt sưng vù.
Viên quan cai quản vùng đất đó hay tin hoàn cảnh khốn cùng của ông ta, liền cử sứ giả mang thư mời ông đến phủ dưỡng bệnh. Trong lúc ngồi ngẫm nghĩ về mọi nỗi truân chuyên của mình ở đó, tình yêu mà ông ta dành cho Công chúa bỗng chốc hóa thành ngận hận thù, và ông ta quay sang oán trách nàng chính là nguyên nhân gây ra toàn bộ những đày đọa mà ông phải gánh chịu. Ông ta cho rằng rất có thể nàng đã tâm địa muốn mượn đao giết người để tống khứ mình đi, nên mới cố tình đẩy ông vào một nhiệm vụ bất khả thi như vậy.
Đúng lúc ấy, toàn bộ đám gia nhân ông từng phái đi tìm ngọc cũng tìm đến thăm, và họ ngạc nhiên khôn xiết khi thấy chủ nhân không hề nổi giận trút mắng mà ngược lại còn buông lời khen ngợi. Chủ nhân bảo với họ rằng ông đã chán ngấy tận cổ mấy trò phiêu lưu mạo hiểm rồi, và tuyên bố từ nay sẽ chẳng bao giờ bén mảng đến gần nhà Công chúa thêm lần nào nữa.
Cũng giống như tất cả những kẻ khác, Vị Hiệp Sĩ Thứ Năm đã thất bại trong nhiệm vụ của mình—ông ta chẳng thể nào tìm nổi chiếc vỏ sò của chim én.
Đến lúc này, tiếng tăm về nhan sắc tuyệt trần của Công chúa Ánh Trăng đã truyền đến tai Thiên Hoàng, và ngài bèn cử một vị nữ quan trong triều đến tận nơi để kiểm chứng xem giai nhân này có thực sự đẹp như lời đồn đại hay không; nếu đúng như vậy, ngài sẽ triệu nàng vào cung lập làm cung nhân.
Khi vị nữ quan đặt chân đến nơi, mặc cho người cha nuôi hết lời van xin nài nỉ, Công chúa Ánh Trăng vẫn nhất quyết từ chối diện kiến. Sứ giả của Hoàng đế tỏ thái độ cương quyết, viện dẫn đó là thánh chỉ của Thiên Hoàng. Bấy giờ, Công chúa mới lạnh lùng thưa với lão già rằng nếu nàng bị ép buộc phải vào cung theo lệnh Thiên Hoàng, nàng sẽ lập tức biến mất khỏi cõi đời này.
Khi Thiên Hoàng được tấu báo về sự kháng cự ngoan cố của nàng, và rằng nếu tiếp tục ép uổng nàng sẽ hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt, ngài liền quyết định tự mình thân chinh đến đó. Thế là ngài lên kế hoạch tổ chức một chuyến đi săn ở khu vực lân cận nhà lão tiều phu để có dịp tận mắt chiêm ngưỡng Công chúa. Ngài cho người truyền tin báo trước ý định của mình cho lão tiều phu và nhận được sự đồng thuận. Hôm sau, Thiên Hoàng khởi hành cùng đoàn tùy tùng, nhưng chẳng mấy chốc ngài đã phóng ngựa bỏ xa họ lại phía sau. Tìm đến ngôi nhà của lão tiều phu, ngài xuống ngựa, hiên ngang bước vào trong và tiến thẳng đến căn phòng nơi Công chúa đang ngồi cùng các thị nữ.
Chưa bao giờ trong đời ngài được chiêm ngưỡng một giai nhân kiều diễm đến thế, và ngài cứ ngẩn người ngắm nhìn mãi, bởi nàng rạng ngời trong thứ hào quang dịu ngọt của chính mình, vượt xa mọi giới hạn của loài người. Khi Công chúa Ánh Trăng nhận ra có kẻ lạ mặt đang dán mắt vào mình, nàng hoảng hốt định tẩu thoát khỏi phòng, nhưng Thiên Hoàng đã nhanh tay chộp lấy nàng và khẩn khoản xin nàng hãy lắng nghe ngài giãi bày. Đáp lại ngài, nàng chỉ lặng lẽ giấu khuôn mặt vào trong tay áo.
Thiên Hoàng đã sa vào lưới tình sâu đậm, thiết tha nài nỉ nàng theo ngài về triều, hứa sẽ ban cho nàng địa vị tôn quý cùng mọi thứ nàng khao khát. Ngài vừa định ra lệnh gọi kiệu ngự đến để rước nàng về cung ngay lập tức, miệng không ngớt ca ngợi rằng dung nhan và vẻ kiều diễm bậc này phải xứng đáng ngự trị chốn hoàng cung lộng lẫy chứ không thể vùi dập trong một túp lều tiều phu hẻo lánh.
Nhưng Công chúa đã chặn lời ngài. Nàng tuyên bố rằng nếu bị ép buộc đưa vào cung, nàng sẽ lập tức biến thành một làn khói mờ ảo; và quả nhiên ngay vừa lúc nàng thốt lên những lời ấy, thân hình nàng bắt đầu phai mờ dần. Vóc dáng nàng tan biến khỏi tầm mắt ngài ngay trước khi ngài kịp định thần.
Hoảng hốt, Thiên Hoàng vội vàng hứa sẽ để cho nàng hoàn toàn tự do nếu nàng chịu khôi phục lại hình hài ban đầu, và nàng đã làm theo.
Bây giờ là lúc ngài phải quay về, bởi đoàn tùy tùng hẳn đang vô cùng hoang mang không biết chuyện gì đã xảy ra với vị quân vương của họ sau một thời gian dài mất hút. Thế là ngài đành từ biệt nàng, lê bước rời khỏi ngôi nhà với cõi lòng nặng trĩu u sầu. Đối với Thiên Hoàng, Công chúa Ánh Trăng là người phụ nữ đẹp nhất thế gian này; mọi bóng hồng khác đều trở nên lu mờ trước nàng, và hình bóng nàng chiếm trọn tâm trí ngài suốt ngày đêm. Từ đó, Thiên Hoàng dành phần lớn thời gian để làm thơ, gửi gắm nỗi nhớ thương và lòng tôn kính vào những vần thơ gửi đến nàng; và dẫu nàng kiên quyết từ chối gặp lại ngài, nàng vẫn hồi đáp bằng vô số những vần thơ do chính tay mình biên soạn, qua đó dịu dàng và tế nhị nhắn nhủ rằng ngài đừng bao giờ mong mỏi có thể kết hôn với một người ở chốn trần gian này. Những khúc ca nhỏ bé ấy luôn mang lại cho ngài đôi chút khuây khỏa.
Khoảng thời gian này, cha mẹ nuôi nhận thấy cứ hằng đêm Công chúa lại lặng lẽ ngồi trên ban công, đờ đẫn đăm đăm nhìn lên mặt trăng hàng giờ liền với tâm trạng u uất tột cùng, để rồi kết thúc bằng những giọt nước mắt tuôn rơi nghẹn ngào. Một đêm nọ, lão tiều phu bắt gặp nàng đang khóc nức nở như đứt từng khúc ruột, bèn xót xa gặng hỏi nguyên nhân của nỗi buồn sâu kín ấy.
Trong giàn giụa nước mắt, nàng thổ lộ rằng phỏng đoán của ông trước đây hoàn toàn chính xác—rằng bản thân nàng vốn dĩ không thuộc về cõi thế gian này, mà thực chất đến từ mặt trăng, và khoảng thời gian nàng lưu lại trần gian sắp sửa khép lại. Đúng vào ngày rằm tháng Tám năm nay, những người thân từ mặt trăng sẽ xuống đón nàng về, và nàng buộc phải trở về cội nguồn. Cha mẹ ruột của nàng vẫn đang ngóng trông ở đó, nhưng vì đã trải qua cả một đời người ở hạ giới nên nàng hầu như đã quên sạch họ, cùng với vương quốc mặt trăng nơi nàng sinh ra. Nàng khóc, nàng bảo thế, vì nghĩ đến cảnh phải rời xa cha mẹ nuôi nhân hậu cùng mái ấm đã che chở cho nàng hạnh phúc suốt bao lâu nay.
Khi đám thị nữ nghe được câu chuyện này, họ vô cùng đau buồn, chẳng màng ăn uống bởi nỗi xót xa khi nghĩ đến cảnh Công chúa sẽ sớm rời bỏ họ mà đi.
Ngay khi tin tức được tấu trình lên, Thiên Hoàng lập tức cử sứ giả đến ngôi nhà để xác thực xem lời đồn đại kia là thật hay giả.
Lão tiều phu già nua bước ra tiếp đón sứ giả hoàng triều. Chuỗi ngày đau buồn vừa qua đã vắt kiệt sức lực của lão; lão già đi trông thấy, già nua hơn rất nhiều so với cái tuổi thất tuần. Nức nở khóc nghẹn, lão thú nhận rằng lời đồn ấy hoàn toàn chính xác, nhưng lão quả quyết sẽ giăng bẫy bắt giữ đám sứ giả từ mặt trăng, làm mọi cách có thể để ngăn cản việc họ đưa Công chúa đi.
Bọn họ quay về tâu lại toàn bộ sự việc cho Thiên Hoàng. Đến ngày rằm tháng ấy, Thiên Hoàng phái một đội vệ binh gồm hai nghìn chiến binh đến túc trực canh gác ngôi nhà. Một nghìn người lập trận trên mái nhà, một nghìn người khác bao vây kín mít mọi lối ra vào. Tất cả đều là những cung thủ thiện xạ được huấn luyện bài bản, tay giương đầy cung tên sẵn sàng chiến đấu. Lão tiều phu và vợ cất giấu Công chúa Ánh Trăng vào một căn phòng sâu thẳm bên trong.
Lão già nghiêm lệnh không một ai được phép chợp mắt trong đêm nay, mọi người trong nhà phải cắt cử canh gác cẩn mật, quyết tâm bảo vệ Công chúa bằng mọi giá. Dựa vào những biện pháp phòng thủ ấy cùng sự tiếp viện của đội quân triều đình, lão thầm hy vọng có thể chống lại sứ giả mặt trăng, nhưng Công chúa lại lắc đầu bảo rằng mọi nỗ lực giữ chân nàng đều trở thành công cốc, bởi một khi đồng loại của nàng đã xuống tìm, chẳng thế lực nào trên đời có thể ngăn cản họ hoàn thành mục đích. Ngay cả binh lính của Thiên Hoàng cũng hoàn toàn lực bất tòng tâm. Đoạn, nàng nghẹn ngào rơi nước mắt thổ lộ rằng nàng vô cùng, vô cùng tiếc nuối khi phải rời xa lão và phu nhân, những người mà nàng đã xem như cha mẹ ruột thịt; nếu được quyền chọn lựa, nàng rất muốn ở lại bên họ trong suốt những năm tháng tuổi già, tìm cách đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục và tình thương bao la mà họ đã trọn đời dành cho nàng giữa chốn trần gian.
Đêm dần buông sâu! Vầng trăng vàng rực của mùa gặt vắt ngang đỉnh trời, đổ dòng ánh sáng vàng óng ánh trùm lên vạn vật đang chìm trong giấc ngủ. Sự tĩnh lặng bao trùm khắp các cánh rừng thông, rừng tre, và ngự trị trên cả mái nhà nơi một ngàn binh sĩ đang tĩnh lặng chờ đợi.
Rồi màn đêm nhạt dần ngả sang sắc xám của buổi bình minh, thắp lên trong lòng tất cả mọi người niềm hy vọng rằng tai họa đã qua đi—rằng rốt cuộc Công chúa Ánh Trăng sẽ không phải rời bỏ họ nữa. Thế nhưng ngay lúc ấy, những kẻ canh gác chợt bàng hoàng nhìn thấy một đám mây từ từ tụ lại bao quanh mặt trăng—và khi họ còn đang trố mắt quan sát, đám mây ấy bắt đầu cuồn cuộn cuộn cuộn sà xuống mặt đất. Nó đến ngày một gần hơn, khiến ai nấy đều chết lặng khi nhận ra hướng di chuyển của nó chính là ngôi nhà này.
Chẳng mấy chốc, bầu trời bị che khuất hoàn toàn, để rồi cuối cùng đám mây sà xuống bao trùm lấy ngôi nhà, chỉ cách mặt đất vỏn vẹn chừng mười thước. Ngay giữa lòng đám mây xuất hiện một cỗ xe bay rực rỡ, chở theo một đoàn các sinh linh phát sáng chói lọi. Một kẻ trong số đó trông tựa như vị vua hiển hách, rõ ràng là người đứng đầu, bước ra khỏi cỗ xe, lơ lửng giữa không trung và cất tiếng gọi lão tiều phu bước ra.
Hắn cất giọng: “Thời khắc Công chúa Ánh Trăng trở về mặt trăng, nơi chốn nàng đã ra đi, nay đã đến. Nàng ấy từng phạm phải một lỗi lầm trọng đại, và để chịu hình phạt, nàng đã bị đày xuống cõi trần gian này một thời gian. Chúng tôi thừa biết ông đã chăm sóc chu đáo cho Công chúa nhường nào, và chúng tôi đã ban thưởng cho ông sự giàu có cùng thịnh vượng để đền đáp điều đó. Số vàng trong những gốc tre chính là do chúng tôi đặt sẵn cho ông tìm thấy.”
Lão tiều phu cãi lại: “Ta đã nuôi nấng Công chúa này suốt hai mươi năm trời và chưa từng có lấy một lần con bé làm điều sai trái, thế nên người thiếu nữ mà các người đang tìm kiếm chắc chắn không phải là nàng ấy. Ta khẩn khoản xin các người hãy đi tìm ở nơi khác.”
Vị sứ giả liền cất cao giọng gọi:
“Công chúa Ánh Trăng, hãy bước ra khỏi túp lều hèn mọn này đi. Đừng nán lại đây thêm một giây phút nào nữa.”
Ngay theo tiếng gọi ấy, những tấm bình phong trong phòng Công chúa tự động trượt mở, hé lộ hình bóng nàng đang tỏa sáng rực rỡ trong ánh hào quang của chính mình, chói lọi, kỳ diệu và tràn ngập vẻ kiều diễm.
Vị sứ giả bước đến dìu nàng ra ngoài và đặt nàng lên cỗ xe. Nàng ngoảnh đầu nhìn lại, xót xa bắt gặp nỗi đau đớn tột cùng hiện rõ trên gương mặt lão tiều phu. Nàng dịu dàng an ủi ông, dặn dò rằng nàng chẳng hề muốn rời xa ông và ông phải luôn hướng về mặt trăng mỗi khi nhớ đến nàng.
Lão tiều phu khẩn khoản van xin được tòng vong đi cùng, nhưng yêu cầu đó bị từ chối thẳng thừng. Công chúa tháo lớp áo ngoài thêu thùa hoa văn của mình ra trao lại cho lão làm vật kỷ niệm.
Một trong những sinh linh trên mặt trăng cầm một chiếc áo cánh kỳ diệu, kẻ khác mang theo chiếc lọ đựng Linh dược Trường sinh được đưa cho Công chúa uống. Nàng nhấm nháp một chút rồi định trao phần còn lại cho lão già, nhưng đã bị ngăn cản kịp thời.
Chiếc áo choàng bằng lông vũ vừa được chuẩn bị khoác lên vai nàng, thì nàng bỗng cất lời:
“Hãy đợi một chút. Tôi không thể quên người bạn tốt của mình là Thiên Hoàng. Tôi phải viết cho ngài ấy một bức thư từ biệt lần cuối khi vẫn còn giữ nguyên hình hài phàm trần này.”
Mặc cho sự sốt ruột của sứ giả và những kẻ ngự triều trên cỗ xe, nàng vẫn bắt họ phải kiên nhẫn chờ đợi trong lúc đặt bút viết. Nàng đặt chiếc lọ đựng Linh dược Trường sinh cùng bức thư lại với nhau, trao tận tay lão tiều phu và dặn lão chuyển giao chúng cho Thiên Hoàng.
Đoạn, cỗ xe bắt đầu cất bánh vút lên tầng mây cao hướng về phía mặt trăng; và trong lúc tất cả mọi người ngước nhìn theo bóng nàng khuất dần với đôi mắt đệm lệ ngấn lệ, ánh bình minh vừa hé rạng, để rồi giữa sắc hồng rực rỡ của ngày mới, cỗ xe nguyệt thềm cùng toàn bộ đoàn người đã hòa lẫn vào những cụm mây bông xốp đang lững lờ trôi dạt khắp vòm trời trên đôi cánh của cơn gió sớm.
Bức thư của Công chúa Ánh Trăng được mang đến tận hoàng cung. Thiên Hoàng ôm nỗi sợ hãi chẳng dám chạm tay vào viên Linh dược Trường sinh, bèn lệnh cho người mang nó cùng bức thư lên đỉnh ngọn núi linh thiêng nhất xứ sở—Núi Fuji, và tại đó các sứ giả hoàng gia đã thiêu hủy chúng ngay trên đỉnh núi vào lúc mặt trời mọc. Thế nên cho đến tận ngày nay, người ta vẫn đồn đại rằng người ta vẫn nhìn thấy làn khói tỏa ra cuồn cuộn từ đỉnh Núi Fuji quyện vào tận những tầng mây.