Cuốn tiểu thuyết ta vừa đọc lúc đầu chỉ là một truyện chừng năm chục trang, Theo Durer, được xuất bản kèm theo hai truyện ngắn khác trong cùng cảnh phía sau là lịch sử, trong cuốn sách nhan đề Thần Chết đánh xe, in tại Nhà xuất bản Grasset năm 1934. Ba truyện ngắn này, thống nhất và đồng thời mâu thuẫn với nhau qua tựa đề lặp (Theo Durer, Theo Greco, Theo Rembrandt), chỉ là ba mảnh rời của một cuốn tiểu thuyết lớn tôi đã thai nghén và say sưa viết một phần giữa những năm 1921 và 1925, giữa tuổi 18 và tuổi 22. Với ý định vẽ nên một bức tranh lớn bằng tiểu thuyết trải qua nhiều thế kỷ và nhiều nhóm người có những liên hệ máu mủ hay tinh thần với nhau, chương đầu tiên của cuốn sách gồm khoảng bốn mươi trang và lúc đầu có tựa đề giản dị là Zénon. Trong một thời gian, tiểu thuyết quá tham vọng này song hành với phác thảo một cuốn khác sau này trở thành Hồi ký Hadrien. Vào khoảng năm 1926, tôi đã tạm gác cả hai cuốn này, và chỉ có ba mảnh rời như đã nói ra mắt bạn đọc với tên gọi Thần Chết đánh xe vào năm 1934, hầu như không sửa đổi gì, chỉ thêm khoảng một chục trang mãi về sau mới viết, một miêu tả ngắn gọn của cuộc gặp gỡ giữa Henri-Maximilien và Zénon tại Innsbruck trong Bí thuật Đen ngày nay.
Thần Chết đánh xe vào thời đó rất được giới phê bình hoan nghênh; một số bài báo thời ấy bây giờ đọc lại vẫn khiến tôi thực lòng cảm ơn các tác giả. Nhưng người viết sách có lý do để nghiêm khắc với bản thân hơn cả những người phán xét nó: chính người viết thấy rõ hơn những chỗ yếu kém; chính người viết là người duy nhất biết mình muốn gì và phải làm gì. Năm 1955, vài năm sau khi hoàn thành Hồi ký Hadrien, tôi quay lại với ba truyện này với ý định sửa để in lại. Một lần nữa, nhân vật bác sĩ triết gia và giả kim thuật gia lại chế ngự tôi. Chương “Cuộc trò chuyện ở Innsbruck”, viết năm 1956, là kết quả đầu tiên của sự trở lại này; phần còn lại của tác phẩm mãi đến tận năm 1962 mới được viết lại và đến năm 1965 thì xong. Không đến mười hai trang trong số năm chục trang trước kia nay tiếp tục được sửa chữa và rải rác trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết, nhưng bố cục dẫn dắt Zénon từ khi sinh ra ngoài giá thú ở Bruges đến khi chết trong tù ở chính thành phố này nhìn chung vẫn được giữ nguyên. Phần đầu của Bí thuật Đen (Viễn hành) lấy lại gần sát dàn ý của Zénon - Theo Durer những năm 1921 - 1934; phần hai và phần ba (Cuộc sống bất động và Ngục tù) hoàn toàn lấy từ sáu trang cuối trong truyện ngắn hơn bốn mươi năm[1] về trước.
Tôi không quên rằng những chỉ dẫn như chỉ dẫn như tôi đang viết đây có thể làm mất hứng độc giả khi chính tác giả đã giải thích như vậy và trao nó cho bạn đọc khi còn sống. Tuy nhiên tôi vẫn quyết định phải nói ra, để một vài độc giả có quan tâm đến sự ra đời của cuốn truyện được biết rõ. Điều tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh ở đây là Bí thuật Đen, cũng như Hồi ký Hadrien, là một trong hai cuốn ấp ủ từ thời niên thiếu, dù bị gác bỏ và được tiếp tục viết tùy theo hoàn cảnh, song đó chính là những tác phẩm mà tác giả cùng chung sống suốt cuộc đời. Điều khác nhau duy nhất, hoàn toàn ngẫu nhiên, đó là một phác thảo của Bí thuật Đen đã được xuất bản 31 năm trước khi cuốn sách hoàn chỉnh ra đời, trong khi những bản thảo đầu tiên của Hồi ký Hadrien không có may mắn và cũng là điều không may này. Còn lại, hai tiểu thuyết được xây dựng trong nhiều năm, và theo cách giống nhau như đào đắp liên tục, cho đến lúc cuối cùng thì cả hai đều được sáng tác và hoàn thiện liền một mạch. Tôi có nói ở một trang khác về những điểm mà tôi nghĩ là lợi thế, ít nhất là đối với tôi, khi tác giả giữ một mối quan hệ lâu dài với một nhân vật đã chọn hoặc đã tưởng tượng ngay từ thời niên thiếu, nhưng ta chỉ có thể thấy hết bí mật của nhân vật ấy khi chính ta chín chắn. Dù gì đi nữa, phương pháp này rất ít được sử dụng trong việc đưa vào và sắp xếp một cách hợp lý các chi tiết có sẵn, dù chỉ với ý định tránh nhầm lẫn về mặt thư mục học.
Hơn cả khi tự do tái tạo một nhân vật có thật đã để lại dấu ấn trong lịch sử, như Hoàng đế Hadrien, sáng tạo một nhân vật “lịch sử” hư cấu, như Zénon, dường như càng có thể không cần đến tư liệu trợ giúp. Song thực ra, hai tiến trình này có nhiều điểm giống nhau. Ở trường hợp thứ nhất, để cố gắng tái tạo nhân vật với tất cả chiều rộng và chiều sâu như nhân vật thật sự đã tồn tại, tiểu thuyết gia có tỉ mỉ và say mê bao nhiêu cũng không đủ trước khối tư liệu về nhân vật mà truyền thống lịch sử đã lập ra; trong trường hợp thứ hai, để tạo cho nhân vật hư cấu tính chân thực đặc biệt, được quy định bởi thời gian và không gian, mà nếu thiếu những yếu tố này thì “tiểu thuyết lịch sử” chỉ là một kiểu khiêu vũ giả trang thành công hoặc không thành công, tiểu thuyết gia chỉ có trong tay các sự kiện và các mốc thời gian của cuộc sống trong quá khứ, tức là Lịch sử.
Zénon, được giả định sinh năm 1510, lên chín tuổi khi ông già Léonard trút hơi thở cuối cùng tại nơi đày ở Amboise, ba mươi mốt tuổi vào năm chết của Paracelse, người mà tôi cho nhân vật của mình ngang hàng và đôi khi là đối thủ, ba mươi ba tuổi vào năm chết của Copecnic, người chỉ xuất bản công trình vĩ đại của mình khi nằm trên giường bệnh, nhưng những lý thuyết của ông từ lâu đã được truyền bá qua những bản viết tay trong những nhóm tư tưởng tiến bộ, điều này giải thích việc tôi để chàng tu sĩ trẻ được học về những lý thuyết này trên ghế nhà trường. Khi Dolet bị hành hình, trong tác phẩm Dolet được tôi coi là “người bán sách” đầu tiên của Zénon, Zénon ba mươi sáu tuổi, và ở tuổi bốn mươi ba khi Servet, cũng là thầy thuốc và cũng như ông, nghiên cứu về sự lưu thông của máu, bị hành quyết. Gần như Zénon sống cùng thời với nhà giải phẫu Vesale, nhà phẫu thuật Ambroise Pare, nhà thực vật học Cesalpin, nhà toán học và triết học Jérôme Cardan, ông chết năm năm sau khi Galilée ra đời, một năm sau năm sinh của Campanella. Khi ông tự tử, Giordano Bruno, mà số phận bắt phải chết trên giàn thiêu ba mươi mốt năm sau đó, mới khoảng hai mươi tuổi. Không xây dựng một cách máy móc một nhân vật tổng hợp, điều mà không một người viết tiểu thuyết có ý thức nào chấp nhận, song có nhiều điểm gắn bó nhà triết học hư cấu này với các nhân vật thực sống trong những khoảng thời gian cùng thế kỷ ấy, và với một vài nhân vật khác sống ở địa điểm ấy, dấn thân vào các cuộc phiêu lưu tương tự, hay tìm cách đạt đến cũng những mục đích ấy. Tôi nêu ra ở đay một số những điểm tiệm cận, mà đôi lúc tôi tìm kiếm chúng để phục vụ cho công việc tưởng tượng, song đôi lúc tôi chỉ ghi nhận chúng sau khi công việc hoàn tất, như một sự kiểm chứng.
Vậy nên Zénon sinh ra ngoài giá thú và học hành để tìm một chỗ đứng trong nhà thờ không phải không gợi nhớ đến con đường học vấn của Erasme, con trai một tu sĩ và một tiểu thư tư sản ở Rotterdam, bắt đầu cuộc đời dưới chiếc áo thầy tu dòng Augustin. Cuộc xô xát bắt nguồn từ chiếc máy dệt hoàn hảo được dựng lên bên cạnh đám thợ thủ công vùng thôn quê gợi lại những sự kiện giống như thể xảy ra vào khoảng giữa thế kỷ, và ngay từ năm 1529 tại Dantzig, ở đó tương truyền rằng tác giả một chiếc máy tương tự đã bị kết tội chết, và năm 1533 tại Bruges, các quan tòa thành phố này sau đó đã cấm một phương pháp nhuộm len mới, ít lâu sau các tiến bộ trong ngành báo in cũng có số phận tương tự tại Lyon. Một số mặt bạo lực trong tính cách của chàng Zénon trẻ tuổi có thể làm ta nghĩ đến Dolet, ví dụ cái chết của Perrotin gợi nhớ đến cái chết của Compaing, song vả loại mối liên hệ này khá xa vời. Chuỗi ngày chàng tu sĩ trẻ thực tập bên cạnh tu viện trưởng đội mũ lễ tu viện Saint-Bavon, tại Gand, ở đây ông này được giả định là có quan tâm đến khoa học giả kim, và sau đó là bên cạnh người Do thái bề ngoài theo đạo Cơ đốc Don Blas de Vela, có phần giống những học vấn mà Paracelse nhận được từ Đức Tổng giám mục Settgach và linh mục tu viện trưởng tu viện Spaheim, và phần khác giống những nghiên cứu về khoa học thần bí của Campanella dưới sự hướng dẫn của người Do thái Abraham. Các chuyến đi của Zénon, ba sự nghiệp của ông (giả kim thuật, y thuật và triết học), và thậm chí cả chuỗi ngày u uất tại Bâle rất sát những gì chúng ta biết hoặc được nghe kể về Paracelse, và quãng thời gian ở phương Đông, gần như bắt buộc trong tiểu sử các nhà triết học theo đuổi khoa học thần bí, cũng được gợi hứng từ những cuộc hành hương thật hoặc huyền thoại của nhà hóa học vĩ đại người Đức Thụy Sĩ. Câu chuyện về cô gái bị bắt và được ông lại ở Alger bước ra từ những tình huống gần như luôn được nhắc đi nhắc lại trong các tiểu thuyết của Tây Ban Nha về thời kỳ đó; chuyện về Sign Ulfsdatter, phu nhân de Froso lại lấy cảm hứng từ những bà lang mát tay “chuyên gia về thảo dược” xứ Scandinavie vào thời đó. Cuộc sống cung đình của Zénon tại Thụy Điểm dựa một phần vào thời kỳ Tycho-Brahé sống ở triều đình Đan Mạch, phần còn lại dựa vào truyền thuyết về một thầy thuốc tên Theophilus Homodei, bác sĩ của Jean III tại Thụy Điển một thế hệ sau. Ca phẫu thuật trên cơ thể Han được lấy nguyên từ truyện kể một cuộc mổ tương tự trong Hồi ký của Ambroise Paré. Trong một lĩnh vực kín đáo hơn, có lẽ cũng nên ghi lại rằng những nghi ngờ về thói đồng tính luyến ái (và đôi khi sự thực là như thế, được giấu giếm đến mức có thể được, bị chối bỏ đi khi cần thiết) đã có chỗ trong cuộc đời của Léonard de Vinci và của Dolet, của Paracelse và của Campanella, hệt như tôi đã chỉ ra trong cuộc đời hư cấu của Zénon. Cũng như vậy, việc triết gia giả kim thuật luôn thận trọng tìm người bảo trợ, lúc là một vị thuộc phái Cải cách, lúc ở chính trong Nhà thờ, cũng là điều nhiều người vô thần hay nhiều nhà thần luận ít nhiều bị đe dọa truy hại thường làm. Dầu vậy, trong cuộc chiến giữa Nhà thờ và phái Cải cách, Zénon vẫn có phần thiên về Cơ đốc giáo, như nhiều tư tưởng tự do cùng thế kỷ, như Bruno mặc dù bị Tòa thánh kết tội chết, hay như Campanella mặc dù sống ba mươi mốt năm tù hà khắc[2].
Về mặt tư tưởng, nhân vật Zénon vẫn còn dấu ấn của lề thói kinh viện, và phản kháng lại nó, dùng dằng giữa tính năng động muốn lật đổ cái đang có của một giả kim thuật gia và triết học duy vật cơ giới, giữa quan niệm có một Chúa tiềm ẩn bên trong sự vật và một chủ nghĩa vô thần không dám gọi tên Chúa trời, giữa chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật của nhà thực hành và trí tưởng tượng gần như thiên cảm của một môn đồ pháp truyền Do thái. Đồng thời ông cũng tiếp thu từ các triết gia thực sự và các nhà khoa học sống trong thế kỷ của ông. Phần lớn những nghiên cứu khoa học của ông được hình dung theo Những quyển vở của Léonard: đặc biệt là những thí nghiệm về hoạt động của cơ tim, tiền đề cho thành công của Harvey. Những thí nghiệm về sự lên xuống của nhựa cây và “khả năng thẩm thấu” của thực vật, báo trước công trình của Hales, được phóng tác từ một nhận xét của Léonard, và đối với Zénon đó là một nghiên cứu nhằm thẩm định một lý thuyết được hình thành ngay thời đó bởi Cesalpin[3].
Những giả thuyết về sự thay đổi của vỏ trái đất cũng được lấy từ Những quyển vở, nhưng cần phải nói rằng những suy tưởng trong lĩnh vực này, được bắt nguồn từ các triết gia và các nhà thơ cổ đại, hầu như lại tầm thường trong thơ ca đương thời. Những quan điểm về hóa thạch không chỉ rất gần với Vinci, mà còn giống với ý kiến của Fracastos ngay từ năm 1517, và Bernard Palissy khoảng bốn mươi năm sau. Các dự án thủy lực của nhà triết học, những “điều không tưởng về một dự án cơ khí” của ông, đặc biệt là những phác họa về máy bay, và cuối cùng là sáng chế công thức một loại lửa lỏng có thể dùng được trong những trận thủy chiến, đương nhiên được lấy nguyên mẫu từ những sáng chế tương tự của Vinci và của một vài nhà nghiên cứu khác thế kỷ mười sáu; đó là những ví dụ minh họa cho trí tò mò và óc nghiên cứu của những trí tuệ không hiếm hoi vào thời đó, song có thể nói họ ngầm trôi qua thời Phục hưng, vừa gắn với thời Trung cổ và thời hiện đại hơn, và đã cảm thấy trước những chiến thắng cũng như những nguy cơ đe dọa chúng ta[4]. Những lời cảnh báo tránh để các sáng chế kỹ thuật phục vụ mục đích xấu của con người, ngày nay có nguy cơ trở thành những điềm báo trước, vào thời đó được đề cập đến rất nhiều trong các sách về giả kim thuật; ta cũng gặp lại chúng ở Léonard và Cardan, nhưng trong một hoàn cảnh khác hẳn.
Trong một số trường hợp, tôi có mượn cả những câu nói về một tình cảm, một tư tưởng của các nhân vật lịch sử đương thời, để tăng tính xác thực rằng quan điểm ấy có chỗ đứng của nó ở thế kỷ XVI. Một suy nghĩ về sự điên rồ của chiến tranh được rút ra từ Erasme, một ý khác từ Léonard de Vinci. Đoạn văn Những lời tiên tri kỳ cục được mượn từ “Profezie” của Léonard, trừ hai dòng lấy từ một bài thơ bốn câu của Nostradamus. Câu nói về bản chất của vật chất, của ánh sáng và của sấm sét tóm tắt hai đoạn văn kỳ lạ của Paracelse[5]. Đoạn tranh luận về ma thuật lấy ý từ các tác giả thời đó như Agrippa de Nettesheim và Gian-Battista della Porta, mà đến nay họ vẫn khá được biết đến. Những trích dẫn La tinh về các công thức giả kim thuật gần như đều được lấy từ ba cuốn sách lớn hiện đại về giả kim thuật: Marcelin Berthelot, Hóa học Trung cổ, 1893; CG. Jung, Tâm lý và Giả kim thuật, 1944 sửa chữa và in lại 1952), và J. Evola, Giả kim thuật truyền thống, 1948, mỗi cuốn đều đi theo những quan điểm riêng, và cả ba hợp lại tạo thành một con đường hữu hiệu để tiến vào một lĩnh vực vẫn còn khó hiểu trong tư duy giả kim thuật. Công thức Bí thuật Đen, được lấy làm tựa đề cho cuốn sách này, trong các sách giả kim thuật được dùng để chỉ giai đoạn vật chất tách và hòa tan, là phần khó nhất trong Bí thuật Lớn, như người ta nói. Người ta vẫn tranh cãi liệu đây là biểu thức để chỉ những thí nghiệm táo bạo về bản thân vật chất hay là biểu tượng để chỉ những thử thách của trí tuệ tự giải phóng mình khỏi những thói quen và thành kiến. Có lẽ nó đã có lần lượt một trong hai nghĩa hoặc đồng thời cả hai.
Sáu mươi năm gói lại câu chuyện về Zénon cũng chứng kiến diễn tiến một số sự kiện khác liên quan đến chúng ta: sự chia rẽ trong Thiên chúa giáo, cho đến năm 1510 vẫn nguyên vẹn như thời Trung cổ, thành hai phái thù địch với nhau về thần học và về chính trị; sự phá sản của Cải cách để trở thành đạo Tin lành sau này và sự triệt phá cái có thể gọi là cánh tả của nó; bên cạnh đó là thất bại của Cơ đốc giáo bốn thế kỷ khép kín trong giáp sắt chống cải cách; những cuộc thám hiểm vĩ đại dần biến thành việc chia cắt thế giới một cách đơn giản, sự nhảy vọt về kinh tế tư bản, kết hợp với nhau lúc bắt đầu thời đại quân chủ. Những sự kiện trên quá rộng lớn để có thể được người đương thời nhận thấy, đã ảnh hưởng gián tiếp đến câu chuyện của Zénon, có lẽ trực tiếp hơn đến cuộc sống của các nhân vật phụ và những gì họ làm, vì họ chìm sâu hơn trong lề thói thủ cựu ở thế kỷ của họ. Bartholommé Campanus được dựng trên một hình mẫu giới nhà thờ thế kỷ trước đến lúc đó đã cũ rích, họ không mảy may ngờ vực văn hóa nhân văn đương thời. Linh mục tu viện trưởng tu viện Cordeliers từ tâm thì tiếc thay, vì hoàn cảnh, chỉ có rất ít người lộ rõ một chính kiến như thế trong lịch sử thế kỷ mười sáu, song ông được xây dựng một phần từ một con người cực kỳ thánh thiện thời đại ấy và đã trải qua hết những mốc quan trọng của cuộc sống thế tục trước khi bước vào sự nghiệp Nhà thờ hay trước khi mặc áo thầy tu. Bạn đọc sẽ nhận ra trong lời phản đối sự tra tấn của ông một lập luận, bản thân nó rất cơ đốc giáo, được mượn trước của Montaigne. Nhà bác học và chính khách tổng giám mục ở Bruges đã được tưởng tượng dựa trên nhiều giáo sĩ cao cấp Chống Cải cách, song nhân vật này cũng không trái ngược với số thông tin ít ỏi mà ta biết về tổng giám mục thật của những năm đó. Don Blas de Vela được phóng tác từ một César Brancas, tu viện trưởng tu viện Saint-André ở Villeneuve-lez-Avignon, một người rất giỏi về pháp truyền Kinh Thánh Do thái, bị các tu sĩ của mình đuổi đi vào năm 1597 vì “theo đạo Do thái”. Gương mặt mờ nhạt cố tình của Fray Juan gợi nhớ Fra Pietro Ponzio, bạn và môn đệ của chàng thanh niên Campanella.
Các chân dung chủ ngân hàng và thương nhân, Simon Adriansen trước khi theo phái rửa tội lại, nhà Ligre và sự leo cao trong bậc thang xã hội của họ, Martin Fugger, một nhân vật cũng hư cấu nhưng bước ra từ một gia đình thật đã có trong tay mình cả châu Âu thế kỷ mười sáu, họ theo rất sát khuôn mẫu thực trong lịch sử tài chính của thời đại, nền tảng của lịch sử. Henri-Maximilien thuộc số đông đảo những quý tộc có học và thích phiêu lưu, trang bị cho mình một hành trang khiêm tốn trí khôn loài người, mà thiết tưởng không cần phải nhắc lại với bạn đọc Pháp, song dòng giống rất tiếc lại lụi tắt dần vào cuối thế kỷ[6]. Cuối cùng, Colas Gheel, Giles Rombaut, Josse Cassel và những người bạn bần cùng của họ được nhìn một cách chính xác nhất có thể được qua những tài liệu đơn lược về cuộc sống dân chúng, vào một thời kỳ mà những nhà biên niên sử và nhà sử học chỉ chú ý gần như độc nhất đến đời sống giới tư sản, nếu không phải là cuộc sống cung đình. Cũng liều lĩnh như thế trong khắc họa những nhân vật nữ, vì gương mặt phụ nữ thời đó, trừ một số bà hoàng công chúa, nhìn chung ít được sáng rõ như gương mặt đàn ông.
Vả lại hơn một phần tư các vai phụ đi ngang qua tiểu thuyết này được khắc họa đúng như lịch sử hay biên niên sử địa phương ghi lại: sứ thần tòa thánh della Casa, biện lý Le Cocq, giáo sư Rondelet đúng thực đã gây xôn xao ở Montpelier vì cho mổ xác con trai ngay trước mắt mình, thầy thuốc Joseph Ha-Cohen, và, tất nhiên, trong rất nhiều người khác, còn có đô đốc Barbarossa và lang băm Ruggieri. Bernard Rottman, Jan Matthyis, Hans Bockhold, Knipperdolling, những nhân vật chính trong bi kịch, Munster, được rút ra từ những biên niên sử đương đại, và mặc dù chỉ những kẻ thù của Nhà thờ mới lưu truyền câu chuyện về cuộc nổi dậy của giáo phái rửa tội lại, nhưng có quá nhiều thí dụ về sự cuồng tín và những cơn sốt bị bao vây vào thời nay để chúng ta phải chấp nhận phần lớn những chi tiết trong những chuyên phiêu lưu tàn bạo của họ. Người thợ may Adrian và vợ Marie bước ra từ Các bi kịch của Agrippa d’Aubigné; các cô gái Ý của Sienne và những chàng trai Pháp mến mộ họ là những nhân vật trong Brantôme và Montluc. Cuộc viếng thăm của Marguerite d’Autriche đến nhà Henri-Juste được hư cấu, cũng như bản thân Henri-Juste, nhưng những chuyển khoản của bà hoàng hậu này với các nhà băng, cũng như tình âu yếm bà dành cho con vẹt “người yêu xanh” mà khi nó chết đã có một nhà thơ cung đình khóc than nó, cũng như tình thân mật giữa bà và phu nhân Laodamie theo Brantôme, là những chi tiết thật, lời bình luận lạ lùng về những tình yêu giữa phụ nữ ở đây đi kèm với chân dung của Marguerite d’Autriche được rút ra từ một trang khác của cuốn biên niên sử này. Chi tiết bà chủ gia đình cho con bú giữa buổi hoàng hậu đến thăm được lấy trong Hồi ký của Marguerite de Navarre, khi bà đi thăm Flandre một thế hệ sua. Đại sứ Lorenzaccio tại Thổ Nhĩ Kỳ phục vụ Vua nước Pháp, hành trình của ông qua Lyon với đoàn tùy tùng của mình trong đó ít nhất có một người More, và vụ ám sát hụt ông tại thành phố này được tài liệu thời đó cung cấp. Cảnh dịch hạch tại Bâle và tại Cologne hoàn toàn có lý dựa trên tần số xuất hiện của bệnh gần như là nạn dịch khắp châu Âu thế kỷ mười sáu, nhưng năm 1549 được chọn do yêu cầu của truyện chứ không hề dựa trận dịch phát nào được biết đến ở xứ sông Ranh này. Lời Zénon nói vào tháng Mười năm 1551 về những nguy cơ đe dọa Servet (bị xử và hỏa thiêu năm 1553) không phải một kết luận vội vã, như có thể có người nghĩ vậy, mà xuất phát từ những nguy hiểm mà thầy thuốc xứ catalan vẫn chịu đựng trước đó từ lâu, dù bởi tay người Cơ đốc giáo hay người theo giáo phái Cải cách, ít nhất cả hai thế lực này đều đồng ý phải hiến cho thần lửa người đàn ông thiên tài và không may này. Hình bóng nhân tình của tổng giám mục Munster không có chỗ dựa lịch sử, nhưng tên cô ta gợi nghĩ đến tên nhân tình một giám mục nổi tiếng ở Salzbourg thế kỷ mười sáu. Chỉ trừ hai hay ba ngoại lệ, tên các nhân vật hư cấu đều được lấy từ tư liệu lưu trữ hay phả hệ, đôi khi từ tài liệu của chính tác giả. Một số tên đã nổi tiếng, ví dụ như công tước Albe, được viết ở đây theo cách viết thời Phục hưng.
Những cáo trạng chính do nhà cầm quyền cũng như giáo hội kết hợp lại chống Zénon và những chi tiết pháp lý trong vụ án này được mượn nguyên và thay đổi vì cần thiết từ khoảng nửa tá lời buộc tội nổi tiếng hoặc mờ ám vào phần sau thế kỷ mười sáu và đầu thế kỷ mười bảy, có lẽ đặc biệt giống những vụ án đầu tiên chống lại Campanella, trong đó bị can bị buộc tội xâm hại trật tự thế tục bên cạnh các tội báng bổ Chúa và tà đạo[7]. Cuộc tranh chấp tiềm tàng giữa ông biện lý Le Cocq với tổng giám mục của Bruges, làm chậm lại và phức tạp hóa vụ án Zénon, là hư cấu cũng như toàn bộ vụ án này, nhưng nó cũng có thể được suy ra từ sự thù địch lúc đó đã có trong các thành phố của Flandre phản đối những đặc quyền hành chính trong tay các giám mục mới được phong dưới thời Philippe II. Câu nói hài hước của nhà thần học Hieronymus van Palmaert nên cho Zénon đi thám hiểm những thế giới vô tận của mình trên thực tế chính là của Gaspar Schopp, nhà vô địch Đức trong công cuộc Chống Cải cách, nói khi Giordano Bruno bị hành quyết. Schopp cũng là tác giả lời đề nghị đùa cợt trong vụ Campanella là nên cho tù nhân ra chiến đấu với bọn dị giáo trên những chiếc máy bay ném bom do ông sáng chế. Phần lớn các chi tiết về thủ tục hình sự đặc thù của Bruges, được tả trong những chương cuối, như nhục hình Zénon kể lại cho linh mục phụ tá Campanus diễn ra ở Bruges năm 1521 với một tội phạm không rõ tên, khổ hình thiêu sống đối với tội giết trẻ em, và giàn thiêu dựng ngoài thành cho những kẻ bị kết tội có những hành vi ngược với phong tục và không được luật pháp cho phép, được rút ra từ cuốn sách của Malcolm Letts, Bruges và quá khứ của nó, đặc biệt các chi tiết lấy từ kho lưu trữ tư pháp của Bruges đều được tra cứu chính xác nhờ tài liệu lưu trữ rất đầy đủ, Cảnh về ngày Thứ ba phá chay được tưởng tượng từ những gì diễn ra gần một thế kỷ trước đó trong thành phố này khi các cố vấn của Hoàng Đế Maximilien bị hành quyết. Tình huống một quan tòa ngủ khi Tòa đang xử và lúc tỉnh dậy nghĩ án tử hình đã được tuyên gần như được lấy y nguyên từ một giai thoại vào thời đó về Jacques Hessele, quan tòa tại Tòa án dị giáo.
Tuy nhiên có một số biến cố trong lịch sử đã được biến đổi đôi chút để phù hợp với khung cảnh truyện. Thực tế bác sĩ Rondelet đã mổ xác một đứa bé trai, và đứa bé này đã chết khi còn nhỏ tuổi. Sự kiện trong truyện được đẩy sớm hơn vài năm, và đứa bé biến thành một cậu bé ngưỡng tuổi thiếu niên, để cậu có thể là “thí dụ đẹp đẽ về máy người” để từ đó Zénon suy tưởng. Trên thực tế, Rondelet, nổi tiếng từ rất sớm với các công trình giải phẫu (và vì chúng ông ta đã phẫu tích cả mẹ vợ), chỉ ngang tuổi với anh trai của người học trò tưởng tượng. Gustave Vasa đúng là thường xuyên lui tới các lâu đài của ông ở Upsal và Vadstena, nhưng ngày tháng được đưa ra ở đây và việc Vua ngự triều cùng hội đồng quý tộc mùa thu năm 1558 trước hết là do tác giả muốn tạo ra trong một vài dòng một sự thống nhất giữa những thay đổi về chỗ ở của nhà vua và công việc trị vì đất nước của ông ta.
Thời gian những vụ quấy phá đầu tiên được coi là của các thuyền trưởng đội quân “Ăn mày của biển” được giữ chính xác. Nhưng những chiến công và tiếng tăm của họ có lẽ hơi sớm hơn một chút so với thực tế. Câu chuyện về “người gác cổng” của bá tước d’Egmont được trộn từ vụ hành quyết Jean de Beausart d’Armentieres, vệ sĩ của d’Egmont, và vụ tra tấn khủng khiếp Pierre Col, người gác cổng của bá tước de Nassau. Thực tế ông này đã từ chối nhượng một bức tranh của Bosch, không phải cho công tước Albe như linh mục tu viện trưởng tu viện Cordeliers kể trong truyện, mà cho Juan Bolea, đại úy tư pháp và trụ cột lớn của quân đội Tây Ban Nha; giả thiết về việc bức tranh này được dành cho bộ sưu tầm của Nhà Vua, mà người ta biết Vua rất thích tranh của Bosch, là theo thiển ý tôi và tôi thấy ít nhất giả thuyết này có thể đứng vững được. Cảnh trốn chạy không thành của Ngài de Battenbourg và các quý tộc cùng đi và vụ hành hình họ tại Vilvorde có được gọn lại đôi chút về mặt thời gian. Mốc thời gian các tình tiết trong triều đình vua Thổ dưới sự trị vì của Soliman cũng đã được sửa đổi nhẹ. Cuối cùng có hai ba lần gì đó, do cách sử dụng lập luận khi nói, nên nhân vật đưa ra những yếu tố bề ngoài có vẻ không chính xác. Zénon lúc hai mươi tuổi, trên đường tới Tây Ban Nha, nói Tây Ban Nha là đất nước của Avicenne, vì theo truyền thống, chính qua đất nước này mà triết học và y học Ả rập truy nhập vào phương tây cơ đốc giáo, và chàng không mấy để ý rằng con người vĩ đại này của thế kỷ mười này sinh ra ở Bokhara và chết tại ispahan. Nicolas de Cusa trong một thời gian dài nếu không nói là cho đến cùng, đã có xu hướng hòa giải với dị giáo Giăng Huít hơn là như tổng giám mục Bruges nói. Nhưng khi tranh luận với Zénon, ông giám mục ít nhiều có ý thức xoay ngài giáo sĩ lớn thế kỷ mười lăm gần với những quan điểm khắt khe hơn của công cuộc Chống Cải cách.
Có một thay đổi theo quan điểm nào đó là đáng kể, đó là thay đổi về thời gian diễn ra hai vụ án phản phong tục của hai nhóm giáo sĩ dòng Augustin và Cordelier ở Gand và ở Bruges, với kết quả mười ba thầy tu ở Gand và mười thầy tu ở Bruges bị nhục hình. Hai vụ án này chỉ diễn ra vào năm 1578, chậm hơn mười năm so với thời gian trong truyện, và vào thời điểm những người thù địch với Nhà Vua, được coi là chiến đấu vì Tổ quốc chống lại người Tây Ban Nha, đã chiếm được hai thành phố này trong một khoảng thời gian ngắn ngủi[8].
Dù sao khi đẩy các vụ án này lên sớm hơn và gán vụ sau vào thảm họa của Zénon, chủ ý tôi là thử tìm cách chỉ ra rằng trên bối cảnh chính trị địa phương rất khác nhau, nhưng cùng hắc ám như nhau, chính sự điên rồ đồng lõa với phe chống Nhà thờ, cộng với sự sợ hãi của giới chức giáo hội muốn bóp nghẹt những vụ tai tiếng, sẽ dẫn đến một sự dã man hợp pháp như nhau. Chẳng cần thiết phải viện đến vu khống để có những lời buộc tội. Tôi lấy lại ở đây những suy nghĩ của Bartholommé Campanus trước vụ tự tử của Pierre de Hamaere, vụ này diễn ra như tôi đã kể, nhưng tại Gand, vì kẻ tội phạm này thuộc nhóm tu sĩ ở Gand chứ không phải ở Bruges: cái chết tự nguyện, rất hiếm vào thời đó, và bị đạo đức cơ đốc giáo coi như một tội ác không thể tha thứ được này làm người ta nghĩ phạm nhân hẳn đã vi phạm nhiều điều khác trong giới luật trước khi bất chấp điều cấm ngặt bậc nhất này. Ngoài nhân vật có thật Pierre de Hamaere, nhóm thầy tu ở Bruges trong truyện chỉ có bảy người, tất cả đều được hư cấu, và cô gái nhà Loos, mà chàng Cyprien yêu, cũng là nhân vật tưởng tượng. Tôi cũng hư cấu giả thiết mà Zénon nghi ngờ và các quan tòa cố tìm bằng chứng, giả thiết có mối quan hệ nào đó giữa những người tự xưng là “Thiên thần ” và những người còn sót của một số giáo phái bị tuyệt diệt rồi bị rơi vào quên lãng từ gần một thế kỷ, như giáo phái Adamites hay Anh em và Chị em của Tự do Tinh thần, mà các tín đồ bị nghi ngờ là có sự dâm dục tương tự, và theo một số nhà bác học thì có thể, thậm chí thường xuyên, tìm thấy dấu vết các giáo phái này trong tác phẩm của Bosch. Nhắc đến họ chỉ có một mục đích là chứng minh rằng ở bên dưới những học thuyết đan nhau trong thế kỷ mười sáu vẫn có sự sôi sục vĩnh hằng của những dị giáo đầy dục tính cổ đại, được đoán rằng cũng có mặt trong những vụ án khác của thời đại ấy. Hơn nữa, bạn đọc có lẽ đã nhận xét rằng bức vẽ châm chọc mà Florian gửi cho Zénon không phải là gì khác ngoài một tác phẩm họa lại gần như chính xác hai hay ba cụm tranh trong Vườn hoan lạc địa đàng của Jérôme Bosch, nay còn ở Bảo tàng Prado, và có trong catalo các tác phẩm nghệ thuật thuộc sở hữu của Philippe II dưới nhan đề: Una pintura de la variedad del Mundo.
❀ ❀ ❀
[1] (Tất cả các ghi chú trong “Lời tác giả” đều là các chú thích của tác giả). Tên truyện thứ nhất trong cuốn xuất bản năm 1934, và tên hai truyện còn lại trong tập sách này cũng vậy, có sai lầm là dễ đưa đến hàm ý đó là các tác phẩm viết về sự nghiệp của ba họa sĩ, điều này không đúng. Theo Durer đã được chọn vì bức họa nổi tiếng Ưu sầu (melancholia), trong đó vẽ một nhân vật u tối, có lẽ là một con người thiên tài đang suy tưởng một cách cay đắng giữa đống dụng cụ, nhưng một độc giả có đầu óc hiểu theo nghĩa đen đã lưu ý tôi là câu chuyện của Zénon có vẻ flamand hơn là Đức. Nhận xét này đến nay đúng hơn trước, vì phần hai và phần ba của cuốn truyện, trước kia chưa có, hoàn toàn diễn ra tại Flandre, và các chủ đề về sự lộn xộn và sự sợ hãi của thế giới mà Bosch và Breugheli đặc tả đã lấn ra toàn bộ cuốn sách, trong phác thảo cũ không đến mức ấy.
[2] Tôi không tranh luận ở đây về lý do tạo nên thái độ này, Leon Blanchet đã phân tích một cách tuyệt vời trong Campanella, Paris,1920, về thái độ này ở một số lớn các triết gia thế kỷ XVI. Cuốn sách của J.Huizinga về Erasme, với quan điểm phân tích hoàn toàn khác, đã dẫn đến cùng kết quả xuất phát từ cùng nguyên nhân, xét trên một trường hợp đặc biệt. Chúng tôi chỉ nói rằng linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier không nhầm khi nhận ra trong những chỉ trích của Zénon nhằm vào Luther có sự phản bác gián tiếp chống lại bản thân Cơ đốc giáo.
[3] Đối với các thí nghiệm y học và phẫu thuật của Zénon, xin xem Phẫu tích giải phẫu của Leonard de Vinci, E. Belt, và Léonard de Vinci, nhà sinh học, F.S. Bodenheimer, trong Léonard de Vinci và thí nghiệm khoa học thế kỷ mười sáu, Presses Universitaires de France, 1953. Với lý thuyết của Cesalpin, và nhìn chung với các nghiên cứu thực vật học thời Phục hưng, xin đọc các sách liên quan trong đó có phần đầu cuốn sách của E.Guyenot, Khoa học đời sống thế kỷ mười bảy và thế kỷ mười tám, Paris, 1941.
[4] Với “lửa lòng”, trong nhiều năm là vũ khí bí mật của Byzance, sau đó góp phần trong cuộc chinh phạt của người Mông cổ. Ở phương Tây, Hội nghị giám mục Latran lần thứ hai (1139) đã cấm sử dụng loại vụ khĩ này, lệnh cấm được tuân thủ, một phần vì dầu mỏ, nguyên liệu không thể thiếu, khi đó gần như không nằm trong tầm tay các nhà kỹ sư quân sự phương tây; thuốc súng đã biến vũ khí này thành một trong những “thành tựu” bị bỏ quên cho đến tận ngày nay. Sáng chế của Zénon vì vậy chính là phục hồi lại công thức cổ của Byzantine và kết hợp nó với các phương pháp đạn đạo mới. Xin xem về chủ đề này R.J. Forbes Nghiên cứu Công nghệ cổ, tập 1, Leyde, 1964.
[5] Paracelse, Das Buch Meteoronum, NXB Cologne, 1566, được dẫn bởi B. de Telepnef, Paracelsus, Saint-Gall, 1945.
[6] Đoạn 99 của Petrone, như Henri-Maximilien trích dẫn, có thêm vào dòng ngoài nguyên bản do Nodot viết vào thế kỷ mười bảy, do yêu cầu của truyện ở đây chúng ta giả định đó là của một số tác gia theo chủ nghĩa nhân văn mãnh liệt thời Phục hưng, có thể do chính Henri-Maximilien. In summa serenitate là một trích dẫn ngụy tác.
[7] Với những thủ tục xét xử phức tạp nửa nhà thờ, nửa dân sự, xin xem các biên bản dài vô tận được Luigi Amabile tập hợp lại trong Fra Tommaso Campanella, Naples, 1882, 3 tập.
[8] Về vụ này, cũng như về nhiều sự kiện được nêu trong đoạn trên, xin xem Hồi ký khuyết danh về những vụ bạo loạn ở Hà Lan, J.B.Blaes, Bruxelles, Heussner, 1859-1860, hai tập.