Anh rất nổi bật tại Cérisoles, anh được giao nhiệm vụ bảo vệ vài thành nhỏ đã lung lay ở Milan, và như anh vẫn nói đùa, đã làm việc khéo léo như César quá cố bắt thế giới tôn mình là chủ nhân; Blaise de Montlue[1] cũng cảm phục anh vì những ngôn từ đẹp đi vào lòng người. Cuộc đời anh phục vụ xen kẽ hai vua: Vua dốc lòng kính Chúa Cơ đốc và Vua Thiên chúa giáo, nhưng tính vui vẻ của người Pháp hợp với anh hơn. Là nhà thơ, anh biện minh cho những câu thơ kém cỏi của mình rằng anh phải lo đi đánh nhau. Là đại úy, anh giải thích những nhầm lẫn về chiến thuật là do hồn thơ chế ngự tâm trí anh; vả lại anh được đánh giá khá cao trong cả hai nghề, song cả hai lĩnh vực ấy trộn lại cũng chẳng làm anh được may mắn. Những cuộc lang thang ở Bán đảo cuối cùng khiến anh tỉnh ngộ; sau một lần phải trả giá, anh biết cần nghi ngờ những quí bà lẳng lơ ở Rôme, và anh học được cách chọn mua dưa ngon ở Traste-vere, để rồi cẩu thả ném những mẩu vỏ xanh xanh xuống sông Tibre. Anh không quên rằng Hồng y giáo chủ Maurizio Caraffa chỉ coi anh như một thằng không đến nỗi đại ngốc, và vào thời bình bố thí cho anh chức đại úy ngự lâm với đồng lương bèo bọt. Tình nhân của anh Vanina ở Naples bòn rút phần lớn số lương đó để nuôi đứa con có lẽ cũng không phải của anh; không quan trọng. Phu nhân Renée de France, lâu đài của bà là nơi trú chân của người nghèo, sẵn sàng cho anh một chức vụ nhàn rỗi tại Ferrare, nhưng ở đấy bà ta còn đón tiếp tất cả những kẻ nhếch nhác đến đó, miễn là họ cùng bà chuếnh choáng với chút rượu vang chua Psaumes. Đại úy chẳng cần gì đến những con người đó. Anh càng ngày càng bằng lòng với chức nghiệp quèn và mỗi sáng lại cùng nó khoác chiếc áo Jô kề vá víu với niềm hưng phấn như gặp lại bạn cũ, vui vẻ thú nhận chỉ tắm khi trời mưa, cùng ăn mỡ hôi, ngủ trên rơm ẩm với bọn bạn tạp nham gồm những người Picardie lang thang, người làm thuê Anbani và người Florentin bị tội biệt xứ, và cùng với sự âu yếm của con chó vàng đi theo đoàn người. Nhưng cuộc sống khắc khổ không thiếu những thú vui. Vẫn còn trong anh tình yêu với những tên tuổi lỗi lạc thời cổ đại đã để lại trên từng mẩu tường nước Ý một lớp bụi vàng hay những mẩu vải đỏ còn lại từ một kỷ niệm lớn; anh vẫn thích lăng quăng trên phố đêm hoặc dưới ánh mặt trời, bắt chuyện bằng tiếng Toscan với một cô gái xinh xắn để chờ một nụ hôn hoặc một tràng chửi rủa, uống nước vòi phun rồi vẩy nước từ đôi tay to lớn xuống bụi đường, hay vừa đái vào cái cột nào đó vừa liếc mắt mò mẫm đọc mấy câu La tinh ghi trên đó.
Hiếm khi anh nhặt nhạnh được chút dư thừa của ông bố. Tiền niên thu từ xưởng đường ở Maastricht thỉnh thoảng tìm về túi anh, ngoài ra còn được hưởng một trong những miếng đất nhỏ nhất của gia đình, ở Flandre nơi đó được gọi là Lombardie, chỉ riêng cái tên này cũng làm anh buồn cười vì đã từng đi khắp cả xứ Lombardie thực sự. Gà thiến và gỗ rừng của vùng lãnh địa này đều thuộc về lò nướng và lò sưởi của em anh; mà cũng đúng thôi: vào một ngày nào đó của tuổi mười sáu anh đã vui vẻ từ chối quyền anh cả, đổi lấy đĩa đậu lăng khẩu phần lính. Những bức thư ngắn ngủi đầy nghi thức thỉnh thoảng nhận được từ người em vào dịp ma chay hay cưới xin ai đó đúng là bao giờ cũng kết thúc với câu sẵn lòng giúp đỡ khi cần thiết, nhưng Henri-Maximilien biết rõ là khi viết những dòng ấy người ta không nghĩ đến cái lúc phải thật sự giúp đỡ. Vả lại Philibert Ligre không bao giờ bỏ lỡ dịp để kêu ca phải hoàn thành những nghĩa vụ khổng lồ và phải bỏ ra rất nhiều tiền để chi phí cho vị trí thành viên Hội đồng Hà lan, để rồi cuối cùng chính chàng đại úy, chả lo lắng gì sất, lại có vẻ là người giàu có, còn kẻ mình chất đầy vàng thì luôn khó chịu giữa đống rương hòm mà nếu phải rút vàng ra khỏi đó thì thật xấu hổ.
Anh chàng theo nghiệp lính chỉ về nhà có một lần. Người ta phô trương anh lắm lắm, như để ai cũng phải biết rằng con người hoang tàn này dù sao cũng vẫn ra gì. Ngay chuyện là người tin cẩn của thống chế Estrosse mà hầu như chả có nghề nghiệp gì rõ ràng và chả có chức vị gì đã làm cho anh như được tráng lớp men bóng loáng, như thể nhờ bóng tối anh trở thành to lớn. Vài năm tuổi đời hơn em trai đã biến anh, anh cảm thấy thế, thành đại loại như di tích của một thời kỳ khác; anh thấy mình thật ngây thơ bên cạnh người đàn ông trẻ, thận trọng và lạnh lùng kia. Ít lâu trước khi anh lên đường, Philibert thì thào với anh rằng Hoàng đế, Ngài vẫn thường mua của anh ta vòng xoắn ngọc giá rẻ, sẵn sàng trao tặng một tước vị cho miếng đất ở Lombardie, nếu tài chiến trận và ngoại giao của anh từ nay sẽ chỉ phục vụ cho vương quốc thần thánh. Lời từ chối của anh làm ông em tự ái: ừ thì cứ cho là Henri-Maximilien khinh bỉ việc phải đeo sau mình cái đuôi như vậy đi, nhưng tước vị này cũng làm cho cả gia đình thêm danh giá. Henri-Maximilien trả lời bằng cách khuyên em trai cứ đầu tư cho tiếng tăm của gia đình vào chỗ anh ta thấy xứng đáng. Anh nhanh chóng chán ngấy lớp vữa trát tuyệt đẹp trong ngôi nhà ở Steenberg rất được ông em ưa thích so với lãnh địa Dranoutre cũ kỹ, nhưng người đã quen với tinh tế của nghệ thuật Ý thì chỉ thấy chất thô tục trong những bức tranh tường lấy ý từ ngụ ngôn. Anh ngán ngẩm nhìn cô em dâu buồn tẻ người đầy châu báu, và một loạt các em gái và rể sống trong các biệt thự quý tộc ở kế gần cùng lũ con cái và đám gia sư run rẩy. Những cuộc cãi vã nho nhỏ, những mánh khóe, những thỏa hiệp nhạt nhẽo dưới trán bọn họ khiến anh lại yêu thích cái xã hội của những kẻ võ biền và dân bán hàng rong cho lính, nơi ấy ít nhất người ta có thể nói tục và ợ thoải mái, hơn nữa xã hội ấy hiển nhiên là lớp bọt nổi chứ không phải thứ cặn bã được ngụy trang.
Lanza del Vasto bạn anh đã tìm được cho anh một chỗ trong dinh thự quận công Modène, ở đây hòa bình kéo dài quá lâu đối với anh, nên Henri-Maximilien vẫn ngầm để ý xem chuyện anh đàm phán về nội vụ Toscane đi đến đâu: cuối cùng các điệp viên của Strozzi đã thuyết phục người Sienne vùng lên chống lại Hoàng đế để lấy lại tự do, và một đội quân của Pháp nhanh chóng đến bảo vệ những người yêu quê hương này chống lại Hoàng đế Đức. Henri-Maximilien lại đầu quân cho Ngài Montluc: một cuộc bao vây là dịp trời cho không nên bỏ lỡ. Mùa đông năm ấy thật khắc nghiệt; súng đại bác trên tường thành sáng sớm ra đã bị phủ một lớp giá; khẩu phần hà tiện chỉ có ôliu và thức ăn muối dai ngoách không sao vừa lòng những cái lưỡi Pháp sành ăn. Ngài Montluc chỉ ra mắt trước người dân địa phương sau khi đã xoa đôi má xanh xao bằng rượu vang như diễn viên bôi phấn trước khi lên sân khấu, và ngài che những chiếc ngáp dài vì đói bằng đôi tay đi găng. Henri-Maximilien làm dăm ba câu thơ khôi hài đại ý nói phải đem xiên nướng con Đại bàng đậu trên cờ hiệu quân Hoàng đế; song tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài và là những lời kịch thoại như ta vẫn thấy trong các vở kịch của Plaute hay ở những sàn diễn rong của các nghệ sĩ Bergame. Con Đại bàng sẽ một lần nữa ngấu nghiến chén những con ngỗng Ý sau khi đã đi đây đó quơ vài chú gà trống Pháp kiêu hãnh; một vài chiến binh dũng cảm sẽ chết, mà đó cũng là nghề của họ, lúc đó Hoàng đế sẽ cho hát khúc tụng ca Chúa Te Deum mừng chiến thắng ở Sienne; vãn khoản nợ mới, được thương lượng một cách thông thái y như khi thương lượng một hiệp ước giữa hai ông hoàng, sẽ làm Ngài gắn bó chặt chẽ hơn với nhà Ligre, từ nhiều năm nay nhà này cũng đã kín đáo mang tên khác, hoặc với một số quầy thu ngân kình địch ở Anvers hay ở Đức. Hai mươi nhăm năm chiến tranh hay hòa bình có vũ trang đã dạy cho đại úy biết đằng sau những quân bài có gì.
Nhưng anh chàng Flamand đói rách này vẫn vui vẻ chơi bài, cười ầm ĩ, khoái trá nhìn những đám rước duyên dáng trên quảng trường gồm các phu nhân quý tộc Sienne cải trang thành các nữ Thủy thần, nữ Sơn thần mặc váy ngắn bằng sa tanh hồng. Những ruy băng cờ hiệu màu mè, những bộ váy tốc lên một cách dễ chịu khi có gió nhẹ ùa vào ở chỗ rẽ trên phố tối giống như công sự, làm cả đội quân tươi tỉnh lên, và ở mức độ nào đó cả các ông quý tộc sa sút vì mất những món béo bở và vì thực phẩm đắt khủng khiếp cũng thế. Hồng y giáo chủ Ferrare tâng bốc Signora Fausta lên tận mây xanh, dù gió phương bắc làm đôi vai trần mũm mĩm của nàng nổi da gà. Ngài Ternes trao huân chương cho Signora Fortinguerra, người đã duyên dáng trưng đôi chân dài của thần Diana cho kẻ thù xem từ trên tường thành cao; Henri-Maximilien cũng làm như vậy với bím tóc nâu của Signora Piccolomini, một sắc đẹp đáng tự hào, một người vui vẻ với tình trạng góa phụ êm ái mà chẳng thấy gò bó gì. Với người đẹp này anh thấy mình bắt đầu có niềm đam mê kiệt sức của một đàn ông quá chín. Vào những lúc khoác lác hay tâm tình, giữa đám các Ngài, chàng chiến binh không quên lộ một vẻ vinh quang kín đáo của một chàng trai đang yêu được thỏa mãn, những cái nhăn mặt vụng về mà mỗi người biết đó là cái gì, nhưng giữa chiến hữu với nhau người ta dễ chấp nhận để đến khi mình có muốn khoác lác về tương lai tốt đẹp thì cũng sẽ được nghe một cách đầy thương cảm. Tuy nhiên anh cũng biết rằng người đẹp giễu cợt về anh với những anh chàng tán tỉnh vây xung quanh. Nhưng anh đã bao giờ đẹp đâu; anh không còn trẻ nữa; gió và mặt trời làm da anh bị nướng chín như màu gạch thành Sienne; ngồi dưới chân người đẹp, tê tái với yêu đương, đôi khi anh thấy trong đầu có ý nghĩ rằng cái kiểu một đằng thở dài đằng kia điệu bộ cũng không ngu ngốc hơn kiểu hai đội quân gặp nhau, và rằng anh thích thấy nàng trần trụi quấn lấy cơ thể một thanh niên đẹp trai, hay chơi những trò tình nho nhỏ với một cô hầu hơn là bắt thân thể đẹp đẽ ấy phải chấp nhận trọng lượng nặng nề của anh. Nhưng, đêm đến, nằm ngủ dưới tấm chăn mỏng, bất thần nhớ đến bàn tay dài đeo nhẫn hất mái tóc theo cách rất riêng, anh lại bật dậy châm nến, viết những câu thơ loằng ngoằng với niềm ghen tuông đè nặng trong tim.
Một lần khi các chạn thức ăn ở Sienne còn rỗng hơn thường lệ vốn đã rỗng, anh tự cho phép mang đến cho nàng nữ thần sông núi tóc nâu một vài lát giăm bông kiếm được theo cách lính. Góa phụ trẻ đang nằm trên giường nghỉ, chống đỡ cái lạnh bằng chiếc chăn phủ giường chần bông, giải trí bằng cách nghịch tua vàng ở gối đệm. Nàng ngồi dậy, đôi lông mày bỗng run run, và, rất nhanh, với một cử chỉ gần như là ảo ảnh, nàng cúi xuống phía người bảo trợ và hôn tay anh. Anh thấy một ánh lóe hạnh phúc mà anh không thấy ngay cả trong những lần nàng thỏa nguyện nhất. Anh nhẹ nhàng rút lui để nàng ăn.
Anh vẫn thường tự hỏi mình sẽ chết như thế nào và trong hoàn cảnh nào: một phát súng hỏa mai làm anh bị thương, mình đẫm máu, anh được trang trọng đặt nằm trên những cây giáo gẫy Tây Ban Nha hoa mỹ còn sót lại, các ông hoàng thương tiếc và các chiến hữu khóc than, rồi anh được chôn cất dưới tấm bia khắc chữ La tinh dưới chân một tường nhà thờ nào đó; hoặc anh bị dính một mũi gươm trong một trận đấu tay đôi vì người đẹp; hay một lưỡi dao trong phố tối; hay bệnh giang mai hồi nào tái phát; hay còn nữa, trong một lâu đài nào đó mà anh nhận được chân dạy cưỡi ngựa để sống những ngày còn lại của cuộc đời, anh bị chứng chảy máu khi đã bước qua tuổi sáu mươi. Trước kia có một lần bị sốt rét, run lập cập trên chiếc giường tồi tàn trong quán trọ ở Rome, cách Pantheon hai bước chân, anh đã tự an ủi là sẽ trút hết sức lực tại đất nước đang lên cơn sốt này, rằng dù gì thì gì những người chết ở đây sẽ có nhiều bạn đồng hành hơn ở nơi khác; từ cửa sổ con nhìn ra những tháp vòm, anh tưởng tượng trên đó có những con đại bàng, những bó huân chương treo ngược, những cựu chiến binh mặt đẫm nước mắt, những bó đuốc chiếu sáng đám tang một Hoàng đế, người chết không phải chính là ông ta, mà là một dạng vĩ nhân bất tử có cả con người anh trong đó. Giữa những tiếng chuông âm âm trong đầu trong cơn sốt cách nhật, anh tưởng như nghe thấy tiếng sáo làm tan nát cõi lòng và tiếng kèn trompette báo cho thế giới cái chết một ông hoàng; anh cảm nhận trong chính bản thân ngọn lửa đang ngấu nghiến người anh hùng và đưa anh lên trời. Anh chết đúng như thế, và người ta chôn cất anh đúng như anh tưởng tượng. Anh ngã xuống trong một lần đánh nhau trên đống rơm, lần đó anh và đồng đội ra khỏi thành lên ngựa nhằm vào một kho thóc được bảo vệ chểnh mảng; ngựa của Henri-Maximilien vui vẻ phì phì trên nền đất trải cỏ khô; gió mát tháng Hai mơn trớn những gờ đồi đẫm nắng mặt trời, sau những phố đầy hơi và tối tăm ở Sienne. Bất thần quân hoàng gia tấn công làm quân của anh chạy tán loạn quay về phía tường thành; Henri-Maximilien chạy sát sau, vừa chạy vừa hét lên chửi rủa. Anh bị trúng đạn vào vai; ngã đập đầu vào một tảng đá. Anh có thời gian để cảm nhận sự rung chuyển toàn thân, chứ không phải cái chết. Con ngựa cương thoát khỏi sức nặng của anh nhảy tâng tâng trên đồng, một tên Tây Ban Nha bắt lấy nó rồi dắt nó đi bước một về trận tuyến của César. Hai hay ba tên khác chia nhau vũ khí và dây buộc của người chết. Trong túi áo choàng anh đang có bản thảo cuốn Những bài thơ vịnh thân hình phụ nữ, đây là tuyển tập những bài thơ vui và nhẹ nhàng mà anh chờ đợi có chút đỉnh tiếng tăm, hay ít nhất thì cũng là đôi chút thành công trước phái đẹp. Tập thơ kết thúc số phận dưới hố, vài xẻng đất khâm liệm nó cùng với anh. Câu châm ngôn anh khắc tặng Signora Piccolomini mãi về sau vẫn còn được nhìn thấy trên thành đài phun nước Fontebranda.
❀ ❀ ❀
[1] Nhà chép sử biên niên và thống chế của Pháp thời kỳ này, có phong cách văn chương rõ ràng và hùng tráng.