Ông chỉ qua một đêm ở nhà tù thành phố. Ngay hôm sau, người ta chuyển ông, không phải không có đôi chút nể trọng, tới một căn phòng nhìn xuống sân tòa lục sự cũ, có song sắt và chốt cửa chắc chắn, nhưng cũng gần như đầy đủ tiện nghi mà một tù nhân cao giá có thể đòi hỏi. Căn phòng này trước đây đã từng giam một quan tòa bị buộc tội tham ô công quỹ và xưa hơn nữa, đã giam một quý tộc phản bội ăn tiền của người Pháp; không thể có nơi nào tiện lợi hơn chốn này để nghỉ ngơi. Vả lại một đêm trong ngục thất đã đủ để đám rận bám đầy người Zénon, phải mấy ngày ông mới diệt hết chúng. Ông ngạc nhiên khi thấy người ta cho phép ông nhờ người mang quần áo đến; mấy hôm sau người ta thậm chí còn mang giấy bút mực của ông vào trả cho ông. Nhưng sách thì ông bị từ chối. Chỉ vài ngày sau ông đã được phép đi dạo hàng ngày trong sân lúc nào không ngập tuyết thì ngập bùn, bên cạnh có một cai ngục. Tuy nhiên có một nỗi sợ không lúc nào rời ông, đó là sợ tra tấn. Người theo nghề cứu nhân này bao giờ cũng thấy kinh khủng và không hiểu vì sao người ta trả tiền cho bao nhiêu người để tra tấn đồng loại một cách có phương pháp. Từ lâu, ông bắt mình phải chai sạn, không phải chai sạn trước nỗi đau đớn, bản thân nó không tệ hơn nỗi đau đớn của một người bệnh phải phẫu thuật, mà chai sạn với sự kinh hoàng khi nỗi đau đớn do cố ý gây ra. Từng nấc một, ông bắt mình quen với ý nghĩ bị sợ hãi. Nếu một ngày nào đó ông thấy mình rên la, kêu thét, hay đổ oan cho người khác như Cyprien đã làm, thì đó chính là tại những kẻ đã bóp rã trái tim một con người. Nhưng thử thách đáng sợ này không xảy ra. Chắc chắn đã có những thế lực nào đó bảo vệ ông. Dù vậy ông vẫn không thể không nghĩ đến hình ảnh cái roi quật lên quật xuống cho đến phút cuối cùng, khiến ông cứ phải nén không để mình nhảy dựng lên mỗi khi người ta mở cửa.
Khi trở về Bruges cách đây mấy năm, ông tưởng như những dấu vết về mình đã tan biến hết, người ta không biết hoặc người ta đã quên. Ông đã dựng lên trên đó một sự an toàn động không chắc chắn cho mình. Nhưng một bóng ma của ông chắc hẳn vẫn còn ẩn nấp ở đáy những hồi ức; nó thoát ra nhân vụ tai tiếng, con người ông bây giờ còn thật hơn cả người đàn ông mà người ta vẫn thờ ơ sống bên cạnh trong thời gian lâu như thế. Những tiếng đồn mơ hồ bỗng nhiên dính kết với nhau, kết với hình ảnh thô tục về một thuật sĩ, một kẻ bỏ đạo, một anh chàng lãng tử, một gián điệp nước ngoài lượn lờ khắp nơi và luôn luôn trong những tưởng tượng ngu ngốc. Lúc trước không ai nhận ra Zénon trong Sébastien Théus, bây giờ tất thảy mọi người đều nhận ra ông khi ngẫm lại. Trước kia không có ai ở Bruges đọc những gì ông viết, chắc bây giờ những cuốn sách đó không được lật ra nhiều hơn, nhưng người nào cũng gièm pha những cuốn sách phù thủy nguy hiểm ấy, người nào cũng biết rằng chúng bị kết án ở Paris và bị nghi ngờ ở Rome. Một vài kẻ tò mò có chút sáng suốt đã đặt dấu hỏi về căn cước của ông ngay từ đầu, hẳn là phải như thế rồi; già Greete không phải là người duy nhất còn nhớ và nhận ra ông. Nhưng những người này im lặng, dường như họ muốn là bạn hơn là thù, hoặc có thể họ chờ đợi thời cơ đến. Zénon luôn ngờ không biết có phải ai đó đã báo cho linh mục tu viện trưởng Cordelier, hay ngược lại chính linh mục, khi cho phép người lữ khách bước lên xe mình ở Senlis, đã biết rằng ông ta sẽ có chuyện với triết gia có quyển sách bị đốt trên quảng trường sau khi bị tranh cãi gay gắt. Ông nghiêng về giải thiết thứ hai, vì muốn dành lòng biết ơn hơn nữa trước con người nhân đức này.
Dù gì đi nữa, tai nạn của ông đã thay đổi dung mạo. Ông không còn là một vai phụ trong vụ trụy lạc của một dúm tu sĩ học việc và hai, ba tu sĩ biến chất; ông trở lại là diễn viên chính trong cuộc phiêu lưu của chính mình. Ngày càng có nhiều lý do luận tội ông, nhưng ít nhất ông không phải một kẻ vô nghĩ lý nào đó mà công lý nhanh chóng quét đi, như Sébastien Théus hẳn sẽ chịu số phận ấy. Ngày xử án có nguy cơ bị lùi lại mãi, vì vấn đề gai góc đặt ra ai là người có thẩm quyền xử vụ này. Các quan tòa tư sản là người xử chung thẩm tội thường phạm, nhưng Đức Tổng giám mục lại là người đưa ra phán quyết cuối cùng đối với những vụ phức tạp có yếu tố vô thần hoặc dị giáo. Đây là yêu cầu của người vừa được Nhà Vua dựng lên ở thành phố cho đến lúc ấy không có chức Tổng giám mục. Điều này gây bất ngờ cho nhiều người, và có lẽ họ nghĩ vị này cùng đồng giuộc với Pháp đình tôn giáo, được thành lập một cách khôn ngoan ở Bruges. Thực tế, giáo sĩ cao cấp này quyết định chứng tỏ một quyền lực công minh và dẫn dắt vụ án theo lối công bằng. Linh mục phụ tá Campanus, dù tuổi đã cao, cũng tham gia vào vụ việc; ông đề nghị, và cuối cùng cũng được chấp thuận, là hai nhà thần học trường đại học Louvain, nơi bị cáo đã học về luật giáo hội, sẽ được chấp nhận với tư cách dự thính; người ta không biết sự dàn xếp này có nhằm hòa hợp với Đức Tổng giám mục hay nhằm chống lại ông ta. Còn một luồng dư luận khác lưu truyền trong số những phần tử quá khích, rằng một kẻ nghịch đạo đến mức phải bóc trần học thuyết của hắn ra như cỡ ấy phải được tòa án La mã trực tiếp xử, cách tốt nhất là áp tải hắn thật chặt, cho hắn đến suy nghĩ tại nhà tù nào đó ở Sainte-Marie-sủ-Minerve ở Rome. Những người có suy trước nghĩ sâu hơn thì ngược lại muốn xử kẻ ngoại đạo này tại chỗ, vì hắn sinh ra tại Bruges, mang tên giả trở về đây, và sự có mặt của hắn trong cộng đồng sùng đạo này đã tạo điều kiện cho lộn xộn xảy ra. Gã Zénon này đã sống hai năm trong triều đình Vua Thụy điển, biết đâu lại chẳng là gián điệp của các ông hoàng phương Bắc; người ta không quên là ngày xưa ông đã lưu lạc trên đất Thổ không đáng tin cậy; cần biết ở đó ông có bội giáo như người ta đồn hay không. Người ta bắt đầu một vụ án rối rắm nhất và có nguy cơ kéo dài nhiều năm, nó như tạo ung nhọt cố định để kéo mọi tâm trạng vào đó.
Trong mớ bòng bong ấy, những lời khai dẫn tới việc bắt Sébastien Théus bị đặt xuống hàn thứ yếu. Đức Tổng giám mục, về mặt nguyên tắc phản đối chuyện phù phép, không đếm xỉa gì tới chủ đề bùa yêu thuốc bả, coi đó là thứ chuyện hảo huyền, nhưng một số quan tòa tư sản lại tuyệt đối tin chuyện đó, và đối với dân chúng thì đó mới là mấu chốt của sự vụ. Dần dần, giống như trong tất cả các vụ án từng làm điên đảo những kẻ hiếu kỳ một thời gian nào đó, người ta thấy ở hai mức độ có hai vụ án khác nhau một cách kỳ lạ; một là vụ việc như nó vốn có trong mắt giới luật pháp và các giáo sĩ kiêm nghề xét xử, và một vụ việc theo dư luận, phải có quỷ sứ và nạn nhân. Ngay từ đầu vị chưởng lý được giao việc điều tra đã gạt bỏ sự dính líu của Zénon trong nhóm các tu sĩ nam tìm hưởng cực lạc tự gọi là các Thiên thần; lời quy tội của Cyprien đã bị sáu tù nhân khác nói ngược lại; những người này chỉ biết bác sĩ vì có nhìn thấy ông dưới vòm tu viện hoặc trên phố Dài. Florian huênh hoang là đã quyến rũ Idelette vì hắn hứa hẹn với cô ta những nụ hôn, những bản nhạc nhẹ nhàng, và những cuộc vui nắm tay nhau trong vòng tròn, không cần phải nhờ đến rễ cây khoai ma; bản thân tội ác của Idelette cũng phủ nhận câu chuyện về liều thuốc xổ thai, cô nàng cũng thề trước thánh là chưa bao giờ cầu xin hay phải từ chối nó; cuối cùng, và nặng cân hơn cả, Florian thấy Zénon là một người đặc biệt, đã lớn tuổi, đúng là có làm những trò phù thủy, nhưng ông không ưa gì trò chơi của các Thiên thần vì tính độc hại của nó, và chính ông ta đã muốn dứt Cyprien ra khỏi nhóm. Người ta có thể kết luận từ những lời khai không mấy mạch lạc kia rằng người bị kết tội, Sébastien Théus, thông qua tu sĩ y tá, biết chút ít rằng có những trò trụy lạc trong phòng tắm, song ông không hoàn thành bổn phận của mình là tố cáo chúng.
Quan hệ sâu kín đáng ghét với Cyprien có thể đúng là có thật, song khu phố thì nói tốt hết mức về những thói quen và đức tính tốt của bác sĩ; thậm chí có thể cảm thấy có gì đó mập mờ trong những lời ca ngợi nức tiếng đó. Người ta điều tra về cái làm kích động tính tò mò của các quan tòa là ông có chứng đồng tính luyến ai thật không: tìm kiếm mãi, cuối cùng người ta tin chắc hẳn đó là con trai một bệnh nhân của Jean Myers, phạm nhân đã giao thiệp với anh ta trong những ngày đầu ông mới về Bruges; cuộc điều tra dừng lại ở đó vì kính trọng một gia đình dòng dõi, vả lại hiệp sĩ trẻ rất được nhiều người biết tiếng vì đẹp trai đã đi học hành ở Paris từ lâu, bây giờ đã sắp học xong. Phát hiện này làm Zénon phì cười: quan hệ đó chỉ giới hạn ở việc cho mượn mấy quyển sách. Những mối tương giao tầm thường hơn, nếu có, thì cũng không để lại dấu vết gì. Nhưng trong những trang viết của mình, triết gia vẫn thường xuyên nói đến thí nghiệm về các giác quan và đến việc thực hành tất cả các khả năng của cơ thể, và từ những nguyên tắc như thế người ta có thể suy ra những thú ăn chơi đen đúa nhất. Suy diễn thì vẫn suy diễn, nhưng vì không có bằng chứng, nên người ta quy rằng những tội trạng ấy có trong đầu ông nhưng chưa được thực hiện.
Còn một số buộc tội khác, nếu xảy ra, sẽ nguy hiểm tức thời hơn. Ngay cả các tu sĩ ở tu viện Cordelier cũng quy cho bác sĩ là đã biến nhà thương làm phúc thành nơi tập hợp những kẻ trốn chạy pháp luật. Tu sĩ Luc giúp ông rất nhiều để chống lại lời buộc tội này cũng như nhiều chủ đề khác; anh ta thuộc số những người có ý kiến rõ ràng nhất: về chuyện này các người nói sai tuốt. Các người thổi phồng quá đáng chuyện phóng đãn trong phòng tắm; Cyprien chỉ là một thanh niên khờ dại để cho một cô gái quá đẹp tán tỉnh; bác sĩ thì không thể trách được. Còn về những kẻ trốn chạy nổi loạn hay theo Calvin, nếu có ai đó bước qua ngưỡng cửa nhà thương, thì họ đâu có đeo biển trên cổ, và những người bận rộn còn nhiều việc để làm hơn là soi mói họ. Sau bài nói dài nhất trong đời mình, tu sĩ liền rút lui. Anh ta còn giúp Zénon một việc khác vô cùng ý nghĩa. Trong khi dọn dẹp nhà thương làm phúc này hoang vắng, anh ta tìm thấy mảnh giấy có hình người mà triết gia vứt xó, và anh ta ném cái vạt chẳng cần thiết phải chưng ra này xuống kênh. Ngược lại, nghệ sĩ đàn ống khai những lời có hại cho tội phạm; chắc chắn là hai vợ chồng nhà ấy chẳng có gì để nói ngoài những nhận xét tốt, nhưng việc Sébastien Théus không phải là Sébastien Théus làm họ như bị giáng một đòn chí tử. Tai hại nhất trong lời khai ấy là những tiên đoán hài hước từng làm cả hai khoái trá cười; người ta tìm thấy chúng ở Saint-Cosme trong một tủ tường phòng đọc, và kẻ thù của Zénon rất biết cách sử dụng chúng.
Trong khi đám ký lục nét thanh nét đậm chép lại hai mươi tư bản cáo trạng lớn hợp nhau chống lại Zénon, thì vụ Idelette và các Thiên thần đã khép lại. Tội ác của cô nàng họ Loos đã hiển hiên, cô ta bị khép tội chết; ngay cả bố cô ta cũng không cứu nổi, vả lại ông này bị bắt làm con tin tại Tây Ban Nha cùng một số người Flamand khác, chỉ được báo tin khi đã quá muộn. Idelette sống phần đời còn lại ngoan ngoãn và sùng đạo. Ngày hành hình được đẩy sớm lên vài ngày để tránh lễ Giáng sinh. Lúc này dư luận đã xoay chiều: xúc động trước sự ăn năn và đôi mắt sướt mướt cuả Người đẹp, người ta thương xót cho cô bé mười lăm tuổi. Theo đúng luật thì Idelette lẽ ra phải bị thiêu sống vì tội giết trẻ con, nhưng do thuộc dòng dõi quý tộc nên cô ta chỉ bị xử trảm. Bất hạnh thay, khi đứng trước chiếc cổ xinh đẹp, đao phủ có phần nao núng nên ra tay không chắc chắn: hắn phải làm đi làm lại ba lần và sau khi công lý được thực hiện, hắn bị đám đông la ó và phải trốn chạy, nhưng không thoát khỏi một trận rác rưởi và một trận bắp cải từ các loại giỏ trong chợ như mưa rào.
Vụ xử các Thiên thần kéo dài lâu hơn: người ta cố tìm những lời thú nhận hòng làm sáng tỏ ngọn ngành giáo phái bí mật, có thể là Các anh em Đức Thánh thần, một giáo phái bị tiêu diệt từ hồi đầu thế kỷ bị quy là mắc tội và thực hành những điều sai lầm. Nhưng tay Florian điên khùng quả là lì lợm; ngay cả khi bị tra tấn cũng không khuất phục, hắn tuyên bố chưa bao giờ nghe những lời răn giảng dị giáo của một Thầy Cả dòng giống Adam nào đó tên Jacob van Almagien, hơn nữa ông này người Do thái, đã chết cách đây khoảng năm mươi năm rồi. Chính hắn đã một mình tìm ra một thiên đường thuần khiết của những hoan lạc cơ thể, mà không có liên quan gì đến thần học nào cả. Tất cả những gọng kiềm trên thế giới này đều sẽ không làm hắn nói khác. Kẻ duy nhất thoát khỏi tội chết là tu sĩ Quirin, hắn không ngừng giả điên ngay cả lúc bị tra tấn đau đớn nhất, và vì vậy bị nhốt vào chỗ người tâm thần. Cũng như Idelette, năm kẻ tội đồ đã chết một cách ngoan đạo. Thông đồng với người cai ngục đã quen với những cuộc mặc cả kiểu này, Zénon lót tiền cho đám đao phủ để đám trẻ bị thắt cổ trước khi lửa bén, thỏa thuận nho nhỏ này rất hay được ưa dùng, đó cũng là cách rất hợp để làm tròn trĩnh hơn mức lương bèo bọt của những kẻ hành hình. Mưu mô này được thực hiện thành công vớ Cyprien, Fracois de Bure và một trong hai kẻ tậ tu; chúng không phải chịu điều tồi tệ nhất, tất nhiên là không thể tránh khỏi những giây phút khủng khiếp nhất chúng phải trải qua trước đó. Nhưng dàn xếp này thất bại đối với Florian và tu sĩ tập việc kia, đao phủ đã không kịp kín đáo đến cứu họ; người ta nghe tiếng kêu thét của hai người trong gần nửa tiếng đồng hồ.
Người quản lý tu viện cũng chịu chung án, nhưng hắn lên giàn lửa khi đã chết. Ngay khi bị giải từ Audenarde và tống giam ở Bruges, hắn đã nhờ bạn bè trong thành phố mang thuốc độc đến, và theo thông lệ người ta thiêu xác, vì không thể thiêu sống. Zénon chẳng yêu quí gì con người xảo quyệt này, nhưng cũng cần công nhận rằng Pierre de Hamaere đã biết nắm số phận hắn trong tay và chết như một con người.
Zénon biết tất cả các chi tiết này nhờ vào cái lưỡi quá hoạt bát của tên cai ngục; tên ranh mãnh đó xin lỗi về trục trặc không lường trước liên quan đến hai người tử tội; thậm chí hắn còn đề nghị trả lại một phần tiền, mặc dù đó không phải là lỗi của ai cả. Zénon nhún vai. Ông đã khoác lên mình sự bàn quang của cái chết: điều quan trọng là phải giữ được sức cho đến cùng. Tuy vậy đêm đó ông vẫn không ngủ được. Để tìm trong óc liều thuốc giải hết nỗi kinh hoàng này, ông nghĩ chắc Cyprien hoặc Florian sẽ để người ta ném mình vào lửa nếu phải cứu ai đó: như bao giờ cũng vậy, sự tàn nhẫn trong sự việc thực tế luôn ít hơn là trong sự ngu ngốc của con người. Bỗng nhiên ông đụng phải một kỷ niệm: thời trẻ, ông từng bán cho thủ lĩnh Hồi giáo Nourreddin công thức lửa lõng mà người ta đã sử dụng trong một cuộc thủy chiến ở Alger, và có lẽ từ đó người ta vẫn tiếp tục sử dụng. Bản thân hành động thì tầm thường: tất cả những người thợ phái hao đều làm như thế. Sáng chế đốt cháy hàng trăm người này thậm chí xuất hiện như một bước tiến mới trong nghệ thuật chinh chiến. Điên rồ vì điên rồ, bạo lực của một trận chiến trong đó mỗi người giết hay bị giết chắc chắn không so được với sự ghê tởm về một nhục hình có phương pháp được ra lệnh nhân danh một Chúa thiện; dù sao ông cũng là tác giả và đồng lõa một sự lăng nhục đối với da thịt khốn khổ của con người, và phải ba mươi năm sau ông mới thấy ăn năn, một nỗi ăn năn có vẻ là nực cười trong mắt các đô đốc và các quân vương. Nói gì đến chuyện họ ra khỏi địa ngục này trong một sớm một chiều.
Không thể phàn nàn những nhà thần học có nhiệm vụ liệt kê những mệnh đề xấc xược, dị giáo hay đích thị ngoại đạo từ những bản viết của can phạ, họ chỉ làm công việc của họ một cách lương thiện. Người ta kiếm được bản dịch cuốn Tiền lý thuyết ở Đức; những cuốn khác đang có trong thư viện của Jean Myers. Ngạc nhiên lớn nhất của Zénon là linh mục tu viện trưởng đã có cuốn Dự đoán những điều tương lai của ông. Tập hợp những nhận xét này lại, hay đúng hơn là tập hợp những gì người ta kiểm duyệt, triết gia thích thú họa ra một bản đồ về suy nghĩ của con người, vào năm 1569 này, ít nhất là về những vùng khó hiểu mà trí óc ông đã từng đi đến. Hệ thống Copernic không bị Nhà thờ bài trừ, mặc dù những kẻ thông thái nhất trong giới cổ bẻ mũ chỏm vuông lắc đầu với vẻ quý phái, đảm bỏng rằng rồi chẳng chóng thì chầy nó sẽ bị như thế mà thôi. Tuy vậy dù rằng người ta dung thứ cho việc mặt trời chứ không phải trái đất là trung tâm vũ trụ, với điều kiện đó chỉ là một giả thiết rụt rè, không phải vì thế mà điều này kém phần làm tổn thương tới Aristote, Kinh thánh, và tổn thương hơn nữa tới nhu cầu loài người là đặt nơi ở của chúng ta ở điểm giữa của Tất cả. Đương nhiên, một quan điểm khác xa với những hiển nhiên thông tục sẽ làm những kẻ tầm thường không lấy gì làm thích thú: không cần nói đâu xa, từ bản thân mình Zénon cũng biết khái niệm trái đất quay tạo nên những hố sâu thế nào trong những thói quen mà mỗi người trong chúng ta dựng lên cho mình để sống; ông đã thấy chuếnh choáng khi biết mình thuộc thế giới không chỉ bao gồm túp lều của con người; với số đông, sự mở rộng này hẳn làm họ buồn nôn. Tồi tệ hơn cả sự táo tợn nào đó đã thay thế mặt trời vào chỗ của trái đất ở trung tâm vạn vật, đối với phần lớn các đầu óc, nhầm lẫn của Democrite, tức là tin rằng vũ trụ vô tận gồm nhiều thế giới, khiến ngay cả mặt trời cũng mất vị trí trọng yếu, và phủ định sự tồn tại một điểm nào là tâm vũ trụ, là một sự ngoại đạo đen tối. Không những không vui mừng tiếp tục khám phá và đập vỡ những giới hạn cố định như triết gia đã làm, trong những không gian lạnh lẽo và mãnh liệt ấy con người cảm thấy bị lạc lối, và kẻ cả gan nào đó liều lĩnh chứng minh sự tồn tại của vũ trụ trở thành một kẻ đào ngũ. Quy luật này cũng ngự trị trong lĩnh vực nhạy cảm hơn, lĩnh vực tư tưởng thuần túy. Nhầm lẫn của Averroes, giả thuyết có Chúa lạnh lùng ngự trị bên trong một thế giới vĩnh cửu, dường như rứt đi trong kẻ sùng đạo nguồn cảm hứng về một chúa dựng theo trí tưởng tượng của mỗi người, chỉ dành thịnh nộ hay gia ân riêng cho con người. Sự vĩnh cửu của tâm hồn, nhầm lẫn của Origene, làm người ta phẫn nộ vì nó biến cuộc phiêu lưu hiện tại của con người thành những điều bé nhỏ: con người muốn mở ra trước mắt mình phải là một thế giới, có thể hạnh phúc hay bất hạnh do anh ta định đoạt, nhưng không thể là một độ dài vô tận trải ra khắp mọi phương trong đó anh ta là và không là tất cả. Nhầm lẫn của Pitagore, theo đó có thể gán cho loài vật một tâm hồn giống như tâm hồn người về bản chất cũng như về tinh chất, nhầm lẫn ấy khiến động vật hai chân không lông vũ bị sốc hơn nữa vì nó muốn là loài sinh vật duy nhất tồn tại muôn thuở. Nhầm lẫn của Epicure, tức là giả thiết rằng cái chết là một sự kết thúc, mặc dầu đây là điều đúng nhất so với những gì chúng ta quan sát được xác chết và trong nghĩa địa, song giả thiết này không chỉ làm tổn thương mạnh mẽ đến khát vọng của chúng ta là được sống ở trên đời, mà còn tổn thương đến lòng kiêu ngạo khiến chúng ta an tâm một cách ngu ngốc rằng chúng ta xứng đáng được ở trên thế giới này. Tất cả những tư tưởng trên đều được coi như chống lại Chúa; thực ra, cái làm cho người ta trách cứ nhất là những tư tưởng ấy làm lung lay vị trí của con người. Vậy thì đương nhiên, những tư tưởng ấy đe dọa những người truyền bá chúng ắt phải chịu họa tù đày, hay còn xa hơn nữa.
Từ địa hạt ý tưởng thuần túy xuống đến lẽ đời ngoắt ngoéo, chính sự sợ hãi, mạnh hơn sự kiêu ngạo, mới là động lực thứ nhất của lòng căm ghét. Nhà triết gia táo bạo báo trước sự tự do của những giác quan và không miệt thị những thú vui của da thịt, ông đã làm nổi lên một cơn giận dữ đối với số đông, họ mang nặng nhiều điều mê tín và những thói đạo đức giả. Quan trọng gì đâu việc người treo tính mạng mình vào đó đoan chính hơn hay có khi còn trong trắng hơn những kẻ kịch liệt gièm pha: tất cả đều đồng tình rằng không có ngọn lửa hay nhục hình nào trên thế giới có thể chuộc lại được sự phóng đãng tàn bạo đến thế, chính bởi vì sự táo bạo của trí óc dường như làm nặng tội thêm sự táo bạo của thân thể. Riêng vẻ thờ ơ của nhà thông thái coi mọi xứ sở là quê hương và mọi tôn giáo đều có giá trị theo cách riêng của nó đã đủ khơi gợi sự bực tức trong đám người tù túng kia; nếu kẻ bội giáo triết gia này, dù sao đi nữa hắn không hề phủ nhận một niềm tin thực sự nào của hắn, đối với họ, hắn là con dê tế thần; điều đó cũng vì mỗi người, một ngày nào đó sẽ bí mật hay đôi khi thậm chí bản thân họ cũng không biết, đã mong muốn thoát khỏi cái vòng tù hãm mà họ sẽ chết rục trong đó. Tên nổi loạn vùng lên chống lại Nhà Vua này đã gợi ra trong đầu những người tuân thủ luật lệ kia một điều, điều đó chính là sự điên rồ vì thèm khát: chữ Không của ông ta làm bực tức chữ Vâng không rời môi họ. Nhưng những kẻ tồi tệ nhất trong đám quái vật suy nghĩ đơn giản trong đám người này lại là những con người thực hành đức hạnh: họ đáng sợ hơn nhiều khi người ta không thể khinh rẻ họ hoàn toàn.
DE OCCULTA PHILOSOPHIA[1]: một vài kẻ trong phiên tòa quanh đi quẩn lại tìm cách soi mói những hoạt động ma thuật ông thực hiện từ trước đến nay, khiến người tù dẫu đã chủ tâm không nghĩ ngợi gì nữa để tiết kiệm sức lực, vẫn phải suy ngẫm tới chủ đề khó chịu mà bản thân suốt cuộc đời vẫn nghiên cứu phụ thêm. Trong lĩnh vực này, quan điểm những nhà thông thái rở cũng trái ngược với quan điểm của người dân vô học. Trong mắt dân chúng, một nhà ma thuật vừa được nể trọng vừa bị thù ghét vì những quyền năng mà người ta nghĩ hắn phải có nhiều lắm: ở địa hạt này cũng vậy, sự thèm muốn cũng chính là nguyên nhân của thái độ ấy. Người ta thất vọng vì chỉ tìm thấy tại nhà Zénon cuốn sách của Agrippa de Nettesheim, cuốn ấy cả linh mục phụ tá Campanus lẫn Đức Tổng giám mục đều có, và một cuốn sách gần đây của Gian-Battista della Porta, Đức ngài cũng có trên bàn của mình. Vì người ta cố tìm cách gán tội ông về chủ đề này, nên Đức Tổng giám mục quyết định để đảm bảo công bằng sẽ tự mình thẩm vấn phạm nhân. Với người ngu, ma thuật là một khoa học về cái siêu nhiên, song ngược lại hệ thống này làm ngài giáo sĩ cao cấp lo lắng vì ngài không tin vào chuyện thần diệu. Ở điểm này Zénon gần như trả lời trung thực. Thế giới được gọi là ma thuật được cấu thành từ lực hút và lực đẩy, tuân theo những quy luật hiện giờ vẫn còn bí ẩn, nhưng không nhất thiết con người không hiểu được chúng. Trong số những chất đã biết có lẽ con người đã vén được nửa bức màn bí mật của nam châm và hổ phách, nhưng có thể một ngày nào đó tất cả sẽ được sáng tỏ. Ưu điểm lớn nhất của ma thuật, và giả kim thuật con đẻ của nó, là đã nói được sự thống nhất của vật chất, đến độ một số triết gia của bình cổ cong tưởng như có thể đồng hóa vật chất ấy với ánh sáng và sét. Cứ như thế người ta bước trên con đường dẫn đi thật xa, song mọi tín đồ xứng đáng với tên gọi này đều biết con đường ấy ẩn giấu nhiều nguy hiểm. Khoa học cơ khí, Zénon từng theo đuổi rất lâu, cũng dẫn đến con đường này ở chỗ nó tìm cách biến đổi sự hiểu biết về sự vật thành quyền năng lên sự vật, và gián tiếp lên con người. Theo một nghĩa, tất cả đều là ma thuật: khoa học thảo dược và kim loại là ma thuật nhờ đó bác sĩ đuổi bệnh tật và cứu con bệnh; bản thân bệnh tật của là ma thuật, nó áp đặt quyền lực của nó lên cơ thể như thể nó sở hữu, vì cơ thể đôi khi không muốn hồi phục; ma thuật có trong quyền năng của những âm thanh chói tai hay trầm đục làm nổi sóng tâm hồn hoặc ngược lại xoa dịu tâm hồn; đặc biệt ma thuật là quyền năng ác liệt của ngôn từ, bao giờ nó cũng mạnh hơn sự vật và giải thích cho người nghe những gì Sepher yetsira khẳng định, nếu không muốn nói đến “Kinh Phúc âm theo thánh Jean”. Uy quyền bao quanh các quân vương và toát lên từ những buổi lễ nhà thờ là ma thuật, và ma thuật là những đoạn đầu dài màu đen và những cái trống sầu thảm của những cuộc hành quyết đã thôi miên và làm kinh hoàng những kẻ hiếu kỳ còn hơn cả chính những nạn nhân. Cuối cùng ma thuật là tình yêu, và sự thù hận, chúng in trong óc chúng ta hình ảnh một sinh vật mà chúng ta bằng lòng để mình bị ám ảnh.
Đức ngài lắc đầu vẻ suy tư: một thế giới như thế sẽ không có chỗ cho ý chí riêng của Chúa nữa. Zénon đồng ý, không phải không biết điều đó nguy hiểm cho ông. Họ tiếp tục trao đổi một vài luận cứ về ý chí riêng của Chúa, về việc ý chí ấy thể hiện qua trung gian nào, và có nhất thiết phải có ý chí ấy thì những điều kỳ diệu mới được tạo ra hay không. Ví dụ, Đức Tổng giám mục không thấy có gì đáng nổi giận trong luận giải về những dấu ấn thần thánh của thánh Francois mà tác giả của Bàn về thế giới vật lý trình bày, theo ông đó là một hiểu quả cực đại của sức mạnh tình yêu, biến mọi người đang yêu thành người được yêu. Triết gia bị quy kết là sỗ sàng ở chỗ ông coi sự giải thích này có tính đặc biệt chứ không bao gộp. Zénon nói mình không có ý nói như thế. Sôi nổi, bằng một kiểu lịch sự của nhà biện chứng, ngài đồng ý với đối phương, Đức Ngài nhắc lại tiếp đó rằng chẳng phải nói xa xôi gì, Đức Hồng y giáo chủ dốc lòng kính Chúa Nicolas de Cusa đã làm nản chí sự quá nhiệt tâm quanh các pho tượng có phép lạ và bánh thánh chảy máu; nhà thông thái đáng kính này (bản thân ông ta cũng cho rằng thế giới là vô tận) gần như là người chấp nhận trước học thuyết của Pomponace, theo học thuyết này những điều thần diệu hoàn toàn là hiệu quả của trí tưởng tượng, như Paracelse và Zénon muốn cho rằng sự xuất hiện của ma thuật là như vậy. Nhưng Đức Hồng y giáo chủ kính thánh nếu ngày trước cố dàn xếp để hòa hảo với những nhầm lẫn của Hussites thì nay rất có thể sẽ im lặng trước những quan điểm quá táo bạo như thế, để không tạo uy tín cho những kẻ tà giáo và ngoại đạo đông hơn nhiều so với thời ấy.
Zénon chỉ có thể đồng tình: chắc chắn tự do tư tưởng đang gặp làn gió gở hơn bao giờ hết. Thậm chí ông nói thêm, đáp lễ lối biện chứng lịch sự của Đức Tổng giám mục, rằng nói linh hiển chỉ là điều tồn tại hoàn toàn trong tưởng tượng không có nghĩa nó là ảo tưởng theo nghĩa thô thiển của từ này: các chúa và các quỷ dữ ngụ trong chúng ta đều rất thật. Đức Tổng giám mục nhíu mày khi nghe đến chữ các chúa, nhưng ông là người có học thức, và biết rằng nên bỏ qua cho những người đã đọc các tác gia Hy Lạp và La Mã. Chỉ cần thế, bác sĩ tiếp tục, ông kể lại việc ông luôn chú ý tới những ảo giác của con bệnh: Chúa linh hiển, và đôi khi là thiên đường chính cống và địa ngục thực sự. Quay lại chủ đề ma thuật, và các học thuyết khác tương tự, cần chống lại không những mê tín dị đoan, mà phải chống lại cả thói nghi ngờ cố hữu, nó phủ định một cách võ đoán cái vô hình và cái không được giải thích. Về điểm này, giáo sĩ và Zénon đồng ý mà không ai có hậu ý gì. Cuối cùng họ đề cập đến giấc mơ không tưởng của Copernic: chủ đề hoàn toàn là giả thuyết này đối với phạm nhân không có nguy hiểm gì về mặt thần học. Cùng lắm người ta chỉ có thể suy diễn và buộc ông vào tội đã đưa ra một học thuyết tối tăm chống lại học thuyết đúng đắn nhất là Kinh thánh. Không phán xét đến Luther và Calvin về việc họ từ bỏ một hệ thống mà bên cạnh nó lịch sử của Josué[2] chỉ như một chuyện cười, Đức Tổng giám mục nhận định rằng đối với những con chiên thiên chúa giáo đúng đắn, Copecnic ít được chấp nhận hơn là Ptolémée. Vả lại thuyết này còn có một trở ngại toán học quá rõ căn cứ trên các thị sai. Zénon đồng ý rằng còn rất nhiều điều cần được chứng minh.
Trở về nhà, tức là về phòng giam, và biết rõ căn bệnh tù tội này dẫn đến cái chết, Zénon mệt mỏi sau những giờ khắc phải giữ mình trong khuôn khổ tế nhị, nghĩ cách sao cho suy nghĩ càng ít càng tốt. Tốt hơn hết là cung cấp cho trí não những mối bận bịu có tính máy móc, nó sẽ tránh cho ông khỏi lâm vào trạn thái kinh hoàng hay hoảng loạn: bản thân ông cũng là một bệnh nhân cần phải giúp đỡ và không nên để cho tuyệt vọng. Vốn hiểu biết về các ngôn ngữ giúp ông làm được điều đó: ông biết ba bốn ngôn ngữ bác học được dạy trong trường học, trong những chuyến đi và trong cuộc đời ông cũng đã quen thuộc với khoảng nửa tá ngôn ngữ dân dã khác nhau. Ông vẫn thường tiếc cho hành trang từ ngữ mang bên mình nhưng không dùng đến nữa: có gì đó kỳ quặc khi học hỏi những âm thanh ký hiệu tả ý tưởng về chân lý hay công lý mà người ta sử dụng trong mươi mười hai ngôn ngữ. Mớ kiến thức lộn xộn ấy giờ đây giúp ông trôi thời gian: ông lập danh sách, liệt kê những nhóm câu, so sánh các bản chữ cái và các quy tắc ngữ pháp. Trong nhiều ngày ông chơi trò đi tìm lô gích ngôn ngữ, một lô gích rõ ràng như ghi nốt nhạc, để có thể biểu thị trong một trật tự tất cả những gì có trên đời. Ông tự sáng tạo ra những ngôn ngữ được số hóa, như thể ông đang gửi cho ai đó những thông điệp bí mật. Toán học cũng hữu ích ở đây: ông ước tính độ lệch các ngôi sao nhìn từ mái nhà tù; ông tỉ mỉ nhẩm đi nhẩm lại những con tính về lượng nước hấp thụ và bốc hơi mỗi ngày của cây trong hiệu thuốc bây giờ chắc đã chết khô.
Ông trở lại nghĩ rất lâu về tàu lượn và tàu ngầm, về việc ghi lại âm thanh bằng những cơ chế bắt chước theo cấu trúc trí nhớ con người mà Riemer và ông trước kia đã phác họa, và ông đã nhiều lần thảo ra trong sổ tay. Sau đó ông đã ngờ vực liệu có điều gì tốt đẹp hơn ở bên kia những thành tựu nhân loại trao thêm sức mạnh cho con người: người ta có thể xuống sâu dưới đại dương trong một cái chuông bằng sắt và bằng da, nhưng để làm gì khi người thợ lặn chỉ còn một mình, không có trợ giúp, sẽ bị ngạt thở trong sóng; người ta có thể lên với bầu trời bằng bàn đạp và những cổ máy, nhưng để làm gì khi thân thể con người vẫn còn là một khối nặng nề rơi xuống như một hòn đá. Nhất là tìm cách ghi lại tiếng nói con người để làm gì khi bản thân tiếng nói đã phủ lên thế giới quá nhiều dối trá. Những mảng trong bảng công thức giả kim thuật học thuộc lòng từ hồi ở Leon bỗng nhiên bật ra từ quen lãng. Ông nghe bệnh lúc thì cho hồi ức, lúc cho những gì ông đã phán xét, ông buộc mình vẽ lại từng điểm một một số ca phẫu thuật ông đã thực hiện: ví dụ hai lần truyền máu, trong đời. Lần đầu tiên thành công ngoài sự chờ đợi của ông, nhưng lần thứ hai lại dẫn đến cái chết đột ngột, không phải của người cho máu mà là người nhận, như thể thực sự giữa hai chất lỏng màu đỏ chảy trong những cá thể khác nhau có sự hận thù và tình yêu mà chúng ta chưa biết. Chắc cũng là mối tương sinh tương khắc ấy khiến cho các đôi vợ chồng đẻ con hay bị vô sinh. Dù không muốn, nhưng hình ảnh này lại đưa ông nghĩ vê Idelette bị bọn lính tuần phòng giải đi. Hàng rào tự vệ ông đã dựng nên cho mình vững chắc là thế mà vẫn không xong: một tối, ngồi bên bàn, mơ hồ nhìn lửa nến, đột nhiên ông nhớ đến những tu sĩ trẻ bị ném vào giàn thiêu, và khủng khiếp, thương cảm, sợ hãi và giận dữ biến thành lòng thù hận làm nước mắt trào ra, ông thấy xấu hổ. Không còn rõ ông khóc vì ai hay vì cái gì. Tù đày làm ông yếu đuối đi.
Bên giường bệnh nhân, ông thường được nghe kể những giấc mơ. Ông cũng suy nghĩ về những giấc mơ của ông. Người ta gần như luôn rút ra từ đó những điềm báo, và thỏa mãn với chúng. Nhưng điềm báo đôi khi đúng, vì nó vén lên bí mật của người ngủ mơ, nhưng ông tự nhủ rằng trò chơi tự nhiên của trí óc này đặc biệt có thể chỉ ra cho chúng ta cách tâm hồn nhận thức sự việc. Ông liệt kê những thuộc tính của vật chất được nhìn thấy trong mơ: tính nhẹ, tính khó nắm bắt, tính không chặt chẽ, tính tự do hoàn toàn về thời gian, tính chuyển động của các hình hài người làm cho một người trở thành nhiều người và nhiều người rút lại thành một, tình cảm trong mơ gần như giống thuyết platon về hồi ức, và cảm thức hầu như không thể nào chịu đựng nổi về một nhu cầu. Những loại bóng ma này rất giống với những gì mà các nhà giả kim thuật mạo nhận là họ thông hiểu về sự tồn tại của thế giới bên kia, như thể đối với tâm hồn thế giới của cái chết tiếp nối thế giới của đêm tối. Tuy nhiên bản thân cuộc sống, nhìn từ con mắt một người sắp từ giã nó, cũng có sự bất ổn lạ lùng và diễn ra một cách kỳ quặc như giấc mơ. Ông đi từ thế giới nọ sang thế giới kia như đi từ phòng lục ký nơi người ta hỏi cung ông sang xà lim cài then chắc chắn, và từ xà lim ra sân vòm tuyết rơi. Ông thấy mình ở ngưỡng cửa một tháp nhỏ và hẹp Hoàng đế Thụy điển cho ông ở tại Vadstena. Con sừng nai sừng tấm lớn hoàng tử Erik đuổi bắt hôm trước trong rừng đang đứng trước mặt ông, bất động và nhẫn nại như những con thú đang chờ giúp đỡ. Người đang mơ cảm thấy ông có phận sự phải giấu và cứu con vật hoang dã, nhưng không biết làm cách nào để cho nó đi qua ngưỡng cửa chỗ ở của con người này. Con nai màu đen loáng và ướt, như thể nó vừa vượt sông đến với ông. Một lần khác, Zénon thấy mình ở trên một chiếc thuyền đang rời sông ra biển cả. Đó là một ngày đẹp trời gió thuận. Hàng trăm con cá bơi nhảy quanh sống mũi tàu, trôi theo dòng nước, đi từ vùng nước ngọt sang nước lợ, và sự di cư hay ra đi này thật vui vẻ. Nhưng ông không cần phải mơ nữa. Sự vật lấy từ chính những màu sắc mà chúng chỉ có trong những giấc mơ, những màu sắc gợi lên màu xanh, màu đỏ tía và màu trắng tinh khiết của những danh pháp giả kim thuật: một quả táo màu da cam, hôm nào đó đã sang trọng trang trí chiếc bàn của ông, còn lấp lánh mãi như một bong bóng vàng; mùi hương và tính có vị của nó cũng như là một thông điệp. Nhiều lần, ông dường như nghe thấy một đoạn nhạc trang trọng như tiếng đàn ống nhà thờ, nếu thật tiếng đàn ống có thể lan trả ra trong im lặng; chính trí óc chứ không phải thính giác đã thu nhập những âm thanh ấy. Ông lấy tay vuốt nhẹ những chỗ lồi lõm của một viên gạch bị địa y bám đầy và tưởng mình đang thám hiểm các thế giới. Một buổi sang, khi đang dạo quanh sân với người gác ngục Gilles Rombaut, ông nhìn thấy trên phiến đá lát không bằng phẳng một lớp băng trong suốt, dưới đó một dòng nước chảy và phập phồng như mạch máu. Dòng nước mỏng manh tìm lối chảy và đã tìm được một con đường dốc.
Ít nhất có một lần ông đón nhận một sự linh hiển giữa ban ngày. Một đứa trẻ đẹp và buồn khoảng mười tuổi đang đứng giữa phòng. Toàn thân mặc đồ đen, nó có vẻ như một hoàng tử nhỏ bước ra từ một trong những lâu đài kỳ diệu mà người ta đến trong mơ, nhưng Zénon tin là đứa bé hoàn toàn thật nếu nó không đột nhiên và lặng lẽ ở đó, không cần bước và không cần đi vào phòng. Đứa trẻ giống ông, tuy nhiên đó không phải là đứa đã lớn lên ở phố Hàng Len. Zénon tìm trong quá khứ, trong đó chỉ có ít ỏi vài phụ nữa. Ông đã thận trọng giữ gìn cho Casilda Perez, ông lo lắng nếu phải gửi cô gái khốn khổ về Tây Ban Nha với tác phẩm của ông trong bụng. Nữ tù nhân trong nhà ngục ở Bude đã chết ít lâu sau khi ông ăn nằm với cô, và chỉ vì sự kiện này mà ông nhớ lại chuyện ấy. Những người phụ nữ khác chỉ là những ả bê tha mà sự tình cờ trên đường đã ném ông vào: ông không ưu trọng những bộ váy gói da thịt ấy. Nhưng phu nhân de Froso tự chứng tỏ nàng khác họ: nàng yêu ông khá nhiều đến mức muốn có một đứa con với ông; ông sẽ không bao giờ biết được nàng có thực hiện được ước mơ này không, giấc mơ vượt quá đam mê của xác thịt. Liệu có thể rằng cái tia nước mang giống ấy, xuyên qua đêm, đã đến được với người phụ nữ ấy, nó sẽ kéo dài và, có thể, nhân tăng cái chất thể của ông, nhờ vào một kẻ là và không phải là ông? Ông thấy mình mệt mỏi vô cùng, và dù không muốn vẫn thấy một niềm kiêu hãnh nào đó. Nếu điều đó đúng, ông đã để lại máu mủ ruột rà, vả lại ông cũng để lại máu mủ ruột rà bằng những gì ông viết và những gì ông làm; ông sẽ chỉ vượt ra khỏi mê cung này khi thời gian kết thúc. Đứa con của Sign Ulfsdatter, đứa con của những đêm trắng, điều có thể giữa những điều có thể, đang chiêm ngưỡng người đàn ông mệt mỏi bằng đôi mắt ngạc nhiên, nhưng trang nghiêm, như thể chuẩn bị đặt những câu hỏi mà Zénon không có câu trả lời. Hẳn là khó mà nói được người nào nhìn người kia với thương cảm nhiều hơn. Đột ngột ảo ảnh biến mất, đột ngột như khi nó bắt đầu. Zénon buộc mình không nghĩ về điều đó nữa; có thể đó chỉ là ảo ảnh của một người đang chịu tù đầy.
Người gác đêm, một Hermann Mohr, là người to béo ít nói, hắn canh chừng trong cả khi ngủ, và dường như không có đam mê nào khác ngoài việc tra dầu và đánh bóng các then cài. Nhưng Gilles Rombaut lại là một gã vui tính. Hắn đã từng đi đây đó với nghề bán rong và nghề lính; nhờ vào cái tính thao thao bất tuyệt của anh ta mà Zénon biết được thành phố đang nói chuyện gì và đang làm gì. Chính hắn ta là người sử dụng sáu mươi vuông đất dành cho người bị bắt, giống như các vị tù nhân đáng kính khác, nếu không phải là quý tộc. Ông cho hắn ăn thức ăn, biết rất rõ là với đồng lương hắn khó mà có được, và những miếng ba tê với thức ăn muối này rồi sẽ được đặt lên bàn ăn của vợ chồng Rombaut và bốn đứa trre nhà họ. Sự thừa thãi cái ăn và quần áo sạch sẽ nhờ bàn tay bà Rombaut ít làm triết gia cảm động, ông đã hé thấy địa ngục trong thế giới tù tội chung của họ. Nhưng tình cảm bạn bè đã nảy nở giữa ông và anh chàng vô tư lự này, như nó vẫn xảy ra khi một người mang thức ăn đến cho người kia, dẫn ông ta đi, cạo râu và đi đổ chậu cho ông ta. Những suy nghĩ của anh chàng vui tính là một liều thuốc giải độc dễ chịu về mặt thần học và pháp lý: Gilles không chắc chắn lắm liệu có tồn tại một Chúa thiện hay không, vì cứ nhìn vào thảm trạng ở hạ giới này thì biết. Câu chuyện bất hạnh của Idelette làm hắn rơi nước mắt: tiếc thật, người ta không để một con nhỏ đẹp như thế được sống. Hắn thấy chuyện phiêu lưu của nhóm các Thiên thần thật nực cười, song tuyên bố rằng người ta có thể giải trí như thế nào thì cứ việc, sở thích và màu sắc là của mỗi người, không nên phán xét chúng. Phần hắn, hắn thích các cô gái, đam mê này ít nguy hiểm hơn, nhưng lại tốn kém hơn, đôi khi làm hắn gặp rắc rối ở nhà. Còn về những việc công, hắn cóc cần biết. Zénon và hắn chơi bài; Gilles luôn thắng. Bác sĩ cắt thuốc cho cả nhà Rombaut. Một miếng bánh to mà già Greete mang đến phòng ký lục vào ngày lễ các nhà vua gửi cho Zénon lọt vào mắt thằng vô lại, hắn tịch thu luôn mang về cho cả nhà ăn, và lại chuyện này làm cũng chẳng xấu, vì ông tù dù gì đi nữa cũng có quá nhiều thứ để ăn. Zénon không bao giờ biết rằng già Greete đã gửi cho ông, cái bằng chứng rụt rè về sự trung thành của già.
Khi có dịp, triết gia tự bào chữa khá tốt. Một số tội cuối cùng được giữ lại thật ngu xuẩn: chắc chắn ông không hề theo đức tin của Mahomet ở phương Đông; thậm chí ông cũng không cắt bì quy đầu. Việc minh oan tội đã phục vụ Vua Thổ dã man và không trung thành vào lúc tàu chiến và quân đội của hắn đang đánh Hoàng đế là một chuyện ít dễ dàng; Zénon lớn tiếng khẳng định là con trai một người Florentin, nhưng lập nghiệp và hành nghề tại Languedoc, nên ông cho mình là một thần dân của Đức Vua dốc lòng kính Chúa Cơ đốc, mà Bệ hạ lại có quan hệ rất tốt với Cảng Ottomane. Luận cứ này ít chắc chắn, nhưng trong thành phố lan truyền những giai thoại rất có lợi cho bị cáo về chuyến đi của ông đến bờ Đông Địa Trung Hải. Hồi đó Zénon có thể là một điệp viên của Hoàng đế tại xứ sở mọi rợ này, và ông không thể khai rõ được vì phải giữ bí mật. Triết gia không phải đối giai thoại này cũng như một số chuyện khác không kém phần lãng mạn, tất nhiên là để không làm thất vọng những người không quen biết đã truyền chúng. Hai năm sống dưới trướng Vua Thụy Điển để lại nhiều di hại hơn, vì thời gian gần hơn, và không một bóng huyền thoại nào có thể tô vẽ cho được. Vấn đề là ông có sống như một tín đồ cơ đốc giáo hay không trong đất nước được coi là cải cách này. Zénon nói ông không bỏ đạo, nhưng cũng không thêm rằng ông đã đi nghe giảng đạo Tin lành, vả lại ông làm điều đó càng ít càng tốt. Những nghi ngờ ông là gián điệp nước ngoài lại dấy lên: bị cáo đã làm công chúng mất thiện cảm khi lý luận rằng nếu ông quả thật muốn nghe ngóng cái gì và truyền nó cho ai, thì ông đã tìm đến một thành phố không xa những trung tâm lớn như Bruges.
Nhưng thực tế việc Zénon ở lại lâu như vậy ở thành phố quê hương dưới tên mượn làm các quan tòa khó hiểu: người ta thấy ở đây hẳn phải có uẩn khúc gì. Nếu là một người ngoại đạo bị Sorbonne kết án phải trốn tránh vài tháng tại nhà một phẫu thuật gia-thợ cạo trong số bạn bè, ít được ghi nhận lòng sùng đạo thiên chúa giáo, thì người ta chấp nhận, nhưng lại là một người khéo léo đã phục vụ cho hoàng cung, mà muốn sống cuộc đời túng thiếu của một bác sĩ nhà thương làm phúc thì quả là lạ để có thể nói đó là một người vô tội. Bị cáo về điểm này không có câu trả lời: bản thân ông cũng không hiểu rõ hơn vì sao ông đã ở lại Bruges lâu như thế. Vì ý nhị, ông không nhắc tới tnfh cảm ngày càng gắn bó ông với linh mục tu viện trưởng đã khuất: hơn nữa lý do này dường như là của riêng ông. Còn về những mối quan hệ ghê tởm với Cyprien, bị cáo phủ định hoàn toàn, nhưng ai cũng nhận ra rằng trong cách nói của ông thiếu sự phẫn nộ đức hạnh có thể làm vật đảm bảo cho ông. Người ta không quay lại tội chăm sóc và giúp đỡ cho những kẻ trốn chạy ở Saint-Cosme; linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier mới nhận xét một cách đúng đắn rằng tu viện của ông cũng đã quá khốn đốn vì toàn bộ vụ việc này rồi, nên một mực đề nghị không khơi lại những tin đồn về sự không trung thành xung quanh vị bác sĩ nhà thương làm phúc này. Khi viên chưởng lý xứ Flandre Pierre le Coq nêu ra chủ đề cũ mèm về những ảnh hưởng trái lẽ thường có sử dụng ma thuật, thì tù nhân đến lúc đó vẫn cư xử đúng mực bỗng bùng giận. Ông cho mọi người thấy rằng nếu vậy thì sự mến chuộng của Jean-Louis de Berlaimont với ông cũng có thể giải thích là do yểm bùa. Zénon, trước đó đã trình bày với Đức Tổng Giám mục rằng theo nghĩa nào đó thì tất cả mọi việc đều có ma thuật, giận dữ thêm rằng nếu như thế người ta sẽ san phẳng mọi trao đổi giữa hai đầu óc tự do. Đức Tổng giám mục đáng kính không phản bác điều mâu thuẫn bề ngoài ấy.
Về mặt học thuyết, bị cáo cũng không khéo léo như mọi người nào bị mắc vào một mạng nhện dày đặc có thể làm được. Vấn đề về những thế giới vô tận đặc biệt làm bận tâm nhiều hơn hai thần học gia được gọi đến với cương vị dự thính; người ta thảo luận rất lâu rằng vô tận và không có giới hạn có đồng nghĩa với nhau không. Khi vấn đề được chuyển thành câu hỏi tâm hồn là vĩnh hằng hay chỉ còn là một phần tồn tại và tồn tại trong một khoảng thời gian nào đó, thì tranh luận còn dằng dai hơn nữa vì nó tương đương với câu hỏi tín đồ thiên chúa giáo có cái chết đơn giản và lành mạnh hay không: Zénon nhắc lại một cách mỉa mai định nghĩa của Aristole về các phần của tâm hồn, định nghĩa này sau đó đã được các bác học Ả rập phát triển lên một cách khôn ngoan. Vậy người ta có định khẳng định rằng tâm hồn cây cỏ, tâm hồn động vật, và cuối cùng tâm hồn tiên tri, hoặc tâm hồn của một thực thể nằm ẩn ngầm bên dưới tất cả những tâm hồn đó, là bất tử không? Có một lúc, ông nhấn mạnh là một số trong các giải thuyết của ông tóm lại cũng gần giống lý thuyết về chất hình của thánh Bonaventure, nó hàm chứa tính vậy thể nào đó của tâm hồn. Người ta phủ định hệ quả này, song linh mục phụ tá Campanus ngồi nghe tranh luận từ đầu chí cuối, nhớ lại chính ông ngày xưa đã dạy cho học tròm của mình những tinh hoa kinh viện này, và chợt thấy một chút kiêu hãnh dân trào từ lý lẽ ấy.
Cũng trong buổi xét xử này, người ta đã đọc những cuốn vở bốn mươi năm trước Zénon chép nhiều lời trích dẫn của kẻ ngoại đạo hay vô thần nổi tiếng, và của những cha cố nói phản bác lẫn nhau, người đọc có hơi làm các quan tòa sốt ruột vì họ cho rằng họ khác biết loại tríc dẫn ấy đủ để phán quyết. Jean Myers không may đã lưu giữ cẩn thận những cuốn vở học trò này. Những luận đề được nhắc đi nhắc lại nhiều lần làm cả bị cáo lẫn Đức Ngài cùng ngán ngẩm, nhưng những người không am hiểu thần học thì tháy chúng kinh khủng hơn cả những gì táo bạo trong Tiền Lý thuyết, quá tối nghĩa để có thể hiểu được. Cuối cùng, trong sự im lặng ảm đạm, người ta đọc Những lời tiên tri hài hước mà Zénon trước đó đã cho nghệ sĩ đàn ống và vợ ông ta nghe như những câu đó nhỏ vô hại. Thế giới lố lăng giống như nhìn trong tranh một số họa sĩ lập tức trở nên đáng sợ. Với sự điên rồ làm người ta thấy bất an, nghe chuyện con ong bị lột sáp mà cử tọa tưởng nhớ tới những người chết bị bóc mắt, trước những cây nến thờ ai oán cháy, và hơn nữa bị cắt tai để khỏi nghe những lời oán thá, bị mất tay để khỏi bó thí. Bản thân Bartholomé Campanus cũng tái người khi nghe đến đoạn các dân tộc và các quân vương châu Âu khóc lóc rên rỉ trước mỗi lần xuân phân, thương tiếc một kẻ nỗi loạn ngày xưa bị kết án ở phương Đông, hay khi nghe đọc đến những kẻ điên rồ và gian giảo đưa ra những lời đe dọa hay hứa hẹn nhân danh một chúa vô hình vô tiếng mà họ tự xưng là quản gia cho người dù không có bằng chứng gì. Người ta cũng không cười hình ảnh hàng nghìn Con vật vô tội và Thánh thiện bị cắt cổ và xiên mỗi ngày dù chúng có kêu be be một cách đáng thương, hình ảnh con người ngủ trên lông chim và trong giấc mơ họ được đưa lên trời, hay những xương người chết quyết định tài vận người sống trên những mặt gỗ váy máu của nho, càng không cười những chiếc túi thủng hai đầu được đặt lên cao trên những con chim cà kheo, rải xuống thế giới một làn gió những điều bẩn thỉu còn trong bụng thì tiêu hóa đất. Trên cả ý định hiển nhiên muốn báng bổ các định chế thiên chúa giáo ở nhiều chỗ, người ta cảm thấy trong những công trình viết lách này một sự chối bỏ sâu sắc hơn thế làm đọng lại trong miệng cơn buồn nôn mơ hồ.
Triết gia cũng như thấy ở lên nỗi cây đắng khi nghe đọc lại, và buồn hơn cả là sao người nghe lại phẫn nộ vì kẻ táo gan đã chỉ ra cái phi lý của số phận con người, chứ không chống lại bản thân số phận đó mà dù sao họ cũng có một phần quyền lực nhỏ bé để làm thay đổi. Khi Đức Tổng Giám mục đề nghị để những lời tầm phào này qua một bên, tiến sĩ thần học Hieronymus van Palmaert, đương nhiên là ghét bị cáo, liền quay lại với những trích dẫn mà Zénon đã hợp tuyển, và lý luận rằng bị cáo chủ mưu rút ra từ những tác gia cổ những khẳng định ngoại đạo và độc hại, rằng như thế còn độc ác hơn là lời khẳng định trực tiếp. Đức Ngài thấy quan điểm này quá khích. Khuôn mặt ngập máu của tiến sĩ cháy bùng lên, và ông ta lớn tiếng hỏi vì sao người ta phiền đến ông ta để cho ý kiến về những lầm lỗi về phong tục và học thuyết mà chắc chắn những điều đó không làm một quan tòa làng nào lưỡng lự đến một tích tắc.
Trong phiên này còn có hai sự kiện gây hại rất lớn cho bị can. Một phụ nữ to béo thô kệch hùng hổ bước vào tự giới thiệu. Đó là người hầu cũ của Jean Myers, Catherine, mụ nhanh chóng chán ngấy phải phục dịch những người tàn tật do Zénon đưa vào nhà Ông Già Kè gỗ, bây giờ mụ rửa bát ở chỗ mụ Bí ngô. Mụ buộc tội Zénon đầu độc Jean Myers với những thuốc chữa bách bệnh của ông; để diệt bằng được người tù, mụ tự nhần mình cũng có tội, mụ thú nhận đã giúp Zénon thực hiện vụ đầu độc này. Người đàn ông đểu giả kia trước đó đã dùng những môn thuốc kích thích làm mụ rực lên, đến mức mụ thành nô lệ của ông cả về phần xác và phần hồn. Mụ không ngừng tuôn hết từng chi tiết những lần đổi chác nhục dục với bác sĩ; hẳn là sống gần các cô gái và khách hàng của mụ Bí ngô từ đó đến nay, mụ đã học thêm được rất nhiều. Zénon kiên quyết phủ nhận đã đầu độc ông già Jean, nhưng công nhận đã hai lần đụng chạm với mụ. Những lời thú tội mà Catherine khoa chân múa tay hét lên làm kích hoạt nhanh chóng thái độ uể oải của các quan tòa; hiệu ứng của nó đối với công chúng cũng thật lớn, họ dồn xô đến lối vào phòng; tất cả những tiếng đồn tai hại về phép phù thủy nhân đó càng được khẳng định. Nhưng con mụ ma lem, bị đẩy xuống cuối phòng xử, không dừng lại nữa; người ta bắt mụ câm họng; và vì chửi mắng cả quan tòa, nên mụ bị ném ra khỏi phòng đưa vào nhà điên, ở đó mụ có thể thỏa thích mà nổi khùng. Tuy nhiên các quan tòa vẫn lúng túng. Việc Zénon không giữ lại di sản của nhà phẫu thuật-thợ cạo chứng minh ông vô tư và làm mất hết động cơ tội ác; nhưng phần khác, lòng ăn năn có thể đã khiến ông xử sự như vậy.
Trong khi đang thảo luận chuyện này thì có một thư nặc danh được gửi đến các quan tòa, đó là một tố cáo còn đáng sợ hơn nữa, nhất là khi các vụ chính án đều bị xử ngặt như lúc này. Thư này đương nhiên do hàng xóm của ông thợ rèn già Cassel viết. Người ta đảm bảo rằng trong hai tháng bác sĩ ngày nào cũng đến xưởng rèn để chăm sóc cho một người bị thương không ai khác ngoài kẻ đã giết đại úy quá cố Vargaz; cũng chính bác sĩ đã giúp kẻ giết người trốn thoát. May cho Zénon, Josse Cassel, người có thể làm sáng tỏ nhiều điểm, đang ở Gueldre phục vụ nhà Vua, hắn vừa xin vào trung đoàn Ngài de Landas. Ông già Pieter bị bỏ lại một mình đã đặt chìa khóa dưới cửa và trở về làng nơi ông vẫn còn chút của cải, không ai biết chính xác ở đâu, Zénon phủ nhận như ông cần làm thế và bỗng nhiên thấy tên sĩ quan quân cảnh thành đồng minh vì trong sổ hắn ghi người giết Vargaz đã chết trong kho chứa cỏ, và ông không lo hắn bị tố cáo vì tìm hiểu vụ việc xa xôi này một cách cẩu thả. Không tìm ra tác giả của lá thư, và hàng xóm của Josse, khi bị hỏi cung, đưa ra những câu trả lời nửa đồng tình nửa không: không ai có lương tri mà lại thú nhận phải chờ hai năm trước khi lên tiếng tố cáo một tội ác như vậy. Nhưng lời buộc tội này cũng nghiêm trọng, và nó làm nặng thêm những lời cáo buộc ông đã giúp đỡ những người trốn chạy trong nhà thương làm phúc.
Với Zénon, vụ án chỉ còn giống như một trong những ván bài với Gilles, mà vì đãn trí hoặc vì thờ ơ ông bao giờ cũng thua. Cũng như những mẫu bìa các tông tô màu sặc sỡ làm sụp dổ hay làm giàu cho các tay chơ, mỗi cảnh trong trò chơi hợp pháp có một giá trị võ đoán; giống hệt như chơi bài blanque hay hombre, cần phải giữ quan bài để phần kẻ ca rô ra ngoài, trộn bài hay đưa tay ra, phủ bài lên và nói dối. Vả lại sự thật, nếu người ta nói ra, sẽ làm phiền tất cả mọi người. Giữa sự thật và dối trá thật khó phân biệt. Chỗ mà ông bảo là đúng, cái đúng đó có hàm chứa cái sai: ông không bỏ đạo thiên chúa giáo cũng chẳng từ bỏ đức tin cơ đốc giáo, nhưng ông sẽ làm thế nếu cần thiết, với lương tâm thanh thản, và rất có thể ông sẽ theo Luther nếu ông quay lại nước Đức như đã định. Ông hoàn toàn có quyền phủ nhận những quan hệ về xác thịt với Cyprien, nhưng có một đêm ông đã thèm muốn cái thân thể đã tàn lụi ấy; theo một nghĩa nào đó, những chứng cứ của cậu bé bất hạnh này ít sai hơn là bản thân Cyprien tin khi nó đưa những chứng cớ đó ra. Không còn ai buộc tội ông muốn cho idelette một liều thuốc phá thai, và ông hoàn toàn trung thực khi phủ nhận việc đso, nhưng ông vẫn nghĩ trong đầu rằn hẳn là ông sẽ cứu cô ta nếu cô ta biết lên tiếng đúng lúc, và ông tiếc đã không thể làm như thế để tránh cho cô một cái chết bi thảm.
Mặt khác, những khi lời phủ nhận của ông hoàn toàn dối trá, như việc đã chăm sóc cho Han, sự thật thuần túy cũng bị dối trá không kém. Những giúp đỡn dành cho những kẻ nổi loạn không chứng minh, như viên chưởng lý phẫn nộ nghĩ, và như những người yêu nước khâm phục, rằng ông chọn lựa sự nghiệp yêu nước: không ai trong số những kẻ cuồng nhiệt hiểu cái tận tụy lạnh lùng của bác sĩ. Quả là tranh cãi với các nhà thần học có thú vị, nhưng ông biết quá rõ là không tồn tại một thỏa hiệp lâu dài nào giữa những kẻ đi tìm kiếm, cân đong đo đếm, làm việc mổ xẻ và tự hào là ngày mai họ có khả năng nghĩ khác hôm nay, và những kẻ tin hoặc khẳng định là tin, và bắt đồng loại cũng phải như vậy dưới sức ép của án tử hình. Bao trùm những cuộc hội nghị luận ấy là một sự phi thực chán ngắt, mà câu hỏi và câu trả lời chẳng ăn khớp gì nhau. Đến nỗi ở một trong những phiên cuối cùng ông ngủ thiếp đi, Gilles đang đứng cạnh phải hích vai gọi ông về với trật tự. Thực tế, một vị pháp quan cũng ngủ. Ông này lúc tỉnh dậy nghĩ là bản án tử hình đã tuyên bố, làm tất cả mọi người cười rộ, trong đó có cả bị cáo.
Không chỉ trong phiên tòa, mà cả trong thành phố, dư luận ngay từ đầu đã hiệp lực lại theo sơ đồ phức tạp. Quan điểm của Đức Tổng giám mục không rõ ràng, song đương nhiên vì Ngài hiện thân cho sự mực thước, nếu không phải là sự khoan dung. Là ex officio[3], Ngài là một đại diện mang lại sự trợ giúp của quyền lực hoàng gia, và nhiều người trong cuộc bắt chướt thái độ của Ngài; Zénon gần như trở thành người được bảo vệ của chính quyền. Nhưng một số lời buộc tội chống lại người tù lại quá trầm trọng, đến nỗi đối xử đúng mức với ông cũng là chuốc lấy nguy hiểm. Họ hàng và bạn bè được Philibert Ligre bảo kê tại Bruges lưỡng lự: bị cáo dù sao cũng là người trong nhà, nhưng họ không biết đó là lý do để kết tội ông hay để bảo vệ ông. Ngược lại với những kẻ đã phải đau khổ vì những thủ đoạn cứng rắn của ông chủ nhà băng thì Zénon là mối thù hận: nhắc tới cái tên họ ấy là họ đã nghiến răng. Những người yêu nước tư sản và là thành phần đáng nhờ cậy nhất trong dân chúng chắc phải ủng hộ người bất hạnh đã cứu những người cùng cảnh ngộ với họ; thực tế có một số người như vậy, nhưng phần lớn những con người nhiệt thành này nghiêng về thanh giáo và ghét hơn ai hết mọi điều liên quan đến vô thần hoặc trụy lạc, dù chỉ là sự nghi ngờ; hơn nữa họ ghét tu viện, và Zénon trong mắt họ có mối quan hệ mật thiết với các tu sĩ ở Bruges. Duy chỉ có vài người đơn độc, những người bạn vô danh của triết gia, gắn bó với ông bằng mối thiện cảm mà mỗi người có lý do khác nhau, là bí mật cố gắng cứu giúp ông, mà không làm Công lý chú ý đến họ, vì gần như tất cả bọn họ đều có lý do để dè chừng. Những người này không bỏ lỡ một dịp may nào để làm sự việc rối mù lên, hy vọng như thế sẽ đỡ cho tù nhân chút đỉnh, hay ít nhất cũng là để cười nhạo những kẻ kết án.
Linh mục phụ tá Campanus nhớ rất lâu rằng vào đầu tháng Hai, ít lâu trước phiên tòa tai hại mà mụ Catherine đột nhập vào, các vị quan tòa đã dừng lại một lúc trước ngưỡng cửa phòng ký lục để trao đổi ý kiến sau khi Đức Tổng giám mục đi khỏi. Pierre le Cocq, trợ thủ đắc lực nhất của quận công Alve ở Flandre, đã nhận xét rằng họ đã mất gần đến sáu tuần cho những chuyện tầm phào, trong khi chỉ cần đơn giản là áp dụng những hình phạt theo luật pháp. Tuy nhiên, ông ta cũng vui mừng vì vụ án này đã giảm mức độ nghiêm trọng rất nhiều vì nó không còn dính dáng tới các lợi ích quốc gia thời điểm bây giờ nữa, thậm chí nó còn đánh lạc hướng công chúng một cách hữu hiệu nhất: trong khi còn bận tâm tới ông Zénon ở ngay bên cạnh, dân chúng ở Bruges sẽ ít lo lắng hơn về những gì diễn ra tại Tòa án chống phản loạn ở Bruxelles. Hơn nữa, vào lúc mọi người đều trách móc Công lý suy luận võ đoán, cũng khi tồi khi chứng tỏ rằng ở Flandre người ta còn biết tuân thủ các hình thức trong ngành tư pháp. Ông ta nói thêm, hạ thấp giọng, rằng Đức Tổng Giám mục đáng kính đã biết sử dụng quyền lực hợp pháp một cách khôn ngoan mà một vài người đã nhầm lẫn khi phản đối Ngài, nhưng có lẽ cần phải phân biệt rõ chức trách và con người: Đức Ngài có sự đắn đo nào đó cần phải loại bỏ nếu ngài muốn tiếp tục tham gia vào nghề xét xử. Dân chúng đang rất muốn thấy ông già đặc biệt này bị thiêu, và sẽ nguy hiểm hơn nếu cất đi chiếc xương người ta đã huơ lên trước mắt con chó dữ.
Bartholommé Campanus không phải không biết rằng ngài chưởng lý đầy thế lực này mắc nợ lớn với cái vẫn còn được gọi ở Bruges là ngân hàng Ligre. Hôm sau ông vộ viết một bức thư cho cháu mình Philibert và bà Martha, vợ ông ta, đề nghị họ can thiệp tới Pierre Le Cocq, tìm một cách đi vòng vèo nào đó có lợi cho người tù.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng La tinh: Về triết học huyền bí
[2] Josué: người kế vị Moise, được coi là người viết lịch sử của người Do Thái cổ.
[3] Tiếng La tinh: Ngài thực hiện chức năng của mình.