Từ vài tháng nay, sau khi gã giáo sĩ nghiện rượu ăn cắp lọ thuốc bị đuổi, giúp việc cho Zénon là một tu sĩ rất được việc mới mười tám tuổi, sống trong tu viện Cordelier. Tu sĩ Cyprien vốn là con nhà nông dân vào tu viện lúc mười lăm tuổi, ngoài thứ tiếng Flamand thô kệch đặc sệt nhà quê chỉ biết nói mấy câu La tinh đủ để trả lời lễ mixa. Thỉnh thoảng mọi người vẫn còn bắt gặp cậu lẩm bẩm hát đồng dao mà chắc là cậu học mót từ đám bạn chăn bò. Cậu vẫn chưa bỏ được hết những nết xấu trẻ con, kiểu như lén lút thò cả bàn tay vào hộp đường dùng làm dịu những liều thuốc đắng để ăn vụng. Xấc xược, nhưng cậu bé lại có tài bó thạch cao hay băng vết thương khéo chưa từng thấy; không có vết thương, vết loét nào khiến cậu ghê tởm hay sợ hãi. Cậu thường đùa với bọn trẻ đến chữa bệnh nên được chúng quý mến. Zénon giao cho cậu đưa những người bệnh quá yếu mà ông không dám cho đi một mình trong thành phố về nhà; mũi nghếch lên trời, vui thích vì được ra phố xá ồn ã tấp nập, Cyprien chạy một mạch từ nhà thương làm phúc qua bệnh viện Saint-Jean để mang thuốc sang hay lấy về, mượn giường cho một gã vô lại nào đó mà người ta không nỡ để chết vạ vật, và nếu không còn cách nào khác thì đi thuyết phục một bà già sùng đạo trong khu phố chứa tạm kẻ rách rưới. Đầu mùa xuân, cậu gây ra một vụ tai tiếng nhỏ vì tội ăn cắp mấy cành hồng dại về đội cho Đức mẹ Đồng trinh ngự dưới vòm cuốn, vì vườn tu viện chưa có hoa.
Đầu óc ngu tối của cậu rặt những điều mê tín dị đoan thừa hưởng từ các bà già nhà quê: phải bắt cậu bỏ cái trò dán lên vết thương người bệnh hình những ông thánh lang băm giá một xu. Cậu nhất quyết tin có ma chó sói rền rĩ trên phố vắng, và chỗ nào cũng nhìn ra phù thủy. Lễ thánh, theo cậu, sẽ không thể nào không có một tay chân của quỷ Sa tăng bí mật tham dự. Nếu bị một mình phục vụ lễ mixa trong nhà thờ vắng người, cậu nghi ngay chính ông linh mục chủ lễ, hoặc tưởng tượng ra một phù thủy vô hình đang đứng trong bóng tối. Cậu cho rằng vào những ngày nào đó trong năm, ắt là linh mục sẽ tạo ra phù thủy bằng cách đọc ngược kinh rửa tội, và kèm theo câu chuyện làm chứng là chính mẹ đỡ đầu của cậu phải vội vã ôm cậu ra khỏi chỗ rảy nước, vì thấy ông linh mục đọc lộn tùng phèo bài kinh nhật tụng. Người ta tự bảo vệ mình trước các phù thủy bằng cách tránh tiếp xúc, hoặc đặt tay lên những người bị nghi là phù thủy cao hơn chỗ họ đã đặt bàn tay lên người anh. Một hôm, Zénon tình cờ đặt tay lên vai cậu ta, cậu ta loanh quanh bên cạnh ông đến lúc chạm nhẹ được vào mặt ông mới thôi.
Sáng hôm sau đó, sau chủ nhật lễ Quasimodo, hai người đang ở trong hiệu thuốc, Sébastien Théus đang ghi chép vào sổ ghi hàng ngày. Cyprien vẻ đờ đẫn giã hạt nhục đậu khấu. Thình thoảng cậu lại dừng lại ngáp.
- Cậu ngủ đứng rồi kìa, - bác sĩ bất thần nói. - Liệu tôi có nên tin rằng cậu đã thức cầu nguyện cả đêm qua không đây?
Tu sĩ trẻ cười vẻ ranh ma:
- Ban đêm các Thiên thần gặp nhau, - cậu ta nói sau khi đã liếc ra cửa. - Các Thiên thần chuyển nhau bình rượu, họ tắm, đã có sẵn bồn nước. Họ quỳ gối trước Người đẹp, nàng giang tay ôm vai họ và hôn; cô hầu của Người đẹp gỡ bím tóc dài cho nàng và cả hai đều khỏa thân như trên Thiên đường. Các Thiên thần cởi quần áo len, chiêm ngưỡng lẫn nhau trong trang phục bằng da mà Chúa đã bạn; nến sáng rồi tắt, và mỗi vị theo đuổi niềm lạc thú trong tim mình.
- Chuyện hay nhỉ! - Bác sĩ nói vẻ khinh bỉ.
Nhưng cảm giác lo âu âm thầm đã xâm chiếm ông, ông biết kiểu xưng hô là Thiên thần và những hình ảnh dâm dật này: đó là cách người ta gọi nhau trong một số giáo phái bị quên lãng tưởng như đã bị truy diệt tận gốc bằng gươm đao và giàn thiêu ở Flandre từ hơn một nửa thế kỉ nay. Ông nhớ lại, hồi còn bé tí, nằm dưới nắp lò sưởi trên phố Len, ông có nghe người ta thì thầm với nhau về những hội nhóm mà những tín đồ biết tới tận xác thịt nhau.
- Cậu nhặt ở đâu ra mấy chuyện nhảm nhí nguy hiểm này thế? - Ông nói nghiêm khắc. - Mơ cái gì tốt hơn đi.
- Không phải là chuyện bịa đâu, gã thanh niên nói vẻ tự ái. - Khi Mynheer muốn, Cyprien sẽ đưa ông đến đó, ông sẽ thấy và chạm vào các Thiên thần.
- Đừng có đùa, - Sébastien Théus nói, nghiêm khắc hơn mức bình thường.
Cyprien trở lại giã hạt nhục đậu khấu. Thỉnh thoảng, hắn đưa lên mũi một hạt màu đen để ngửi mùi thơm rõ hơn. Nếu thận trọng, nên coi như những lời nói đó chưa từng có, song sự tò mò đã thắng Zénon:
- Thế cái các anh gọi là hẹn hò đêm ấy diễn ra ở đâu, vào lúc nào? - Ông giận dữ hỏi. Ra khỏi tu viện ban đêm không phải dễ. Tôi biết có mấy tu sĩ đã trèo tường ra
- Bọn ấy ngu, - Cyprien lại nói, nhơn nhơn. - Tu sĩ Florian đã tìm ra lối để các Thiên thần đi về. Anh ấy yêu Cyprien.
- Liệu mà giữ bí mật của các cậu, - bác sĩ nói giọng đe dọa - có gì chứng minh rằng tôi sẽ không phản các cậu?
Gã trai khẽ lắc đầu:
- Mynheer không muốn hại các Thiên thần, - hắn nói xa xôi với vẻ trâng tráo tòng phạm.
Tiếng gõ cửa làm ngắt đoạn câu chuyện giữa hai người. Zénon nhảy bổ ra mở cửa, từ hồi gặp nguy hiểm ở Innsbruck ông chưa như thế bao giờ. Đó chỉ là một cô bé bị bệnnh luput luôn đeo mạng đen, không phải vì xấu hổ với căn bệnh, mà vì Zénon đã nói là ánh sáng sẽ làm mặt cô tàn tạ thêm. Zénon thấy khuây khỏa khi gặp cô và khám bệnh cho cô. Nhiều con bệnh khác lần lượt đến. Không còn lời nguy hiểm nào được trao đổi giữa bác sĩ và y tá nữa trong vòng vài ngày sau đó. Nhưng từ bây giờ Zénon nhìn hắn ta với con mắt khác. Dưới chiếc áo thầy tu kia đang sống một cơ thể và một tâm hồn đáng ngại thích phiêu lưu. Đồng thời ông thấy dường như một kẽ nứt đã mở ra trên nền đất nơi ông nương náu. Không tự thú nhận điều đó, ông tìm cơ hội để biết rõ hơn.
Cơ hội có ngay vào thứ bảy sau đó. Phòng khám vừa đóng cửa, họ ngồi bên bàn, cùng lau rửa dụng cụ. Đôi tay của Cyprien di chuyển một cách chăm chỉ giữa đống panh nhọn và dao mổ sắc. Bỗng, tựa khuỷu tay giữa đống kim loại, cậu hát thầm thì một điệu hát cổ và phức tạp:
Ta gọi và ta được gọi
Ta uống và ta được uống
Ta ăn và ta được ăn
Ta nhảy múa và mọi người hát
Ta hát và mọi người nhảy...
- Còn bài hát gì nữa đây? - Bác sĩ bất thần hỏi.
Thực tế ông đã biết đó là một đoạn trong kinh phúc âm ngụy tạo đã bị nhà thờ quy tội, vì đã nhiều lần ông nghe từ miệng những giả kim thuật gia muốn gắn vào đó nhũng quyền lực bí ẩn.
- Đó là thánh ca của thánh Jean, - gã trai ngây thơ nói.
Cúi xuống mặt bàn, hắn tiếp tục với giọng tâm sự nhẹ nhàng:
- Trời đang mùa xuân, chim bổ câu thở dài, nước tắm các Thiên thẩn rất ấm. Họ nắm tay nhau và hát nhỏ, vì sợnhững kể độc ác nghe thấy. Hôm qua tu sĩ Florian đã mang đến một cây đàn luth, anh ấy chơi rất khẽ những bản nhạc dịu dàng, đến mức làm mọi người phát khóc.
- Các cậu có đông không? - Sébastien Théus hỏi dù biết là không nên.
Hắn đếm trên đầu ngón tay:
- Cô Quirin, bạn thân của Cyprìen, tu sĩ tập việc Francois de Bure, có khuôn mặt sáng sủa và giọng nói rất trong. Mathieu thỉnh thoảng đến, - hắn tiếp tục, kể thêm tên hai người nữa mà bác sĩ không biết, - và tu sĩ Florian ít khi vắng mặt mỗi lần các Thiên thần tụ hội. Pierre de Hamaere không đến bao giờ, nhưng ông ấy cũng yêu họ.
Zénon không ngờ lại nghe đến tên vị tu sĩ thường tỏ ra khắc khổ này. Ông ta và ông vẫn ghét nhau từ khi người quản lý chi tiêu này phản đối việc tu sửa lại Saint-Cosme,và đã nhiều lần tìm cách xén gọt những đồng tiển cúng cho nhà thương làm phúc. Một thoáng, ông thấy có vẻ như những lời thú nhận lạ lùng của Cyprien chính là bẫy Pierre đã giăng ra để nhử ông. Nhưng cậu ta đã nói tiếp:
- Người đẹp cũng không phải lúc nào cũng đến, chỉ khi nào những kẻ độc ác không làm nàng sợ thôi. Cô hầu da nâu của nàng mang theo bánh thánh của tu viện Bernadine gói trong vải. Các Thiên thần không xấu hổ, không ghen tuông, không ngăn cơ thể thụ hưởng sự ngọt ngào. Người đẹp ban những nụ hôn an ủi cho tất cả những ai muốn nhận, nhưng nàng chỉ yêu quí có Cyprien mà thôi.
- Cậu gọi tên nàng là gì? - Bác sĩ nói, lúc này mới ngờ rằng đó là một cô bé, một khuôn mặt nào đó ở đằng sau cái mà trước đó ông vẫn cho là những tưởng tượng yêu đương của nìột gã trai sống không có đàn bà từ khi hắn phải từ bỏ những trò chơi dưới rặng liễu với những cô gái chăn bò.
- Mọi người gọi nàng là Eva, - Cyprien nói âu yếm.
Một nắm than cháy bừng lên trong chiếc lò đặt bên cửa sổ. Cái bếp này dùng để đun chảy các cục thuốc tra mắt. Zénon nắm tay cậu ta và dắt cậu đến chỗ ngọn lửa nhỏ. Một lúc lâu, ông giữ ngón tay cậu ở phía trên cái khối đỏ rừng rực ấy. Cyprien tái xám tận môi, cậu ta phải cắn răng để không kêu lên. Zénon cũng xanh xao không kém. Ông nhanh chóng thả tay cậu ra.
- Làm sao cậu có thể chịu đựng ngọn lửa như thể này cháy trên toàn thân cậu? - Ông hạ giọng nói. - Hãy tìm đến những lạc thú đỡ nguy hiểm hơn là hội họp các Thiên thẫn.
Bằng tay trái, Cyprien với lên lấy trên giá xuống chiếc hộp đựng dầu hoa huệ bôi lên vết bỏng. Zénon im lặng giúp cậu băng ngón tay lại.
Lúc đó, tu sĩ Luc bước vào, tay bưng khay đựng thuốc cho linh mục tu viện trưởng, mỗi tối người ta đặt lên đó một liều thuốc giảm đau. Zénon lấy thuốc, rổi một mình đi lên phòng linh mục. Ngày hôm sau, toàn bộ sự việc chỉ còn như một cơn ác mộng, nhưng ông gặp lại Cyprien trong phòng, đang rửa chân cho một em bé bị thương. Tay cậu vẫn băng bó. Từ đó về sau, và lẩn nào cũng cảm thấy nỗi sợ hãi không thể chịu đựng nổi ấy, Zénon tránh mắt không nhìn vào vết sẹo trên ngón tay bị thiêu. Cyprien có vẻ như cố tình gần như làm điệu làm bộ để vết sẹo được gí vào tận mắt ông.
Việc nghiên cứu giả kim thuật trong căn phòng nhỏ tu viện Saint-Cosme đã bị thay thế bởi những bước chân lo lắng đi đi lại lại của người nhìn thấy nguy hiểm và đang tìm cách thoát. Dần dần, giống như một vật trồi lên từ khối sương mù, những sự kiện đã lộ nguyên hình qua những lời nói không đâu vào đâu của Cyprien. Không khó khăn gì để lý giải về lễ tắm các Thiên thẩn và những cuộc hội họp phóng đãng của họ. Dưới mặt đất Bruges là một mạng lưới đường đi lối lại ngẩm nối từ cửa hàng này sang cửa hàng khác và từ hẩm nhà nọ sang hẩm nhà kìa. Giữa phẩn khu phụ thuộc tu viện Cordelier và tu viện Bernadine có một ngôi nhà không người ở; tu sĩ Florian, nửa thợ nề nửa thợ vẽ, khi tu sửa nhà thờ và hành lang tu viện hẳn đã phát hiện ra buồng tắm hấp hoặc bể giặt cũ mà bọn điên này biến thành nơi ẩn náu bí mật và dịu dàng. Florian là một tay kỳ cục hai mươi tư tuổi, cả quãng đời niên thiếu hắn lang thang lêu lổng khắp xứ, đến các lâu đài vẽ chân dung các quý tộc hay đến các biệt thự thành phố vẽ cho các nhà tư sản, đổi lấy giường rơm và cái ăn. Những biển cố ở Anvers đã làm giải tán tu viện nơi hắn đột nhiên mặc áo thẩy tu, nên người ta đã cho hắn một khoang ở tu viện Cordelier ở Bruges từ mùa thu. Hay đùa, khéo tay khéo chân, mặt mũi lại dễ coi, hắn luôn được đám thợ học việc vây quanh. Có thể cái đầu rạn nứt kia đã tìm thấy ở đâu đó tàn dư dòng Beguins hay Anh em Ðức Thánh thần đã bị triệt căn từ hồi đầu thế kỷ, rồi bị lây nhiễm thứ ngôn từ văn vẻ và cách xưng hô thần tiên để rổi truyền lại nó cho Cyprien. Tuy nhiên, còn phải loại trừ trường hợp anh chàng nhà quê kia tự mình chuốc lấy thứ biệt ngữ nguy hiểm trong số những điều mê tín dị đoan ở quê hắn, như mầm mống dịch hạch đã bị lãng quên nhưng vẫn tiếp tục bí mật âm ỉ ở góc tủ.
Từ lúc linh mục trường tu viện bị ốm, Zénon nhận thấy trong tu viện khuynh hướng bất bình thường và lộn xộn: những lễ thánh ban đêm, như người ta nói, chỉ còn được một vài tu sĩ theo đuổi một cách không chính xác; nhiều tu sĩ cố tình ngơ đi những cải cách mà vị linh mục trưởng đã thiết lập theo khuyến nghị của Hội đổng; những tu sĩ bê tha nhất ghét Jean-Louis de Berlaimont vì sự khắc khổ mẫu mực nơi ông; những kẻ khắc khổ hơn, thì ngược lại, khinh nhờn ông vì tính hiền từ mà họ cho là thái quá. Đã bắt đầu có những thủ đoạn nhằm vào cuộc bầu linh mục tu viện trưởng mới. Có lẽ do cái không khí tranh tối tranh sáng này nên các Thiên thần mới táo tợn đến thế.
Điều kỳ lạ là một người thận trọng như Pierre de Hamaere lại để cho họ tụ tập ban đêm,vờn với nguy hiểm chết người, và lại còn điên rồ hơn, trộn vào đó hai cô gái, nhưng có lẽ Pierre chẳng từ chối Florian và Cyprien điểu gì. Mà hai cô gái ấy, lúc đầu Sébastíen Théus thấy hình như đó chỉ là những biệt hiệu xảo trá do bọn trẻ ranh ma đặt ra, hay đơn giản là một sự tưởng tượng. Rồi, ông nhớ ra rằng trong khu phố người ta thường bản tán đến một cô nàng con nhà lành đến trú ngụ tại tu viện dòng Bernadine từ Noel trước, vì bố cô ta vắng nhà, ông là thành viên trong Hội đổng Flandre và đến Valladolid để trình ngân sách. Sắc đẹp và đồ trang sức đắt tiền của cô bé, cô hầu nhỏ da sẫm màu hay đeo khuyên tai là đầu đề các câu chuyện ngồi lê đôi mách trong cửa hàng hay trên đường phổ. Tiểu thư nhà Loos hay ra phố với cô hầu da nâu, đi nhà thờ hay đến cửa hiệu thêu ren hoặc hàng bánh ngọt. Không gì có thể ngăn trở việc Cyprìen và hai cô bé liếc nhìn nhau trong một lần nào đó Cyprien ra ngoài đi chợ, rồi chúng nói chuyện với nhau, hoặc Florian trong khi chữa lại mấy bức tranh tường cho dàn hợp xướng, đã rủ rê cho mình hoặc cho bạn mình. Hai cô bé to gan rất có thể đã lẻn đi ban đêm, qua một lỗ hổng hành lang, đến tận chỗ hội họp ban đêm của các Thiên thần, và cung cấp cho trí tưởng tượng trần trụi của bọn họ hình ảnh của một Sulamite và một Eva trong Kinh thánh.
Vài ngày Sau khi Cyprien tiết lộ chuyện, Zénon đến hiệu bánh ngọt trên phố Longue để mua rượu thuốc, một phần ba số đó sẽ dùng để chế thuốc cho linh mục tu viện trưởng. Idelette de Loos đang đứng cạnh quầy chọn bánh rán cắt và bánh nhúng. Cô bé cỡ tuổi chỉ mười lăm, mảnh dẻ như cây sậy, mái tóc vàng gần như trắng và đôi mắt trong veo như nước nguồn. Mái tóc nhạt màu và đôi mắt trong trẻo làm Zénon nhớ lại chàng trai mà ông không thể rời xa nửa bước ở Lubeck. Hồi đó ông với bố anh ta, nhà thông thái Aegidius Fried-hof, thợ kim hoàn giàu có ở Breitenstrasse, cũng là chuyên gia nghệ thuật ngọn lửa, làm một vài thí nghiệm ghép và đo ti lệ của vài kim loại quý trong hợp kim. Cậu bé trầm tư này được ông cưng quý đồng thời vừa là đồ đệ siêng năng của ông. Gerhart hâm mộ giả kim thuật đến mức muốn đi theo Zénon chu du đến Pháp, và vì vậy bố cậu đã đổng ý cho cậu ta bắt đầu đi một vòng trên đất Đức; nhưng triết gia sợ cho cậu bé được nuôi nấng tinh tế này không chịu nổi khốn khó đường trường và những nguy hiểm khác. Kỷ niệm những lẩn đi lại Lubeck, trong cuộc đời nay đây mai đó của ông, chúng giống như những ngày hạ đẹp đẽ cuối cùng, chợt hiện lên, không phải là một sự chuẩn bị khô khan của lý trí giống như khi ông nhớ lại những lần đụng chạm khi suy tưởng về chính mình, nó sống động như thứ rượu vang mà trước hết không nên để mình chuếnh choáng. Những kỷ niệm ấy, dù ông muốn hay không, chúng kéo ông xích lại với đám Thiên thần điên rồ. Nhưng những kỷ niệm khác cũng xoáy tròn quanh gương mặt nhỏ bé của Idelette: cái gì đó táo tợn và chống đối trên gương mặt cô thiếu nữ dòng họ Loos khiến bật ra khỏi quên lãng hình ảnh Jeannette Fauconnier, cô sinh viên nhỏ bé ở Louvain, chiến thắng tình ái đầu tiên của ông; niềm tự hào của Cyprien với ông không còn có vẻ trẻ con hay ảo tưởng nữa. Trí nhớ của ông căng lên để trở về ngày xa xưa hơn nữa; nhưng sợi dây đã bị đứt; cô nàng da nâu vừa cười vang vừa nhai kẹo hạnh nhân, còn Idelette đi ra của vừa ném lại phía người không quen biết có mái tóc xám một trong những nụ cười mà nàng ta treo lên mọi kẻ qua đường. Tà váy rộng của nàng chiếm hết cả lối vào nhỏ bé của cửa hiệu; ông bán hàng, có thói yêu phụ nữ, lưu ý khách hàng của ông ta vì sao cô ả lại biết lấy tay tóm váy, làm lộ ra đôi mắt cá chân, và ép sát lớp váy bằng nhiễu vào đùi.
- Con gái đứa nào phô phang là nó muốn đàn ông biết nó đói cái khác hơn bánh xốp, tên thanh ni ông ta nói vẻ nhả nhớt với bác sĩ.
Câu nói đùa này thuộc kiểu nói đùa trao đổi giữa cánh đàn ông. Zénon cười một cách ý thức.
Ðêm đó ông lại đi đi lại lại trong phòng: tám bước từ chiếc rương đến giường, mười hai bước từ cửa sổ con tới cửa ra và ông đi lại như tù nhân làm hỏng cả sàn nhà. Ông luôn biết một số đam mê của ông, được đánh đồng với một kiểu dị giáo của da thịt, có thể khiến ông rơi vào số phận một kẻ dị giáo, tức là đến với giàn thiêu. Người ta tập làm quen với sự tàn nhẫn của những luật lệ trong thế kỷ người ta sống, như làm quen với những cuộc chiến từ Anh bắt nguồn từ sự ngu ngốc của con người, với những số phận không công bằng, làm quen với những cai trị xấu xa trên đường, với sự chểnh mảng nơi thành thị. Đương nhiên người ta có thể chịu chết cháy vì yêu Gerhart, như có thể chịu nướng trên giàn lửa vì đọc Thánh kinh bằng ngôn ngữ thô tục. Những luật lệ ấy, bản thân chúng không có hiệu lực đối với cái mà chúng muốn trừng phạt, không động tới những kẻ giàu và những kẻ có thế lực trong thế giới này: sứ thần toà thánh Innsbruck huênh hoang với những vần thơ tục tĩu có thể làm một tu sĩ khốn khổ nào đó bị quay chín; người ta chưa bao giờ nhìn thấy một đức ngài bị ném vào lửa vì tội quyến rũ thị đồng. Những luật lệ ấy gieo rắc lên đầu những kẻ thấp hèn tối tăm hơn, nhưng bản thân bóng tối lại là một nơi nương náu: bất chấp lưỡi câu, lưới và đuốc, phần lớn các con cá ở dưới tầng sâu tối tăm vẫn theo đuổi con đường của chúng mà không để lại vệt nước, chẳng chút lo lắng khi thấy có bạn đồng hành mình rướm máu lách chách nhảy trên sàn tàu. Nhưng ông cũng biết chỉ cẩn có một kẻ thù vẫn giữ lòng căm hận, một thời điểm cuồng nộ điên rồ của dân chúng, hay đơn giản là một sự ngu xuẩn cứng nhắc của một quan tòa cũng đủ làm những can phạm có thể vô tội phải chết. Sự thờ ơ sẽ biến thành trận cuồng phong, nửa đồng lõa cũng chuyển thành nỗi ghê tởm. Suốt cuộc đời, ông đã từng nếm trải lo âu ấy cùng vớí bao nhiêu sợ hãi khác. Nhưng người ta ít dễ chịu đựng cho người khác hơn là chẩp nhận cho chính mình.
Thời thế lộn xộn dễ khuyến khích tố giác mọi chuyện. Đám dân đen, bị những kẻ phá ảnh thánh quyến rũ từ lúc nào không hay, đua nhau thêm thắt vào mọi tai tiếng có thể làm mất mặt những dòng tu thế lực, họ oán thán về của cải và quyền lực của các dòng tu này. Ở Gand, vài tháng trước, chín tu sĩ dòng Augustin bị nghi ngờ có quan hệ đồng tính luyến ái, chẳng biết là có oan hay không song họ bị thiêu sau khi phải chịu những cực hình khủng khiếp, để thỏa mãn cơn kích động của những kẻ hiếu kỳ nổi loạn chống lại giới tu hành; bản thân giới chức trong dòng tu do sợ bị cho là cố tình bóp nghẹt một vụ xì căng đan lớn đã không thể xử theo mức phạt thông thường như sự khôn ngoan mách bảo. Tình thế các Thiên thần nay còn nguy hiểm hơn. Những trò chơi tình ái với hai cô gái, chắc hẳn có làm loãng đi màu đen của tấn thảm kịch trong con mắt phán xét của dân chúng, Song lại làm những kẻ bất hạnh kia bị đe dọa hơn. Tiểu thư nhà Loos trở thành điểm xoi mói của thiên hạ vốn tò mò nhỏ nhen; bí mật của nhóm chơi đêm từ nay bị buộc vào cái miệng líu lo của mấy cô gái hay một cái thai xuất hiện không phải lối. Nhưng nguy hiểm lớn nhất lại ở cách xưng hô thiên thần, nến thờ, nghi lễ phát rượu và bánh thánh kiểu trẻ con, những bài thơ ngụy tạo chẳng ai hiểu cả thậm chí ngay cả tác giả, và cuối cùng là việc chúng khỏa thân, dù rẳng chúng chẳng khác với bọn con trai ở truồng chơi quanh đầm. Những sự bất thường này chắc chắn sẽ là đầu để cho những lời đốn thổi khiến những trái tim điên rồ và những cái đầu ngu muội kia đến chỗ chết. Không ai có thể nghĩ một cách đơn giản được rằng những đứa trẻ ngu ngốc, kinh ngạc thích thú khi khám phá ra những niềm vui của xác thịt, nên đã phạm vào lời nói và hình ảnh thiêng liêng người ta vẫn hấp thu từ bao đời. Giống như căn bệnh của linh mục tu viện trưởng xuất hiện gần như để giải quyết nốt quãng đời còn lại của ông ta, Cyprien và đồng bọn của hắn với Zénon đã không còn trên đời này nữa như thể chúng đang kêu gào thảm thiết trong ngọn lửa.
Ngồi bên bàn, mơ hồ vẽ một con số hay một ký tự nào đó bên lề quyển sổ ghi chép, ông nói với mình rằng tuyến rút lui của ông đặc biệt dễ bị lột bỏ lúc nãy. Cyprien đã tìm cách biến ông thành một ngườì tâm sự nếu không là một đồng lõa. Chỉ cần tra hỏi sâu hơn một chút là không thể tránh khôi việc người ta phát hiện ra thân thể thực sự của ông, và ông nếu không bị kết tội là kẻ kê giao thì cũng chẳng thể tránh khỏi bị coi là vô thẩn. Ông không quên đã chữa trị cho Han, và chỉ qua một đêm, những thận trọng tránh xa lưới pháp luật có thể làm ông bị khép vào tội nổi loạn, đơn giản là treo cổ. Thận trọng là phải rời khỏi đây, và ngay lập tức. Nhưng ông lại không thể dứt bỏ giường bệnh linh mục tu viện trưởng trong thời điểm này.
Jean-Louis de Berlaimont chết chậm chạp, đúng như những gì người ta biết về diễn biến thông thường của căn bệnh. Ông gầy khủng khiếp, điều này càng nhận thấy rõ ở ông vì trước kia ông là người béo khỏe. Càng ngày ông càng khó nuốt, Sébastien Théus bảo già Greete làm cho ông những món ăn nhẹ, nước hầm hoặc xì rô, bà nấu những thức ấy theo cách ngày xưa vẫn được ưa chuộng trong bếp nhà Ligre. Dù người ốm cố gắng ăn ngon lành, song ông chỉ chạm được đầu môi, và Zénon ngờ rằng ông không ngừng bị đói. Linh mục tu viện trường gần như cấm khẩu; ông chỉ dành lời nói vào những lúc cần thiết nhất với những người dưới quyền và với bác sĩ. Thời gian còn lại, ông ghi những gì ông muốn hay những mệnh lệnh trên một mẩu giấy đặt trên giường, nhưng như có lần ông đưa giấy cho Sébastien Théus xem, ông chẳng còn gì nhiều để viết và để nói.
Bác sĩ yêu cầu những người xung quanh nói chuyện với linh mục tu viện trưởng ở mức ít nhất có thể được về những sự kiện đang diễn ra bên ngoài, tránh không cho ông biết chuyện về sự dã man của Tòa án chống phản loạn đang ồn ĩ lên ở Bruxelles. Nhưng hình như tin tức vẫn lọt được đến tận tai ông. Vào giữa tháng Sáu, tu sĩ tập việc có nhiệm vụ rửa ráy cho linh mục tu viện trưởng đang tính lại với Théus xem lẩn cuối cùng người bệnh tắm cám cho da được mát mẻ và ông có vẻ tính ra được một lúc là hôm nào. Linh mục tu viện trưởng quay gương mặt xám về phía họ và cố gắng mấp máy môi:
- Đó là hôm thứ hai mồng sáu, ngày hai bá tước bị hành quyết.
Vài giọt nước mắt im lặng chảy trên đôi gò má xanh xao của ông. Sau đó Zénon biết được là Jean-Louis de Berlaimont có họ với Lamoral qua người vợ quá cố của ông. Vài ngày sau, linh mục tu viện trường nhờ Zénon chuyển lời chia buồn đến vợ góa của bá tước, bà Sabine de Baviere, người ta nói rằng vì lo lắng và đau buồn nên bà cũng sắp chết. Khi Sébastien Théus mang thư ra đưa cho người đưa thư, Pierre de Hamaere đang lảng vảng ở hành lang tiến đến đòi xem thư vì sợ chuyện chẳng lành sẽ xảy ra cho tu viện vì sự thiếu thận trọng này của tu viện trưởng. Zénon đưa tờ giấy với vẻ khinh bỉ. Người quản lý trả lại ông sau khi đã đọc xong: chẳng có gì nguy hiểm trong những lời chia buồn gửi cho bà góa phụ nổi tiếng và lời hứa sẽ cầu nguyện cho bà. Bà Sabine vẫn được nhà cầm quyền đối xử tôn kính.
Càng nghĩ về những việc đang chiếm tâm trí ông, Zénon càng thấy giải pháp thuyết phục nhất để tránh điều tồi tệ xảy ra là chỉ cần đẩy anh chàng Florian đi tu sửa những nhà thờ ở chỗ khác. Bị rớt lại một mình, Cyprien và những tu sĩ tập sự sẽ không dám tiếp tục tụ tập ban đêm. Phần khác, không phải không thể đề nghị tu viện Bernardines phải giám sát hai cô gái chặt hơn. Vì việc chuyển Florian đi chỉ phụ thuộc vào một mình tu viện trưởng, nên triết gia quyết định phải nói cho ông ta biết phần nào sự việc, đủ để ông ta hành động không chậm trễ. Ông chờ ngày người bệnh khá hơn.
Ngày đó là một buổi chiều đầu tháng Bảy, Đức Tổng giám mục đích thân đến thăm linh mục tu viện trưởng. Ngài vừa đi khỏi; Jean-Louis de Berlaimont trong chiếc áo chùng duỗi nằm xuống giường, và sau những cố gắng tiếp đón vị khách quý một cách lịch sự, dường như ông lấy lại được sự tinh anh và sức lực được đôi phút. Sébastien nhìn đĩa súp trên bàn ăn gần hết.
- Con cám ơn bà nấu bếp cho ta nhé, - thầy tu nói, giọng đỡ yếu hơn ngày thường. - cha ăn ít, đúng thế, - ông nói thêm gần như với vẻ hóm hỉnh, - nhưng một tu sĩ buộc phải nhịn ăn không phải là điều tồi tệ.
- Đức Tổng giám mục chắc hẳn phải miễn cho ngài, - bác sĩ tiếp nối không khí bông đùa.
Linh mục tu viện trưởng mỉm cười.
- Đức ngài có học vấn rất thâm sâu, và cha tin đó là người đức độ, dù rằng cha là một trong số phản đối việc Ðức vua chọn Ngài vào chức vị này, vì ngài vượt ra ngoài những thông lệ quen thuộc của chúng ta. Cha đã tiến cử bác sĩ của cha với Ngài.
- Con không mong muốn một chỗ khác, - Sébastien Théus vui vẻ hồn nhiên nói.
Khuôn mặt người bệnh đã biểu hiện sự mệt mỏi.
- Cha quả không muốn phàn nàn, Sébastien, - ông nói vẻ nhẫn nại, vẫn ngại ngùng như mỗi khi ông nói về căn bệnh của mình. - Đau đớn cha chịu được. Nhưng nó kèm theo những hậu quả khó chịu. Vì thể cha lưỡng lự không dám nhận lễ rửa tội... Không nên để bật ra tiếng ho hay bị nấc... Giá có thứ thuốc nào có thể làm cho bệnh đỡ tạm một chút thì hay biết mấy...
- Cơn đau này rồi sẽ khỏi thôi, thưa cha linh mục tu viện trưởng, - bác sĩ nói dối, - chúng ta hy vọng mùa hè này thời tiết đẹp...
- Có thể, - linh mục tu viện trưởng nói lơ đễnh, - chắc là vậy...
- Ông chìa bàn tay gầy ra. Người tu sĩ chăm sóc vừa khuất, Sébastien Théus nói tình cờ ông vừa nhìn thấy chàng Florian.
- Phải, - linh mục tu viện trường nói, có thể để tỏ ra là mình vẫn còn nhớ tên mọi người. - chúng ta sẽ thuê anh ta sang sửa lại mẩy bức tranh trên điện thờ. Cũng chẳng có tiền để mua bức mới nữa...
Hình như ông tưởng anh tu sĩ mang bút vẽ và đồ nghề mới đến hôm qua. Ngược lại với tin đồn xì xầm khắp tu viện, Zénon phán đoán Jean-Louis de Berlaimont không mất minh mẫn, nhưng những khả năng trí tuệ của ông già đã hướng vào nội tâm. Bỗng linh mục tu viện trường ra dấu bảo ông cúi xuống như thể ông ta có điều gì bí mật thầm thì, nhung câu chuyện không còn nói về tu sĩ thợ vẽ nữa.
- Một lần chúng ta đã nói chuyện vể sự dâng hiến, Sebastien bạn thân mến... Nhưng ta không còn gì để dâng hiến nữa. Một người ở tuổi cha thì có sống hay chết cũng chẳng có gì quan trọng...
- Với con điều quan trọng là linh mục tu viện trường phải sống, - bác sĩ nói giọng cứng rắn.
Nhưng ông đã thôi không tìm kiếm trợ giúp nữa. Mọi sự cầu viện đều có nguy cơ biến thành sự tố cáo. Biết đâu bí mật này có thể bị người bệnh mệt mỏi vô tình làm lộ; thậm chỉ cũng có thể con người đã tàn hơi này chỉ chứng tỏ mình có bản lĩnh mà điều đó lại không phải là bản chất của ông. Cuối cùng, sự việc về lá thư cho góa phụ hôm trước cho thấy ông già không còn làm chủ được mình nữa.
Zénon còn thử làm Cyprien sợ một lẩn nữa. Ông nhắc lại thảm họa các tu sĩ dòng Augustin ở Gand phải chịu, cậu bé kia hẳn phải biết về họ. Kết quả không phải điều ông mong đợi.
- Mấy tay dòng Augustin toàn là bọn ngu, - chàng thanh niên Cordelier nói cộc lốc.
Nhưng ba hôm sau, cậu ta đến gần bác sĩ giọng lo lắng:
- Anh Florian mất lá bùa cầm của một cô gái Ai Cập, - cậu bối rối nói. Hình như tai họa lớn có thể xảy ra. Nếu Mynheer, với những quyền lực ông có...
- Tôi đâu phải người bán bùa yểm, - Sébastien Théus trả lời và quay gót.
Hôm sau, vào đêm thứ sáu sang ngày thứ bảy, nhà triết học đang ngồi làm việc giữa đống sách vở thì có một vật nhẹ bay qua cửa sổ để mở. Ðó là một cành phỉ. Zénon tiến ra Cửa Sổ. Một bóng xám, ông chỉ mơ hồ nhận ra mặt, tay chân trần, đang đứng dưới, điệu bộ gọi ai. Một lúc, Cyprien bỏ đi và biến mất dưới dãy vòm cuốn.
Zénon quay trở lại run rẩy ngồi lên bàn. Sự thèm muốn mãnh liệt xâm chiếm ông, ông biết trước nó sẽ không nhường bước, như trong các tình huống khác, dẫu có tìm cách kháng cự mạnh hơn, nhưng ta biết trước ta sẽ phải buông xuôi. Đó không phải là ý muốn theo kẻ điên rồ kia tìm đến tận nơi diễn ra sự trụy lạc hay điều kỳ diệu nào đó trong bóng đêm. Nhưng, trong cuộc sống không ngơi nghỉ này, đứng trước sự hủy hoại chậm rãi đang diễn ra trong da thịt linh mục tu viện trưởng, và có lẽ trong tâm hồn ông ta, ông thèm được quên đi sức mạnh của sự lạnh lẽo, sự tàn phá và bóng đêm bên cạnh một thân thể trẻ trung ấm áp. Nên chăng coi sự bướng bỉnh của Cyprien là vì hắn thấy ở ông một người cần thiết và có nhiều quyền năng bí ẩn? Phải chăng đó là một thí dụ về sự hấp dẫn vĩnh hằng mà Alcibiade[1] đã quyến rũ Socrate? Một ý nghĩ điên rồ hơn đến trong đầu nhà giả kim thuật. Có thể chăng những đam mê của chính ông bị chế ngự để hướng về nghiên cứu - bác học hơn những nghiên cứu nhục cảm - cũng mang hình hài trẻ con và ngây thơ ngoài ý muốn của ông? Extinctis luminibus: ông thổi tắt đèn. Không sao diễn nổi, trên danh nghĩa nhà gìải phẫu học chứ không phải con người đang yêu, ông thử hình dung với vẻ khinh bỉ những trò chơi của đám trẻ thích xác thịt này. Ông tự nói đi nói lại với mình rằng miệng, nơi phát ra những nụ hôn, chỉ làm khoang nghiền, và vết môi vừa bị cắn làm cho người ta phát ghê tởm. Không sao nghĩ nổi, ông tưởng tượng những con sâu trắng riết lấy nhau hay những con ruồi khốn khổ bị dính chặt trong mật. Dù làm gì đi nữa, Idelette và Cyprien, Francois de Bure và Mathieu Aerts đều đẹp. Nhà tắm bỏ hoang thật sự là một căn phòng kỳ ảo; ngọn lửa tình dục bùng cháy thay đổi tất cả như lửa anathor của giả kim thuật và đáng để người ta đổi lấy nguy cơ bị ném lên ngọn lửa giàn thiêu. Cơ thể trần trụi màu trắng hắt lên ánh sáng giống như lửa phốt pho chứng nhận cho những đức tính bị che giấu của đá.
Đến sáng, sự ghê tởm trở lại. Sự truy hoan tồi tệ nhất ở một ổ điếm hôi hám còn đỡ hơn những lễ nghi của các Thiên thần. Dưới nhà, trong căn phòng xám, trước mặt bà lão cứ thứ bảy lại đến điều trị vết loét giãn tĩnh mạch, ông quở mắng Cyprien tàn nhẫn vì làm rơi hộp đựng bông băng. Không một bẻ gì khác thường hiện ra trên khuôn mặt có đôi mí mắt hơi sưng. Chuyện mời gọi đêm trước có thể chỉ là một giấc mơ.
Nhưng những tín hiệu phát ra của nhóm thiên thần bắt đầu thấm đẫm sự hậm hực và châm biếm. Một buổi sáng, khi bước vào hiệu thuốc, triết gia thấy chễm chệ trên bàn một hình vẽ rất khéo, không thể là của Cyprien, vì cậu ta chỉ biết cầm bút để ký tên. Đầu óc ngông cuồng của Florian thể hiện trong những hình thù chồng chéo. Đó là một trong những vườn mộng mà thỉnh thoảng người ta thấy trên các bức tranh, nơi những người tốt nhìn thấy sự châm biếm tội ác còn những người khác, khôn ranh hơn, thì ngược lại thấy hội hè với những đam mê xác thịt. Một cô gái bước vào bồn nước phun để tắm, theo sau là những người tình. Hai kẻ yêu nhau đang hôn nhau đằng sau rèm, chỉ bị phản bộ bởi tư thế đôi chân trần. Một thanh niên giơ tay kéo đầu gối một yêu vật giống hệt hắn như hai anh em. Từ miệng và từ lỗ kín một cậu bé đang cúi rạp xuống vươn lên những đóa hoa đang nở. Một cô nàng da nâu bưng chiếc khay có quả phúc bồn tử lớn. Nhục dục được thể hiện một cách phúng dụ như thế trở thành một trò chơi phù thủy, một trò cười nguy hiểm. Triết gia xé tờ giấy một cách trầm tư.
Hai ba ngày sau, một trò cợt nhả dâm ô khác lại đợi ông: ai đó đã lôi trong tủ ra vài chiếc giày cũ dùng để lội bùn và tuyết trong vườn; chúng cưỡi lên nhau ở trên sàn thành đống lộn xộn tục tĩu đập vào tầm mắt. Zénon đá chúng đi; trò đùa thật thô tục. Đáng lo hơn nữa là một vật ông tìm thấy trong phòng mình vào một tối. Đó là một viên đá cuội trên đó một gương mặt đàn bà và thuộc về tính nữ của nó, hoặc có lẽ một vật lưỡng tính, được vẽ vụng về bằng nét bút chì; viên sỏi được quấn trong một món tóc vàng. Triết gia đốt món tóc đã xoăn lại, và khinh bỉ ném cái bùa bả ấy vào ngăn kéo. Những trò quấy rầy dừng lại, ông không bao giờ hạ mình để nói những chuyện đó với Cyprien. Ông bắt đầu tin rằng những trò đùa điên rồ của các Thiên thần đã vượt khỏi chính nó, với lý do đơn giản rằng mọi việc đều như thế.
Loạn lạc đẩy nhiều người đến với nhà thương làm phúc Saint-Cosme. Trong số bệnh nhân quen thuộc có lần những kẻ hiếm khi người ta nhìn thấy hai lần: những nông dân quê mùa dắt díu theo sau đồ lề lủng củng chắp vá mà họ đã kịp sắp xếp đêm trước hôm trốn chạy hay vơ vôi từ căn nhà cháy, chăn có mùi khét lẹt, chăn lông rách làm lòi cả ra, nồi niêu xoong chảo hay bình lọ sứt mẻ. Những người phụ nữ đằng trước bế con, đằng sau đeo bọc quần áo bẩn. Đó là những nông dân ở các làng nổi loạn đã bị quân đội phạt sạch, hầu hết trên người họ đều có vết đánh đập hay vết thương, nhưng chủ yếu là họ đói. Có những kẻ chỉ đi ngang qua thành phố, như đàn gia súc vật bị dồn đuổi lên núi, không biết cái gì sẽ đợi mình ở chặng đường tiếp theo; những kẻ khác đến nhà họ hàng sống ở vùng này, dù sao ở đây cũng ít bị thử thách hơn và người ta còn có vài con gia súc với một mái nhà. Với sự trợ giúp của tu sĩ Luc, Zénon thu xếp để có bánh phát chẩn cho những người nghèo khổ nhất. Người ta nhận ra những kẻ ít rên rỉ than vãn hơn, nhưng lo lắng hơn, có nghề nghiệp, thường đi một mình hoặc thành nhóm hai hay ba người, đến từ các thành phố sâu trong đất liền, chắc là Tòa án Máu đang truy đuổi họ. Những kẻ chạy trốn này trưng ra những bộ quần áo tư sản loại tốt, nhưng đôi giày rách, chân phồng lên những nốt phỏng da đã làm lộ ra chuyến đi dài mà họ không quen; họ giấu không nói định đi đâu, nhưng Zénon biết qua già Greete rằng gần như ngày nào cũng có những tàu cá từ một nơi hoang vắng nào đó trên bãi biển đưa những người yêu nước này sang Anh hoặc tới Zélande, tùy theo túi tiền của họ và gió cho phép. Mọi người chăm sóc họ mà không hỏi han gì.
Sébastien Théus gần như không rời khỏi linh mục tu viện trưởng nữa, song ông tin tưởng vào hai tu sĩ cuối cùng cũng học được những gì cơ bản nhất trong nghệ thuật chăm sóc. Tu sĩ Luc là người điềm tĩnh, gắn bó với công việc, đầu óc không bao giờ nghĩ quá xa khỏi những việc anh ta cần làm ngay. Cyprien thì không thiếu đức tính kiểu như lòng tử tế.
Ông không còn cần đến thuốc phiện để ru ngủ những cơn đau của linh mục tu viện trưởng nữa. Vào một tối linh mục đã từ chối không uống liều thuốc giảm đau.
- Hãy hiểu cho cha, Sébastien, - ông già thì thầm lo lắng, chắc là sợ bác sĩ phản khảng. - Ta không muốn ngủ vào lúc… Et invenit dormientes…
Bác sĩ ra dấu đồng ý. Vai trò của ông bên cạnh người hấp hối từ bây giờ là làm cho ông ấy nuốt chửng vài thìa canh hay giúp tu sĩ hộ lý nâng thân thể to lớn chỉ còn trơ xương đã sờ đến cửa mộ ngồi dậy. Trở về Saint-Cosme lúc đêm đã muộn, ông để nguyên cả quần áo nằm lên giường, luôn ngóng chừng một cơn ngạt mà bề trên không qua khỏi.
Một đêm, ông tưởng như nghe thấy bước chân gấp gáp đến gần phòng ông dọc theo những viên đá lát hành lang. Ông vội bật dậy mở cửa. Không có gì và chẳng có ai. Song ông vẫn chạy đến chỗ linh mục tu viện trưởng.
Jean-Louis de Berlaimont đã gượng dậy, tựa người lên đống gối dài gối ngắn. Đôi mắt ông mở to quay lại nhìn bác sĩ với vẻ mà bác sĩ thấy như sự ân cần vô bờ bến.
- Hãy đi đi, Zénon! - Ông mấp máy. - Sau khi cha chết…
Một cơn ho ngăn ông lại. Bị bất ngờ, Zénon quay lại một cách bản năng, để xem tu sĩ hộ lý ngồi trên chiếc ghế đẩu có nghe thấy không. Nhưng ông già đang gà gật, đầu lắc lư. Linh mục tu viện trưởng kiệt sức ngã xuống giường, gần như bị đờ đẫn bối rối. Zénon cúi xuống gần, tim đập thình thịch, thử làm ông già tỉnh lại để nghe một lời hay thêm một cái nhìn nữa. Ông nghi ngờ giác quan mình, và nghi ngờ cả lý trí. Một lúc sau, ông ngồi xuống cạnh giường. Dù gì thì gì, không phải là không có khả năng linh mục tu viện trưởng từ lâu đã biết tên ông.
Cơn co giật yếu ớt làm người bệnh động đậy. Zénon xoa bóp chân và bàn chân cho ông già một lúc lâu, như trước kia phu nhân de Froso đã dạy ông làm. Phương pháp này sánh ngang với mọi thứ thuốc phiện. Cuối cùng ông thiếp ngủ phía cuối giường, hai tay ôm đầu mình.
Buổi sáng, ông quay xuống nhà ăn mang một bát súp ấm lên. Pierre de Hamacre đang ở đó. Tiếng kêu của linh mục tu viện trưởng đã đánh thức một cách gần như là mê tín hồi chuông báo động cho nhà giả kim thuật. Ông kéo Pierre de Hamacre ra một chỗ và đột ngột nói với ông ta:
- Tôi hy vọng rằng ông đã dẹp yên mọi sự điên rồ những người bạn ông làm.
Ông định nói về danh dự và sự an toàn của tu viện. Viên quản lý đã tránh cho ông cảnh nực cười ấy.
- Tôi chẳng biết chút gì về chuyện này cả, - hắn thô bạo nói.
Và hắn bỏ đi, chân giẫm mạnh lên sàn.
Tối đó linh mục tu viện trưởng tiếp nhận lễ xức dầu thánh lần thứ ba. Căn phòng nhỏ và nhà thờ bên cạnh chật ních các giáo sĩ cầm nến thờ. Một số khóc; những người khác dành lòng ngồi dự buổi lễ theo nghi thức. Người bệnh đã cứng nửa người, dường như ông cố gắng lắm để hít thở hết sức nhẹ nhàng, nhìn mà như chẳng hề thấy những ngọn lửa nhỏ màu vàng. Khi bài kinh cho người hấp hối kết thúc, những người dự lễ nối nhau ra ngoài, chỉ để lại sau họ hai tu sĩ đang lần tràng hạt. Zénon từ nãy vẫn đứng góc xa giờ quay về chỗ quen thuộc của mình.
Thời gian có thể nói chuyện được, dù là những câu rất ngắn, cũng đã hết; linh mục tu viện trưởng chỉ còn ra dấu muốn uống nước, hoặc muốn bô tiểu gắn ở góc giường. Bên trong thế giới đang bị tàn phá này, như một kho báu dưới đống vôi gạch đổ nát, dường như Zénon thấy một trí tuệ vẫn tồn tại, mà ông có thể đàm đạo được không cần lời. Ông tiếp tục cầm tay người bệnh, và sự tiếp xúc yếu ớt này dường như đủ để truyền cho linh mục chút ít hơi sức, và đổi lại để nhận từ đó một chút thanh thản. thỉnh thoảng, nhớ đến câu người đời thường nói rằng linh hồn một con người đang ra đi sẽ bay ở phía trên người đó như tàn lửa ở giữa một khối sương mù, bác sĩ nhìn vào khoảng tối mờ mờ, nhưng những gì ông nhìn thấy có thể chỉ là sự phản chiếu của một ngọn nến đang cháy qua cửa kính. Đến gần sáng, Zénon rút tay ra; đã đến thời khắc để linh mục tu viện trưởng tiến bước một mình qua những chiếc cửa cuối cùng, hoặc ngược lại bị dắt đi bởi những gương mặt vô hình mà chắc hẳn ông phải cầu xin chúng trong cơn hấp hối. Một lúc sau, người bệnh hình như động đậy gần như tỉnh giấc, mấy ngón tay trái dường như mơ hồ tìm kiếm cái gì đó trên ngực, nơi trước kia, chắc thế, Jean Louis de Berlaimont đã mang Mớ tóc vàng. Zénon thấy chiếc khăn len choàng vai đã tuột chỉ rơi ra trên gối. Ông đặt nó lại chỗ cũ; người hấp hối đặt tay lên đó với vẻ hài lòng. Đôi môi ông mấp máy không tiếng động. Cố sức nghe, cuối cùng Zénon cũng nghe được phần cuối lời cầu kinh, có lẽ được nhắc lại tới lần thứ một nghìn:
- …nunc et in hora mortis nostrae.
Một nửa giờ trôi qua; ông bảo hai tu sĩ lo việc khâm liệm linh mục tu viện trưởng.
Ông dự đám tang linh mục tu viện trưởng, đứng ở một góc thấp nhà thờ. Buổi lễ thu hút nhiều người. Ông nhận ra trên hàng đầu là Đức Tổng giám mục, và gần đó một ông già liệt nửa người nhưng còn khỏe khoắn chống can, đó chẳng phải ai khác ngoài linh mục phụ tá Bartholomé Campanus vẻ oai vệ và được trọng vọng nhờ tuổi tác. Các giáo sĩ trong áo chùng tất thảy đều giống nhau. Francois de Bure sẽ đốt bình xông hương; quả là hắn có vẻ mặt của một thiên thần. Vòng hào quang hay đốm sáng nào đó trên dải áo măng tô của một nữ thánh lấp lánh đây đó trong những bức tranh được sửa lại trên điện thờ.
Đấng bề trên mới là một nhân vật khá tẻ nhạt, nhưng rất sùng đạo và được coi là người khéo điều hành quản lý. Theo tin đồn, dựa vào những lời khuyên của Pierre de Hamacre, người rất tích cực ủng hộ bầu ông, có thể ông sẽ cho đóng cửa nhà thương làm phúc Saint-Cosme trong thời gian ngắn nữa, vì nó bị coi là quá tốn kém. Cũng có thể là người ta nghe hơi hướng ở đây có chăm sóc những kẻ chạy trốn Tòa án Chống phản loạn. Tuy nhiên không có nhận xét gì về bác sĩ. Điều này không mấy quan trọng với ông; Zénon đã quyết định sẽ biến mất ngay sau lễ tang linh mục tu viện trưởng.
Lần này ông không mang theo gì cả. Ông sẽ để lại sách vở, vả lại chả mấy khi ông tham khảo chúng. Những bản viết tay của ông không quá quí giá cũng không quá nguy hiểm để ông phải mang theo bên mình, thay vì để chúng vào một ngày nào đó kết thúc trong lò sưởi nhà ăn. Đang là mùa nóng, nên ông quyết định để lại chiếc áo choàng dài và quần áo mùa đông; một chiếc áo khoác cùng với bộ quần áo tốt nhất là đủ. Ông xếp vào một chiếc túi những dụng cụ của mình, gói qua loa bằng vải, và một số thứ thuốc hiếm đắt tiền. Vào phút cuối cùng, ông xếp vào đó hai khẩu súng lục cũ báng cong. Mỗi chi tiết trong sự giảm thiểu, chỉ mang những thứ thiết yếu này đều được ông suy nghĩ rất nhiều trước khi quyết định. Tiền thì ông không thiếu, ngoài số ít ỏi mà Zénon đã tiết kiệm được cho chuyến đi này từ phần lương bổng tu viện cấp, trước khi linh mục tu viện trưởng chết vài ngày, ông đã nhận được một gói do linh mục hộ lý già mang đến trong đó đựng số tiền trước kia ông đã trích một phần cho Han. Từ hồi đó hình như linh mục tu viện trưởng không dùng đến.
Ý định đầu tiên của ông là mượn chiếc xe của con trai già Greete tới Anvers, rồi từ đó đến Zelande hay đến Gueldre nay đang công khai nổi loạn chống lại nhà vua. Nhưng nếu sau khi đi ông bị nghi ngờ, thì tốt hơn hết là bà lão và cậu con trai đánh xe không bị liên lụy. Ông quyết định đi bộ đến bờ biển và kiếm một chiếc thuyền ở đó.
Trước hôm đi, ông nói chuyện dăm ba câu lần cuối cùng với Cyprien, khi ông thấy cậu ta đang lẩm nhẩm hát trong hiệu thuốc. Cậu ta có vẻ bình thản hài lòng làm ông tức điên lên.
- Tôi muốn tin rằng các anh không vui thú trong lúc tang tóc này, - ông nói với cậu ta không mào đầu.
- Cyprien không còn lo lắng về những buổi gặp gỡ ban đêm nữa, - tu sĩ trẻ nói với cái nhăn mặt trẻ con, để nói về mình mà cứ như là về một người khác. - Cyprien gặp Người đẹp một mình và giữa thanh thiên bạch nhật.
Không cần phải yêu cầu gì nhiều, cậu ta giải thích đã phát hiện ra một khu vườn hoang trên bờ một con kênh, cậu đã phá hàng rào, và thỉnh thoảng Idelette đến gặp cậu ở đó. Cô nàng da nâu gác cho họ, nấp dưới một bức tường.
- Cậu đã nghĩ đến việc khéo mà xử với Người đẹp chưa? Cuộc sống của cậu có thể phụ thuộc vào cái miệng ba hoa của một sản phụ đấy.
- Các thiên thần không thụ thai cũng chẳng sinh con, - Cyprien nói với vẻ yên tâm giả tạo mà người ta vẫn thấy khi ai đó đọc một câu thuộc lòng.
- A! Bỏ ngay kiểu trẻ con ấy đi, bác sĩ thốt lên không chịu nổi nữa.
Đêm trước khi ông đi khỏi thành phố, ông ăn tối như vẫn thường ăn với nghệ sĩ đàn ống và bà vợ tốt bụng. Sau bữa ăn, theo thói quen nghệ sĩ dẫn ông vào những khúc nhạc ông ta sẽ chơi chủ nhật trên những chiếc đàn ống lớn ở nhà thờ Saint-Donatien. Không khí giam kín trong những chiếc ống âm thanh bật ra khoang giữa trống, hài hòa và mạnh mẽ hơn bất kỳ giọng nói nào. Suốt đêm, ngủ lần cuối trên chiếc giường trong phòng mình ở Saint-Cosme, Zénon chơi đi chơi lại cho mình một khúc nhạc của Roland de Lassus, lẫn trong những dự định tương lại. Đi quá sớm cũng không ích gì, cửa thành chỉ mở khi mặt trời lên. Ông viết một mảnh giấy giải thích rằng một người bạn của ông, bị ốm tại địa phương bên cạnh, gọi ông đến gấp, và chắc ông sẽ trở về trong chưa đầy một tuần nữa. Luôn luôn phải dành cho mình những phương tiện để có thể trở về. Khi ông rón rén đi ra ngoài nhà thương làm phúc, đường phố đã tràn ngập bình minh xám mùa hè. Ông chủ cửa hàng bánh đang mở cửa hai cánh cửa gian hàng là người duy nhất nhìn thấy ông ra đi.
❀ ❀ ❀
[1] Một tướng và nhà chính trị của Hy Lạp thể kỷ V tr.CN.