Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Ghi Chép Về “Bí Thuật Đen”
Những Ghi Chép Về “Bí Thuật Đen”

❊ ❊ ❊

“Những ghi chép” này gồm các dòng viết tay ở mặt sau các trang trong tập Ghi chép phác thảo của “Bí thuật Đen” và một số trích đoạn tương tự, phần nhiều được đánh máy, do tôi trích từ Ghi chép phác thảo nói trên.

Marguerite Yourcenar đã hai lần sửa lại tập “Những ghi chép” này và nó được như ngày nay. Tháng Năm năm 1987, bà vẫn tuyên bố cần viết lại một số đoạn cho “đỡ khô cứng hơn” trước khi cho ra mắt. Song tiếc thay, hẳn là bà đã không có thời gian để thực hiện những sửa chữa cuối cùng.

Phần lớn những ghi chép trong cuốn này đều được viết từ những năm 1965 đến 1968. Nhưng cũng có những chỗ về sau mới viết, đôi chỗ có ghi ngày tháng, nên người đọc sẽ nhận ra. Khi đọc những trang này độc giả cần nhớ là Marguerite đã dự tính sửa lại nhiều chỗ. Tuy nhiên, hiện tại chúng ta buộc phải chấp nhận “Những ghi chép về Bí thuật Đen” như nó đang tồn tại.

Yvon Bernier.

“Những ghi chép về Bí thuật Đen” mà bạn đọc sẽ đọc sau đây chưa từng được xuất bản. Theo ý nguyện của Marguerite Yourcenar, từ nay về sau chúng sẽ đi liền với tiều thuyết. (Với tiểu thuyết này, tác giả đã nhận giải Femina, lần đầu tiên được trao với với số phiếu tuyệt đối vào năm 1968).

Lần xuất bản đầu tiên của bản thảo Bí thuật Đen: Thần Chết đánh xe, viết vào những năm 1923 - 1924, sửa lại năm 1934: cuốn truyện thiếu hoàn chỉnh, và nhất là quá sơ sài, mới chỉ được phát triển quá ít và chỉ chứa một sự rung cảm hời hợt, đặc biệt là về Zénon và Nathanael, với tôi bây giờ đó vẫn là một truyện đẹp và dù còn rất nhiều thiếu sót và nhiều chỗ chưa được mài giũa, một nhà phê bình thời đó đã nhìn ra và đặt tên cho mỗi phần của ba chủ đề gắn bó là: trí tuệ, thể xác và tâm hồn. Bản thân tôi cũng chưa nghĩ đến điều đó.

Trí tuệ, thể xác, tâm hồn. Một hình tượng ba mặt tuyệt đẹp, đúng vậy, và với âm hưởng để lại dài như một vần thơ, ta nghĩ ngay đến “Noel” tuyệt diệu của Rimbaud trong Một mùa địa ngục: “Những vì vua trong đời, ba vì vua thông thái, trí tuệ, thể xác, tâm hồn…” Đúng. Nhưng khi ta tiến rất gần tới một nhân vật, ta thấy những phúng dụ quá rạch ròi này mâu thuẫn với thực tế biết nhường nào. Thân thể, tâm hồn và trí tuệ, chúng chồng chéo lên nhau; hơn nữa, chúng là những hình hài khác nhau của một vật thể sống và cảm nhận. Chắc chắn trong mỗi người có sự khác nhau về mức độ nhiều ít của cả ba yếu tố này, giống như trong mỗi sinh vật có những thành phần giới tính ở các mức độ nhiều ít khác nhau. Trí tuệ chiếm ưu thế hơn trong Zénon, nhưng trí tuệ theo nghĩa nào đó lại được nuôi giữ bằng nhiệt huyết không ngừng chảy và gần như điên rồ của tâm hồn, và nó cũng sẽ không phát triển được nếu không có những kinh nghiệm và sự kiểm soát của cơ thể.

Sự cân bằng bên trong-bên ngoài của mỗi chúng ta phụ thuộc vào các giác quan tới nhường nào: một người nhắm mắt không thể đứng vững bằng một chân. Bản thân tình cảm con người cũng bị che mờ trong một sự quay cuồng mơ hồ nào đó. Cái trục định vị ấy, mà chúng ta tưởng được vạch ra một cách rất chắc chắn, phụ thuộc vào những hình ảnh phản chiếu thế giới trong hai con người chúng ta.

(Điều này không có nghĩa là cả Zénon và tôi đều phủ định tâm hồn. Nhưng tâm hồn là một thực tế mà có lẽ gần như chưa ai bước vào được).

Càng sống, tôi càng cảm thấy viết lại những cuốn đã viết là điều rất nên làm. Mỗi nhà văn chỉ mang trong mình một vài con người. Thay vì thể hiện lại những con người đó dưới những đường nét của một nhân vật mới, chỉ là những nhân vật cũ nhưng được giới thiệu theo một cách khác, tôi muốn đào sâu, phát triển, nuôi dưỡng những con người mà tôi đã quen sống cùng, tìm cách hiểu họ hơn nữa cùng với vốn sống của tôi, hoàn chỉnh một thế giới đã là của tôi. “Tôi chưa bao giờ hiểu sao người ta lại có thể thỏa mãn với một con người”, tôi đã để Hadrien[1] nói như vậy về những mối tình của người. Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ mình có thể thỏa mãn với một nhân vật đã được sáng tạo. Tôi chưa bao giờ thôi quan sát họ sống. Họ dành cho tôi những bất ngờ cho đến tận cuối cuộc đời tôi.

Điều không kém phần tầm thường trong mẹo văn chương là sử dụng lại một nhân vật vì thói quen trì trệ, vì không có ý tưởng, hoặc vì gắn bó ngu ngốc với nhân vật đó, đặt nhân vật vào những tình huống mới, cho nhân vật những lời nói mới nhưng những điều này lại chẳng thêm chút gì cho nhân vật vốn đã tồn tại. Không thể đếm xiết những nhân vật giống nhau trong những tranh truyện hài: người ta trở đi trở lại với chúng đến mức phát buồn nôn[2], vì đã tìm ra cách cù những độc giả lười biếng thích thú với một nhân vật hay một tính cách gặp từ trước. Dickens thường câu khách như vậy nhờ tình cảm sâu sắc với những nhân vật của chính mình. Stendhal không bao giờ. Balzac cũng theo hướng ấy, nhưng những sự kiện và chi tiết gây bất ngờ dày đặc trong Tấn trò đời đến mức bản thân những lặp lại cũng thấm đầy vị sống, để rồi làm phong phú cuộc sống, ngay cả khi chúng không phát triển hay không chuyển giọng. Proust cũng sử dụng thuật này. Thực tế, ngài de Charlus có thay đổi theo diễn tiến của Thời đã mất bao la, nhưng sự thay đổi này diễn ra theo suốt chiều dài một đường cong rất chính xác mà dường như tác giả đã xác định từ trước (không phải vì thế mà đường cong này không đúng); sự thực, và đặt sang một bên sự phát triển chủ yếu này, thì vô số những lần vào và ra của ngài de Charlus đã được dự kiến từ trước như những lần ra vào của một anh hề được ưa thích nhưng cũng đơn điệu như thế: Charlus cuối cùng vừa là tấm bia mà tác giả gắn vào những gì thực tế là dành cho bản thân mình, và đồng thời là một kẻ nói thay cho ông. Nhân vật Charlus không cạn kiệt có vóc dáng của một trong những lời đùa vui giữa những người thân, không bao giờ bị chán trong một môi trường hoặc trong một hội bạn bè nào đó, và Proust diễn tả cơ chế của nó một cách tuyệt vời. Nhưng những thủ pháp này, nếu ở bất ký một nhà văn nào kém tài hơn sẽ làm độc giả bực mình, thì ở Proust chỉ đơn giản là làm chúng ta quá bão hòa với nhân vật Charlus, giống như chúng ta bị bão hòa với một người mà ta gặp gỡ không ngừng. Hắn tồn tại đến mức làm chúng ta mệt mỏi.

Tuy nhiên vẫn còn những người rất vĩ đại, có lẽ là những người vĩ đại nhất, khôn bao giờ thèm lặp lại những nhân vật đã sáng tạo. Pierre Besoukhov vĩ đại hơn hay to hơn mỗi lần ông ra sân khấu; ông chưa bao giờ hoàn toàn chỉ là một người. Tolstoi đôi khi có nói lải nhải, như Flaubert nhận xét, khi ông nói về những chiếc lược hay về các triết học lịch sử, nhưng không bao giờ ông như thế đối với các nhân vật của mình.

Hadrien trong một chừng mực nào đó trong những suy nghĩ tư biện của anh ta có thể chịu khuất phục tới mức như chúng ta; mặt khác, còn chúng ta, qua chiếc cầu nối của đạo hiền minh thời cổ đại tùy thuộc chúng ta có biết sử dụng hay không, chúng ta có thể đến với Hadrien. Các nhân vật của Bí thuật Đen chỉ đáp ứng cho chính họ, đơn độc, đầy mâu thuẫn, bị giới hạn bởi những gì họ chấp nhận, và bởi những gì họ từ chối, mang dấu ấn của thời đại ấy, và dấu ấn của những điều khiến họ vượt ra khỏi thời đại, đôi khi dù bị thương tích vì những bức tường ngăn mà họ là tù nhân. Nếu như quá trình thoát bỏ này là có ý thức ở Zénon, ông sử dụng những phương tiện biện chứng mà thời đại trao cho, để ra khỏi thời đại, thì ở Anna[3] đây là một quá trình không ý thức, nó gắn với cuộc sống quá phong phú của thể xác. Ở Nathaneal[4], tôi đã tìm cách chỉ ra một tự do lạ lùng, tự do của tâm hồn, mà ngôn ngữ và hình tượng không diễn tả được. Với Bí thuật Đen tôi thử nắm bắt cái tự do lạ lùng ấy, nó phát triển từng tí một trong chúng ta, khi chúng ta không từ chối sự tồn tại của nó, và với nó con người có thể tránh khỏi một số chuyên chế, và sống như chính mình trong bất kỳ môi trường nào, nhưng nó lại bị tổn thương, méo mó, gần như bị biến dạng trước thói tục và nhu cầu.

Cần trải nghiệm trụy lạc để thoát ra khỏi sự trụy lạc, cần trải qua tình yêu - theo cách hiểu thông thường về từ này - để phán xét tình yêu; cần sống lại lịch sử để tránh những chiếc bẫy của lịch sử - tức là những chiếc bẫy của chính xã hội con người mà lịch sử chỉ lưu trữ lại. Đi đến một thời đại mà con người không sống…

Ngoài việc phát triển sâu thêm những chủ đề, hư cầu các chi tiết nối các hành động với nhau, loại bỏ những nhầm lẫn ngây thơ lịch sử, tôi ghi nhận giữa Theo Durer vụng về nhưng nhiệt huyết, và Bí thuật Đen có những thay đổi sau:

Ít thiện cảm hơn đối với cải cách của phát Calvin; trong Bí thuật Đen thiện cảm chỉ dừng lại ở con người cải cách cực tả là Simon. Chủ nghĩa calvin được phân tích với vẻ mỉa mai qua những lễ nghi và tín ngưỡng khắc khổ, dù rằng đức tin của cô bé Martha thật cao quý, và khi từ bỏ đức tin ấy Martha sa sút dần.

Ít thiện cảm hơn với cải cách theo phái Luther, thông qua sự phẫn nộ của nhóm theo phái rửa tội lại và phản đối mang tính triết học của Zénon. Những thái quá trong hai trận tuyến (Cơ đốc giáo và Tin lành) được nói rõ hơn rất nhiều.

Sắc thái tình cảm trong quan hệ giữa Zénon và Nhà thờ rõ hơn.

Quan tâm tới các học thuyết giả kim thuật và pháp truyền Kinh Thánh của Do Thái.

Năm 1971, tôi đã đi lại từng con phố Zénon đi về ở Bruges. Ví dụ, ông đã đi theo những lộ trình khác nhau nào để đến xưởng rèn chăm sóc Han. Quán ăn nơi ông vẫn thường dùng bữa nằm ở đâu. Góc phố nào ông đã thấy Idellette bị bắt giải ngang qua. Suốt tháng Tư, các buổi sáng, thỉnh thoảng có nắng, song thường là dưới bầu trời sương mù hoặc mưa nhẹ. Và bên cạnh tôi là Valentine xinh đẹp, hiền dịu, lông vàng, la hét om sòm quát mắng lũ ngựa (tôi phải ngăn nó lại), chạy vui vẻ trong sân Gruuthuse, nhảy nhót trong vườn nhà Beguinage giữa đám hoa thủy tiên bấc - và bây giờ (sáu tháng sau, 3/10/1971), nó cũng đã chết, như Idelette, như Zénon, như Hilzonde. Và sẽ chẳng ai hiểu nếu tôi nói rằng tôi không bao giờ nguôi ngoai, đó không chắc cái chết của một con người thực sự.

Ở đâu, bao giờ, và như thế nào? Ở đâu chăng nữa, dù vào thời gian nào và bằng cách nào không quan trọng, tôi chắc chắn bên giường tôi có một thầy thuốc và một linh mục - Zénon và linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier.

Cửa hàng bán bánh Salzbours nơi Zénon ngồi dưới mái ô văng vẫn còn đó, cả chiếc ghế băng nhỏ màu trắng ông ngồi.

Đó là tháng Sáu năm 1964 tại Salzbourg, khi dự lễ trong nhà thờ dòng Franciscain (quỳ gối xuống nền nhà), lần đầu tiên tôi đã nhìn thấy được vẽ ra toàn bộ con người linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier. Cho đến lúc đó tôi mới chỉ hé thấy những tiếp cận đầu tiên (những câu nói của ông trong “Trở về Bruges”).

Bí thuật Đen được bắt đầu (dưới một tên khác) khi tôi bằng tuổi Zénon, bằng tuổi chàng thanh niên Henri-Maximilien lúc đầu cuốn sách. Kết thúc khi tôi hơn tuổi Zénon và Henri-Maximilien một chút khi họ chết. Các trí tuệ kéo theo cùng những tư tưởng của họ vào thế kỷ XVI như những lớp da rắn hay như lớp vỏ cây.

Nhắc đi và nhắc lại (mantras). Khi tôi viết phần hai và phần ba cuốn sách này, tôi thường thấy mình thầm nhắc đi nhắc lại hoặc rất nhỏ với chính tôi “Zénon, Zénon, Zénon, Zénon, Zénon, Zénon…” Hai mươi lần, một trăm lần, nhiều hơn thế nữa. Và cảm thấy càng nói ra như vậy, càng có một chút sự thật đông đọng lại. Tôi không ngạc nhiên về những nghi lễ thần bí ẩn, mà những tín đồ trung thành trong những nghi lễ ấy, khi nhắc tên Chúa hàng nghìn lần, đã nói chuyện với Chúa, hay trong ma thuật dân gian, những tình nhân “gọi” được người yêu đã mất.

Một nhân vật đã được xây dựng đến như thế, và nếu ta có muốn xóa cũng không thể xóa đi được nữa: một ý nghĩa khác của Zénon in aeternum[5].

Mỗi một cuộc nói chuyện là một cách thêm vào cái khối nổi của nhân vật.

Chuyến viếng thăm Munster năm 1956 - mùa thu ở Suez - gần như cũng tối tăm như chính hình ảnh của quá khứ.

Một trong những nét về đứa con của những đêm trắng được rút từ một bài thơ của Theophile.

Cuộc đời không di chuyển của tôi bắt đầu cách đây gần mười năm (1978).

Ở những mặt nào đó, “tù đày” đúng hơn là “cuộc sống bất động” vì không còn phụ thuộc vào tôi nữa việc đi qua cánh cửa rộng mở.

Ám ảnh về căn bệnh thấy ở người khác.

Cả Zénon và Henri-Maximilien đều chết vào tháng Hai, tôi nhận ra điều đó khi đọc lại. Tôi đã thử để Henri-Maximilien chết vào một tháng khác, song không được. Tình huống ấy được dựng như một cảnh cuối đông nước Ý.

Cần phải chỉnh lại tình huống tự tử của Pierre de Hamaere như theo biên niên sử: ông ta có thuốc độc là nhờ bạn bè trong thành phố. Vài từ này muốn nói đến sự tồn tại lén lút của một nhóm người bên ngoài tu viện, mà tu sĩ dòng Cordelier này tham gia. Sự kiện này, bản thân nó, cho chúng ta biết chút gì đó về cuộc sống bí mật của thành phố (nguyên gốc là Gand, trong truyện là Bruges) và làm cho nó gần với những gì chúng ta biết về thời đại chúng ta.

Idelette và “cô bé người hầu da nâu” (cô này đôi chút gợi hứng từ những cô gái da nâu của Bosch) là những nhân vật tưởng tượng, nhưng cần thiết, để “Những lộn xộn trong xác thịt” trong chương này là một cái gì đó khác, không chỉ đơn thuần là một cảnh về những người đồng tính luyến ái; và để bi kịch tình yêu vị thành niên giữa đôi trai gái và thảm kịch giết đứa trẻ sơ sinh diễn ra bên cạnh thảm kịch của những mối tình bị coi là ngược lại với tự nhiên. Như thế để toàn bộ đạo đức xã hội và đạo đức giáo hội của thời đó bị lên án. Tôi tự nhủ là cách xử sự của những cậu bé cô bé này không khác những học sinh cấp hai trong thời đại chúng ta, nhưng thời nay chúng không bị xô đẩy vào những vụ tai tiếng, hay ít nhất thì những tai tiếng ấy không nhất thiết phải gây hậu quả chết chóc.

Như vậy có lẽ đây là điểm chúng ta tiến xa hơn khá nhiều, nhờ khôn ngoan của chúng ta, so với thời Phục hưng, hay đúng hơn là thời Trung cổ, mà Phục hưng thường chỉ phủ lên trên như một lớp sơn. Nhưng đạo đức giả thì không bớt đi nếu không muốn nói là tồi tệ hơn. Mặt khác, dường như chúng ta đã mất ý thức về sự quan trọng và sự thiêng liêng trong hành động tình dục (vì nguyền rủa là một trong những hình thức của sự thiêng kính) mà con người thời đại ấy vẫn còn giữ được. Chúng ta trao thân dễ dàng (hay gần như dễ dàng hơn), không phải vì chúng ta có quan niệm mới về chữ linh thiêng, mà vì chúng ta đã hạ thấp hành động tình dục thành một hiện tượng sinh lý ít quan trọng.

Zénon và Henri-Maximilien (tôi cũng nhận ra điều này khi đọc lại) đều kết thúc bằng một sự từ chối: Henri từ chối danh vọng và chìm vào cuộc đời một đại úy nghèo, Zénon từ chối việc rút bỏ đức tin mà nhờ đó ông sẽ được cứu sống. Cả hai đều mất nhiều thời gian trước khi nhận ra rằng mình phải từ chối như thế.

Có nhiều lý do không chính xác - hay có thể nói là có nhiều căn cứ trung gian - mà Zénon nêu cho mình trước khi đối mặt với Hic Zeno[6] và sau đó là Zeno in aeternum[7].

Như chúng ta suy nghĩ theo ngôn ngữ lô gích, Zénon nghĩ bằng tiếng La tinh thời Trung cổ. Đôi chỗ cần biết thêm quán từ giống cái.

Những “loại đá mà mỗi loại tượng trưng cho một thời điểm của Bí thuật Lớn” trong một trong những lời đáp đầu tiên của Zénon là bịa đặt. Không có những loại đá như vậy. Giữa những “loại đá” của bản viết năm 1924 được giữ lại năm 1956 và cho đến tận năm 1967, và “các kim loại” trong bản viết hiện tại, có mười năm đọc về giả kim thuật.

Trong bản viết thiên tả và vẫn còn ngây thơ năm 1924 xuất bản năm 1934, Zénon vẫn còn có gương mặt một triết gia theo chủ nghĩa tự do tôn thờ chân lý duy vật và lô gích. Quan niệm gần giống với những gì phái cấp tiến nghĩ về Giordano Bruno những năm 1880, và cũng sai. Thay đổi lớn hình thành trong một buổi tối ở nhà Alf, khoảng năm 1958: khi nghe một hợp tuyển các tác phẩm của Bach, tôi đã soạn xong hoàn toàn trong trí óc, sáu hay bảy năm gì đó trước khi viết thật sự, cuộc nói chuyện giữa Zénon và linh mục phụ tá vài giờ trước khi Zénon chết. Khi ra khỏi buổi tiệc tối đó, âm nhạc kết thúc, tôi hoàn toàn quên cuộc đối thoại này. Nhưng tôi vẫn biết ngày nào đó mình sẽ tìm lại được.

Tương tự như vậy khi viết lại “Nathanael”, soạn thầm trong đầu trong một đêm (không: chỉ vài giờ trong đêm) mất ngủ và chờ tàu tại một ga nối nhỏ. Nhưng không ghi lại và hiện tại đã quên.

Mùa đông 1954 - 1955, ở Fayence, thường xuyên thức cùng Zénon bên lò sưởi lớn trong bếp ngôi nhà từ đầu thế kỷ XIV, lửa dường như phun tung lên một cách tự do giữa hai cột đá nhô ra khỏi tường. Sau này, từ những năm 1956 - 1957, rất nhiều lần trước lò sưởi ở “Petite Plaisance”[8].

Mà tôi cũng để ông lại nơi nào tôi muốn. Khi rời Salzbourg năm 1964, tôi đã quyết định chia tay với ông trên chiếc ghế đá trước cửa hiệu bánh cũ kỹ. Ông chờ ở đó, cũng chắc chắn rằng tôi sẽ trở lại, tôi sẽ đến đó tìm lại ông, như một vài người bạn sống tin chắc là ta sẽ trở lại với họ.

Nếu tôi viết điều này cho công chúng, trong một bài tiểu luận công phu nào đó, cần phải chỉ rõ - nhưng bằng cách nào? - rằng đó không phải là ảo ảnh. Cho đến bây giờ tôi chưa bao giờ có ảo ảnh. Tôi thường tự nhủ khi viết Hadrien: “gợi lên một bóng ma để làm gì, khi bản thân trí óc luôn luôn hiệu hữu vào lúc chúng ta muốn”.

“Zénon tự phó mặc để bị dẫn vào tù, O. nhận xét. Đó không phải là một anh hùng.” Thực ra, nhà tù vừa đại diện cho thử thách trước lần cuối cùng và đồng thời là một quãng trống. Tất cả đều là trò chơi. (Với tác giả cũng vậy: Hermann Mohr!) Chúng ta giải trí như có thể trong lúc chờ tàu chạy. Sau khi tuyên án chính là lúc nhân vật Zénon trở về trạng thái ân sủng anh hùng.

Đoạn đầu chương II, tả cha Zénon, là một trong những đoạn tồi nhất còn giữ lại từ năm 1924. “Tiểu thuyết lịch sử” trong tư duy một sinh viên sử học. Trong những trường hợp như vậy, chỉ có sựt hật “lịch sử” đặc thù một cách hạn hẹp. “Hào hứng với những cuộc nói chuyện không dứt với Léonard de Vinci, khi đó là kỹ sư của Cesar” là tông giọng đúng. Cần phải luôn luôn chỉnh kính ống nhòm cho thật rõ để quan sát cho thật gần những gì ở xa.

Khi G., dịch sách, bảo tôi giải thích vì sao nhân vật lại có hành động như thế vào thời điểm ấy, tôi lưỡng lự và tôi đi tìm lý do. Tôi đã thấy họ có hành động đó.

Bao nhiêu lần, ban đêm, không ngủ được, tôi có cảm giác đưa tay ra cho Zénon đang tồn tại, nằm chung một giường. Tôi biết rất rõ bàn tay ấy, màu nâu xám, rất mạnh mẽ, dài, ngón cong, xương xương, móng tay hơi xanh xao và to, cắt sát. Cổ tay xương xẩu, gan bàn tay khá sâu và nhiều đường nhăn. Tôi biết cả sức nắm bàn tay ấy, độ ấm chính xác của nó. (Tôi chưa bao giờ nắm bàn tay Hadrien). Hành động vật thể đưa bàn tay cho một người hư cấu này, tôi đã làm nhiều lần. Viết thêm ngay lập tức cho những kẻ ngu ngốc sẽ đọc những dòng này rằng nếu tôi thường nhìn những nhân vật của tôi làm tình (và đôi khi có một chút khoái cảm nào đó trong tôi), thì tôi không bao giờ tưởng tượng mình kết hợp với họ. Người ta không ngủ với một phần của chính mình.

Sự hiện diện có xa cách hơn, nhưng vô cùng thân thiết, của linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier.

Cái mới (từ 1956) so với bản viết ở tuổi hai mươi, đó là sự nhấn mạnh đến tính chất cực kỳ phức tạp trong cuộc phiêu lưu của trí tuệ. Zénon tự phản bác mình, xét lại các quan điểm của mình. Đôi khi, ông duy linh hơn cả Bartholommé Campanus.

Không gì bí mật và không gì khó đạt đến hơn định nghĩa đích thực về con người Chúa (hay Chúa nhân cách hóa), trải rộng mỗi nơi một chút ở khắp các hình thức được rập khuôn. (Isvara đối với người theo đạo yoga Ấn độ). Zénon đạt đến đó (hay ít nhất cũng hé thấy với tư cách là một giả thuyết) hai hay ba giờ trước khi chết.

Độc giả thông minh chắc sẽ hiểu mà không cần giải thích Zénon gán cho ai những bước chân trong hành lang khi cơn hấp hối chấm dứt. “Chúng ta gặp lại nhau ở bên kia những mâu thuẫn.”

Greete là một chút của W…, Martha là một chút của X…, Catherine là một chút Y…; Bartholommé Campanus là một chút Z… Trong Campanus có một số yếu tố của một linh mục tôi thường hay đến khi còn bé; linh mục phụ tá Carli.

Có khí chất của bố tôi trong khí chất của Henri-Maximilien.

Về phụ nữ, Zénon gần như luôn luôn bị quyến rũ hơn là người đi quyến rũ. Cô hầu nhỏ thích quả non tơ, Jeannette Fauconnier, Sign Ulfsdatter, Catherine. Ngay cả cô gái nhỏ người Hung ga ri đã “chơi trò làm con mồi”. Khi họ không tự mình nằm lên giường ông, ông để họ đi.

Wiwine là một biếm họa của Solveig.

Khi một nhân vật hư cấu không quan trọng với chúng ta như bản thân chúng ta, anh ta không là gì cả.

Tôi tưởng tượng gia đình Ligre gốc ở Picardie - có lẽ đến Bruges từ Arras vào thế kỷ XIV.

Thoát xác để lại tái hiện thân trong một con người khác. Và dùng cách ấy để làm nên xương, thịt và máu anh ta, và hàng nghìn hình ảnh được ghi lại trong một chất xám.

Cố gắng đưa vào, và càng với ít thay đổi càng tốt, tất cả các biên bản kinh khủng của những buổi tra tấn mà Campanellea phải chịu đựng, được ký bởi một người nào đó tên Precioso, công chứng viên và ký lục Tòa án tôn giáo ở Naple, cùng với những chi tiết đáng lộn mửa. Nhưng những chà đạp này, cũng là bình thường vào thời đại chúng ta, có thể chỉ cung cấp cho bạn đọc thêm một cảnh giật gân, và làm họ tin rằng tôi đang viết một tiểu thuyết chống giáo hội. Sự tàn bạo không bao giờ kinh khủng bằng khi nó được lộ ra trong những thời khắc ôn hiền nhất - khi nó còn đang bị kìm nén. Một giáo sĩ cao cấp có học vấn và lịch sự và một linh mục già lo lắng cứu học trò thế mà rồi cũng đi đến chỗ buông xuôi, để một phạm nhân bị đẩy lên giàn thiêu, và cuối cùng cũng thấy chuyện đó là bình thường. Cùng nhận xét đối với sự tra tấn. Nó tàn nhẫn hơn, theo một nghĩa nào đó, khi Zénon tránh được nó, nhờ một sự bảo trợ đặc biệt, còn nếu ông phải chịu đựng tra tấn, thì đó là lẽ thường.

Đọc trong một cuốn sử địa phương thế kỷ XVII về một quan tòa, tên Cleenewerck, tham gia xử vụ án một linh mục hoàn tục. Không tìm lại được cuốn này nữa.

Nhận xét: chỉ có một tội ác (nhưng bỉ ổi) chống lại một trí thức: Servet (nhưng hình như Ochin tránh được chỉ trong gang tấc). Ít có hành hình hơn là chúng ta tưởng, nếu không tính đến những vụ án chính trị như More hay Cranner (song danh sách này không có nước Anh và Ecosse). Dẫu vậy vẫn thấy rõ sự kinh hoàng và sự nghi ngờ. Người dị giáo phái Luther và Calvin bị đe dọa nhiều hơn là những người nghi ngờ và vô thần. Không có bản án về tội chống lại phong tục nào quy cho các trí thức. Vinci bị tố cáo và sống trong lo lắng, song chỉ ở mức ấy; Michel - Ange bị những tên tống tiền khích bác giống như Aretin, nhưng không hơn. Tuy nhiên, Theophile chỉ thoát được trong gang tấc; có vẻ như trong vụ Dolet có yếu tố suy diễn, và vu không trong vụ Vanini. Cũng cần nhớ là về điểm này Paracelse cũng bị phương hại và cả Campanella (hồi niên thiếu). Với Campanella, quan điểm thẳng thắn rõ ràng của ông không phải là nguyên nhân trong ba vụ án cuối cùng. Không có trí thức nào bị kết tội sử dụng ma thuật.

Chuyện mụ phù thủy bị thiêu sống vì đã đái một cách độc ác trên một cánh đồng để cầu mưa phá mùa màng lấy từ một cuốn sách về thuật phù thủy thời Trung cổ và các thế kỷ XVI và XVII mà tôi quên tên tác giả và tên sách. Tôi thấy lại câu chuyện này trong cuốn sách của Aldous Huxley, hiện tôi đang đọc lại nó (tháng Mười năm 1974), The Devils of Loudun, một phần nguồn gốc câu chuyện được sáng tỏ: sự việc xảy ra tại Dole năm 1610. Cuốn sách trước có nhiều chi tiết hơn.

Hadrien chết lúc sáu mươi hai tuổi sáu tháng, nhưng ông phát bệnh hai năm rưỡi trước đó. Bệnh tật ủ trong ông từ năm 130. Như vậy, sáu năm bệnh tật ít nhiều ổn định, cộng với hai năm đau đớn đến mất kiên nhẫn, để rồi chết khá nhẹ nhàng. (vả lại ta không chứng kiến cái chết ấy, vì Hồi ký kết thúc suýt soát vài ngày trước khi cái chết xảy ra.)

Zénon chết lúc năm mươi chín tuổi kém sáu ngày. Mạnh khỏe đến phút cuối cùng. Khí chất khô khan và dễ bị kích thích; Hadrien khí chất vừa đa huyết vừa bạch huyết. Có gì đó như phù nề vì bệnh tật ở từng chỗ trên cơ thể ông từ khá sớm.

Cả hai đều sáng suốt, có khả năng nhìn bằng con mắt bao quát lạnh lùng.

Quan tâm của Hadrien tới y thuật.

Hadrien đôi khi bị khoa học huyền bí thu hút. So với Zénon, dù sao ông cũng chỉ là một “tay nghiệp dư giàu có”.

Hai con người khác nhau sâu sắc: một được xây dựng lại từ những mẩu sựt hật, một hoàn toàn hư cấu, nhưng được nuôi dưỡng bằng sự thật cuồn cuộn. Hai hình hài mạnh mẽ, xiên chéo qua nhau, một đi từ thực tế và thăng hoa thành hư cấu, một bước ra từ hư cấu và đầm mình trong thực tế, cả hai giao nhau. Tâm điểm chính là tình cảm CON NGƯỜI.

Về mặt chiêm tinh học: Hadrien Bảo bình, tuổi phóng khoáng và thiên phú. Zénon Song ngư, tuổi bí ẩn và lạnh lùng, đi xuyên qua những vực thẳm. Bầu trời của Hadrien: Sao thổ - sao kim - sao thủy. Zénon: Sao thổ - sao hỏa.

Về mặt tính dục, cả hai gần như chỉ bị hấp dẫn trước thể xác và khí chất đàn ông. Cả hai đều có khả năng có quan hệ và có tình bạn với phụ nữ. Hadrien thích thú với tình yêu hơn là Zénon.

“Đồng tính luyến ái là một cách nhìn đối với cuộc sống”, cách đây bốn mươi năm Edmond Jaloux nói với tôi nhân đọc Alexis, và nhận xét này càng làm người ta sửng sốt hơn vì nó được đưa ra bởi một người tôi tin rằng hoàn toàn không đồng tính luyến ái. Mà dù nhân đọc Alexis, tôi cũng không hiểu rõ lắm Edmond muốn nói gì, gần giống như Zénon mãi sau này mới hiểu được những lời Don Blas nói.

Theo một nghĩa nào đó, Sign Ulfsdatter với Zénon là một Plottine. Bạn đồng hành, gần như ngang hàng, và là người để ta tin cậy. Nhưng Zénon đã có Sign trong con người ông.

Thói loạn dâm ở Hadrien có một từ vựng và những nghi thức, bắt nguồn từ một truyền thống văn hóa: một kiểu trụy lạc được thừa nhận của La mã, dù bị đạo đức khiển trách như mọi trụy lạc khác, sự trữ tình trong những nhà thơ La tinh và Hy lạp; cuối cùng là truyền thống triết học hoàn toàn của Hy lạp cổ (và không hề có xuất xứ nào từ La mã) mà Hadrien và Philhellene rất ý thức tìm tòi. Khi cần thiết, ông có thể xuyên tạc một chút sự thực về mình để đưa nó vào những khuôn khổ mang chất thơ và anh hùng. Không có gì trong tất cả những chuyện đó là bí mật.

Tính dục của Zénon không phải là điều ông quan tâm. Ông vứt bỏ một cách thô bạo những lối mòn của tình yêu với phụ nữ thời đại ông, sự trụy lạc phong cách tiếu lâm, kiểu bỗ bã, hay những tinh tế kiểu Petraque. Mặt khác, thói loạn dâm mà ông ưa thích, xuất hiện nhan nhản vào thời ông và xung quanh ông, chính thức bị pháp luật cấm.

Những quan hệ bí mật và thông thường ngắn ngủi này không miêu tả được bằng từ ngữ. Chúng chỉ làm nổi rõ hơn vô thức và ý thức. Antinous bên cạnh Hadrien là một kẻ khiêu dâm đúng tước vị, có vị trí xã hội, nếu có thể nói như vậy. Alei vẫn là một người hầu. Quan hệ với Gerhart, Francois Rondelet hay Fray Juan (và có thể cả Josse Cassel) không khác so với những quan hệ tương tự trong thời đại chúng ta ngày nay. Nỗi sợ hãi bị xã hội khinh rẻ nay vẫn còn làm sinh ra gần như chính xác những hiệu ứng do sợ bị lên giàn thiêu ngày trước.

Vả lại, giàn thiêu, được đốt lên quá thường xuyên vào thời ấy, là mối đe dọa ngoại lệ của những kẻ yêu nhau. Cần tin rằng những người đồng tính luyến ái thế kỷ XVI sợ lửa như một người Mỹ cùng xu hướng bây giờ sợ bị đuổi khỏi đoàn ngoại giao - có thể ít hơn một chút.

Một yếu tố nữa là với Zénon mọi mơ mộng đều bị loại bỏ bởi không được biểu lộ, hoặc biểu lộ dưới những hình thức không nhìn thấy. Chỉ những nhà thơ (Shakespeare, Michel-Ange) và chỉ những người vĩ đại nhất hay táo gan nhất trong số họ mới có thể biểu lộ mình vào thời đại ấy. Ở Vincin, ngược lại, sự thôi thúc phải biểu lộ trải ra trong tất cả sắc thái tình cảm con người.

Chúng ta biết điều này trong tuổi trẻ của Zénon rõ hơn là trong thời thanh xuân của Hadrien.

Những suy tưởng của Zénon trong “Vực thẳm” một phần nào đó là nhập định phật giáo kinh điển “nước, lửa, xương…”. Trong trường hợp Zénon, những táo bạo “theo kiểu Héraclite” trong lối tư duy giả kim thuật mở ra đến tư tưởng siêu hình và tâm lý khác hẳn này. Trong chừng mực nào đó, tôi đã có thể cho Zénon cũng giống như Pascal sáng tạo lại hình học Euclide xuất phát từ một số tiên đề, nhưng một sự phát triển như thế sẽ quá chậm nếu gài nó vào trong một tác phẩm tiểu thuyết, và làm tăng quá tải những quyền năng trí tuệ đã rất lớn mà tôi trao cho Zénon. Tôi thích giả định nó đã chịu một sự thẩm thấu tuyệt diệu, thực tế sự thẩm thấu gần như luôn xảy ra mỗi khi có hai thế giới khác nhau đứng cạnh nhau, và tôi đã cho Zénon có những liên hệ với Phương Đông thông qua một người dị giáo đạo Hồi, bản thân người này lại được tiếp thu một số phương pháp trong tư tưởng Ấn độ, cũng như tôi đã cho Zénon có liên hệ với đạo Do thái thông qua Don Blas, một người Do thái buộc phải theo đạo Thiên chúa.

Thỉnh thoảng ở Zénon có những câu nói đùa của một giáo sĩ nhà thờ.

Chắc chắn ở đây có khác biệt rất rõ về thời đại, một phần do thực tế, nhưng còn phần khác do chủ quan. Dù chúng ta có làm gì đi nữa để hiểu thật rõ những văn bản còn sót lại (và số văn bản còn lại tương đối ít cũng là một nguyên nhân), chúng ta vẫn tiếp tục nhìn và nhất là cảm nhận thời Trung cổ như một thế giới rộng lớn hơn và vàng son hơn thế giới chúng ta, nơi đó thậm chí những điều tồi tệ nhất cũng được một chút trân trọng nào đó: dù đã cố gắng hết mức để làm hiện rõ nhân vật, chúng ta vẫn tiếp tục nhìn nhận Hadrien gần giống như Tischben nhìn Goethe ở đồng quê La mã, đồng tình hoàn toàn với quá khứ đã qua và với truyền thống lâu đời đã nâng đỡ ông mà không hề ràng buộc gì ông.

Hadrien tin có thể tồn tại một mối giao lưu duy lý giữa hai con người, với một ngôn ngữ lột tả được hết những suy nghĩ (và vì vậy mới có thể để ông hùng hồn kể lại cuộc đời mình); Zénon biết là mọi cuộc trò chuyện đều có những chỗ hiểu lầm và những lời dối trá, ngay cả với ông linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier thân mến.

Catherine là một Baubo[9].

Cho đến giờ mới chỉ đọc Apulée khoảng năm sáu chương đầu gì đó, và biết phần còn lại chủ yếu qua những tóm tắt và bình luận, nên tôi rất ngạc nhiên và thú vị trước lời ông linh mục miêu tả cái đương nhiên là con đường cái chết đi qua, chương XI, khi tôi đọc nó qua một bản dịch tiếng Anh. “I approached the confines of death, and having trod the threshold of Proserpine, I returnes from it, being carried through all the elements. At midnight, I saw the sun shining with a splendid light, and I manifestly drew near to the gods above and beneath”[10]. Đúng như thế, khi Zénon chết, trong cái được gọi chính xác là cái nhìn cuối cùng của ông, trước khi thính giác còn tồn tại một mình thêm một vài khoảnh khắc nữa, ông thấy mặt trời nửa đêm lòa chói trên bầu trời mùa hè vùng cực. Và chắc chắn, hình ảnh này được đưa vào một cách hợp lý trong tác phẩm của tôi vì chuyến đi của Zénon tới biên giới xứ Laponi Thụy Điểm dưới mắt ông là chuyến đi bỡ ngỡ nhất trong đời, thêm vào đó nó lại gắn liền với kỷ niệm về những “đêm trắng” của một tình yêu ngắn ngủi. Sự tương phùng với Apulée làm tôi thích thú không kém và có lẽ càng bởi vì Apulée chưa bao giờ nhìn thấy mặt trời nửa đêm. Một kiểu biểu tượng nguyên mẫu của cái chết và một kiểu chiến thắng cái chết.

Josse Cassel không chỉ có một dụng ý; cũng như Colas Gheel với một vai trò nhục cảm nào đó mà anh ta có thể nắm giữ trong cuộc sống nhân vật chính, anh ta còn đáp ứng một điều khác, sự cuốn hút trí tuệ trước con người bình dân. Yêu thích thực tế như nó vốn có, ẩn dưới nhiều lớp văn hóa chồng chéo lên nhau, sở thích đơn giản hóa cuộc sống.

Chế độ ăn chay hoàn toàn và tình thương sâu sắc dành cho thế giới động vật là ở Léonard, như mọi người đều biết. Người ta hay quên là tình thương ấy cũng có ở Montaigne, được biểu hiện theo cách cao nhã. Và tôi đã thấy điều này ở d’Aubigné, qua nhiều dấu hiệu, vào thời kỳ tôi nghiên cứu Những bi kịch.

Nhiệt huyết của Zénon có thể so sánh với nhiệt huyết của Giordano Bruno. Nó khô khan hơn. Bruno trước hết là một người cuồng tưởng và là một nhà thơ.

Campanella, theo một quan điểm nào đó có hơi chậm chân so với những xu hướng thời đại ông (có thể do sống trong môi trường tu viện ở nam Ý), nhưng về mặt lập luận triết học, ông rất gần với tông giọng lúc đầu tôi định trao cho Zénon. Nhưng Zénon không có khả năng suy nghĩ theo một hướng không tưởng nào đó.

Điều mà Zénon năm hai mươi tuổi từ chối khi Thierry Loon tặng nó cho anh cũng chính là điều Campanella làm năm hai mươi sáu tuổi, và đã phải trả giá bằng tổng cộng ba mươi mốt năm tù: nổi loạn xã hội và chính trị có vũ trang, ông đứng đầu một nhóm phản loạn nhỏ.

Bruno và Campannella có một tâm hồn thơ sâu sắc, Zénon hoàn toàn không.

Tự tử. Zénon tự tử, không phải vì theo một nguyên tắc hay vì một sự thu hút đặc biệt nào, mà vì bị mắc kẹt giữa một thỏa hiệp không thể chấp nhận và cái chết tàn nhẫn thậm vô ích, ông làm những gì chúng ta cũng sẽ làm nếu ở địa vị ông, như mẹ của K. Lowith bị đe dọa chuyển đến Dachau đã làm. (Và cũng chết theo cách ấy, cắt tĩnh mạch). Hadrien, cho người đánh dấu trên ngực ông chỗ có trái tim để phòng trường hợp ông rơi vào tay kẻ thù, hẳn cũng làm như vậy, và thậm chí “với đôi mắt mở to”.

Nhưng Hadrien chết nhìn về quá khứ làm người của ông, mà không nhìn về những tiếng động lớn và ánh sáng chói chang đã tới đưa ông đi.

Tự tử. Zénon, Mishima, Montherlant (chết ngày 21/9/1972, cách đây năm ngày - tôi viết những dòng này ngày thứ ba, 26/1972). Thân thể bị xé ra, rộng mở, cho tâm hồn thoát. (Mishima chết tháng 11/1970. Cuộc phỏng vấn cuối cùng với ông, trên tờ Le Figaro, tôi nhớ vậy, được đăng sau khi ông chết, có nhắc đến Hồi ký Hadrien).

Zénon ở mút cuối của lối suy nghĩ năng động theo thuyết sức sống và ở bên rìa của tư tưởng duy vật và duy vật cơ giới hiện đại; chúng ta, sau một con đường dài đã trở về với những quan niệm trí tuệ rất gần với một Geber hay một Paracelse, cùng với đằng sau chúng ta là thế giới khoa học các thế kỷ XVIII và XIX, chúng ta gặp ông trên đường biên giới này.

Henri-Maximilien, như thể bị tách rời giữa thú vui trần tục và những xúc cảm của tình yêu, với một bên là những quán rượu và gái điếm, và một bên là sự trìu mến và lòng nhiệt tâm với những phụ nữ mà trong cuộc chơi (và trong thâm tâm anh) được giả định là trong trắng, anh thuộc về thế giới của người đàn ông trung thực háo sắc như đã tồn tại cho đến thời đại chúng ta (và có thể ngay cả trong thời đại của chúng ta…). Với tình huống tặng giăm bông cho người đẹp thiếu ăn trong thời kỳ đói kém, lần đầu tiên anh vượt qua bên kia của tính dục đơn thuần, hư danh đơn thuần, thiên hướng lý tưởng chủ nghĩa đơn thuần trong thời đại của anh. Trong một khoảnh khắc anh đã yêu phu nhân vì bản thân nàng và vì những gì là nàng.

Còn bao nhiêu điều cần nói về những quãng đời tối của Zénon: ở Léon, ở Pont-Saint-Esprit, ở Avignon, ở Lyon sau Dolet và trước Servet, ở Marseille khi lên tàu đi Alger… Hay một lần nữa ở Lyon và thời kỳ ngắn ngủi ở Genes và Bologne năm 1541, mà tôi chỉ để nổi lên cuộc gặp gỡ với Lorenzaccio, và những tên như Joseph Ha-Cohen và de Ruggieri. Hay còn nữa, hai thời kỳ khác không được tả rõ, ở Đức từ năm 1542 đến năm 1551, thời kỳ này chỉ có cuộc chạm mặt bất ngờ với Martha, và chỉ nhắc đến Alei cùng nỗi u ám ở Bâle, đây cũng là thời kỳ gần giống nhất với cuộc đời Paracelse, với cùng những thăng trầm về tiền bạc, những lúc vắng mặt trong cô đơn và việc nghiên cứu gần như hoang tưởng; và một quãng đời nữa, khi trốn chạy khỏi Innsbruck, Đức và Ba Lan, giữa mùa đông năm 1551 đến khi tới Thụy Sĩ năm 1555. Thời kỳ này, không một thông tin hay chi tiết nào được nói đến trong tác phẩm, trừ việc nêu tên Bonifacius Kastel ở Ratisbonne, sự kiện đầu quân vào quân đội của vua Ba Lan làm bác sĩ phẫu thuật, kỷ niệm về những người bị thương lạnh cứng hấp hối trên đường, đoạn này tôi phỏng theo truyện của một bác sĩ người Mỹ kinh hoàng tới suốt đời sau những gì diễn ra trên mặt trận năm 1944, và buổi lễ thánh ở Cracovie chính tôi tham dự.

Tuy vậy tôi cũng đã hàng nhiều giờ mơ lại những quãng đời này, và khó mà cưỡng nổi ý muốn viết về chúng, dầu cho cuốn sách có dày thêm trăm trang nữa… Nhưng như thế thì sự liên hệ trên dưới của các sự kiện và các kỷ niệm sẽ bị ảnh hưởng không thể sửa chữa được. Những trang ấy sẽ chỉ cho những câu chuyện nhạt nhẽo về cuộc đời ông, không nói lên điều gì vì mọi sự đều nhàn nhạt.

Innsbruck là một thời kỳ khủng hoảng: những giật nảy cuối cùng của cái “tôi”. Ở Bruges, cuộc chuyển đổi gần như được hoàn tất.

Trả lời một câu hỏi của Grace khi dịch Bí thuật Đen về tên trung sĩ trưởng toán lính (quán trọ Con Hươu lớn) trong “Căn bệnh của linh mục tu viện trưởng”. Không thể biến trưởng toán thành một đại úy, vì cấp bậc và bài trí quán ăn sẽ làm người ta nhớ đến “Cuộc nói chuyện ở innsbruck”. Lợi thế của từ trung sĩ: chúng ta ngay lập tức ở trong không khí bình dân.

Các nhân vật nhìn từ bên trong và từ bên ngoài.

Linh mục phụ tá luôn được nhìn từ bên ngoài. Chỉ những lời thoại của ông mới cho thấy bên trong.

Khác nhau rất lớn giữa bên trong và bên ngoài ở Zénon, ngay cả khi không có một yếu tố giả dối nào. Chương “Vực thẳm” phải vén lên con người bên trong của ông. (Một phần hiệu ứng này cũng cần phải có ở chương “Những thú vui mùa hè”). Trong “Cuộc nói chuyện ở Innsbruck”, cái bên trong biểu lộ qua lời thoại, nhưng chính vì thế mà những suy nghĩ, ngay cả khi được nói ra mà không phải chịu sự kiểm soát, cũng vẫn được đặt vào một công thức nào đó. Khi suy nghĩ được nói ra như vậy trong một số chương khác, thì đó là một phản ứng trước một hành động, và bản thân suy nghĩ đó cũng một phần là bên ngoài. Trong những đối thoại với linh mục tu viện trưởng, lời thoại bản thân chúng được đặt trong hệ quy chiếu của linh mục tu viện trưởng ngay cả khi Zénon phản đối ông ta, và chúng ta chỉ nhìn thấy một mặt của nhân vật, chỉ thấy góc khúc xạ và góc va đập với thời đại của ông. Hiệu ứng lạ lùng trong trường hợp như vậy là thiên thần nhường chỗ cho sự khôn ngoan.

Chi tiết: tên tu sĩ vô lại ăn cắp lọ thuốc được hư cấu chỉ để làm mồi cho cảnh nổi giận, nhưng nhân vật này còn nhằm làm nổi rõ tính cách của Cyprien sau này.

Giới tu sĩ. Tôi nhớ là trong cuốn sách có năm người tất cả: Campanus, Don Blas de Vela, Sứ thần tòa thánh, linh mục tu viện trưởng, linh mục đội mũ lễ tu viện trưởng tu viện Saint-Bavon. Rất khó để tạo cái riêng cho mỗi người, không phải tính cách của các nhân vật này, chúng rất rõ ràng, mà cấp bậc của nhân vật, danh xưng của họ, và những từ thưa gửi, để tránh cho độc giả khỏi nhầm lẫn. Cho đến chừng mực nào đó, khó khăn này được xử lý sẽ cho thêm tác dụng khác. Những nhân vật tương đối nằm ngoài những bận tâm chính của Zénon chỉ còn tự lưu giữ trong trí nhớ Zénon bằng danh xưng của họ. Những người ông thường xuyên nghĩ đến đều có tên. Chính để không nhầm lẫn giữa linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier và linh mục tu viện trưởng dòng Jacob là Don Blas de Vela, trong toàn bộ phần một của cuốn sách chỉ được nhắc đến bằng danh xưng, bây giờ đã có tên. Nhưng chi tiết này cũng có nghĩa là Zénon càng ngày càng nghĩ nhiều đến ông ta. Nhận xét về tên này cũng tương tự đối với phụ nữ. Cô gái Hung ga ry và thiếu nữ vùng Valence không có tên[11], vì họ không đóng vai trò trong hồi ức nhân vật, và vì ở đây có một sự từ chối cá nhân hóa các phụ nữ nào đó, một sự từ chối của thời đại hơn là do khí chất ông. Phu nhân de Froso không có tên, dù bà là một nhân vật không giống bất kỳ phụ nữ nào khác đối với ông, một phần vì bà trước hết đối với ông vẫn là một phu nhân quý tộc.

Quan hệ với các nhân vật nữ chính là chỗ khó giữ thái độ trung thành nhất đối với những tập tục chính xác của thời đại. Một trong những ví dụ để theo, Nhật ký Durer; ví dụ khác, Montaigne. Phụ nữ trong suy nghĩ của đàn ông thời Phục hưng (trừ phi đó là một người theo phái Platon, theo Petraque, hay một kẻ trụy lạc kiểu Brantome, và hơn nữa) luôn đóng vai trò rất hạn hẹp, ngay cả khi người đàn ông ấy không bị giới hạn.

Linh mục tu viện trưởng rụt rè khi nhắc đến người vợ tốt bụng ẩn chứa trong đó nhiều điều lắm. Ông bối rối khi nói ra một kỷ niệm kính cẩn đến thế.

Mụ hầu Catherine đương nhiên làm ta nhớ lại những mụ hầu trong những câu chuyện cổ tích tuổi ấu thơ.

Nhưng không nên nói thẳng ra điều đó. Zénon bản thân ông cũng chẳng buồn làm việc kéo xích gần lại. Một thủ pháp quan trọng là cần tránh đưa vào ký ức của nhân vật những người mà ta đã thấy nhân vật tiếp xúc ngoài đời. Đây tất nhiên là một kỹ thuật viết, và gần như một tiểu xảo để giới thiệu những mặt khác nhau của một nhân vật và chỉ ra sự phong phú gần như không cạn kiệt của mọi cuộc sống. Nhưng ở đây cũng có một sự thật nội tại: khiếm khuyết tự nguyện hay không tự nguyện của hồi ức là bỏ đi những gì không cần thiết. Cả Wiwine và cả Jeannette Fauconnier đều cần phải được nhắc lại tên.

Về mặt nghệ thuật không thể phát triển những gì trùng lặp, dù đó là một nét quan trọng của mọi cuộc sống. Chính vậy mà tôi đã buộc phải bỏ nhân vật Mustapha vì nếu không ta sẽ ngay lập tức lại rơi vào nhịp điệu của những đoạn nói về hoàng tử Erik.

Hư cấu các chi tiết. Đám rước lễ Saint Sang[12]: chi tiết này chỉ được đưa ra để chuẩn bị cho chi tiết các thực khách ngồi gần cửa sổ quán rượu (có ít nhiều liên tưởng tới những kỷ niệm ở Seville); nhưng đám rước diễn ra ngày thứ hai đầu tiên của tháng Năm, điều này cuối cùng lại định đoạt mốc thời gian vào cuối tác phẩm.

Mặt khác, chi tiết này kéo theo hình ảnh về những tên lính gác làm người ta căm ghét và sự mệt mỏi của linh mục tu viện trưởng, thân hành đi bộ theo đám rước để cuối cùng, nêu lên Saint Sang (Thánh Máu - ND) đã trở thành một kiểu biểu tượng của máu chảy.

Cực kỳ khó khăn để diễn tả sự sợ hãi trước vực thẳm, khi sợ hãi không phải là cảm xúc mà siêu hình. Phần lớn độc giả có thể sẽ nghĩ ngay rằng đó chẳng phải là chuyện gì đáng lo lắng. Vả lại trạng huống này phần nào đã diễn ra ở Pascal, thường được người đời tâm đắc qua Huyền bí Jésus thấm đẫm cảm xúc, hay được những đầu óc thích tranh luận ưa thích những luận cứ của ông. Nhưng người ta nói đến “vực thẳm” của Pascal như thể đột nhiên một lỗ hổng hiện ra trong phòng của ông. Chủ đề trung tâm gần như chưa bao giờ được đề cập đến.

Một khó khăn khác gần như không vượt qua nổi: giới thiệu cái nhìn của trí tuệ chứ không phải quan niệm của trí tuệ, mà không để độc giả cho đó là một bước lùi thay vì một bước tiến, nhất là ở Pháp, nơi quan niệm trí tuệ chiếm ưu thế độc trội làm triệt đi gần như tất cả các hình thức suy nghĩ khác. Miêu tả cái nhìn của trí tuệ ta có một sự chậm chạp, gần như một sự bất động làm gai mắt tất cả những ai mà trí thông minh với họ là cái gì đó lóe sáng, thậm chí có phải trả giá bằng sự hời hợt. Một ngoại lệ, Gide, ông đã chạm đến sự sâu sắc trong Những thức ăn trên mặt đất và chắc chắn ông tin đó chỉ là một mâu thuẫn khi ông nói: “người khôn ngoan là người xúc động trước những quả mận.” Dũng cảm khắc lên một nhân vật tự đắm mình trong một suy ngẫm mệt nhọc và linh thiêng về những quả mận và những thứ tương đương của chúng. Chỉ rõ rằng một trí tuệ nhận ra một điều lạ là một quá trình chậm chạp và không thể đảo ngược được đến nhường nào.

❀ ❀ ❀

[1] Nhân vật lịch sử được Marguerite Yourcenar tái tạo lại trong Hồi ký Hadrien.

[2] Nguyên văn: tiếng La tinh ad-nauseam.

[3] Nhân vật trong Anna, soror…

[4] Nhân vật của Thần chết đánh xe, sau này trở thành nhân vật chính của Một con người tối.

[5] Zénon vĩnh hằng.

[6] Zénon dưới trần thế.

[7] Zénon vĩnh hằng.

[8] Tên ngôi nhà của Marguerite Yourcenar trên đảo Mont Desert, Mỹ.

[9] Bà già tục tĩu phô trương trong những đám rước của Eleusis.

[10] Tôi lại gần những giới hạn của cái chết, và đã đặt chân lên ngưỡng cửa của Proserpine (nữ hoàng địa ngục – ND), tôi từ đó quay về, đã trải qua mọi yếu tố. Nửa đêm, tôi nhìn thấy mặt trời chiếu sáng với thứ ánh sáng huy hoàng, và tôi đã thực sự đến gần các vị thần linh ở trên trời và ở phía dưới…

[11] Nhưng Zénon khi nghĩ lại đến họ cuối cùng cũng nhớ ra tên (Ilona, Casilda Perez) và tác giả cũng vậy.

[12] Thánh Máu.

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.