Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tuổi Thơ Của Zénon
Tuổi Thơ Của Zénon

❊ ❊ ❊

Hai mươi năm trước đây, Zénon ra đời tại Bruges trong ngôi nhà của Henri-Juste. Mẹ anh tên là Hilzonde và bố anh, Alberico de’ Numi, khi đó là giáo sĩ cao cấp trẻ của một dòng đạo florentine cổ.

Dưới mái tóc dài và với lòng nhiệt tình của tuổi niên thiếu, Messer[1] Alberico de’ Numi sớm có tiếng tăm trong Giáo triều Borgia. Giữa hai cuộc đấu bò tại quảng trường Saint-Pierre, cậu đã mê mẩn trò chuyện về ngựa và những máy móc phục vụ chiến tranh với Leonard de Vinci, khi đó là kỹ sư của César; ít lâu sau, ở tuổi hăm hai rực rỡ ảm đạm, chàng đã nằm trong số ít những nhà quý tộc trẻ được kính nể vì chơi thân với Michel-Ange[2]. Chàng bước vào những cuộc phiêu lưu kết thúc bằng dao găm; bắt đầu sưu tập đồ vật cổ; một quan hệ kín đáo với Julia Farnese không làm hại tới vận may của chàng. Tại Sinigaglia, những ngón khéo léo đã giúp chàng cho các địch thủ của mình ở Saint-Siege gặp rắc rối và chìm đắm trong đó, nhờ vậy chàng chiếm được sự sủng ái của giáo hoàng và con trai Ngài; chàng được hứa hẹn gần như cầm chắc chức giám mục ở Nerpi, nhưng cái chết bất ngờ của Đức Cha thần thánh đã làm chậm lại bước thăng tiến này. Do thất vọng trước sự việc này, hay có thể do một mối tình bị ngăn trở mà bí mật của nó không bao giờ được hé lộ, mà trong một thời gian dài chàng đắm mình vào hành xác và học hành.

Đầu tiên người ta tưởng rằng đó là khúc quanh tham vọng nào đó. Tuy nhiên, người đàn ông phóng túng này lại lao vào một đà khổ hạnh mới. Người ta nói rằng chàng về sống ở Grotta-Ferrata, trong tu viện các tu sĩ Hy Lạp tại Saint-Nil, ở giữa một vùng cô quạnh nhất của Latium, ở đó ngoài những giờ nhập định và cầu nguyện, chàng dịch sang tiếng La tinh cuốn Cuộc sống các cha cố trong sa mạc, chỉ đến khi có lệnh khẩn của Jules II, ngài đánh giá cao trí thông minh khô khan của chàng, thì chàng mới được quyết định trông coi công việc Liên minh Cambrai[3] với tư cách là thư ký tòa thánh. Chỉ vừa chân ướt chân ráo đến nơi, qua vài cuộc tranh luận, chàng đã nắm được quyền lực còn hơn cả quyền của bản thân công sứ Tòa thánh. Những lợi lộc tòa thánh thu về nhờ chia cắt Venise, mà có lẽ chàng chưa mơ đến mười lần trong đời, nay chiếm toàn bộ tâm trí chàng. Trong những bữa tiệc tùng được tổ chức xen kẽ với công việc ở Liên minh, Messer Alberico de’ Numi, khoác trên người chiếc áo thụng bằng nhung đỏ như hồng y giáo chủ, đã đặt đúng chỗ cái vẻ oai vệ không thể bắt chước, nó khiến chàng được các cận thần La Mã gọi tên là Con Người Độc Nhất. Chính chàng, sau một trận khẩu chiến kịch liệt, chàng đã dùng tài hùng biện hăng say, đáng ngạc nhiên như Ciceron, và đã thuyết phục được các đại sứ của Maximilien[4] theo Liên minh. Sau đó, vì mẹ chàng, một phụ nữ xứ Florence hám tiền, viết thư nhắc nhở một vài món nợ cho nhà Adorno tại Bruges vay nay cần đòi lại, chàng quyết định lấy lại ngay lập tức số tiền sẽ rất cần thiết cho sự nghiệp của một ông hoàng Nhà thờ như chàng.

Chàng đến Bruges ở tại nhà nhân viên của mình người Flamand, Juste-Ligre, và được ông ta đón tiếp chu đáo. Người đàn ông to béo này rất thích phong cách Ý đến mức chính ông ta nghĩ rằng chắc hẳn một bà cố tổ của ông đã ngả lòng theo một lái buôn nào đó thành Gene, khi đã quá suy sụp vì cảnh góa chồng. Messer Alberico de’ Numi tự an ủi thôi thì tiền nợ được trả bằng hối phiếu mới ở nhà Herwart d’Augsbourg còn chủ nhà trả tiền cho lũ chó, lũ chim cắt và bọn đày tớ của chàng. Nhà Ligre, nằm bên cạnh kho nhà bên này, sống xa hoa như đế vương; nhà ấy ăn ngon, uống còn ngon hơn nữa, và dù rằng Henri-Juste chỉ đọc có quyển sổ ghi chép số len dạ, trong nhà ông có hẳn một thư viện mà ông vẫn lấy làm hãnh diện.

Thường nay đây mai đó, đi Tournai, đi Maline để ứng trước tiền cho Hoàng hậu Nhiếp chính, đến Anvers nơi ông vừa hợp tác với tay phiêu lưu Lambrecht von Rechterghem để buôn hạt tiêu và những thứ xa xỉ khác của nước ngoài, tại Lyon, nơi ông thường xuyên đến đích thân giải quyết các giao dịch ngân hàng ở hội chợ Toussaint, nên ông giao việc trông nom nhà cửa cho em gái Hilzonde.

Ngay lập tức Messer Alberico de’ Numi phải lòng cô gái trẻ có đôi vú nhỏ xinh, gương mặt trái xoan, hay mặc nhung cứng trùm kín người như giữ nàng thẳng, và vào dịp lễ tết nàng trang điểm toàn bằng báu vật, mà cả một nữ hoàng cũng phải ham muốn. Đôi lông mày ánh xà cừ, gần như màu hồng, bao quanh đôi mắt màu xám nhạt, miệng nàng hơi mọng có vẻ như sẵn sàng thốt ra một tiếng thở dài, hay câu đầu tiên của bài cầu kinh hay một câu hát. Và có lẽ người ta không muốn thấy nàng bỏ hết quần áo vì khó mà có thể tưởng tượng ra nàng lúc khỏa thân.

Vào một buổi tối tuyết rơi làm người ta mơ nhiều hơn đến giường ấm trong phòng kín cửa, một cô hầu bị mua chuộc đã dẫn Messer Alberico de’ Numi vào buồng tắm hơi nóng nơi Hilzonde đang vò mái tóc gợn sóng phủ quanh mình nàng như chiếc áo măng tô. Cô gái che mặt, nhưng không chống cự, phó mặc tấm thân trong sạch và trắng như hạt hạnh nhân nõn của mình cho đôi mắt, đôi môi, và đôi tay người tình. Đêm đó, chàng trai trẻ Florentin uống những giọt nước mát từ mạch suối nguyên sơ, thuần phục hai con dê sinh đôi, dạy cho chiếc miệng kia những trò chơi và sự huyền diệu của tình yêu. Đến bình minh, cuối cùng cô gái Hilzonde đã hoàn toàn bị chinh phục, cô tự phó mặc hoàn toàn và, buổi sáng, với chiếc nhẫn kim cương, nàng khắc lên cánh cửa kính chữ đầu tên mình, lồng vào chữ đầu tên người yêu, như thể đánh dấu hạnh phúc của mình vào thứ chất liệu chắc chắn là mỏng manh dễ vỡ và trong suốt, nhưng mạnh hơn xác thịt và trái tim một chút.

Sự vui thích của họ được tăng thêm nhờ những lạc thú của thời đại và địa phương: Hilzonde chơi một thứ âm nhạc bác học trên chiếc đàn ống nước anh trai đã cho nàng, rượu vang thơm lựng, phòng ấm áp, họ dạo chơi bằng thuyền trên những dòng kênh vẫn còn xanh vì tuyết tan hoặc cưỡi ngựa đi dạo vào tháng Năm trên đồng hoa. Từ sáng sớm Messer Alberico đã lên đường tìm kiếm trong những tu viện Hà Lan yên bình những bản thảo cổ bị bỏ quên, những giờ phút có lẽ còn ngọt ngào hơn sự êm dịu Hilzonde dành cho chàng, những nhà thông thái người Ý mà chàng tiếp xúc thấy thiên tài của Marsile vĩ đại[5] như sống lại trong chàng. Buổi tối, ngồi trước ánh lửa, đôi tình nhân cùng ngắm con chim ruồi cổ đỏ lớn mang từ Ý về, nơi người ta thấy thần Dê ôm hôn nữ thần Sông núi, và chàng trai Florentin dạy cho Hilzonde những từ ngữ nói về tình yêu của xứ sở chàng. Chàng sáng tác tặng nàng một bài thơ bằng tiếng toscane; những câu thơ chàng gửi gắm cho cô gái nhà buôn có thể sánh với khúc Sulamite trong Diễm tình ca[6].

Xuân qua, hạ đến. Một ngày đẹp trời, chàng nhận được lá thư của người anh em họ Jean Medicis. Bức thư một phần được mã hóa, một phần giả giọng bông lơn trong đó Jean đã kể lại mọi sự, chính trị, sự uyên bác và tình yêu, kể lại chi tiết những mánh khóe ở Viện Nguyên lão và ở La Mã mà do ẩn cư ở Flandre nên chàng không hay biết gì. Giáo hoàng Jules II không phải là bất tử. Dù cho Riario ngu ngốc và giàu sụ đã tập hợp được quanh hắn những thằng ngốc và những kẻ bị mua chuộc, Medicis tinh tế đang sử dụng mọi ưu thế chuẩn bị cho cuộc bầu cử tới trong Giáo hội. Messer Alberico không quên rằng một vài lần tiếp xúc với đặc sứ của Hoàng đế sẽ không đủ để xin thứ lỗi trước con mắt của Giáo hoàng đương chức về sự vắng mặt kéo dài trái lẽ thường của mình; sự nghiệp của chàng phụ thuộc từ nay vào người anh em họ rất dễ trở thành giáo hoàng này. Họ đã cùng chơi trên những sân thượng ở Careggi; Jean sau đó ít lâu đã giới thiệu chàng vào nhóm văn chương của ông ta gồm số ít người rất tuyệt vời có đầu óc đôi chút hài hước và có chút xíu môi giới; Messer Alberico thấy khoái vì đã đạt tới việc chế ngự con người tinh tế, nhưng mềm yếu như phụ nữ này. Chàng sẽ giúp ông ta tiến dần đến cái ghế của thánh Pierre[7]; chàng sẽ đứng sau lưng và chờ đợi đến khi cần thiết, chàng sẽ là người ra lệnh trong thời cai trị của ông ta. Chàng chuẩn bị ra đi trong một tiếng đồng hồ.

Có lẽ con người chàng không có trái tim. Có lẽ dòng nhiệt huyết bất thần chảy trong chàng chỉ là sự hiện hữu của một sức mạnh không thể tin được tràn đầy cơ thể; có lẽ, là một người luôn hoạt động, chàng chỉ không ngừng tìm những cách mới để cảm xúc; hoặc đúng hơn có lẽ đó chỉ là sự nối tiếp những thái độ bạo liệt và vĩ đại nhưng tùy tiện như những thái độ của những hình vẽ của Buonarrotti trên vòm nhà thờ Sixtine. Lucques, Urbin, Ferrare, những con tốt trên bàn cờ gia đình, bỗng hiển hiện làm mờ nhạt cái phong cảnh tầm thường của cây và nước nơi chàng đã có lúc bằng lòng sống. Chàng nhét vào hòm những bản cổ văn và những bài thơ tình viết nháp. Đi ủng, khoác áo choàng, đeo găng tay da và đội chiếc mũ phớt lên đầu, hơn bao giờ hết chàng giống một hiệp sĩ và chưa bao giờ khác với người của Nhà thờ như vậy, chàng đến nhà Hilzonde để cắt nghĩa với nàng vì sao mình ra đi.

Nàng đã có mang. Nàng biết. Nàng không nói với chàng. Quá mềm yếu để cản bước chân tham vọng của chàng, song nàng cũng quá kiêu hãnh để thú nhận và lấy đó làm cớ ngăn chàng khi thân hình còn mảnh dẻ, cái bụng vẫn phẳng phiu chưa thể xác nhận điều đó. Bởi nếu vậy nàng sẽ phiền lòng vì bị nghi là nói dối và quấy rầy chàng. Nhưng vài tháng sau, khi đã hạ sinh một cậu con trai, nàng không tin rằng mình có quyền để cho Messer Alberico de’ Numi không biết tin gì về việc con trai họ ra đời. Nàng có biết chữ; nàng ngồi hàng giờ để viết một bức thư, lấy tay gạch xóa những từ thừa; sau khi đã hoàn chỉnh, nàng gửi gắm nó cho một thương gia thành Gene mà nàng tin cậy sắp lên đường đi Rome. Messer Alberico không bao giờ trả lời. Dù rằng tay lái buôn đảm bảo với nàng đã trao tận tay bức thư đó, Hilzonde vẫn muốn tin rằng người đàn ông nàng yêu chưa bao giờ nhận được nó.

Sống trong tình yêu ngắn ngủi rồi bị đột ngột bỏ rơi, nên nàng chán ngấy cả lạc thú cũng như sự ghê tởm; mệt mỏi với thể xác và trái chín do nó mang lại, nàng áp đặt lên bản thân sự trừng phạt lạnh lùng và có vẻ như trừng phạt lây sang cả đứa con trai. Nàng thờ ơ nằm trên giường nhìn người hầu quấn tã cho cái cục màu nâu nhạt dưới ánh sáng lờ mờ của than cháy trong lò. Chuyện đẻ con hoang chỉ là một tai nạn chung, Henri-Juste có thể dễ dàng thương lượng cho em gái một đám cưới hời, nhưng kỉ niệm về người nàng từng yêu đủ để Hilzonde ngoảnh mặt trước những gã tư sản có giá mà nàng có thể chung chăn gối bằng đám cưới. Nàng kéo lê không hứng thú những bộ quần áo rực rỡ anh trai đặt may cho bằng những loại vải đắt tiền nhất, nhưng do hận thù với chính mình hơn là do ăn năn, nàng không uống rượu vang, không ăn những món ngon, không ngồi trước ngọn lửa ấm áp và thường không mặc màu trắng. Nàng đi lễ nhà thờ rất đúng giờ; tuy nhiên buổi tối sau bữa ăn nếu có thực khách nào của Henri-Juste tố cáo sự bên tha trụy lạc và thói vòi tiền của bọn La Mã, nàng ngừng thùa đăng-ten để nghe rõ hơn, đôi khi tay máy móc rứt đứt cả sợi chỉ để rồi lại nối lại trong im lặng. Rồi cánh đàn ông than vãn rằng cửa biển ngày càng bị cát bồi làm Bruges trống vắng dần trong khi những bờ biển khác tàu bè dễ dàng hơn lại thành tấp nập; người ta chế nhạo ông kỹ sư Lancelot Blondeel, người định ngăn sự lắng đọng này bằng một hệ thống lạch và hố. Hoặc người ta truyền tai nhau những chuyện đùa cợt tục tĩu; ai đó tung ra một chuyện, được kể đi kể lại tới hai chục lần, về một cô gái đang yêu tham lam, một anh chồng bị lừa dối, một anh chàng ve gái phải trốn trong thùng, hay chuyện cánh lái buôn quỷ quyệt lừa nhau. Hilzonde đi vào bếp trông coi bàn dọn bát đĩa; nàng chỉ liếc mắt nhìn con trai đang thun thút bú cô người hầu.

Một buổi sáng, Henri-Juste, trở về sau một chuyến đi, giới thiệu với nàng người khách mới. Đó là một người đàn ông có bộ râu cằm màu xám, giản dị và trầm tư đến mức người ta nghĩ ông đang đứng trước làn gió mát lành trên bãi biển không có nắng. Simon Adriansen rất e sợ Chúa trời. Với tuổi tác và với của cải mà người ta nói rằng ông kiếm được một cách trung thực, thương gia người Zélande này được kính trọng như một giáo trưởng. Ông đã hai lần góa vợ, hai bà nội trợ đã lần lượt làm chủ ngôi nhà và chiếc giường của ông trước khi yên nghỉ bên nhau trong nhà mộ gia đình dưới chân tường một nhà thờ ở Middelbourg; các con trai ông đến lượt chúng cũng giàu có. Simon thuộc mẫu người mà sự ham muốn với phụ nữ trao cho ông sự chăm sóc ân cần. Thấy Hilzonde buồn, ông thường đến ngồi bên nàng.

Henri-Juste rất biết ơn ông. Nhờ vào món vay của người đàn ông này mà ông đã qua được những bước khó khăn; ông kính trọng Simon đến mức không dám uống nhiều trước mặt ông ta. Nhưng rượu vang không bao giờ biết thôi hấp dẫn. Chúng làm ông trở nên ba hoa. Ông không giữ được lâu những bất hạnh của Hilzonde.

Một buổi sáng mùa đông, nàng đang làm việc trong phòng, dưới cửa sổ, Simon Adriansen tiến lại gần nàng và trịnh trọng nói:

- Rồi một ngày, Chúa sẽ xóa đi trong tim con người tất cả những luật không thuộc về tình yêu.

Nàng không hiểu. Ông nhắc lại:

- Rồi một ngày, Chúa sẽ không chấp nhận rửa tội cho bất kỳ ai ngoài Tinh thần và không chấp nhận bất kỳ đám cưới nào ngoài đám cưới mà thể xác hưởng thụ một cách âu yếm.

Lập tức Hilzonde bắt đầu run. Nhưng người đàn ông, ân cần và nghiêm khắc, bắt đầu nói với cô rằng làn gió chân thật mới đang thổi vào thế giới, rằng tất cả những luật định ra cho tạo phẩm của Chúa đều là dối trá, rằng thời đại mà việc đơn giản là yêu cũng ngang bằng với việc đơn giản là tin sẽ đến. Trong ngôn ngữ đầy hình tượng như những trang sách thánh của ông, những ngụ ngôn xen lẫn với kỷ niệm về các Thánh, theo ông chính họ đã khiến chế độ bạo chúa La Mã phải thất bại; với giọng hơi nhỏ hơn, nhưng không phải không liếc mắt nhìn để chắc chắn rằng cửa vẫn đóng, ông thú nhận vẫn do dự chưa muốn công khai đức tin Rửa tội lại[8], nhưng ông cũng đã bí mật gạt bỏ hết những khoa trương lỗi thời, những nghi thức phù phiếm và những thánh lễ lừa đảo. Tin theo điều ông nói thì nhà Justes vừa là nạn nhân vừa là kẻ được đặc quyền, năm này sang năm khác đã tự biến thành một bè đảng với nhiều tội ác và sự điên rồ trên thế gian này mà vẫn bình an vô sự; tội lỗi chỉ là do nhầm lẫn, đối với những trái tim trinh trắng, xác thịt vẫn trong sạch.

Rồi ông nói về con trai nàng. Đứa con của Hilzonde, được thụ thai ngoài luật nhà thờ, và ngoài ý muốn của chính nàng, với ông hơn ai hết nó được chỉ định để một ngày nào đó mang tin lành đến cho Người trần và Các thánh. Tình yêu của cô gái đồng trinh nhanh chóng bị quyến rũ bởi con quỷ đẹp đẽ người Ý với bộ mặt thiên thần đối với Simon là một hình ảnh phúng dụ huyền bí: Rome là cô gái điếm của Babylone, cô gái ngây thơ ấy đã bị dâng hiến cho hắn một cách đê tiện. Đôi khi, một nụ cười cả tin của kẻ thiên cảm lướt qua trên khuôn mặt to lớn cương nghị, và trong giọng nói bình thản là cái kiên quyết hơi quá đáng của người muốn thuyết phục bản thân, và thường xuyên lừa phỉnh chính mình. Nhưng, ở con người này, Hilzonde chỉ cảm thụ được sự tốt bụng bình tĩnh của ông ta thôi. Trong khi tất cả những người đàn ông vây quanh nàng cho đến nay chỉ cười nhạo hay tỏ lòng thương hại, hay chỉ là một sự rộng lượng hiền từ, thì Simon trò chuyện và nói với cô về người đã bỏ rơi cô:

- Chồng cô.

Và ông ta nhắc lại với vẻ quan trọng rằng mọi sự phối kết đều không thể chia cắt được trước Chúa. Hilzonde bình tâm lại khi nghe ông nói. Vẫn buồn, nhưng nàng đã trở lại kiêu hãnh. Nhà họ Ligre, luôn hãnh diện về tài buôn bán và có cả một chiếc tàu vượt biển để làm việc đó, trở nên quen thuộc với Simon như nhà của chính ông. Người bạn của Hilzonde năm nào cũng quay lại đây, nàng chờ ông, và, tay trong tay, họ nói chuyện về nhà thờ với tư tưởng sẽ thay thế cho Nhà thờ.

Một tối mùa thu, có vài người lái buôn Ý mang đến cho họ một tin mới. Messer Alberico, được bầu là hồng y giáo chủ ở tuổi ba mươi, đã bị giết chết ở Rome trong một cuộc truy hoan tại nhà Farnese. Những bài vè đang rộ lên tố cáo thủ phạm vụ giết người này là hồng y giáo chủ Jules de Medicis, vì không bằng lòng với ảnh hưởng của người em họ tới tinh thần của Đức Cha Thần Thánh.

Simon chỉ nghe tin đồn thoát ra từ ổ nhớp nhúa La mã một cách khinh thường. Nhưng, một tuần sau, Henri-Juste nhận được một báo cáo khẳng định lời đồn trên. Vẻ bình tĩnh bên ngoài của Hilzonde không cho người ta đoán được trong lòng cô đang mừng hay đang khóc.

- Bà đã thành góa phụ rồi, Simon Adriansen nói ngay với vẻ trang trọng âu yếm mà ông không ngừng gửi tới nàng.

Ngược lại với tiên đoán của Henri-Justes, hôm sau ông lên đường.

Sáu tháng sau, như thường lệ, ông quay lại và hỏi anh nàng xin cưới nàng.

Henri-Justes dẫn ông vào phòng nơi Hilzonde đang ngồi làm việc. Ông ngồi xuống cạnh nàng. Ông nói với nàng:

- Chúa trời không cho ta quyền được làm cho tạo phẩm của người đau khổ.

Hilzonde ngừng thùa đăng ten. Đôi tay nàng vẫn trải dài trên chiếc kim, và những ngón tay dài run rẩy trên những họa tiết hoa lá chưa hoàn chỉnh làm người ta tưởng tượng ra những hình uốn lượn quyện vào nhau trong tương lai. Simon tiếp tục:

- Làm sao mà Chúa trời lại có thể cho ta quyền làm ta đau khổ?

Cô gái ngước nhìn ông với khuôn mặt một đứa trẻ bị ốm. Ông nói tiếp:

- Nàng không hạnh phúc trong ngôi nhà đầy tiếng cười này. Ngôi nhà của tôi hoàn toàn yên ắng. Hãy đến đó đi.

Nàng chấp thuận.

Henri-Justes xoa tay. Bà vợ yêu quý của ông Jacquelines, ông cưới ít lâu sau rủi ro của Hilzonde, thì ầm ĩ phàn nàn rằng mình bước vào gia đình này sau một con đĩ và một thằng con hoang một linh mục. Jean Bell, ông bố vợ giàu có người Tournais chuyên gia về cò kè mặc cả, tự cho phép mình vịn vào những lời phàn nàn ấy để khất lần việc trả hồi môn. Thực tế, dù rằng Hilzonde không để ý gì đến con mình, nhưng chỉ cái lúc lắc nhỏ dành cho đứa trẻ ngoài giá thú cũng gây chiến tranh giữa hai người đàn bà. Thiếu phụ tóc vàng Jacquelines từ bây giờ đã có thể thỏa sức tự làm sạt nghiệp bằng đống mũ trùm đầu và yếm dãi thêu thùa, và trong dịp lễ tết, cho thằng con to béo Henri-Maximilien thoải mái đứng lên khăn trải bàn, chân giẫm cả vào các đĩa thức ăn.

Dù ghét cay ghét đắng các thánh lễ nhà thờ, nhưng Simon vẫn đồng ý để hôn lễ được cử hành với đôi chút phù hoa, vì đó là ý muốn Hilzonde bất ngờ khăng khăng đòi. Nhưng buổi tối, khi đôi vợ chồng đã rút vào phòng tân hôn, ông bí mật thực hiện lại thánh lễ theo cách của mình, ông bẻ bánh và uống loại rượu vang mình thích. Trong vòng tay âu yếm của ông, Hilzonde sống trở lại, giống một con thuyền mắc cạn gặp nước triều dâng kéo đi. Nàng nhấm nháp không chút xấu hổ sự kỳ diệu từ lạc thú được phép, và tận hưởng cái cách người đàn ông, cúi xuống vai nàng, vuốt ve bộ ngực nàng, như thể làm tình là một cách thức ban phép lành.

Simon Adriansen nhận chăm lo cho Zénon. Nhưng đứa trẻ, khi bị Hilzonde đẩy đến khuôn mặt râu quai nón nhăn nheo, hột mụn cơm run rẩy trên đôi môi, nó kêu thét lên, chống cự và giận dữ giằng ra khỏi đôi tay mẹ, ra khỏi chiếc nhẫn làm xước cả tay nó. Nó chạy trốn. Buổi tối người ta tìm thấy nó đang trốn ở xưởng bánh mì cuối vườn, sẵn sàng cấu xé anh chàng người hầu đang vừa kéo nó ra vừa cười đằng sau một đống củi. Simon không còn hy vọng khuất phục được con sói con, phải giải quyết chuyện bằng cách đành để lại nó ở Flandre. Vả lại, rõ ràng là nếu đứa bé đi cùng họ thì Hilzonde không thể dứt ra khỏi buồn não.

Zénon lớn lên cho Nhà thờ. Nghiệp tăng lữ vẫn là con đường chắc chắn nhất đối với một con hoang để sống thoải mái và đạt tới danh vọng. Hơn nữa, bé Zénon khát khao hiểu biết; nếu bác nó khó chấp nhận khoản chi giấy bút và nến thắp thâu đêm, thì với linh mục tập sự việc đó lại được. Henri-Justes gửi gắm cậu cho ông em vợ, Bartholomé Campanus, linh mục phụ tá ở nhà thờ Saint-Donatien tại Bruges. Con người thông thái này, bị gầy mòn đi vì những bài kinh và vì đọc sách cao siêu, hiền lành đến nỗi trông như đã già. Ông dạy cậu học sinh của mình tiếng La tinh, chút ít tiếng Hy Lạp và giả kim thuật ông biết, và làm thỏa lòng tính hiếu kỳ của cậu đối với khoa học nhờ cuốn Lịch sử tự nhiên của Pline. Căn phòng lạnh lẽo của linh mục phụ tá là một chỗ ẩn nấp nơi cậu bé tránh tiếng ồn của những người giao hàng đang mặc cả giá len Anh, trốn sự khôn ngoan tầm thường của Henri-Justes, trốn những cái vuốt ve của bọn gái hầu phòng tò mò muốn nếm quả non tơ. Ở đó cậu thoát ra khỏi thân phận nô lệ và cái nghèo của tuổi thơ, những cuốn sách kia và thầy giáo của cậu đối đãi với cậu như người lớn. Cậu yêu quý căn phòng đầy những sách, cái bút lông ngỗng, lọ mực bằng sừng, công cụ của tri thức mới, và thích học hỏi để biết rằng hồng ngọc có ở Ấn Độ, rằng lưu huỳnh kết hợp với thủy ngân, và rằng loài hoa người ta gọi theo tiếng La tinh là lilium được gọi theo tiếng Hy Lạp là krinon và theo tiếng Do thái cổ là susannah. Cậu cũng nhận thấy ngay sau đó là sách cũng dông dài và nói dối như người vậy, và những lời rườm rà của linh mục phụ tá thường để giải thích những sự việc không cần phải giải thích.

Bè bạn của cậu toàn những người đáng ngờ: những người bạn thân nhất là anh chàng thợ cạo Jean Myers, một người khéo tay, rất giỏi về khoản trích máu và tầm vóc như tảng đá, nhưng người ta ngờ rằng hắn phẫu tích các xác chết, và một anh thợ dệt nào đó tên Colas Gheel, bê tha khoác lác. Cậu bỏ ra nhiều giờ lẽ ra để học hành hay cầu kinh ngồi cùng họ để phối hợp một cái ròng rọc với một cái tay quay. Colas Gheel to béo, vừa linh hoạt vừa nặng nề, thường tiêu pha không cần đếm số tiền anh ta không có. Những dịp hội chợ, anh ta thường bao cả lũ lau nhau học nghề, ra vẻ ta đây sống đế vương lắm. Con người với khối cơ bắp chắc nịch, tóc rễ tre hung đỏ và da vàng kia là một trong những bộ óc ảo tưởng và mạnh dạn lúc nào cũng trăn trở để chuẩn bị đồ nghề, sửa lại, đơn giản hóa, hay phức tạp hóa cái gì đó. Mỗi năm qua đi, lại có một loạt xưởng trong thành phố đóng cửa, và Henri-Justes, vừa vênh vang là vì kính Chúa nên vẫn cho mở xưởng, vừa tận dụng nạn thất nghiệp để xén gọt dần mức lương thợ. Công nhân của ông lúc nào cũng trong tình trạng sợ xưởng bị đóng cửa, mà tin đồn thì cứ dấy lên không dứt, họ thấy vẫn sung sướng còn có được chỗ kiếm cơm và hàng ngày vẫn đi làm theo tiếng chuông gọi. Họ nói chuyện với nhau giọng đầy thương tâm là sắp tới thôi họ sẽ làm tăng thêm quân số các băng đảng ăn mày, vào thời đắt đỏ này ăn mày tấn công các đường phố và đe dọa những người hữu sản. Colas mơ ước làm nhẹ bớt nỗi nặng nhọc và cảnh khốn quẫn này bằng cách sử dụng những máy dệt cơ khí như đó đây người ta đã thử và tuyệt đối giữ bí mật ở Ypres, ở Gand và ở Lyon tại Pháp. Anh ta đã trông thấy các bản vẽ và bàn luận với Zénon; cậu học trò sửa lại số liệu, hết mình xem xét những bản vẽ, cùng chia sẻ với Colas lòng nhiệt tình đối với những cỗ máy mới trong cơn hứng cảm chung. Đầu gối gấp lại, họ ngồi cúi xuống những đống sắt, không bao giờ biết mệt mỏi, họ cùng nhau treo một đối trọng, sửa một đòn bẩy, dựng và tháo những bánh xe khớp nhau; họ bàn luận mãi không thôi quanh việc để cái bu-loong này ở chỗ nào hay bôi trơn một bộ phận trượt ra sao. Sự hiểu biết về kỹ thuật của Zénon vượt rất xa cái đầu chậm chạp của Colas Gheel, nhưng đôi tay dày dặn của anh chàng thợ thủ công khéo léo làm học trò của linh mục phụ tá phải thán phục, lần đầu tiên cậu thí nghiệm với những đồ vật khác ngoài sách vở.

- Prachtig werk, mijn zoon, prachtig werk[9], anh thợ cả nói ì ạch, cánh tay dài của anh ôm lấy cổ cậu học trò.

Buổi tối, sau khi học xong, Zénon lén lút đến gặp kẻ đồng lõa, ném một nắm sỏi làm ám hiệu vào tủ kính quán rượu nơi ông chủ xưởng thường ngồi kề cà lâu hơn lý trí của ông. Hoặc chúng hầu như lén lút luồn vào góc kho vắng người nơi Colas ở cùng với đống máy móc của anh. Căn phòng to lớn chìm trong bóng tối; do sợ hỏa hoạn nên nến được cắm giữa một chậu nước đặt lên bàn, như ngọn hải đăng nhỏ trên tiểu đại dương. Chàng học nghề Thomas quê ở Dixmude, làm quản gia cho ông chủ xưởng, nhảy như mèo trên những khung gỗ lung lay, và đi trong đêm đen trên mái ngói, lấy thăng bằng cách một tay cầm đèn lồng hay vại bia. Thấy thế Colas cười to. Ngồi trên một tấm ván, mắt đảo quanh, anh ta nghe Zénon nói ba lăng nhăng từ chuyện các nguyên tử của Epicure đến nhân đôi các hình lập phương, từ bản chất của vàng đến cái ngu dốt của những chứng cứ chứng tỏ sự tồn tại của Chúa trời, và một tiếng huýt sáo nhỏ ngưỡng mộ thoát ra từ môi anh ta. Cậu học sinh tìm thấy giữa đám người mặc áo đua ngựa bằng da thuộc những gì con trai một lãnh chúa tìm thấy ở những người coi ngựa và coi chó săn: một thế giới khắc nghiệt hơn nhưng cũng tự do hơn thế giới của cậu, vì cậu chuyển động xuống thấp hơn, xa rời khỏi những giới luật, xa rời khỏi những tam đoạn luận, luân phiên giữa công việc nặng nhọc và sự lười biếng dễ dãi, mùi vị và hơi nóng con người, ngôn ngữ toàn những lời chửi rủa, nói bóng gió hay các tục ngữ, cũng bí mật như lối nói chuyện của thợ thuyền, trong thế giới ấy người ta không chỉ cúi đầu xuống trang sách với cây bút trên tay.

Cậu học trò mưu toan áp dụng những gì thu được từ hiệu thuốc và xưởng cơ khí để bác bỏ hay khẳng định những điều mà trường học nói như đinh đóng cột là đúng hay sai: Platon một bên, Aristote bên kia, cậu coi họ đơn giản như những lái buôn đứng đó trong khi người ta kiểm tra lại khối lượng các món hàng. Tite-Live chỉ là một tay khoác lác; César, dù rất tuyệt vời, thì cũng chết rồi. Từ những nhân vật của Plutarque, mà tinh hoa của họ cùng với dòng sữa Nhà thờ thiên chúa giáo đã nuôi dưỡng linh mục phụ tá Bartholommé Campanus, cậu bé chỉ rút ra được một điều, và điều đó là tinh thần và xác thịt táo bạo của họ đưa họ đi xa và lên cao ngang với việc sống đạm bạc và nhịn bữa sáng, vì những thứ đó dẫn con chiên ngoan đạo lên thiên đường như người ta nói. Đối với linh mục phụ tá; tri thức thiêng liêng và cô em trần tục, hai thứ ấy hậu thuẫn cho nhau: ngày ông nghe Zénon cười giễu những giấc mơ sùng kính trong Giấc mơ của Scipion, ông hiểu rằng cậu học trò của ông đã thầm chối bỏ sự an ủi của Chúa.

Tuy vậy, Zénon vẫn vào Trường Thần học Louvain. Sự hung hăng của cậu làm mọi người ngạc nhiên; người trò mới có thể ngay lập tức bảo vệ bất kỳ luận điểm nào, các bạn đồng môn đặc biệt bái phục cậu. Cuộc sống của các cậu tú quả là rộng rãi và vui vẻ; họ hay được mời dự tiệc, song trong những bữa chén ấy cậu chỉ uống độc có nước trắng; và các cô gái điếm làm vui lòng cậu như làm một người khó tính vui lòng dùng món thịt ôi. Người ta đồng tình rằng cậu đẹp trai, nhưng giọng nói nhát gừng của cậu làm người ta sợ; ánh lửa từ đồng tử tối của cậu làm tất thảy mọi người đều bị hấp dẫn và không thích. Người ta truyền tai nhau những đồn đại thổi phồng về sự ra đời của cậu, và cậu không phản bác lại. Các môn đồ của Nicolas Flamel[10] nhanh chóng nhận ra trong cậu học trò lạnh lẽo suốt ngày ngồi đọc dưới vòm lò sưởi dấu hiệu say mê giả kim thuật: một xã hội nhỏ gồm những trí tuệ ham săn tìm và không bao giờ thỏa lòng so với người khác đã mở rộng hàng ngũ để đón nhận cậu. Trước khi kết thúc năm học, cậu đã kịp rẻ rúng nhìn các vị tiến sĩ trong áo chùng lông đang gập mình xuống đĩa đầy thức ăn trong nhà ăn, vẻ tự hào về khối tri thức dày và có giá mà họ có; nhìn đám học sinh ồn ĩ và cục mịch nhăm nhe học hành đến mức đủ đạt được một chức vụ nhàn rồi, những con người cùng khổ mà trí tuệ có thăng hoa chỉ là do máu trai trẻ hối thúc, và rồi sẽ qua đi cùng với tuổi xuân. Dần dần, sự khinh thường lan ra ngay cả với nhóm bạn theo đuổi khoa học huyền bí, tâm hồn họ trống rỗng, họ nhồi nhét vào đầu những từ họ không hiểu và ợ chúng ra như những công thức. Cậu đánh giá một cách chua chát rằng không ai trong số những người lúc đầu cậu tin phục ấy vượt lên cậu hay đi xa bằng cậu về tư tưởng và về hành động.

Zénon sống ở tầng trên cùng một ngôi nhà do một linh mục coi sóc; trên cầu thang treo tấm biển ghi rõ tất cả những người sống ở đó phải họp lại cầu kinh sau bữa tối, và tuyên bố những ai dẫn gái điếm về phải nộp phạt, vả lại như thế sẽ đỡ khoản dọn nhà tiêu. Nhưng mùi hôi thối, bồ hóng lò sưởi, giọng nói chua ngoa của bà quét dọn, tường bị đám người trọ trước đây khắc lỗ chỗ những câu La tinh hài hước hay những hình vẽ tục tĩu, ruồi nhặng đậu xuống giấy tờ, đều không làm cho tâm hồn cậu lo bận, với cậu mỗi đồ vật trên thế giới đều là một hiện tượng hay một dấu hiệu. Trong căn gác xép ấy cậu tú đã trải qua nào nghi ngờ, nào thử nghiệm, nào chiến thắng nào chiến bại, nào những giọt nước mắt điên cuồng, nào những niềm vui sướng của tuổi trẻ mà khi đứng tuổi người ta không được nếm hay không quan tâm, mà bản thân cậu sau đó chỉ giữ chúng như một kỷ niệm được xếp vào quên lãng. Cậu bị cuốn hút hơn cả vào những cảm giác đam mê xa lạ nhất với những gì phần lớn mọi người xác nhận hay thú nhận, những đam mê bắt người ta phải bí mật, thường phải nói dối, đôi khi phải đối mặt với thử thách. Chàng David phải đương đầu với Goliath trường học tưởng đã tìm được Jonathan của mình ở một người bạn đồng học biếng nhác tóc vàng, anh này đã nhanh chóng tránh xa, bỏ rơi cậu bạn nóng nảy để đến với những đồng bọn biết thưởng thức rượu vang hơn và chơi xúc xắc giỏi hơn. Vẫn tiếp xúc và hiện diện với bạn, song ngoài quan hệ ngầm ấy không còn gì khác, nó bị giấu kỹ như ruột và máu; quan hệ ấy chấm dứt chỉ có một tác động là càng làm Zénon chú tâm vào học tập. Một người khác cũng có tóc vàng, đó là cô thợ thêu Jeannette Fauconnier, một cô gái kỳ quặc, táo tợn như một thị đồng, quen thấy sau váy mình một đoàn sinh viên. Một tối nọ anh chàng tu sĩ tán cô cả buổi bằng những câu vừa chế giễu vừa lăng nhục. Zénon huênh hoang nói nếu muốn cậu sẽ được cô để ý trong chưa đầy khoảng thời gian phi nước kiệu nhanh nhất từ Halles đến nhà thờ Saint Pierre, thế là một cuộc ẩu đả nổ ra ngay sau đó và nhanh chóng ngã ngũ, người đẹp Jeannette, vì muốn tỏ ra cao thượng, nên đồng ý trao cho người xúc phạm mình lúc này đã bị thương một nụ hôn từ chính miệng nàng, tức là từ cửa lớn của tâm hồn theo lối nói lóng thời đó. Cuối cùng, đến gần Noel, khi Zénon chỉ còn nhớ kỷ niệm lần ra tay ấy do vết sẹo dài giữa mặt, thì cô gái lần đến phòng cậu trong một đêm trăng, không tiếng động cô leo lên cầu thang ọp ẹp và lẻn vào giường cậu. Zénon ngạc nhiên trước cái thân xác uốn éo và trơn nhẵn, khéo léo dẫn dắt trò chơi, với cổ họng bồ câu, rúc rích thì thầm, với tiếng cười khúc khích khẽ khàng để không làm bà chủ nhà thức giấc trong căn gác xép bên cạnh. Cậu chỉ thấy niềm vui xen lẫn với sự sợ hãi của một kẻ đang bơi trong dòng nước mát và lạ. Trong vài ngày, người ta thấy cậu đi dạo một cách ngạo mạn bên cô gái ngơ ngẩn, thách thức lời khiển trách chán ngắt của ông Hiệu trưởng; có vẻ như nàng tiên cá ranh mãnh và khó nắm bắt này đã truyền cho cậu sự say sưa nhục dục. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một tuần sau, cậu đã hoàn toàn rúc vào đống sách. Người ta trách cậu đã bỏ rơi cô gái ấy nhanh chóng đến thế, mà vì cô cậu đã làm tổn hại, đúng thật là không một chút lo lắng, tới danh dự tu sĩ đầy tiếng tăm: và sự khinh mạt của cậu đối với phụ nữ làm người ta nghi cậu có quan hệ với lũ yêu tinh ma quỷ.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Ý có nghĩa Ngài

[2] Michelangelo Buonarroti nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư, kỹ sư và nhà thơ Ý.

[3] Một liên minh giữa giáo hoàng Jules II, Hoàng đế Maximilien I, Louis XII và Ferdinand d’Aragon chống lại người Venis.

[4] Người tiền nhiệm và cha của Charles Quint

[5] Marsile de Padoue: nhà thần học và chính trị học người Ý cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV.

[6] Diễm tình ca (Cantique des cantiques): sách kinh thánh, gồm các bài tình ca tượng trưng cho sự hợp nhất của Chúa và con chiên của Người.

[7] Thánh Pierre được coi là giáo hoàng đầu tiên.

[8] Giáo phái rửa tội lại ra đời vào khoảng năm 1521, với tư tưởng chỉ thực hành theo Kinh Phúc âm. Giáo phái này phủ nhận các giá trị của lễ rửa tôi thông thường và cho rằng con người cần được rửa tội lần thứ hai khi đến tuổi trưởng thành.

[9] Tiếng Ba Lan: thực hành đi, chú mày ạ, thực hành đi.

[10] Nhân vật sống cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, được coi là nhà giả kim thuật đã tìm ra vàng vì rất giàu có.

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.