Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc Trò Chuyện Tại Innsbruck
Cuộc Trò Chuyện Tại Innsbruck

❊ ❊ ❊

Henri-Maximilien nhìn mưa rơi xuống Innsbruck.

Hoàng đế đang ở đây kiểm soát diễn biến Hội nghị các Tổng Giám mục ở Trente [1], như trong mọi hội nghị người ta bàn cãi để đưa ra một quyết định, hội nghị này có nguy cơ kết thúc mà chẳng đi đến kết quả gì. Nói chuyện với đám hầu cận Hoàng đế thì câu trước câu sau là trở về với chuyện tín lý với kỷ luật giáo hội; đi săn trên sườn núi ngập bùn không phải trò hấp dẫn Người đã quen đuổi hươu ở những cánh đồng màu mỡ xứ Lombardie; và đại úy, vừa nhìn mưa ngu ngốc chảy không ngừng trên ô kính, vừa cho mình cái thú bí mật chửi thầm bằng tiếng Ý.

Anh ngáp hai mươi tư giờ trong một ngày. Với chàng Flamand này César Charles quang vinh là một người mắc chứng điên thể ảo não, còn kiểu cách khoa trương Tây Ban Nha làm anh liên tưởng đến một trong số những bộ áo giáp cồng kềnh nhẵn thín, đi duyệt binh khoác vào chảy mồ hôi, mọi chiến binh lọc lõi thà đổi nó lấy bộ da trâu. Theo đuổi nghề cầm súng, Henri-Maximilien không chờ đợi những lúc ngồi buồn, và anh sống qua quãng thời gian chết bằng cách lầm bầm rủa cho cái sự hòa bình rỗng mọt kia sẽ nhường chỗ cho chiến tranh. May sao, những bữa ăn hoàng gia tràn ngập những nào là gà mái tơ béo tốt, hoẵng rôti và patê lươn; anh chàng chén khủng khiếp, để giải trí.

Một tối ngồi trong quán rượu, đang loay hoay đưa bộ ngực nõn nà của Vanina Cami, cô bạn tình người Napoli vào một bài xonnê, anh chàng suýt vấp phải mũi kiếm một tên Hunggary, anh liền tìm cách kiếm chuyện với hắn như một người Đức thực thụ. Những cuộc cãi vã kết thúc bằng gươm kiểu này là một phần con người anh; vả lại nó cũng cần thiết cho anh, vì khí chất anh nó thế, như một gã thợ thủ công hay một lão nông dân cục tính cần ẩu đả. Nhưng lần này cuộc đấu tay đôi bắt đầu bằng những lời sỉ nhục tiếng La tinh giả cầy nhanh chóng kết thúc; tên người Hungary chỉ là một gã hèn nhát chạy đến trốn sau bà chủ nhà đẫy đà; tất cả chấm dứt bằng tiếng khóc phụ nữ và tiếng bát đĩa vỡ, và anh chàng đại úy chán ngán ngồi xuống để cố gắng gọt giũa nốt mấy khổ thơ bốn câu và ba câu.

Nhưng hứng gieo vần trong anh đã qua rồi. Một vết đứt ở má làm anh đau, dù anh không muốn nhận như thế; chiếc khăn mùi soa buộc lên đầu nhanh chóng thấm máu làm anh có cái vẻ lố bịch như người bị chứng sung huyết. Ngồi vào bàn với đĩa ragu rắc tiêu, nhưng anh chẳng còn bụng dạ nào mà ăn.

- Ông phải đến gặp bác sĩ thôi - ông chủ quán nói.

Henri-Maximilien trả lời là tất cả những thằng bác sĩ đều đáng được đóng cho một bộ yên thồ.

- Tôi biết một ông khéo lắm - ông chủ nhà trọ nói - Nhưng ông ta kỳ cục và không muốn chữa cho ai đâu.

- Thế là tôi gặp may đấy - đại úy nói.

Trời vẫn mưa. Ông chủ quán rượu đứng ở ngưỡng cửa nhìn nước mưa từ máng nước xối xuống đất. Bỗng nhiên:

- Vừa nói đến chó sói thì chó sói đến - ông nói.

Một người đàn ông mảnh khảnh mặc áo húp lăng, hơi khòng người dưới chiếc áo choàng dài màu nâu, đang vội vã đi dọc theo dòng nước. Henri-Maximilien kêu lên:

- Zénon!

 Người đàn ông quay lại. Hai người chằm chằm nhìn nhau qua phía trên đống bánh và gà làm sẵn xếp có ngọn trên quầy hiệu. Henri-Maximilien dường như đọc được từ bộ dạng Zénon sự lo lắng giống như sợ hãi. Nhận ra đại úy, nhà giả kim thuật bình tâm lại. Anh bước một chân vào phòng dưới:

- Cậu bị thương ư?

- Như anh thấy đấy,- người kia nói. - Vì anh vẫn còn chưa lên thiên đường của các nhà giả kim thuật, bố thí cho tôi ít giẻ với một giọt nước chữa thương đi, nếu anh không có nước hồi xuân.

Câu nói đùa của anh đượm chua chát. Anh khổ tâm một cách lạ thường khi thấy Zénon già đi nhiều quá.

- Tôi không chữa cho ai nữa - thầy thuốc nói.

Nhưng anh nhanh chóng xua đi ngờ vực. Anh vào phòng, tay giữ cánh cửa vì gió thổi làm nó cứ đập lạch cạch.

- Tôi xin lỗi, anh họ Henri - anh nói. - Tôi thích được nhìn lại khuôn mặt điển trai của cậu. Nhưng tôi buộc phải đề phòng những kẻ quấy rầy.

- Ai mà không có kẻ quấy rầy? - Đại úy nói, nghĩ đến các chủ nợ.

- Về nhà tôi đi - giả kim thuật gia nói sau một thoáng ngần ngừ.- Ở đó ta sẽ thoải mái hơn trong quán rượu này.

Họ cùng nhau đi ra. Mưa giật từng hồi. Đó là một thời tiết mà gió và nước nổi loạn dường như biến thế giới thành cõi đại hỗn mang buồn bã. Đại úy thấy nhà giả kim thuật có vẻ lo lắng và mệt mỏi. Zénon đưa vai đẩy cửa một ngôi nhà mái thấp.

- Ông chủ quán trọ của anh cho tôi thuê cái lò rèn bỏ hoang này với giá cắt cổ, tôi ở đây tàm tạm tránh được những kẻ tò mò. Chính ông ta mới là người làm ra vàng.

Căn phòng lờ mờ sáng nhờ ngọn lửa dè sẻn có ánh sáng đo đỏ, trên đó có chiếc nồi đất chịu lửa đang đun thứ gì đó. Cái đe và đôi gọng kìm của ông thợ bịt móng ngựa trước sống ở đây khiến căn phòng tối có vẻ như nơi tra tấn. Một cầu thang đi lên tầng trên, chắc đó là chỗ ngủ của Zénon. Một cậu bé phụ việc tóc hoe đỏ, mũi ngắn, đang ra vẻ như bận làm cái gì đó ở góc phòng. Zénon cho cậu về, dặn cậu đi mua thứ gì đó cho họ uống. Rồi anh đi tìm vải. Băng bó cho Henri-Maximilien xong, nhà giả kim thuật hỏi:

- Cậu làm gì ở thành phố này?

- Tôi làm gián điệp - đại úy trả lời một cách thẳng ruột ngựa. Ngài Estrosse giao cho tôi nhiệm vụ bí mật tìm hiểu nội vụ Toscane [2]; sự thể là ông ra đang dòm ngó Sienne, không đành lòng phải xa Florence, và muốn chiếm lại đất đã mất vào một ngày nào đó. Tôi được giao việc lui tới các phòng tắm, phòng xông hay phòng đắp thuốc mù tạt Đức, và tôi ở đây để tìm cách lấy lòng Sứ thần tòa thánh, ngài này quá mến mộ nhà Farnese nên chẳng ưa gì nhà Medicis [3], bản thân ngài lại tìm cách lấy lòng César mà lòng không tin tưởng. Chơi trò ấy khác nào chơi bài tây.

- Tôi có biết Sứ thần tòa thánh - Zénon nói - tôi phần nào là bác sĩ riêng, phần nào làm thầy dùi cho ngài; tôi chỉ nói một câu là ngài sẵn sàng ném bạc vào lò lửa của tôi. Cậu có thấy rằng những người nào mặt giống mặt dê thì người cũng giống loài dê đực, và con quái vật đầu sư tử thân dê đuôi rồng thời cổ đại không? Ngài này cũng tập tọng vài vần thơ ba lơn, và cưng chiều mấy anh thị đồng quá quắt lắm. Tôi mà có tài thì làm người dắt mối cho ngài cũng đủ kiếm.

- Thì tôi làm cái gì ở đây nếu không phải là kẻ dắt mối? - Đại úy nói - Và thiên hạ cũng thế cả thôi; có kẻ dẫn gái hay đại loại thế, có người thì dẫn Công lý, người dẫn Chúa. Đâm ra trung thực nhất lại là kẻ bán da thịt chứ không bán chuyện hão huyền. Nhưng tôi chẳng coi các mục tiêu trong vụ thương lượng vặt của mình là nghiêm chỉnh gì lắm, những thành phố này bị bán đi bán lại có đến chục lần, những lòng trung tín bị nhiễm bệnh giang mai, những cơ hội thối rữa. Bọn mánh khóe chắc đút đầy túi nhờ những vụ như thế này, tôi thì chỉ kiếm đủ tiền ngựa với tiền trọ. Chúng ta rồi sẽ chết nghèo.

- Amen - Zénon nói. - Cậu ngồi xuống đi.

Henri-Maximilien vẫn đứng bên ngọn lửa; hơi nước từ quần áo bốc lên. Zénon ngồi xuống đe, để thõng tay giữa hai đầu gối - nhìn than cháy.

- Zénon, anh vẫn luôn là người đồng hành với lửa - Henri-Maximilien nói.

Thằng nhóc tóc hoe mang rượu về và huýt sáo đi ra. Đại úy rót rượu uống, nói tiếp:

- Anh còn nhớ những mối e ngại của linh mục phụ tá nhà thờ Saint-Donatien không? Cuốn Dự đoán những điều tương lại của anh chắc xác nhận cái nỗi lo sợ u ám nhất của chú ấy; cuốn sách nhỏ của anh về bản chất của máu, tôi chưa hề đọc, chắc với chú ấy nó xứng đáng với một người thợ cạo hơn là một triết gia; còn quyển Bàn về thế giới vật lý thì đến làm chú ấy phát khóc. Chú sẽ trừ tà cho anh đến nơi đến chốn nếu chẳng may anh có quay trở lại Bruges.

- Còn có thể tệ hơn ấy chứ- Zénon nhăn mặt, nói - Thế mà tôi đã cố dùng mọi cách nói quanh co phù hợp che chắn cho tư tưởng của tôi rồi. Chỗ thì tôi viết hoa, chỗ khác thì đưa vào một danh xưng; thậm chí tôi đã đành lòng nhồi thêm vào câu cú một lệ bộ những Danh từ với Tính từ. Những câu chữ dài dòng vô nghĩa ấy cũng như quần áo ta mặc, nó bảo vệ người mặc, nhưng không ngăn trở anh ta yên tâm trần truồng trong đó.

- Nó có cản trở chứ,- con người tự lập thân theo đường binh nghiệp nói. - Cứ nhìn thấy tượng Apollon trong vườn Giáo hoàng là tôi lại thèm, từ lúc được bà mẹ Latone cho ra đời đến giờ anh ta có bao giờ phải mặc quần áo. Ta chỉ thấy thoải mái khi ta tự do, và che giấu ý kiến còn khó chịu hơn là phải che đậy con người mình lại.

- Đó là xảo thuật chiến tranh, đại úy ơi! - Zénon nói. - Những người như tôi sống trong đó như các chiến hữu của anh ở trong hầm hào. Rốt cuộc ta đâm ra hành diện vì một điều ám chỉ nó làm thay đổi tất cả, như dấu âm kín đáo đặt trước một tổng số; ta tìm mọi cách biến báo để đôi ba chỗ xuất hiện một từ liều lĩnh, như cái nháy mắt, như ta vén lá nho lên, hay như ta hạ mặt nạ xuống, rồi lại đeo lên ngay như không có chuyện gì xảy ra. Người đọc cũng có nhiều loại: những thằng ngốc tin ta, những thằng khác, cho rằng ta ngốc hơn chúng, không đọc ta nữa; số còn lại thì loay hoay trong cái mê cung của ta, tìm đường nhảy qua hay vòng tránh những lời nói dối cố tình được viết ra để cản trở người ta hiểu. Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu thiên hạ không tìm thấy những mẹo tương tự thậm chí trong những cuốn sách thánh thiện nhất. Nếu đọc như thế, thì sách nào cũng là sách phù thủy mà thôi.

- Anh quá phóng đại thói giả đạo đức của loài người,- đại úy nhún vai nói. -Phần lớn con người ta nghĩ quá ít nên không nghĩ hai mặt được đâu.

Đại úy rót đầy cốc, trầm tư nói thêm:

- Dù lạ lùng đến mấy, lúc này César Charles vinh quang đang tin rằng ông ta muốn hòa bình, cả Hoàng thượng dốc lòng tín Chúa Cơ đốc cũng thế.

- Nhầm lẫn, và dối trá kẻ đồng hành với nó là gì nếu không phải Caput Mortuum, một loại chất trơ mà nếu không có nó thì sự thật quá vi diệu không thể nhồi quyện vào chất nhão loài người… Những kẻ lý luận tầm thường ấy thấy ai giống họ thì tán tụng người ta lên tận mây xanh, còn ai mà trái ngược thì bị họ phẫn nộ phản đối; nhưng nếu suy nghĩ của chúng ta hoàn toàn khác, họ sẽ không hiểu; họ sẽ không để ý đến nữa, giống như một con vật hay cà khịa sẽ không để ý đến vật lạ ngay trong chuồng dưới chân nó mà nó không ăn hay cấu xé gì được. Như thế chúng ta sẽ làm cho mình không bị nhận ra.

- Aegri somnia [4],- đại úy nói. - Tôi không hiểu anh nữa.

- Tôi có phải là Servet không,- Zénon nói tiếp vẻ hoang dại,- để đi ngu ngốc chuốc họa thiêu sinh trên quảng trường chỉ vì đưa ra một kiến giải như thế nào đó cho một học thuyết, trong khi tôi còn dang dở với công trình nghiên cứu tâm thu và tâm trương, với tôi nghiên cứu này quan trọng hơn nhiều? Nếu tôi nói là ba bằng một hay thế giới được cứu rỗi ở Palestine, thì tôi cũng có thể gán một ý nghĩa ngầm bên trong những lời đó, ngoài nghĩa bên ngoài chứ, và như vậy tôi còn tránh được cả cái sự phải nói dối? Có những hồng y giáo chủ (tôi có biết họ) đã làm như thế, và đó là cái các tiến sĩ được coi như đang đội vòng hào quang trên thiên đường cũng làm. Như mọi người khác tôi cũng viết bốn chữ thiêng liêng, nhưng tôi sẽ đặt nghĩa gì vào chữ đó? Tất cả, hay Tạo hóa? Cái Tồn tại, hay cái không tồn tại, hay cái Tồn tại mà không tồn tại, như sự trống rỗng và màu đen trong đêm tối? Vì thế giữa Có và Không, giữa Tán thành và Phản đối, có những không gian ngầm rộng lớn mà kẻ bị đe dọa nhất giữa loài người vẫn có thể sống yên bình.

- Những kẻ kiểm duyệt anh không ngu đến thế đâu,- Henri-Maximilien nói. Mấy ngài ở Bâle [5] và Tòa thánh ở Rome đủ hiểu anh để kết tội anh. Trong mắt họ anh chỉ là một kẻ vô thần.

- Những gì không giống họ là họ thấy chống lại họ rồi,- Zénon nói chua chát.

Và, rót đầy cốc, đến lượt anh uống cạn chất rượu vang chua của Đức.

- Ơn Chúa,- đại úy nói. - Bọn vờ vịt sùng đạo các loại sẽ không thọc mũi vào mấy vần thơ tình lặt vặt của tôi. Trước nay tôi chỉ chịu vài nguy hiểm sơ sơ: bị thương khi đánh trận, sốt ở ý, bệnh giang mai lây từ mấy ả điếm, chấy rận ở nhà trọ và chủ nợ khắp nơi. Tôi không dây dưa với lũ vô lại đội mũ trùm hay mũ chỏm đầu [6], cạo hay không cạo chỏm đầu [7], cũng như chẳng bao giờ tôi đi đuổi nhím. Thậm chí tôi cũng chẳng buồn cự lại thằng ngu Robortello d’Udine, hắn tưởng bới ra được lỗi trong bản dịch thơ Anacreon [8] của tôi, trong khi tiếng Hy Lạp của hắn chỉ ở mức tập tọng, mà tất cả các thứ tiếng khác cũng thế. Tôi yêu thích khoa học như mọi người khác, nhưng chuyện máu chảy lên hay chảy xuống trong động mạch không làm tôi nóng gáy; tôi chỉ cần biết là máu lạnh đi khi con người ta chết. Và nếu trái đất có quay thì…

- Đúng là trái đất quay đấy,- Zénon nói.

- Nếu nó có quay, tôi chả lo lắng xem lúc này tôi đang giẫm lên cái gì, càng ít lo hơn khi tôi nằm trên đó. Về đức tin mà nói, tôi sẽ tin những gì Hội đồng quyết định, nếu như Hội đồng quyết định cái gì đó, cũng như là tôi sẽ ăn thứ mà ông chủ quán xào nấu tối nay. Bởi Chúa của tôi và thời đại của tôi đến, tôi chấp nhận, dù thâm tâm tôi vẫn thích giá như được sống ở thế kỷ mà người ta ngưỡng mộ Thần Vệ nữ. Và lúc chết nếu như lòng tôi mách bảo thì tôi cũng chẳng ngăn mình hướng về Đức Chúa Jésus Cứu thế.

- Anh giống người sẵn sàng đồng tình rằng trong túp lều tồi tàn bên cạnh có một cái bàn và hai cái ghế băng, vì chả có gì quan trọng với anh ta.

- Zénon ơi,- đại úy nói,- tôi thấy anh gầy gò, mệt mỏi, mặt mày nhớn nhác, mặc chiếc áo đến thằng hầu của tôi cũng không thèm. Liệu có đáng gắng gỏi hai mươi năm trời để đi tới chỗ nghi ngờ, mà nghi ngờ thì tự nó cứ nảy ra trong tất cả những cái đầu có suy nghĩ?

- Đúng thế,- Zénon nói. -Nghi ngờ và đức tin của anh như bong bóng khí, chúng nổi lên trên bề mặt, nhưng sự thật, nó lắng xuống trong ta như muối lắng dưới bình cổ cong nếu ta tình cờ tách chiết, ta không thể giải thích hay diễn tả nó, vì nó quá nóng hoặc quá lạnh đối với môi người, quá tế nhị để có thể xuất hiện dưới ngòi bút, và còn quý hơn tất cả những gì ta viết.

- Quý hơn cả cái Tên Tôn nghiêm ấy ư?

- Phải,- Zénon nói.

Anh hạ giọng mà không biết. Lúc đó có một tu sĩ hành khất gõ cửa, hắn bỏ đi sau khi được Henri-Maximilien hào phóng cho vài xu. Henri-Maximilien quay vào ngồi bên ngọn lửa; anh ta cũng nhỏ giọng nói.

- Vậy anh kể tôi nghe anh đã đi những đâu đi,- anh ta thì thầm.

- Có gì mà kể? Triết gia nói. Người ta cứ khuyếch trương những điều kỳ bí ở Phương Đông; kỳ thực chúng không có đâu, còn anh đâu có bận tâm nghe những chuyện hậu cung các Hoàng đế, chuyện đó chỉ dành cho bọn hiếu kỳ. Tôi nhanh chóng hiểu ra rằng những sự khác biệt về khí hậu như người ta cứ quan trọng hóa chẳng thấm vào đâu so với việc ở đó con người cũng có hai chân, hai tay, dương vật, một bụng, một mồm và hai mắt. Người ta cho rằng tôi đi những đâu những đâu trong khi tôi chẳng đi, nhưng tôi cũng cho mình mượn những chuyến ngao du ấy, đó là cái mẹo, như thế tôi có thể bình thản ở nơi khác với nơi người ta tưởng tôi ở đó. Thời kỳ người ta đoán tôi ở Tartarie thì thực ra tôi đang yên ổn thực nghiệm ở Cầu Saint-Esprit tại Languedoc. Nhưng để tôi kể thời trước đó: tôi đến Leon được ít lâu thì tu viện trưởng, người bảo trợ tôi, bị đám tu sĩ đuổi khỏi tu viện, họ tố cáo ông ta bị do thái hóa. Đúng là đầu óc già nua của ông ta chứa đầy những công thức lạ lùng lấy từ Zohan[9] về sự tương ứng giữa các kim loại, về những tầng trời và các tinh tú. Ở Louvain tôi biết coi thường lối phúng dụ, tôi chán ngấy với những bài tập trong đó người ta biểu trưng hóa một sự việc, rồi sẵn sàng xây dựng lý thuyết trên những biểu trưng ấy như thể chúng chính là sự việc. Tuy vậy nhưng không có ai là điên hoàn toàn. Tu viện trưởng của tôi trong khi ninh đi ninh lại mấy cái bình cổ cong có phát hiện ra vài bí mật thực nghiệm, và tôi thừa hưởng chúng. Tiếp đến ở Montpellier hầu như tôi không học thêm được gì: Galien đối với bọn họ được coi như thần tượng và người ta hy sinh tự nhiên vì thần tượng đó; khi tôi công kích một số khái niệm do Galien viết ra mà Jean Myer thợ cạo đã biết rằng chúng được dựa trên giải phẫu khỉ chứ không phải người, mấy ông bạn bác học vẫn muốn tin rằng gai cột sống là do Chúa Cơ đốc biến đổi chứ không phải là lời phán của họ có phần dễ dãi hay nhầm lẫn.

- Tuy nhiên ở đó cũng có vài bộ óc táo bạo… Chúng tôi thiếu xác, vì thành kiến vẫn luôn phản đối dữ lắm. Bác sĩ Rondelet, người cũng béo lùn hài hước như tên, có con trai chết vì sốt ban đỏ, cậu ấy là sinh viên mới hai mươi hai tuổi, tôi thường cùng cậu ta đi Grau-du-Roi sưu tập cây cỏ. Hôm sau trong căn phòng tưới đẫm dấm chúng tôi mổ xác, cậu ta không còn là con hay bạn nữa, mà chỉ là một vật mẫu về bộ máy con người. Hôm đó lần đầu tiên trong đời tôi hình dung ra rằng cơ khí và thuật luyện kim chỉ ứng dụng trong nghiên cứu vũ trụ những chân lý mà cơ thể chúng ta mách bảo, chính cơ thể ta đã phản ánh cấu trúc của Tổng thể thiên nhiên. Cả cuộc đời bỏ ra cũng đáng để so sánh hai thế giới này, thế giới nơi chúng ta sống và thế giới trong con người chúng ta. Phổi là quạt thổi cho ngọn lửa trong lò cháy đều, dương vật là vũ khí phóng, ở những khúc uốn của cơ thể, máu là nước trong kênh dẫn vào những khu vườn phương Đông, trái tim, tùy theo quan niệm mỗi người, là cái bơm hoặc là lò lửa, còn bộ óc là nồi chưng cất tâm hồn…

- Thế thì chúng ta rơi trở lại vào lối nói phúng dụ rồi, đại úy nói. Nói như thế chẳng hóa ra cơ thể là sự thật chắc chắn nhất trong các sự thật.

- Cũng không hẳn,- Zénon nói. - Đôi khi tôi có cảm giác cơ thể, vương quốc của chúng ta, được cấu tạo từ một tổ chức lỏng lẻo và thoáng qua như một cái bóng. Nếu thấy mẹ tôi từ cõi chết sống lại thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên hơn là gặp lại khuôn mặt anh, đã già đi, ở một góc phố nào đấy, miệng còn biết gọi tên tôi, nhưng các tế bào thì đã hơn một lần được tái tạo hoàn toàn trong hai mươi năm qua, thần sắc gương mặt đã phai đi còn dung mạo cũng đã biến dạng với thời gian. Bao nhiêu cây lúa mì đã mọc lên, bao nhiêu gia súc đã sinh ra và chết đi để nuôi dưỡng chàng Henri này; anh ta vẫn là mà cũng không là con người tôi từng biết hai mươi năm trước nữa. Nhưng để tôi kể nốt câu chuyện tôi lang thang những đâu… Cầu Saint-Esprit không phải là đất lành, ở đó người ta kín đáo rình rập theo dõi ông thầy thuốc mới từng hành động cho đến từng động tác, rồi Đức Hồng y, chỗ dựa của tôi, bỏ Avignon về Rome… May mắn thế nào mà tôi lại gặp một gã bội giáo buôn ngựa từ Alger bán cho vua nước Pháp: gã trung thực vi phạm luật lệ này bị gãy chân ở chỗ chỉ cách nhà tôi hai bước, và để đổi lấy công chăm sóc của tôi, hắn mời tôi lên thuyền hắn. Đến giờ tôi vẫn còn biết ơn hắn vì điều đó. Những công trình về đường đạn của tôi khiến tôi được Hoàng đế Phi châu quý mến, và tôi cũng có dịp nghiên cứu các tính chất của dầu mỏ và sự kết hợp của nó với vôi sống, để chế tạo hỏa tiễn lắp vào tàu chiến cho hạm đội của ông ta. Ubicumque idem [10]: vua chúa muốn khí cụ để tăng cường hoặc bảo vệ quyền lực, nhà giàu thích vàng, đổi lại họ cho ta tiền bỏ vào lò luyện trong một thời gian nào đó; những kẻ hèn nhát và tham vọng thì muốn biết tương lai. Tôi chiều lòng tất cả bọn họ đến mức có thể. Trời thương tôi hơn nữa thì trời cho một thống lĩnh cộng hòa hắt hơi sổ mũi hay một ông vua hồi giáo nào đó bị ốm: tiền cứ thế chảy vào túi; một ngôi nhà từ mặt đất chui lên ở Gênes gần Saint-Laurent hay ở Pera trong khu thiên chúa giáo. Tôi được cấp các loại công cụ cần thiết, và trong số những công cụ đó, quý hiếm nhất là được phép nghĩ và làm như ý muốn. Rồi xuất hiện những âm mưu của bọn đố kỵ, sự thẽ thọt của bọn ngốc kết tội tôi báng bổ kinh Coran hay Phúc âm của họ, rồi có một vài mưu mô trong triều đình mà tôi có nguy cơ bị dính líu, và cuối cùng cũng đến một ngày tốt hơn hết là nên dùng những đồng sequin cuối cùng để mua ngựa hay thuê thuyền mà cuốn gói. Tôi đã trải qua hai mươi năm trong những biến cố nho nhỏ như thế, sách vở người ta gọi đó là những cuộc phiêu lưu. Tôi đã làm chết một vài người trong số bệnh nhân tôi chữa vì những phương thuốc quá táo bạo, và cũng nhờ sự táo bạo ấy mà tôi cứu sống nhiều người khác. Nhưng với tôi, bệnh họ tái phát hoặc thuyên giảm chủ yếu quan trọng ở chỗ nó khẳng định một điều chẩn đoán hoặc một phương pháp hữu hiệu. Henri ạ, khoa học và suy ngẫm sẽ không đủ nếu không được chuyển thành sức mạnh: dân chúng họ có lý khi coi những người như tôi là đệ tử của ma thuật, dù đó là ma thuật tốt hay xấu. Kéo dài một cuộc sống đang trôi đi, đẩy lùi hoặc làm sớm hơn giờ đã định, chiếm đoạt những bí mật của cái chết để chống lại nó, sử dụng chính đường đi nước bước của tự nhiên để giúp đỡ hoặc khống chế tự nhiên, chi phối thế giới và con người, tái tạo họ, có thể còn sáng tạo ra họ…

- Có những ngày tôi ngồi đọc lại Plutarque, tôi tự nhủ đã quá muộn màng, rằng con người và thế giới đã được tạo ra như thế rồi, đại úy nói.

- Ảo tưởng, Zénon nói. Thời kỳ anh cho là vàng son cũng chỉ như Damas và Constantinople, nhìn từ xa chúng quả là đẹp; nhưng phải đi trên những đường phố của nơi ấy mới thấy ở đó người hủi và chó đói đầy đường. Plutarque của anh cho tôi biết rằng vào mùa nhịn chay Hephestion nhất định cứ ăn uống bình thường giống người ốm [11], còn Alexandre thì uống như một lính Đức đánh thuê mạt hạng. Từ thời Adam đến nay những động vật hai chân xứng đáng được gọi là người có ít lắm.

- Anh là thầy thuốc,- đại úy nói.

- Phải,- Zénon nói,- và làm nhiều nghề khác nữa.

- Anh là thầy thuốc,- chàng Flamand bướng bỉnh nhắc lại. - Tôi hình dung khâu thịt người chắc là cũng ngán như lúc rạch thịt ra. Nửa đêm thức giấc để chăm sóc cho cái giống hèn mọn này anh không thấy mệt mỏi sao?

- Sutor, ne ultra [12]…- Zénon đáp lại. - Tôi bắt mạch, tôi xem lưỡi, tôi xét nước tiểu chứ không xét tâm hồn… Không phải tôi là người quyết định thằng keo kiệt nào đó bị kiết lỵ đáng được sống thêm mười năm, hay tên bạo chúa nào đó chết đi là tốt. Ngay cả người tệ hại nhất hoặc ngốc nhất trong số những bệnh nhân cũng có thể dạy bảo ta cái gì đó, và mủ máu của họ cũng không thối hơn mủ máu của một kẻ khôn khéo hay chính trực. Mỗi lần thức đêm bên giường một kẻ ốm đều làm tôi quay trở lại với những câu hỏi chưa có lời đáp: Chúa bắt con người ta đau đớn để làm gì, tự nhiên dịu hiền hay thờ ơ, và tâm hồn có còn lại khi cơ thể chết đi không. Những giải đáp kiểu loại suy trước kia tôi tưởng làm sáng tỏ những bí mật của vũ trụ, thì nay tôi lại thấy đến lượt chúng cũng chứa đầy những khả năng nhầm lẫn ở chỗ chúng muốn gán cho Thiên nhiên bí hiểm cái chương trình đã định sẵn mà những người khác thì gán cho Chúa Trời. Tôi không nói là tôi nghi ngờ: nghi ngờ là trạng thái khác; tôi theo đuổi những câu hỏi cho đến tận khi mỗi khái niệm oằn cong trong tay tôi như chiếc lò xo bị liệt; mỗi khi tôi trèo lên chiếc thang của một giả thiết, tôi cảm thấy dưới sức nặng của mình chữ NẾU khẩn yếu đang rạn gẫy… Trước đây Paracelse và hệ thống các mệnh số của ông ta dường như mở ra cho thuật luyện kim một con đường chiến thắng; trong thực tế, chúng dẫn trở lại với những điều mê tín dị đoan thôn quê. Nghiên cứu chiêm tinh với tôi có lẽ không còn mang lại công dụng như ngày xưa để chọn những lối thoát và đoán trước những tai họa chết người; tôi rất muốn chúng ta cùng được tạo ra bằng chất liệu như những thiên thể; như thế thì chúng không quy định chúng ta hay có thể khuất phục chúng ta. Càng nghĩ đến điều đó càng thấy những tư tưởng, những thần tượng, những lề thói được coi là thiêng liêng, và những thiên cảm của chúng ta được coi là khó tả thành lời chẳng qua cũng xuất phát từ phản ứng của bộ máy người, như hắt hơi hay trung tiện, mồ hôi hay nước mắt mặn, máu trắng của tình yêu, bùn và chất thải của cơ thể. Tôi bực mình khi thấy con người lãng phí thực chất của chính mình để xây dựng những cái gần như bao giờ cũng bất lợi, nói đến sự thanh khiết trước khi hiểu bộ máy sinh dục, tranh luận với nhau về tự do ý chí thay vì cân nhắc hàng nghìn những lý do khó hiểu vì sao anh lại nháy mắt nếu tôi đưa chiếc gậy vào gần mắt anh, hay tranh luận về địa ngục trước khi tìm hiểu cái chết.

- Tôi đã từng biết cái chết,- đại úy vừa nói vừa ngáp. - Tôi bị trúng một phát hỏa mai ngã ngất đi tại Cerisoles, trước khi có cốc rượu làm tôi hồi tỉnh, tôi như trôi trong một hố đen. Nếu không có cái bầu rượu của tay trung sĩ thì tôi bây giờ vẫn nằm trong cái hố ấy.

- Tôi đồng ý với anh như vậy,- nhà giả kim thuật nói,- dù rằng có nhiều cái để nói rằng con người ta bất tử cũng như có nhiều cái để nói ngược lại. Cái bị rút ra khỏi người chết, đầu tiên đó là cử động, sau đó là nhiệt độ, tiếp theo, lâu hay chóng, tùy theo các tác nhân ảnh hưởng đến họ, là hình hài: liệu có phải đó là cử động và hình hài của linh hồn lụi tàn đi khi con người ta chết, chứ không phải thực chất của linh hồn? Tôi đã ở Bâle vào thời kỳ có dịch hạch đen…

Henri-Maximilien ngắt lời anh để nói rằng khi đó anh ta sống tại Rome, và bị mắc bệnh dịch trong nhà một gái giang hồ La mã.

- Tôi đang ở Bâle khi đó,- Zénon nói tiếp. - Anh chắc biết Ngài Lauren de Medicis, kẻ sát nhân, dân chúng gọi Ngài một cách nhạo báng là Lorenzace. Trước đó khi tôi đến Pera thì Ngài vừa đi khỏi đó. Ông hoàng nghèo này cũng tìm cách làm người trung gian như anh, anh Henri ạ, bằng cách nào đó ông ta được nước Pháp trao cho nhiệm vụ bí mật đối với hoàng cung Thổ. Tôi đã rất muốn làm quen với con người cao thượng này. Bốn năm sau, khi đi qua Lyon để trao cuốn Bàn về thế giới vật lý cho ông chủ hiệu sách Dolet đáng thương, tôi thấy ông ta đang buồn bã ngồi ăn ở phòng hậu một quán trọ. Tình cờ ông ta bị một thích khách florentin tấn công vào mấy hôm đó; tôi chăm sóc ông ta hết lòng; chúng tôi cùng phiếm bàn đến sự điên rồ của người Thổ và của chúng ta. Con người mệt lử này quyết định quay về quê cha đất tổ ở Ý bất kể mọi sự. Trước khi chia tay, ông đã cho tôi một thị đồng người Caucase được chính Hoàng đế Thổ trao cho, để đổi lấy liều thuốc độc ông ta dự tính sẽ chết nếu rơi vào tay kẻ thù của ông ta, quyết không làm trái với phong thể ông ta đã giữ cả cuộc đời. Ông ta đã không có dịp để thử dùng viên thuốc tôi đưa, vì ông ấy bị chính kẻ đã giết hụt ở Pháp giết chết ở một ngõ nhỏ tăm tối ở Venise. Nhưng người công bộc của ông ta ở lại với tôi. Nhà thơ các anh làm thơ tình nhưng thực ra là phờ phỉnh bịp bợm con người ta: cái đến với chúng ta thực sự dường như chẳng bao giờ đẹp như những vần điệu, vần này quấn vào điệu kia như hai đôi môi áp lên nhau. Thế mà, gọi bằng tên gì khác đây, cái ngọn lửa luôn tái sinh như Phượng hoàng tái sinh từ chính tro của nó, cái nhu cầu cứ đến tối là muốn được thấy lại khuôn mặt và cơ thể ta vừa rời ban sáng? Vì một số cơ thể, anh Henri ơi, có khả năng làm dịu mát như nước, và tự hỏi vì sao những cơ thể nồng nàn nhất lại làm dịu mát nhiều nhất, kể ra cũng hay. Vậy đấy, Alei đến từ Phương Đông, như thứ thuốc xoa và cao của tôi; không bao giờ, trên những con đường lầy lội và trong những chỗ dừng chân tỏa khói ở Đức, anh ta làm tôi bị xúc phạm vì tỏ ra tiếc nuối những khu vườn của Hoàng đế và những đài phun nước tuôn chảy dưới ánh mặt trời… Tôi thích nhất là chúng tôi im lặng vì ngôn ngữ bất đồng. Tôi biết tiếng Ả rập sách vở, nhưng tôi chỉ biết tiếng Thổ đủ để hỏi đường. Alei nói tiếng Thổ và chút tiếng Ý, anh ta chỉ nhớ lại được một vài thổ ngữ quê anh trong khi ngủ mơ… Sau bao nhiêu gã phóng đãng ba hoa và trâng tráo chẳng may tôi thuê phải, cuối cùng tôi cũng có được anh gàn hay chàng thủy thần mà dân gian ban tặng để trợ giúp ta…

- Vậy mà, buổi tối đáng ghét ấy ở Bâle năm có dịch hạch đen, khi tôi bước vào phòng, tôi thấy anh hầu của tôi đã bị bệnh. Anh có mến chuộng cái đẹp không, Henri?

- Có,- anh chàng Flamand nói. - Cái đẹp của đàn bà. Anacreon là nhà thơ có tài và Socrate thực sự vĩ đại; nhưng tôi không hiểu nổi sao người ta lại thờ ơ với những đường cong da thịt mềm mại hồng hồng, những thân thể khác với thân thể chúng ta một cách thật thú vị, và chúng ta vào đó như những kẻ chiến thắng vào một thành phố treo cờ hoa vẫy mừng. Và nếu như sự vui mừng đó là giả dối và cờ xí đó lường gạt ta, thì có gì quan trọng? Những dầu xức tóc, những lọn tóc uốn xoăn, những hương liệu kia, thằng đàn ông nếu sử dụng chúng là tự hạ thấp mình, nhưng tôi vẫn sung sướng hưởng thụ chúng thông qua đàn bà. Tại sao tôi phải đi tìm đâu xa những ngõ hẻm bí mật, trong khi tôi có trước mặt con đường lớn đầy ánh mặt trời nơi tôi có thể dấn bước trong danh dự? Nhìn hai bên má kia mà thấy hãi, chẳng mấy chốc chúng không còn nhẵn nhụi nữa, chúng được trao gửi cho người tình chắc chắn ít hơn là cho thợ cạo!

- Còn tôi,- Zénon nói,- tôi thích thú hơn hết mọi sự cái niềm khoái lạc thầm kín hơn khoái lạc một chút, cái thân thể giống như thân thể tôi, nó phản ánh khoái cảm của tôi, tôi thấy thật dễ chịu khi không có tất cả những điệu bộ mà các ả giang hồ thêm thắt vào sự khoái trá, không có những biệt ngữ của những người yêu thích Petrarque, những áo sơ mi thêu của Signora Livia và những khăn trùm của Madame Laure. Tôi thích cái quan hệ không tự biện minh một cách đạo đức giả bằng lý do là để kéo dài mãi xã hội loài người, mà sinh ra từ ham muốn và qua đi cùng với ham muốn, và nếu trong quan hệ đó có tình yêu, thì đó không phải vì tôi được đưa đẩy trước nhờ thứ ngôn ngữ ngọt ngào hợp mốt… Mùa xuân đó tôi sống trong căn phòng trọ trên bờ sông Ranh, ngày đêm nghe ầm ào tiếng nước lũ; phải nói thật to mới nghe thấy nhau; lúc nào mệt mỏi tôi bảo anh người hầu chơi đàn viole, vì với tôi âm nhạc luôn là một phương thuốc đặc hiệu đồng thời là một mối hân hoan, thì cũng chỉ thoang thoảng nghe được tiếng đàn. Nhưng đêm đó Alei không còn cầm cây đèn trên tay như mọi khi đứng đợi tôi cạnh chuồng ngựa nơi tôi nhốt con la. Anh Henri, tôi đoán là anh đã từng than khóc cho số phận những bức tượng bị cuốc vỡ và bị đất gặm nhấm; chắc đã có lần anh trách sao thời gian bạc đãi sắc đẹp. Ấy thế nhưng tôi lại nghĩ đá hoa cương, mệt mỏi vì đã giữ quá lâu bề ngoài con người, sẽ vui mừng được quay trở lại không là gì khác hơn là đá… Con người thì ngược lại, họ sợ phải quay trở về thành thứ vật chất bất dạng… Ngay từ ngưỡng cửa, mùi hôi thối đã báo cho tôi biết, miệng anh ấy cố gắng hít và cố gắng nôn ra thứ nước yết hầu không còn nuốt nổi, và máu do hai lá phổi bệnh tật phun ra… Nhưng cái người ta gọi là tâm hồn vẫn còn đó, đôi mắt khuyển trung thành không nghi ngờ chủ sẽ đến cứu mạng… Chắc chắn đó không phải là lần đầu tiên những liều thuốc nước của tôi tỏ ra vô dụng, nhưng cho đến lúc đó mỗi cái chết chỉ như một quân tốt bị mất trong ván cờ thầy thuốc của tôi. Hơn nữa, do cứ chiến đấu mãi chống Nữ hoàng Đen, giữa ả và ta đã hình thành một kiểu tòng phạm âm thầm; cũng như vậy, một đại úy cuối cùng hiểu và thán phục chiến thuật của kẻ thù. Bao giờ cũng có một khoảnh khắc mà bệnh nhân của chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi hiểu quá rõ ả thành thử đành cam chịu điều không thể tránh khỏi đối với họ; khi họ đang năn nỉ và vẫn còn cưỡng lại, chợt họ đọc được trong mắt ta lời phán quyết họ không muốn thấy. Phải yêu quí ai đó mới ngấm hiểu được thật phẫn nộ nhường nào khi một con người chết đi… Lòng dũng cảm, hay ít nhất cũng là sự vô cảm rất cần thiết cho một thầy thuốc rời bỏ tôi. Tôi thấy dường như nghề của tôi vô bổ, điều này cũng phi lý gần như tin rằng nó cao cả. Không phải vì tôi đau đớn; ngược lại tôi biết rằng mình hoàn toàn không thể hiểu được sự đau đớn mà thân hình đang quằn quại ngay trước mắt kia phải chịu đựng; người hầu của tôi như đang chết trong một thế giới hoàn toàn khác. Tôi gọi, nhưng ông chủ nhà trọ không dám đến giúp. Tôi nâng thi thể lên đặt xuống sàn trong khi chờ trời sáng để đi gọi phu đào mộ đến; tôi vứt từng nắm rơm đệm vào lửa lò sưởi trong phòng. Thế giới bên trong và thế giới bên ngoài, vũ trụ vĩ mô và vũ trụ vi mô vẫn không thay đổi từ thời tôi phẫu tích ở Montpellier, nhưng những bánh xe lớn lồng vào nhau ấy quay cuồng trong không gian trống rỗng, những cơ thể mỏng manh ấy không làm tôi mê mẩn nữa… Tôi xấu hổ phải thú nhận rằng cái chết của một anh hầu đủ để sinh ra trong tôi một kịch biến u uất đến thế, nhưng người ta mệt mỏi, anh Henri ạ, và tôi không còn trẻ nữa; tôi đã hơn bốn mươi tuổi. Tôi đã mệt mỏi với nghề vá víu thân thể; tôi thấy ghê tởm với ý nghĩ sáng nào đó đến bắt mạch cho ông Thẩm phán thành phố, yên ủi phu nhân Pháp quan, và nhìn ngược sáng nước tiểu ông mục sư tin lành. Đêm đó tôi hứa với mình không chữa bệnh cho bất kỳ ai nữa.

- Ông chủ quán Con cừu non Vàng đã kể tôi nghe về sự thay đổi đột ngột này,- đại úy nói giọng nghiêm trang. - Nhưng anh đang chữa bệnh thống phong cho Sứ thần tòa thánh, và má tôi còn vải băng bó với miếng cao dán của anh đây này.

- Sáu tháng rồi còn gì,- Zénon nói tiếp,- lấy mẩu củi cháy dở vạch những hình vẽ xuống tro. Tôi trở lại tò mò, và muốn sử dụng tài năng đã có được, muốn cứu giúp, nếu có thể được, những người chấp nhận đồng hành với ta trong cuộc phiêu lưu lạ lùng này. Ảo tưởng đêm đen đã ở sau lưng tôi. Mãi không kể với ai là chuyện đó sẽ quên đi thôi.

Henri-Maximilien đứng lên đi đến bên cửa sổ, thốt lên:

- Trời vẫn mưa.

Trời vẫn mưa. Đại úy gõ nhè nhẹ vào cửa kính. Bỗng, quay lại phía chủ nhà:

- Anh có biết Sigismond Fugger, họ hàng với tôi ở Cologne, bị tử thương trong một trận chiến với người Incas không? Người ta nói anh ta đã bắt một trăm thiếu nữ, một trăm thân thể bằng đồng đỏ với những hình khảm san hô khác nhau và những mái tóc xức dầu tỏa ngát mùi gia vị. Lúc biết mình sắp chết, Sigismond cho cắt cả một trăm mái tóc của họ; hắn ra lệnh trải hết lên giường, rồi bảo đặt hắn nằm lên đó để lìa đời trên những mớ tóc tỏa mùi quế, mùi mồ hôi và mùi phụ nữ.

- Tôi khó mà tin được rằng những bím tóc dày như thế mà lại không có chấy, nhà triết học nói chua chát.

Và, thấy trước phản ứng giận dữ của đại úy:

- Tôi biết anh nghĩ gì. Có, tôi có đôi lần âu yếm bắt chấy cho một cô nàng tóc đen và xoăn.

Anh chàng Flamand tiếp tục đi đi lại lại không chủ đích, có vẻ vì để chân cẳng được thoải mái hơn là để động não.

- Tâm trạng của anh lan sang cả tôi, cuối cùng anh quay lại ngồi xuống bên lò sưởi nói, chuyện của anh làm tôi cũng muốn ngẫm lại đời mình. Tôi chẳng phàn nàn gì; nhưng mọi thứ khác hẳn với những gì tôi đã nghĩ. Tôi biết rằng tôi không có chất để làm một đại úy vĩ đại, nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt những người được coi là vĩ đại: tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi đã trải qua hơn một phần ba cuộc đời ở Bán đảo[13] vì tôi thích nước Ý; ở đó thời tiết đẹp hơn ở Flandre, nhưng ăn uống lại tồi hơn. Những bài thơ của tôi chẳng đáng tồn tại trên giấy, chúng được in bằng tiền túi của tôi, khi nào tình cờ tôi có tiền để tặng cho mình một tên sách và một danh hiệu rởm, như những kẻ khác vẫn làm. Vòng nguyệt quế của Hippocrene không dành cho tôi; sách của tôi sẽ không được đóng bằng da bê và trường tồn qua những thế kỷ. Nhưng khi tôi thấy có quá ít người đọc Iliade của Homère, tôi cũng chấp nhận việc thơ mình có ít người đọc một cách vui vẻ hơn. Nhiều quý bà yêu tôi, nhưng hiếm khi họ là người trao tôi cả đời mình vì yêu… (nhưng tôi ngẫm lại mình: kiêu căng làm sao khi tin rằng những người đẹp mà tôi đắm đuối lại thích con người tôi…). Nàng Vanina ở Naples, tôi gần như là chồng, là một cô gái rất tốt bụng, nhưng cô không có hương vị long diên hương, và những lọn tóc hoe không hoàn toàn là của cô. Có thời gian tôi quay về nơi chôn rau cắt rốn: mẹ tôi đã chết, cầu Chúa phù hộ cho bà! Người phụ nữ hiền hậu ấy bao giờ cũng cầu mong điều lành cho anh. Bố tôi đang ở Địa ngục, tôi đoán thế, với vàng của ông ta. Em tôi đón tiếp tôi chu đáo, nhưng tám ngày sau tôi hiểu đã đến lúc phải ra đi. Tôi thấy tiếc là chẳng có một đứa con hợp pháp nào, nhưng tôi không muốn nhận cháu làm con. Tôi cũng có tham vọng như những người khác, nhưng khi một kẻ quyền thế đương thời nào đó từ chối không cho ta một tước hiệu hay một suất lương bổng, là ta vui sướng làm sao khi được rời khỏi căn tiền sảnh mà không phải cám ơn Đức Ông, được bay nhảy tùy hứng trên phố tay đút túi rỗng… Tôi đã hưởng nhiều niềm vui sống: tôi cám ơn Vĩnh hằng mỗi năm lại mang đến một lứa các cô em tuổi cập kê và mỗi thu về người ta lại ủ rượu vang; đôi khi tôi tự nhủ rằng khi chết đi tôi đã được sống cuộc sống an lành của một chú khuyển dưới ánh mặt trời, với không ít trận đánh lộn và vài miếng xương để gặm. Ấy vậy mà ít khi tôi chia tay một người tình mà không nhẹ nhàng thở phào như cậu học trò rời trường, và tôi tin chắc vào lúc qua đời tôi cũng sẽ thở phào như thế. Anh nói đến những bức tượng; tôi thấy ít có thú vui nào tuyệt diệu hơn là ngắm Thần Vệ nữ bằng cẩm thạch, bức tượng này được nâng niu cất giữ trong phòng tranh của ông bạn tốt của tôi, Hồng y giáo chủ Caraffa, ở Naples; những đường nét màu trắng của nó đẹp đến nỗi nó quét sạch khỏi con tim mọi ham muốn phàm tục và làm cho người ta muốn khóc. Nhưng cố lắm tôi chỉ ngắm nó được trong nửa khắc, rồi cả mắt lẫn tâm hồn tôi đều không thấy nó nữa. Anh ạ, trong hầu hết mọi thứ trên trái đất này luôn có chất cặn hay dư vị gì đó mà tôi không biết làm anh khó chịu, và tất cả những đồ vật hiếm hoi nào đó mà tình cờ lại hoàn hảo đều buồn đến chết. Triết học không phải dành cho tôi, nhưng đôi khi tôi tự nhủ rằng Platon có lý, và linh mục phụ tá Campanus cũng vậy. Ở đâu đó chắc chắn phải tồn tại cái gì đó tôi không biết nó hoàn hảo hơn chúng ta, một cái Thiện khi hiện diện thì làm ta bối rối mà khi thiếu vắng thì ta không chịu nổi.

- Sempiterna Temptatio[14]. - Zénon nói. - Tôi thường tự nhủ không gì trên thế giới này có thể giải thích vì sao tôi cố gắng mỗi ngày suy nghĩ rành rọt hơn ngày hôm qua một chút, ngoại trừ đó là một quy luật vĩnh hằng hoặc là một xu hướng kỳ quặc của vật chất là muốn làm hơn chính nó.

Anh vẫn ngồi, cúi mặt trong căn phòng tràn ngập ánh chạng vạng ẩm ướt. Lửa trong lò sưởi ánh lên tay anh màu đỏ nhạt, bàn tay dính vết a xít, đôi chỗ thành sẹo bỏng tái nhợt và ta thấy anh chăm chú nhìn phần lạ lẫm nối dài thêm tâm hồn, những công cụ lớn lao bằng da thịt này, chúng có nhiệm vụ tiếp xúc với mọi thứ.

- Tôi thật đáng được ca ngợi! - Cuối cùng anh nói với vẻ phấn khích, Henri-Maximilien nhận ra trong đó cậu bé Zénon thuở nào say sưa với những giấc mơ cơ khí cùng Colas Gheel. - Tôi sẽ không bao giờ ngừng thán phục rằng da thịt được cột sống nâng đỡ này, thân mình gắn với đầu bằng eo cổ có chân tay đối xứng hai bên này, lại chứa và rất có thể, sản sinh ra một trí óc dùng mắt của tôi để nhìn và dùng cử động của tôi để sờ nắn… Tôi biết những giới hạn của nó, biết rằng nó không có thời gian để đi xa hơn nữa, cũng như không có sức, nếu tình cờ nó có thêm thời gian. Nhưng vào lúc này nó chính là Đấng Hiện hữu. Tôi biết nó nhầm lẫn, lạc lối, thường hiểu sai những bài học thế giới dạy nó, nhưng tôi cũng biết trong nó có cái cho phép nó nhận biết và đôi khi sửa chữa sai lầm của chính nó. Tôi đã dọc ngang qua ít nhất là một phần quả cầu nơi chúng ta sống; tôi đã nghiên cứu điểm nóng chảy của các kim loại và sự sinh sản của cây cỏ; tôi đã quan sát những thiên thể và khám nghiệm nội tạng cơ thể. Tôi có khả năng chiết ra từ thanh củi cháy dở đang cầm này khái niệm về trọng lượng và từ ngọn lửa này khái niệm về nhiệt độ. Tôi biết rằng tôi không biết cái mà tôi không biết; tôi ghen tị với những người sẽ biết nhiều hơn tôi, nhưng tôi biết rằng họ cũng như tôi sẽ phải đo, cân, suy đoán và nghi ngờ những suy đoán, trong cái sai tìm ra cái đúng và trong cái đúng tính đến cái sai luôn ẩn nấp đâu đó. Tôi chưa bao giờ đặt niềm tin khăng khăng vào một ý tưởng nào đó vì sợ sẽ rơi vào nỗi hoang mang khi không có ý tưởng ấy. Tôi chưa bao giờ tô điểm sự thật bằng thứ nước sốt giả dối, để khiến chúng tiêu hóa dễ dàng hơn đối với chính tôi. Tôi chưa bao giờ bóp méo quan điểm của người đối nghịch để thắng một cách dễ dàng hơn, ngay cả trong cuộc tranh luận về antimoan với Bombast, ông ta không hề biết ơn tôi vì điều đó. Hay đúng hơn là thế này: đột nhiên tôi nhận thấy mình đang làm như vậy, và mỗi lần như thế tôi quở trách chính mình như người ta quở trách một thằng hầu không trung thực, chỉ tin tưởng vào lời hứa là mình sẽ làm tốt hơn. Tôi đã mơ những giấc mộng; tôi không coi chúng là cái gì khác những giấc mộng. Tôi hết sức tránh để không biến chân lý thành một thần tượng, mà muốn giữ tên của nó, khiêm nhường hơn, đó là sự chính xác. Những chiến thắng và những hiểm họa của tôi không phải là những gì người ta nghĩ; còn có những vinh quang khác ngoài vinh quang và giàn lửa khác ngoài giàn lửa. Tôi gần như đạt đến độ nghi ngờ từ ngữ. Lúc chết tôi sẽ ít ngu hơn một chút so với lúc tôi sinh ra.

- Thế là được rồi, chàng chiến binh vừa nói vừa ngáp. Nhưng người đời đồn đại anh thành công hơn thế nhiều. Anh làm ra vàng.

- Không, giả kim thuật gia nói, nhưng người khác sẽ làm ra. Đó chỉ là vấn đề thời gian và công cụ thích hợp để thí nghiệm có kết quả. Một vài thế kỷ thì nghĩa lý gì?

- Thế là đã quá lâu, nếu để trả tiền góp tiệc cho quán Con cừu Vàng, đại úy nói đùa.

- Một ngày nào đó có lẽ làm ra vàng cũng dễ như thổi thủy tinh, Zénon tiếp tục. Cứ dùng răng tước mãi vỏ sự vật, cuối cùng chúng ta sẽ tìm ra lý do do bí mật của những sự tương hợp và tương khắc… Một cái trục cơ khí hay một bô bin tự quay có là gì nhiều đâu, thế nhưng một loạt những phát kiến nhỏ bé như vậy có thể dẫn chúng ta đi xa hơn cả hành trình của Magellan và Americ Vespuce. Tôi rất bực khi nghĩ rằng phát minh của loài người đã dừng lại ngay ở bánh xe đầu tiên, vòng quay đầu tiên, xưởng rèn đầu tiên; người ta đâu đã bỏ nhiều công để làm đa dạng việc sử dụng ngọn lửa lấy trộm từ trên trời xuống. Thế mà, chỉ cần tìm tòi một chút là đủ suy từ một vài nguyên tắc đơn giản ra cả một loạt máy móc tài tình để làm tăng trí thông minh hay sức mạnh con người: sẽ có những khí cụ khi chuyển động sinh nhiệt, những đường dẫn lửa giống như ống dẫn nước làm chạy hệ thống lò sưởi ngầm và nhà tắm hơi xưa kia của phương Đông, giúp cho việc chưng cất và làm nóng chảy các chất… Riemer ở Rastibonne tin rằng nghiên cứu các định luật cân bằng sẽ cho phép dựng những cỗ xe bay trong không gian và lội dưới nước phục vụ cho chiến tranh hay thời bình. Thuốc súng đại bác của các anh, chiến công của Alexandre vì nó mà bị xếp vào hàng đồ chơi trẻ con, cũng được sinh ra như thế từ một lần động não nào đó…

- Dừng lại nào! - Henri-Maximilien nói. - Khi các ông bố chúng ta châm lửa vào ngòi nổ đầu tiên, người ta có lẽ đã tin rằng phát kiến ầm ĩ này sẽ làm đảo lộn nghệ thuât chiến tranh và rút ngắn các cuộc chiến vì không có binh lính. Song điều đó chẳng hề hấn gì, ơn Chúa! Người ta giết nhiều hơn (và tôi còn ngờ điều ấy), mấy anh lính của tôi dùng súng hỏa mai thay vì dùng nỏ. Nhưng lòng dũng cảm ngày xưa, sự hèn nhát ngày xưa, những mưu mô xưa, kỷ luật xưa và sự bất phục tòng xưa thì vẫn thế, và cùng với những điều ấy là nghệ thuật tiến, thoái, đứng yên, là cách làm kẻ thù sợ và cách tỏ ra không sợ. Các nhà chiến thuật của chúng ta vẫn phải bắt chước Hannibal và tra cứu Vegece. Vẫn như xưa chúng ta tiếp tục chạy theo đít các chủ nhân.

- Tôi đã biết từ lâu rằng một chút xíu trơ ỳ nặng hơn một đấu khôn ngoan, - Zénon bực bội nói. Tôi không quên rằng khoa học đối với các ông hoàng của các anh chỉ là một vài mưu mẹo, không nghiêm túc bằng những cuộc thao diễn ngựa, chùm lông trên mũ hay những tước hiệu của họ. Nhưng anh Henri ạ, tôi biết đây đó ở những nẻo khác nhau trên trái đất có năm hay sáu gã đói rách còn điên hơn, nghèo hơn và đáng ngờ hơn cả tôi, họ vẫn thầm mơ tới sức mạnh khủng khiếp hơn cả sức mạnh mà César Charles không bao giờ có được. Nếu Archimet có một điểm tựa, ông ta không chỉ có thể nhấc được cả trái đất, mà còn cho trái đất rơi xuống vực thẳm như một vỏ sò bị vỡ… Và thẳng thắn mà nói, ở Alger, thấy sự dữ tợn như thú vật của bọn Thổ, hay trước những cảnh điên rồ và hung bạo đang hoành hành ở mọi nơi trên khắp các vương quốc thiên chúa giáo của chúng ta, tôi đôi khi tự nhủ rằng kê đơn cho loài người, dạy dỗ, làm họ phát đạt hay có thêm công cụ có lẽ chỉ là điều bất đắc dĩ trong thế giới lộn xộn này, và một ngày nào đó một Phacton[15] sẽ tự tay thiêu trụi trái đất này vì ý muốn chứ không phải vì rủi ro. Ai mà biết được liệu cuối cùng từ nồi chưng cất của chúng tôi có một ngôi sao chổi nào đó thoát ra hay không? Khi tôi thấy sự tự biện có thể dẫn chúng tôi tới đâu, anh Henri ạ, thì việc người ta thiêu chúng tôi làm tôi ít ngạc nhiên hơn.

Và, đột nhiên đứng lên:

- Tôi nghe phong thanh người ta lại mở điều tra gay gắt hơn bao giờ hết về cuốn Những điều dự đoán của tôi. Chưa có quyết định gì chống lại tôi, nhưng những ngày sắp tới sẽ đầy nguy hiểm. Ít khi tôi ngủ lại đây, vì muốn tìm những nơi ít ngờ tới để qua đêm. Ta cũng đi khỏi nơi này thôi, nhưng nếu anh ngại những ánh mắt tò mò thì hãy khôn ngoan chia tay tôi ở ngưỡng cửa này.

- Anh coi tôi là ai vậy? - đại úy nói, - có lẽ để tỏ ra thung dung bất cần hơn là anh vốn thế.

Anh cài lại khuy áo khoác, miệng chửi rủa bọn mật thám nhúng mũi vào chuyện người khác. Zénon mặc lại chiếc áo choàng lúc này đã gần khô. Hai người chia nhau uống nốt chỗ rượu vang dưới đáy bình. Giả kim thuật gia khóa cửa rồi treo chiếc chìa khóa to tướng dưới một thanh rầm, cậu bé giúp việc sẽ biết chỗ tìm thấy nó. Mưa đã tạnh. Trời bắt đầu tối, nhưng ánh hoàng hôn yếu ớt vẫn hắt lên từ nền tuyết vừa rơi xuống sườn núi, bên trên lớp đá xám lợp mái. Zénon vừa đi vừa xoáy mắt dò xét những góc tối.

- Tôi không có nhiều tiền, - đại úy nói, - Nhưng giờ anh đang gặp khó khăn…

- Không cần đâu, anh, - giả kim thuật gia nói. - Nếu có nguy hiểm, Sứ thần tòa thánh sẽ cho tôi tiền chạy trốn. Anh cứ giữ lấy để còn chi dùng nếu anh gặp rắc rối.

Một cỗ xe có đoàn lính hộ tống lao vào ngõ hẹp, chắc xe chở nhân vật quan trọng nào đó tới lâu đài hoàng gia Ambras. Hai người dừng lại để chiếc xe đi qua. Khi tiếng xe ngựa đã xa, Henri nói tiếp giọng trầm ngâm:

- Nostradamus tiên đoán tương lai và hành nghề yên ổn ở Paris. Người ta không thích anh ở điểm gì?

- Ông ta dò biết hành vi nhờ trời hay địa ngục giúp đỡ, triết gia nói, lấy tay áo phủi bùn bắn lên người. Có lẽ các ngài ấy thấy những giả thuyết trần trụi và không có những đồ lễ lủng củng gồm các thiên thần hay quỷ dữ trong những vạc dầu sôi còn vô đạo hơn… Thêm vào đó, những bài thơ bốn câu của Michel de Notre-Dame, tôi chẳng khinh đâu, gợi trí tò mò đám đông bằng cách tuyên bố những thảm họa lớn và những cái chết trong hoàng cung. Còn tôi, những gì vua Henri II đang lo nghĩ chẳng làm tôi quan tâm đến mức phải để tâm lực ra xem những điều ấy chung cục sẽ ra sao… Trong những cuộc lữ hành, có lần tôi nghĩ: càng đi nhiều trong không gian, đang ở Đây mà biết ở Kia đang chờ tôi dù chưa bao giờ tới đó, tôi càng muốn xông pha mạo hiểm trên những nẻo đường thời gian theo cách của mình. Lấp đi hố ngăn cách giữa tiên đoán cứng nhắc của các nhà tính toán nhật nguyệt thực và chẩn đoán đã uyển chuyển hơn của thầy thuốc, tôi thận trọng liều dùng linh tính và sự phỏng đoán, cái nọ dựa vào cái kia, để vạch ra trong đại lục nơi ta còn chưa biết tới tấm bản đồ những đại dương và những vùng đất đã chồi lên… Tôi thấy mệt nhọc với cuộc thử sức này.

- Anh sẽ có cùng số phận với Bác sĩ Faustus[16] của các con rối hội chợ, - đại úy đáp, - nói cho vui.

- Không! - giả kim thuật gia đáp. - Hãy để câu chuyện ngu ngốc về những thỏa hiệp hay sa đọa của ông tiến sĩ thông thái rởm cho các bà già ôm ấp. Một Faustus thực sự sẽ có cái nhìn khác đối với tâm hồn và Địa ngục.

Họ chỉ còn chú ý đến việc tránh các vũng nước. Họ đi dọc theo kè đá, vì Henri-Maximilien thuê phòng gần cầu. Bỗng:

- Anh sẽ ngủ đêm ở đâu? - Đại úy hỏi.

Zénon liếc nhìn bạn đường:

- Tôi cũng chưa biết, - anh nói thận trọng.

Họ lại im lặng: cả hai đã nói hết những gì có trong tâm can họ. Thình lình Henri-Maximilien dừng lại, rút từ trong túi cuốn sổ nhỏ và bắt đầu đọc dưới ánh sáng ngọn nến sau một quả cầu lớn chứa đầy nước đặt trước một cửa tiệm kim hoàn đóng cửa muộn.

…Stultissimi, inquit Eumolpus, tum Encolpii, tum Gitonis aerumnae, et precipue blanditiarum Gitonis non immemor, certe estis vos qui felices esse potestis, vitam tamen aerumnosam degitis et singulis diebus vos ultro novis torquetis cruciatibus. Ego sic semper et ubique vixi, ut ultimam quamque lucem tanquam non redituram consumarem, id est in summa tranquillitate…

- Để tôi dịch cho anh sang tiếng Pháp, - đại úy nói, - tôi chắc là tiếng La tinh về dược học đã xóa hết vốn tiếng La tinh văn học trong anh rồi. Đây là lời ông già phóng túng Eumolpe gửi cho hai chàng bảnh trai Encolpe và Giton, tôi thấy đoạn này xứng đáng được viết vào kinh nhật tụng của tôi: “Các anh mới ngu ngốc làm sao, Eumolpe nói, lòng nghĩ về những điều dại dột của Encolpe và của Giton, và nhất là về sự tử tế của Giton. Lẽ ra có thể các anh sung sướng, thế mà các anh lại đang sống cuộc đời khốn khổ, ngày hôm sau còn túng thiếu hơn ngày hôm trước. Với ta, mỗi ngày ta sống được coi như ngày cuối cùng trong đời, tức là hoàn toàn thanh thản”. Petrone, anh giải thích, là một trong những người được tôi coi là vị thánh khẩn cầu giùm tôi.

- Cái hay của vấn đề, - Zénon đồng tình, - là ở chỗ tác gia của anh thậm chí không ngờ rằng ngày cuối cùng của một bậc hiền minh có thể được sống khác chứ không trong yên bình. Chúng ta sẽ cố để nhớ tới điều này khi chúng ta đến giờ đến khắc.

Đến chỗ ngoặt của phố, họ thấy ngay trước mặt một nhà thờ đèn nến sáng trưng đang làm lễ cúng tuần chín ngày. Zénon định bước vào.

- Anh định làm gì ở giữa bọn sùng đạo vờ ấy? - đại úy nói.

- Tôi đã chẳng giải thích với anh rồi sao? - Zénon nói. - Để không cho mọi người nhìn thấy mình.

Anh biến mất sau tấm rèm da treo ở ngưỡng cửa. Henri-Maximilien dừng lại một lúc, rồi đi tiếp, rồi quay trở lại, cuối cùng anh đi hẳn khỏi nơi đó, miệng huýt sáo mấy câu quen thuộc:

Chúng ta từng là đôi bạn đồng hành

Cùng vượt qua những đỉnh núi xanh

Chúng ta từng nghĩ sẽ hưởng cao lương mỹ vị…

Về đến nhà, anh thấy có lời nhắn của Tướng Strozzi bảo anh từ nay không phải bí mật gặp gỡ trao đổi về nội vụ Sienne nữa. Henri-Maximilien nghĩ hoặc gió đang đổi sang chiều chiến tranh, hoặc có lẽ người ta đã thuyết phục Thống chế gốc Florentin dùng nhân viên khác, còn anh bị cho ra rìa. Trong đêm, trời lại mưa, rồi chuyển thành tuyết. Ngay hôm sau, hòm xiểng sẵn sàng, đại úy đi tìm Zénon.

Mấy mái nhà phủ trắng tuyết làm người ta nghĩ đến những khuôn mặt giấu điều gì bí mật dưới bộ áo trùm đầu đơn điệu. Henri-Maximilien vui vẻ trở lại quán Con Cừu vàng, nơi có rượu vang ngon. Ông chủ quán vừa mang đồ uống đến vừa cho anh biết rằng sáng nay người hầu của Zénon đến từ sớm trả chìa khóa và tiền thuê nhà. Khoảng trưa, một viên chức của Pháp đình Tôn giáo được lệnh bắt Zénon đã triệu tập chủ quán đề nghị hỗ trợ. Nhưng có lẽ quỷ dữ đã kịp thời báo trước cho giả kim thuật gia. Người ta chẳng tìm thấy gì lạ ở nhà trọ ngoài một đống bình thủy tinh đã bị đập vỡ cẩn thận.

Henri-Maximilien vội đứng lên, để lại chỗ tiền lẻ trên bàn. Vài ngày sau, anh về đến Ý qua thung lũng Brenner.

❀ ❀ ❀

[1] Hội nghị Trente (còn gọi Công đồng Trento): Hội nghị giám mục toàn thế giới diễn ra tại Trente (một thành phố bắc Ý) từ 1545-1547, ở Bologne (một thành phố của Ý) từ 1547-1549, rồi một lần nữa ở Trente 1551-1552 và 1562-1563, qua hội nghị này Nhà thờ La mã khẳng định học thuyết của mình đối lập với giáo phái Tin lành và củng cố lại luật giáo hội. Hoàng đế Charles Quint vào thời điểm này của truyện (khoảng năm 1549) đang trên thế thắng Vua nước Pháp, và muốn can thiệp vào hội nghị.

[2] Toscane: vùng đất thuộc trung Ý bây giờ, trong đó có Sienne, Florence, là vùng đất tranh chấp giữa Hoàng đế Charles Quint và Vua nước Pháp Henri II từ năm 47 đến đầu những năm 50 của thế kỷ XVI.

[3] Farnese và Medicis là hai dòng họ rất có thế lực ở Ý trong nhiều thế kỷ.

[4] Tiếng La tinh, ảo giác

[5] Bâle là một trong những thành phố chính yếu của đạo Tin lành.

[6] Mũ trùm chỉ các học giả, mũ chỏm đầu chỉ các linh mục.

[7] Các giáo sĩ đều phải cạo chỏm đầu.

[8] Nhà thơ Hy lạp thế kỷ thứ VI trước CN.

[9] Zohan: sách nền tảng cho đạo kabbale Do thái, do Moise viết ở Leon vào khoảng 1270 và 1300, có tính chất thần bí và có ảnh hưởng lớn sau này.

[10] Thành ngữ tiếng La tinh, mèo nào thì cũng vẫn là mèo.

[11] Theo quy định vào thời Plutarque (thế kỷ I) vào những ngày nhịn ăn chỉ những người ốm mới được phép ăn để đảm bảo sức khỏe.

[12] Châm ngôn La tinh: kẻ khâu giầy thì không thể nhìn cao hơn đôi giầy, chỉ những ai muốn tỏ ra thông thạo ở lĩnh vực không phải của mình.

[13] Chỉ nước Ý

[14] Tiếng La tinh: cám dỗ vĩnh hằng.

[15] Phacton: con của thần Dớt, người không điều khiển được cỗ ngựa của thần Dớt – thần Mặt Trời nên đã thiêu rụi cả trái đất.

[16] Nhân vật trong một huyền thoại đầu thế kỷ XVI, đã bán linh hồn cho quỷ dữ để được thỏa nguyện những ham muốn không hạn độ và trí tuệ hiếu kỳ vô cùng. Đổi lại, quỷ dữ dạy ông ta đi vào khoa học thần bí và trao cho ông ta những quyền năng ma thuật.

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.