Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhà Fugger Ở Cologne
Nhà Fugger Ở Cologne

❊ ❊ ❊

Nhà Fugger sống tại Cologne ở sân trước nhà thờ Saint-Gereon trong một ngôi nhà nhỏ không tráng lệ, mọi thứ đều được sắp xếp ngăn nắp và mang lại vẻ bình yên. Từ trong nhà lúc nào cũng phảng phất bay ra mùi bánh và rượu quả anh đào.

Salome thường thích kề cà nán lại bàn ăn sau những bữa ăn kéo dài mang phong vị nghệ thuật, lau mồm bằng chiếc khăn ăn dày dặn cải hoa nổi; bà thích trang điểm bằng một sợi xích vàng trên khổ người đầy đặn và cái cổ rộng hồng hào, thích mặc những loại vải tốt, nhất là loại len chải thô được dệt cẩn thận vẫn giữ cái gì đó từ hơi ấm dịu dàng của những con cừu sống. Chiếc khăn trùm đầu hơi kín đáo nhô lên một chút chứng minh cho đức tính khiêm tốn mà không khắc khổ ở một phụ nữ đoan trang. Những ngón tay rắn chắc của bà lướt trên chiếc đàn ống nhỏ đặt ở phòng khách; hồi còn thiếu nữ, bà vẫn thường cất chất giọng mượt mà nhẹ nhõm hát tình ca và những khúc motet thánh ca; bà yêu thích chuỗi âm thanh xoắn xuýt ấy cũng như thích thêu thùa. Nhưng ẩm thực vẫn là công việc lớn nhất: những dịp lễ thánh trong năm, không bao giờ bà quên dịp nào, cũng là những dịp nấu nướng, là mùa muối dưa chuột hay làm mứt, làm pho mát trắng hay cá trích tươi. Martin là một người đàn ông nhỏ bé gày gò, nghệ thuật nấu nướng của vợ không làm ông béo lên. Là một nhà kinh doanh đáng gờm, song lão đôgơ này khi về nhà lại trở thành một chú xpanhơn vô hại. Ông chỉ cả gan cùng lắm là xuất ra vài câu chuyện nhả nhớt với bọn hầu gái. Đôi vợ chồng có một con trai, Sigismond, lúc mười sáu tuổi nó đã lên tàu với Gonzalo Pizarre đi Pêru, ở đó ông chủ nhà băng có đầu tư nhiều tiền của. Nhưng bây giờ họ không còn hy vọng nhìn thấy con, vì tin tức mới đây về Lima rất xấu. Họ vẫn còn có một con gái nhỏ nên cũng vợi nỗi mất mát; Salome thường mủm mỉm cười mỗi khi kể lại lần mang bụng muộn mằn này, đó là phần vì tuần cúng chín ngày, phần vì tác dụng của món nước sốt nụ bạch hoa. Con bé gần cùng tuổi Martha, hai chị em họ ngủ chung giường, chơi chung đồ chơi, chịu chung những trận đòn vì nghịch dại, lớn lên chúng cùng ngồi cạnh nhau học hát và đeo chung đồ trang sức.

 Lúc là kình địch, lúc là bạn hàng, Juste-Ligre to béo và Martin mảnh khảnh, con lợn rừng ở Flandre và con chồn sông Ranh luôn vờn nhau, cố vấn cho nhau từ xa, tương trợ hoặc phá hại nhau từ ba mươi năm nay. Chỉ có họ mới đánh giá đúng số tài sản người kia thực có, trong khi những kẻ hiếu kỳ xoi mói lẫn các ông hoàng mà họ phục vụ, hay họ bòn rút, đều không làm được điều đó. Martin có thể tính được chỉ sai số một xu tài sản quy ra tiền từ số xưởng, công trường, địa chỉ gần như là lãnh chúa mà Henri-Juste đầu tư vàng; ông thường châm biếm lối sống xa hoa của chủ nhà băng người Flamand thành những câu chuyện hài hước, và học được từ đó vài ba mánh khóe lớn, cũng chính những mánh khóe này đã giúp Henri-Juste thoát hiểm. Về phần mình, Henri-Juste, một bề tôi ngoan ngoãn luôn cung kính cấp những khoản tiền cần thiết cho Hoàng hậu Nhiếp chính Hà Lan để bà mua tranh của các danh họa Ý và chi phí cho những công việc sùng đạo, ông phủi hai tay vào nhau mỗi khi được tin Tuyển hầu Palatin hay Quận công Baviere thế chấp đồ trang sức cho Martin và xin xỏ ông ta một khoản vay với lãi suất ngang với lãi suất của một tên Do thái cho vay nặng lãi; ông khen cho Martin, không phải không thương hại chế giễu chút đỉnh, rằng ông ta giống con chuột kín đáo gặm nhấm vật chất có trên đời chứ không dùng hàm răng nhọn đẹp đẽ cấu xé ra thành từng mảnh, khen cho con người ốm yếu biết cách khinh thường những kẻ giàu có cứ trông thấy nhau là đụng độ, là chiếm đoạt lẫn nhau, nhưng chữ ký của hắn ở phía dưới một tờ giấy lại có giá trị ngang với chữ ký của Charles Quint. Hai nhân vật luôn kính trọng những kẻ có quyền lực hiện hành này hẳn là sẽ rất ngạc nhiên nếu ai đó tuyên bố họ còn nguy hiểm đối với trật tự đương thời hơn cả bọn Thổ không trung thành hay bọn nông dân nổi loạn; bản thân họ cũng không nghi ngờ quyền năng làm đảo lộn thế giới của những túi vàng và những sổ sách của họ, cùng với tính chất có thể nuốt chửng ngay lập tức và đến từng chi tiết là đặc điểm của giống người này. Và tuy vậy, ngồi sau cái bàn tiếp khách, nhìn ngược sáng dáng dấp khô cứng của một kỵ sỹ giấu dưới vẻ ngang tàng mối sợ bị đuổi khéo, hay gương mặt êm ái của một đức giám mục muốn hoàn thiện tháp nhà thờ mà không tốn kém lắm, họ bất giác mỉm cười. Những kẻ đối diện họ cứ việc đi tìm nghe tiếng chuông nhà thờ, tiếng đàn sáo, tiếng ngựa nhảy nhót, tìm đến phụ nữ khỏa thân hay mặc gấm vóc; còn họ chỉ cần thu về cái thứ vật chất đáng hổ thẹn và cao cả này, bị phỉ nhổ to tiếng, nhưng lại được yêu chiều và thầm kín ấp ủ, giống như những phần kín mà người ta ít nói đến song lại luôn nghĩ đến, cái chất màu vàng mà nếu không có nó Đức bà Hoàng hậu cũng không dạng chân ra trên giường ngủ của Đức Vua, và Đức tổng giám mục không thể trang trải cho những châu ngọc trên chiếc mũ lễ vàng, mà việc thiếu nó hay thừa nó quyết định những cuộc thập tự chinh có tiến hành hay không. Những kẻ tài trợ cảm thấy mình là giáo sư môn thực tế.

Như Martin rầu lòng vì Sigismond, ông Ligre to béo cũng rất thất vọng với thằng con trai cả. Người ta không nhận được tin tức gì của Henri-Maximilien trong mười năm trời ngoại trừ vài thư xin tiền và một tập thơ tiếng Pháp, chắc là được rặn ra ở Ý giữa hai chiến dịch. Chỉ có những thằng dở hơi chứ không ai khác có thể đến cái xứ ấy. Ông thương gia theo dõi rất sát sao thằng con út để tránh bị thất bát một lần nữa. Ngay khi Philibert, cậu con trai đi theo ý của ông, biết cách chơi bóng, ông đã gửi nó đến học hỏi những tinh túy của ngân hàng ở nhà Martin, người không thể sai lầm. Ở tuổi hai mươi Philibert đã to béo; cậu vẫn có cái dáng dấp nhà quê tự nhiên trong cung cách được chăm chút kỹ lưỡng; đôi mắt xám nhỏ tỏa sáng trong hai kẽ giữa lông mi luôn như nửa nhắm. Cậu con trai của Ông Lắm tiền trong triều đình Malines lẽ ra có thể sống như ông hoàng con; nhưng ngược lại, cậu rất giỏi phát hiện những chỗ bọn nhân viên tính toán sai; trong phòng hậu không ánh sáng mà dân cạo giấy đến hỏng cả mắt, cậu kiểm tra từ sáng đến tối các chữ cái D, M, X và C đứng cạnh những chữ L và i, vì Martin rất ghét cách viết số Ả rập, song không vì thế mà bỏ qua chúng do chúng rất tiện lợi trong những con tính dài dằng dặc. Ông chủ nhà băng quen dần với sự trợ giúp của cậu bé trầm mặc này. Những lúc lên cơn suyễn hay bị chứng thống phong hành hạ làm ông nghĩ đến điểm cuối cuộc đời, người ta thấy ông nói với vợ:

-Anh chàng to xác này sẽ thay tôi.

Philibert dường như bị sổ sách và lũ dao cạo giấy hút hồn. Nhưng một thoáng mỉa mai hé lộ ra ngoài dưới hàng mi; đôi khi, trong khi đang kiểm tra lại các việc kinh doanh của ông chủ, cậu tự nhủ với mình rằng sau Henri-Juste và Martin, tinh tế hơn người này và quyết liệt hơn người kia, sẽ có một ngày Philibert trở thành một tay cao thủ. Đừng tưởng cậu ta sẽ chấp nhận món nợ của ông hoàng người Bồ Đào Nha với khoản lãi mọn mười sáu phân một livre trả làm bốn lần vào bốn dịp hội chợ lớn.

Cậu đến các cuộc vui ngày Chủ nhât, mùa hè tổ chức dưới giàn nho còn mùa đông ở trong phòng khách. Một giáo sĩ cao cấp nào đó cao giọng đọc tiếng La tinh; Salomé chơi thò lò với bà hàng xóm, mỗi lần đánh trúng bà lại bình luận bằng cái giọng vùng sông Ranh; Martin, đã cho hai cô gái học tiếng Pháp đủ để cho một quý bà, bảo chúng diễn đạt hộ mỗi khi phải trình bày một ý rộng hơn hay cao hơn những chuyện ngày bình thường. Họ nói chuyện về chiến tranh ở Saxe và tác động của nó tới chuyện làm ăn, về sự phát triển bọn dị giáo và, tùy theo mùa, chuyện hái nho hay vũ hội hóa trang. Cánh tay phải của ông chủ nhà băng, một thanh niên quê ở thành Geneve có bộ dạng trịnh trọng, tên Zébédée Crêt, cũng được bàn luận trong câu chuyện, vì anh rất sợ thói hút tẩu và uống rượu vang. Anh chàng Zébédée này không hoàn toàn phủ nhận là trước khi trốn khỏi Geneve đã quản lý một sòng bạc và sản xuất bài giả, rồi đổ vấy vụ anh ta phạm luật cho mấy người bạn phóng đãng, giờ đây họ đã bị trừng phạt theo đúng pháp luật, và anh ta cũng không giấu giếm rằng trước sau rồi cũng trở về với giáo phái Cải cách. Ông giáo sĩ phản đối, vung vẩy ngón tay đeo chiếc nhẫn màu tím; ai đó, để đùa vui, đọc lên mấy câu thơ ngớ ngẩn của Theodore de Beze, anh chàng đẹp trai này được Calvin người không thể chê trách tán tụng. Họ tranh luận xem Hội nghị giáo chủ có phản đối đặc lợi của giới thương phú hay không, nhưng tự đáy lòng không ai ngạc nhiên rằng một người tư sản bao giờ cũng phải bằng lòng với những giáo thuyết do các quan tòa trong thành phố tươi đẹp của họ ban ra. Sau khi ăn nhẹ, Martin kéo một thành viên tòa án tối cao hay đặc phái viên bí mật của Vua nước Pháp vào sau một khuôn cửa. Anh chàng người Paris hào hoa nhanh chóng đến bắt chuyện với đám phụ nữ.

Philibert nẩy đàn luth; Benedict và Martha đứng lên tay trong tay. Những lời thơ huê tình từ trong cuốn sách Sách của những người đang yêu nói về nhẫn, hoa và Thần Vệ Nữ, nhưng những giai điệu đang hợp mốt này lại thường dùng đi kèm những bài thánh ca ở nơi ở của bọn cặn bã thuộc phái rửa tội lại hay bọn theo phái Luther, mà ông giáo sĩ vừa giáng vào chúng những đòn sấm sét trong bài tuyên giảng của ông ta. Benedict miễn cưỡng thay thế đoạn thơ thánh vịnh vào chỗ một bài thơ tình. Martha lo lắng ra hiệu cho bạn không hát nữa; hai cô gái lại quay lại ngồi cạnh nhau, và người ta không còn nghe thấy điệp khúc nào cất lên nữa ngoại trừ tiếng chuông nhà thờ Saint-Gereon, báo giờ cầu kinh Đức bà buổi tối. Anh chàng to xác Philibert, nhảy rất giỏi, đôi khi tự cho phép mình chỉ bảo cho Benedict vài đường mới; lúc đầu cô từ chối, sau cô cũng nhảy với vẻ sung sướng như đứa trẻ.

Hai cô chị em họ yêu nhau với tình yêu trong sáng của các thiên thần. Salomé không nỡ bắt Martha phải rời bỏ bà vú nuôi Johanna, và bà lão theo giáo phái Jean Hus đã kể với đứa con của Simon rằng bà đã phải run rẩy như thế nào và chịu đói khổ ra sao. Johanna sợ chuỗi ngày ấy, sự sợ hãi biến vẻ bề ngoài của bà thành một già lão giống như mọi bà già khác, nhận nước ban phép lành ở nhà thờ và hôn nhẫn Chúa. Nhưng trong đáy sâu chính bà vẫn hận thù Sa tăng ngụ trong những cổ áo lễ bằng gấm, những con bò vàng, và những kẻ được tôn sùng bằng da bằng thịt. Bà già ốm yếu, mà ông chủ nhà băng thậm chí chẳng bao giờ cất công phân biệt bà với mấy bà già rụng răng rửa bát ở tầng dưới, từ chối bất kỳ ai và bất kỳ về cái gì, với câu Không muôn thuở. Nếu tin bà thì cái ác phủ đầy ngôi nhà thoải mái hạnh phúc này, như một ổ chuột trong chiếc chăn lông mềm mại. Cái ác giấu mình trong hòm của Bà Salomé và trong két của ông Martin, trong những thùng rượu lớn dưới hầm rượu và trong nồi nước hầm còn thừa, trong tiếng vui đùa phù phiếm những buổi hòa nhạc chiều Chủ nhật, trong những viên ngậm của người dược sĩ và trong di vật nữ thánh Apolline chữa bệnh đau răng. Bà già không dám đổ trách nhiệm một cách công khai cho Đức Mẹ trong hốc cầu thang. Nhưng người ta nghe thấy bà cáu gắt vì dầu cứ đốt chẳng để làm gì trước những con búp bê bằng đá.

Salomé tự nhắc mình phải đề phòng khi thấy Martha mới mười sáu tuổi đã dạy cho Benedicte khinh bỉ những hộp hàng xén đầy những đồ vặt vãnh đắt tiền mua từ Paris hay từ Florence về, hoặc coi thường lễ Noel và những bài hát nhạc hỗn hợp, quần áo mới và ngỗng nhồi nấm củ. Với người phụ nữ tốt bụng này thì quanh bà trời yên đất lặng. Lễ mixa là dịp để nêu gương đạo đức và trình diễn, là cớ để mặc chiếc áo choàng lông nhỏ mùa đông và áo jaket bằng tơ tằm mùa hạ. Mẹ Maria và Đức Chúa, Jésus trên thánh giá, Chúa trên quầng mây đang ngự ở Thiên đường và trên tường các nhà thờ, theo kinh nghiệm bà thấy trong trường hợp nào thì nên cầu xin Đức mẹ đồng trinh nào để cầu được ước thấy. Những khi gia đình có chuyện lục đục, bà sẽ hỏi ý kiến bà linh mục trưởng tu viện Ursulines, điều này không ngăn cản Martin ra mặt chế nhạo các nữ tu sĩ. Đúng là những cuộc bán mua khoan dung đã làm đầy túi của Đức Cha Thần Thánh trái với lẽ thường, nhưng việc rút từ ngân quỹ của Đức Bà và Các Thánh để trang trải những khoản thâm hụt của kẻ tội lỗi cũng lô gích như những chuyển khoản của ông chủ nhà băng. Những hành động lạ lùng của Martha được xếp vào lý do vì thể chất cô ta ốm yếu; sẽ là quái đản nếu tưởng tượng rằng một con người được nuôi ăn học tinh tế lại có thể làm hư hỏng người bạn nó yêu quý, rủ rê bạn nó vào con đường những kẻ ngoại đạo đáng bị cắt xẻo hay bị thiêu sống, rằng cô gái kia phải từ bỏ dính líu vào những cuộc cãi vã của nhà thờ để yên lặng khiêm nhường, điều phù hợp với các cô gái.

Johanna không thể làm gì khác ngoài việc kể cho những cô chủ nhỏ nghe, bằng giọng hơi điên rồ, về những con đường lầm lẫn; bà thánh thiện nhưng ngu dốt, không đọc được Kinh thánh, chỉ nhắc đi nhắc lại được một vài đoạn pha tiếng Hà lan mà bà thuộc lòng, nên bà không thể chỉ ra con đường đúng đắn. Ngay khi khôn lớn với phương pháp giáo dục tự do mà Martin cho chúng học để phát triển trí thông minh của chúng, Martha đã bí mật đọc những cuốn sách nói về Chúa.

Bị lạc lối trước quá nhiểu giáo phái, sợ hãi vì không có ai dẫn dắt, con gái của Simon ngờ rằng có tránh con đường lầm lạc cũ thì rồi cũng lại mắc sai lầm mới mà thôi. Johanna không giấu sự ô nhục của mẹ cô, cũng chẳng giấu cái kết thúc thương tâm của cha cô bị lừa dối và bị phản bội. Cô gái mồ côi biết khi quay lưng lại với sự bỉ ổi của bọn La mã, bố mẹ cô chỉ đâm sâu hơn vào một con đường không đi tới Trời. Cô trinh nữ được chăm sóc tử tế, không bao giờ xuống đường trừ khi có một người hầu gái đi kèm, ghê tởm với ý nghĩ mình sẽ gia nhập vào đám người khóc lóc tha phương cầu thực mê muội đi hết thành phố này sang thành phố khác, bị đám người có của khinh rẻ chửi bới, và kết thúc cuộc đời trên những đống rơm, hoặc trong tù hoặc trên giàn thiêu. Việc tôn sùng người sống là Charybde, nhưng sự nổi loạn, nghèo khó, nguy hiểm và ti tiện là Scylla. Một cách cẩn trọng, anh chàng sùng đạo Zébédée đã kéo cô ra khỏi ngõ cụt ấy: cô bí mật mượn của anh chàng Thụy Sĩ thận trọng một cuốn sách của Jean Calvin, và trong đêm dưới ánh nến, cô đọc nó, cẩn thận như mọi cô gái khác nhìn trước nhìn sau trước khi giải mã thông điệp tình yêu. Cuốn sách mang đến cho đứa con của Simon hình ảnh một đức tin không bao giờ bị nhầm lẫn, loại trừ trong con người ta mọi yếu đuối, chỉ trong tự do, một sự nổi dậy được chuyển thành Luật. Nếu tin anh chàng thư lại, thì ở Geneve dân chúng tin theo kinh Phúc âm trong sạch cùng với sự cẩn trọng và khôn ngoan của giới tư sản: những vũ nữ nhảy như những kẻ nghịch đạo bên trong những ngôi nhà kín đáo, những cậu bé phàm ăn ngay giữa buổi giảng đạo trâng tráo mút bánh ngọt hay kẹo hạnh nhân bị đánh đòn nhừ tận xương; những kẻ ly khai bị ruồng bỏ; những khách làng chơi và bọn điếm bị kết tội chết; những kẻ vô thần thì đúng là phải lên giàn thiêu. Không buông thả theo làn sóng dâm dật của cơ thể, như gã béo Luther ra khỏi tu viện trong vòng tay một tu sĩ, Calvin ngược lại là người lương giáo đã chờ đợi rất lâu trước khi ký kết hôn ước với một bà góa bằng một đám cưới trinh trắng nhất; thay vì phát phì trên những bàn ăn của những ông hoàng, Thầy Jean làm các vị chủ nhà trên phố các Linh mục phụ tá ngạc nhiên vì tính thanh đạm của ông; thông thường ông chỉ ăn bánh và cá Phúc âm, loại cá hồi sông hoặc cá hồi trắng sống trong hồ, vả lại loại này cũng khá đắt.

Martha nhồi nhét tư tưởng của cô cho bạn, còn bạn thì luôn nghe theo cô trong những vấn đề thuộc tinh thần, sẵn sàng biến nó thành sức mạnh tâm hồn. Benedicte là cô gái hoàn toàn trong sáng; nếu sinh ra một thế kỷ trước đó, có lẽ cô đã nhấm nháp hạnh phúc chỉ thuộc về Chúa trời trong một tu viện nào đó; song thời gian là thời gian, con chiên nhỏ như được ăn cỏ xanh, muối và nước mát trong đức tin phúc âm. Ban đêm, trong phòng không ánh lửa, khinh bỉ sự mời gọi của chăn lông gối ấm, Martha và Benedicte ngồi bên nhau đọc lại Kinh thánh giọng thì thầm. Má họ kề bên nhau dường như chỉ là bề mặt để trên đó hai tâm hồn chạm vào nhau. Để sang trang, Martha chờ Benedicte đọc đến cuối trang và, nếu đôi lần cô gái nhỏ thiu thiu ngủ trên những dòng chữ thánh thiện, cô giật tóc bạn nhẹ nhàng. Ngôi nhà của Martin chất ngất sự sung túc chìm trong giấc ngủ nặng nề. Chỉ có nhiệt huyết lạnh lùng của Cải cách là rọi xuống từ căn phòng trên cao trong tim hai cô gái yên lặng, như ngọn đèn của các Đức Đồng Trinh ngoan ngoãn.

Tuy nhiên, bản thân Martha vẫn chưa dám công khai từ bỏ những nghi lễ ô nhục của giáo hoàng. Cô tìm cớ tránh lễ mixa Chủ nhật, và cô cảm thấy thiếu dũng khí là tội lỗi ghê gớm nhất trong cô. Zéhédée thông cảm với sự thận trọng này: Thầy Jean là người đầu tiên trách bà vú Johanna sao lại thổi tắt nến dưới chân tượng Đức mẹ đồng trinh ở chân cầu thang, nhắc nhở các đệ tử nên tránh mọi điều tiếng không cần thiết. Benedicte tế nhị không muốn làm người thân lo lắng hoặc buồn khổ, nhưng vào một tối lễ Các thánh, Martha từ chối không cầu nguyện cho bố cô, mà dù có ở đâu đi chăng nữa ông cũng chẳng cần các Eve của cô. Salomé thấy đó là một sự nhẫn tâm tận cùng, bà không hiểu tại sao lại có thể từ chối cầu nguyện những lời nhỏ nhoi cho người đã khuất.

Martin và vợ từ lâu đã quyết định gả con cho người thừa kế gia sản nhà Ligre. Trên giường ngủ, tĩnh tâm giữa đống chăn dạ thêu thùa đẹp đẽ, họ bàn đến chuyện ấy. Salome tính trên đầu ngón tay xem con gái bà có bao nhiêu hòm quần áo, bao nhiêu tấm da chồn và tấm phủ chân thêu. Hoặc giả, lo lắng rằng Benedicte bẽn lẽn thế nào cũng trở nên khó bảo đối với chuyện hôn nhân, bà lục tìm trong trí nhớ cách làm thứ dầu thơm tăng dục dùng trong các gia đình để xức cho đôi trẻ. Còn Martha, họ sẽ tìm cho cô một lái buôn khả dĩ trên quảng trường Cologne, hay thậm chí một hiệp sĩ mang nợ, Martin sẽ độ lượng bảo anh ta đặt thế chấp bằng đất đai của anh ta.

Philibert vẫn hay trao cho nữ nhân thừa kế của ông chủ nhà băng những lời khen ngợi thông dụng. Nhưng hai chị em họ đội mũ giống nhau và đeo đồ trang sức như nhau; anh ta rất hay nhầm, và Benedicte có vẻ như thích thú mỗi lần gài bẫy trúng. Anh chàng thực sự bực tức: cô ta trị giá lượng vàng đúng bằng khối lượng cô ta, chứ cô chị họ cùng lắm chỉ bằng một nắm florin.

Khi hợp đồng gần như đã dựng xong xuôi, Martin gọi con gái vào phòng để ấn định ngày cưới. Không buồn không vui, Benedicte cụt lủn đáp lại cử chỉ ôm hôn và những biểu lộ tình cảm âu yếm dạt dào của bà mẹ, quay lên phòng ngồi may cùng với Martha. Cô gái mồ côi gợi ý chuyện trốn đi; có lẽ sẽ có một chiếc thuyền nào đó nhận chở cô đến tận Bâle, ở đó những người thiên chúa giáo tốt bụng sẽ giúp cô đi tiếp. Benedicte đổ cát trong tráp bút ra bàn, trầm ngâm vạch lên đó một dòng sông. Sáng hôm sau, cô di chầm chậm ngón tay lên bản đồ vừa vạch ra; khi cát trên bàn trở lại phẳng trên mặt bàn nhẵn bóng, vị hôn thê của Philibert thở dài đứng dậy:

- Mình quá yếu đuối.

Khi đó Martha không nhắc đến việc trốn chạy nữa, đành bằng lòng với việc giở ra cho bạn xem một đoạn thơ về cô gái bỏ người thân đi theo đức lang quân.

Cái lạnh sáng sớm làm họ phải lên giường cho ấm. Nằm ôm nhau, hai cô gái trong trắng an ủi nhau, nước mắt quyện làm một. Sau rồi tuổi trẻ thắng thế, họ quay ra chế giễu đôi mắt nhỏ và cái má phính của anh chồng chưa cưới. Những kẻ cầu hôn Martha cũng không khá hơn: Benedicte làm bạn cười ngặt nghẽo khi tả một lái buôn hơi hói, một anh chàng cường hào chặt căng trong bộ quần áo nịt trong những ngày hội đấu kiếm cầm thanh sắt vụn khua ầm ĩ, hay con trai ông thị trưởng, một thằng ngốc ăn mặc đỏm dáng như những ma nơ canh gửi từ Pháp về cho các nhà may, với chiếc mũ lông và cửa quần kẻ sọc. Martha đêm đó mơ thấy Philibert, Sadduceen, hay Amalecite với trái tim tà đạo không chịu lễ cắt quy đầu, sẽ mang Benedicte đi trong một cái hộp nhấp nhô trên những làn sóng sông Ranh.

Năm 1549 bắt đầu bằng những cơn mưa làm trôi cả cây giống trong những vườn rau; lũ sông Ranh làm ngập hầm các nhà, táo và những thùng nửa đầy nửa vơi trôi lềnh bềnh trên mặt nước xám. Tháng Năm, dâu tây vẫn còn xanh đã thối nát trong rừng và quả anh đào cũng thối trong các vườn cây. Martin cho phát chẩn súp cho người nghèo dưới cổng nhà thời Saint - Gereon; ông ta bố thí vì lòng thương thiên chúa giáo nhưng cũng vì sợ bạo loạn. Nhưng đó chỉ là những dấu hiệu của một tai họa kinh khủng hơn nhiều. Dịch hạch, đến từ phía Đông, đã vào Đức thông qua vùng Bôhêm. Nạn dịch di chuyển chẳng cần vội vã, với tiếng chuông nhà thờ, như một nữ hoàng. Nó gieo mình vào cốc rượu của người uống rượu, thổi vào ngọn nến của nhà thông thái ngồi giữa đống sách vở, phục vụ lễ mixa của các vị linh mục, ẩn nấp như con rận trong áo bọn gái điếm vui vẻ, dịch hạch mang lại cho cuộc sống tất cả mọi người một yếu tố công bằng trêu ngươi, một thứ men phiêu lưu nồng hắc, nguy hiểm. Tiếng chuông báo tử gieo rắc trong không khí tin đồn mạnh mẽ về lễ hội đen: những kẻ hiếu kỳ tụ tập dưới chân những tháp chuông không ngừng ngửa cổ lên nhìn tít trên cao kia bóng dáng người kéo chuông, lúc thì ngồi xổm, lúc thì treo lơ lửng, dồn hết trọng lực cơ thể vào cái chuông lớn. Nhà thờ không vắng người, quán rượu cũng không.

Martin náu mình trong phòng như để chống lại tên trộm nào đó. Nếu tin ông thì cách đề phòng bệnh cẩn thận nhất là uống vừa phải thứ rượu johannisberg, tránh xa đám con gái và những ông bạn bia, đừng có hít mạnh cái thứ không khí trên đường phố, và nhất là đừng đi tìm hiểu xem có bao nhiêu người chết. Johanna vẫn đi chợ hoặc đi đổ rác, gương mặt bà hằn lên những vết sẹo, ngôn ngữ pha giọng ngoại kiều của bà vẫn làm mếch lòng những người xung quanh như mọi khi; trong những ngày kinh khủng này, nghi ngờ chuyển thành thù ghét, và trên những chỗ bà đi qua người ta kháo nhau rằng bà gieo rắc bệnh dịch hạch và rằng bà là phù thủy. Dù bà có thú nhận hay không, thì người hầu già trong thâm tâm cũng vui mừng thấy tai họa của Chúa đã đến, sự vui mừng kinh khủng này nở ra trên khuôn mặt bà; bà quanh quẩn bên Salomé, đang bị bệnh nặng, làm những công việc phục dịch nguy hiểm mà những người hầu khác lảng tránh, bà chủ đẩy bà ra, miệng than vãn rên rỉ như thể bà già giúp việc lẽ ra là mang bình nước nóng đến thì lại mang theo cái lưỡi hái và chiếc đồng hồ cát.

Ngày thứ ba, Johanna không xuất hiện ở đầu giường người bệnh nữa, Benedicte cho mẹ nuốt chửng từng thìa thuốc và đặt lại tràng hạt vào giữa hai tay bà, nó không ngừng rơi xuống. Benedicte yêu mẹ cô, hoặc đúng hơn cô không biết là cô có thể không yêu mẹ. Nhưng với lòng hiếu thảo thơ ngây chân chất, vì những đau đớn mà bà thốt ra lời trong phòng đẻ, vì sự vui vẻ chăm cho con làm đứa trẻ nào cũng nhớ đến thời nó bập bẹ biết nói, thời nó còn quấn tã và chưa biết đi ỉa, cô đau đớn cho mẹ. Xấu hổ vì mình sốt ruột nhưng không thú nhận ra chỉ làm cô thêm xăng xái phục vụ như một nữ y tá. Martha mang lên quần áo và khay, nhưng cố tình sắp xếp để không bao giờ bước chân vào phòng. Cả nhà không sao tìm được một bác sĩ đến chăm sóc cho bà.

Đêm sau khi Salomé chết, Benedicte nằm bên cạnh cô chị họ bắt đầu cảm thấy bệnh đã đến sát bên mình. Cơn khát khủng khiếp thiêu cháy cô, cô giải trí bằng cách tưởng tượng ra cảnh con hươu trong kinh thánh đang uống nước nguồn. Cơn ho chực phát ra từ cổ họng cô làm cổ họng giật giật rất khó chịu; cô cố nén ho để không làm Martha thức giấc. Cô đã như bồng bềnh, hai tay đan vào nhau, người cứ như chực trôi xa ra khỏi giường có chấn song, để lên Thiên đường rộng lớn và sáng láng, nơi có Chúa trời. Cô quên mất lời những bài thánh ca, rồi khuôn mặt quen thuộc của các nữ thánh lại xuất hiện giữa đống diềm màn; Đức mẹ Maria từ trên trời cao chìa tay xuống dưới những nếp gấp của trời, Con Bà với đôi má phính và những ngón tay hồng cũng bắt chước cử chỉ của Bà. Trong im lặng, Benedicte than thở về tội lỗi của cô: cô đã cãi nhau với Johanna vì một cái mũ trùm nhỏ bị xé rách, cô đã mỉm cười đáp lại ánh mắt mấy thằng con trai đi qua dưới cửa sổ, cô đã muốn chết, xuất phát từ sự lười biếng, sốt ruột muốn lên trời, và cô đã muốn không phải chọn giữa Martha và bố mẹ cô, giữa hai cách nói với Chúa trời. Martha thốt kêu lên khi thấy khuôn mặt người em họ tàn tạ trong ánh sáng yếu ớt đầu tiên của buổi sáng.

Benedicte ngủ trần, như thường lệ. Cô gọi người chuẩn bị áo xếp nếp, và không sao chải tóc được. Martha giúp cô, khăn mùi soa buộc mũi, rụng rời chân tay vì kinh hoàng khi nhìn thấy thân thể nhiễm bệnh. Căn phòng đột ngột ẩm ướt một cách thâm hiểm; người bệnh thấy lạnh, Martha đốt lò sưởi, dù lúc này không lạnh. Với giọng khàn khàn, như giọng mẹ cô hôm trước, cô hỏi tràng hạt, Martha nhón mấy đầu ngón tay cầm chìa ra cho cô. Thốt nhiên, thấy đôi mắt sợ hãi của người bạn dưới đống chăn áo đẫm dấm, bằng tính tinh nghịch trẻ thơ, cô nhẹ nhàng nói:

- Đừng sợ, em ạ, rồi em sẽ có được một anh chàng to béo biết nhảy quay chân rất tài.

Cô quay mặt vào tường như mọi khi lúc muốn ngủ.

Ông chủ nhà băng lặng người trong phòng. Philibert đã quay về với Flandre với bố anh ta đến hết tháng Tám; Martha, bị bọn người hầu bỏ quên vì không dám lên gác, kêu họ ít nhất cũng gọi Zébédée, anh này vừa quyết định vài ngày nữa mới về quê, để làm nốt công việc đang gấp rút. Anh ta đồng ý mạo hiểm bước lên cầu thang và tỏ vẻ ân cần đúng mực. Các thầy thuốc trong vùng, người thì gần kề bệnh, người thì đã bị nhiễm, kẻ lại khăng khăng không muốn làm lây bệnh cho những bênh nhân thông thường của họ bằng việc đến bên giường những người đang bị dịch hạch, nhưng người ta đã nghe nói có một bác sĩ tài giỏi vừa đến Cologne để nghiên cứu tại chỗ những tác động của bệnh. Người ta làm tất cả những gì có thể được để thuyết phục ông đến cứu Benedicte.

Ông thầy thuốc mãi không thấy đến. Trong thời gian đó, bệnh cô bé ngày càng nặng. Martha dựa người vào khung cửa, theo dõi cô từ xa. Tuy nhiên nhiều lần cô cũng đến gần cho người bệnh uống nước, tay run run. Người bệnh phải cố lắm mới uống được; nước trong cốc đổ ra giường. Thỉnh thoảng người ta nghe thấy tiếng cô ho khô khốc và ngắn ngủn, như tiếng sủa của con chó nhỏ; mỗi lần như vậy, Martha dù không muốn vẫn hạ ánh mắt tìm quanh váy con chó bacbe, cố không tin rằng tiếng kêu thú vật kia không phát ra từ đôi môi hiền dịu. Cuối cùng cô ngồi xuống bậc cầu thang để không nghe thấy tiếng ho nữa. Trong vài giờ liền, cô đấu tranh với nỗi sợ rằng bạn cô sẽ chết, vì những dấu hiệu đầu tiên đã xuất hiện trong ánh mắt, và sợ hơn cả là đến lượt cô cũng sẽ bị lây bệnh như phải thế đối với những kẻ tội lỗi. Benedicte không còn là Benedicte nữa, mà là một kẻ thù, một con thú, một vật nguy hiểm không được chạm tay vào. Vào buổi tối, không thể chịu đựng nổi nữa, cô xuống ngưỡng cửa đợi ông bác sĩ đến.

Ông hỏi có phải đó là nhà Fugger không rồi bước vào không chào hỏi gì. Đó là một người đàn ông mảnh khảnh và cao, mắt trũng sâu, mặc chiếc áo choàng màu đỏ mà các thầy thuốc đồng ý đến nhà người bị dịch hạch thường mặc, và như thế họ buộc phải từ chối khám cho những người bị bệnh bình thường khác. Làn da sạm làm ông ta có vẻ lạ lẫm. Ông nhanh nhẹn leo lên cầu thang; Martha ngược lại chần chừ dù cô không muốn thế. Đứng ở khe giường, ông tung chăn ra và thấy thân thể nhỏ bé rung lên vì những cơn co thắt trên đệm bẩn.

- Bọn hầu gái đã rời tôi đi hết rồi - Martha cố gắng giải thích vì sao giường bẩn thế.

Ông hơi lắc đầu đáp lại, bận nắn hạch bẹn và nách một cách tế nhị. Cô bé líu ríu nói chuyện hoặc hát nho nhỏ giữa hai lần ho đục: Martha nhận ra một đoạn bài hát phù phiếm lẫn với một bài vè nói về Jesus-Christ mới xuất hiện.

- Cô ấy kỳ cục quá - cô nói như thể hơi bực mình.

- Ờ…, chắc thế, ông nói vẻ kín đáo.

Người đàn ông trong chiếc áo đỏ thả tấm ga xuống rồi cầm đồng xu ấn vào phía trên họng và cổ tay. Tiếp đến ông đong mấy giọt rượu ngọt và khéo léo đưa thìa thuốc vào đôi môi khép.

- Đừng có cố gắng dũng cảm - ông cảnh cáo - khi nhận thấy Martha giữ gáy người bệnh với không gì khác ngoài vẻ ghê tởm - Bây giờ cô không cần phải giữ đầu hay cầm tay cô ấy nữa đâu.

Ông lau đôi môi hơi dính mủ máu đỏ xám bằng một mảnh giẻ và ném ngay vào lò sưởi. Cái thìa và đôi găng tay ông vừa dùng cũng thế.

- Ông không chọc những chỗ bị sưng phồng này sao? - Cô dò hỏi, sợ rằng ông thầy thuốc vội vã này bỏ quên một động tác cần thiết, và nhất là cố gắng giữ ông ở bên giường bệnh.

- Chắc chắn là không - ông nhỏ giọng nói - Những mạch bạch huyết này mới chỉ hơi phồng lên, và cô ấy sẽ ra đi trước khi chúng phình to. Non est medicamentum [1]. Sức sống của em cô đã xuống mức thấp nhất rồi. Chúng ta chỉ có thể làm giảm sự đau đớn cho cô ấy.

- Tôi không phải chị cô ta, thốt nhiên Martha phản đối, như thể việc khẳng định như vậy sẽ biện hộ cho sự run sợ của cô, nhất là đối với bản thân cô - Tôi tên là Martha Adriansen chứ không phải Martha Fugger. Tôi là chị họ.

Ông ta chỉ liếc nhìn cô, và đắm mình vào quan sát phản ứng thuốc. Người bệnh không bị kinh động nữa dường như đang mỉm cười. Ông đong một liều rượu ngọt nữa để đêm cho cô ta uống. Sự có mặt của người đàn ông này, dù không hứa hẹn điều gì, cũng làm cho căn phòng khủng khiếp đối với Martha từ sáng sớm tới giờ trở lại bình thường. Khi ra đến cầu thang, ông lột bỏ chiếc mặt nạ ông dùng khi khám cho người bệnh dịch hạch, vì đó là nguyên tắc. Martha theo ông xuống đến chân cầu thang.

- Cô nói cô tên là Martha Adriansen - bỗng nhiên ông hỏi - Hồi trẻ tôi có biết một người đàn ông lúc ấy cũng đã đứng tuổi rồi có tên như thế. Vợ ông ta là Hilzonde.

- Đó là bố mẹ tôi - Martha nói miễn cưỡng.

- Họ còn sống không?

- Không - cô thấp giọng nói - Họ ở Munster lúc Đức Tổng giám mục chiếm thành phố.

Ông tìm cách đẩy cửa ra phố, cửa có ổ khóa phức tạp như khóa két. Một chút không khí lọt vào tiền sảnh giàu có và ngột ngạt. Bên ngoài hoàng hôn u ám màu xám.

- Cô lên trên ấy đi - cuối cùng ông nói với một lòng tốt lạnh lùng - Trông cô vẫn còn khỏe, và bệnh dịch hạch không gây ra những nạn nhân mới nữa đâu. Tôi khuyên cô đặt dưới mũi một cái khăn thấm rượu (tôi không mấy tin tưởng vào dấm cô đắp lên mặt) và cô hãy trông nom người hấp hối này đến lúc cô ấy ra đi. Sự sợ hãi của cô là tự nhiên và có lý, nhưng xấu hổ và tiếc nuối cũng là những điều ác.

Cô quay lại má đỏ bừng, tìm trong túi tiền dắt ở thắt lưng, cuối cùng chọn ra một đồng vàng. Việc trả tiền thiết lập lại khoảng cách, làm cho cô cao hơn hẳn người đối diện, kẻ lang thang hết khu nhà ổ chuột này đến khu nhà ổ chuột nọ, kiếm miếng ăn từ giường các con bệnh dịch hạch. Ông cất đồng tiền vàng mà không nhìn nó vào túi áo choàng rồi ra đi.

 Còn lại một mình, Martha đi tìm lọ rượu trong bếp. Trong phòng không có ai, bọn hầu gái chắc chắn đã đến nhà thờ lầm rầm cầu khấn. Trên bàn cô thấy một lát pa tê. Cô ăn chậm rãi, bắt mình phải ăn để phục hồi sức lực. Vì thận trọng, cô cũng bắt mình phải ăn vài nhánh tỏi. Khi cô đủ sức leo lên tầng, Benedicte có vẻ như ngủ gà gật, nhưng những hạt hoàng dương thỉnh thoảng lại lọt qua kẽ tay cô. Sau liều rượu ngọt thứ hai, cô đã khá hơn. Đến hoàng hôn cơn kịch phát lại đến mang cô đi.

Martha chôn cất cô cùng ngày với Salomé trong tu viện Ursulines, như niêm phong cho một lời nói dối. Sẽ không có ai biết rằng Benedicte đã suýt đi con đường hẹp mà người chị họ đẩy cô vào, cùng với cô đi đến Thành phố của Chúa. Martha cảm thấy bị vặt trần trụi, bị phản bội. Bệnh nhân mắc bệnh dịch hạch đã ít hơn, nhưng đi trên những phố dài hầu như không có người, cô vẫn cẩn trọng khép chặt tà áo măng tô vào người. Cái chết của cô bé chỉ làm tăng thêm khát vọng điên rồ của cô là tiếp tục sống, là không từ bỏ những gì đã là cô và những gì cô có, để trở thành một trong những gói lạnh lẽo mà người ta đặt trên nền nhà thờ kia. Benedicte đã chết, được yên ủi rằng những bài kinh cầu nguyện và các Eve sẽ cứu rỗi linh hồn cô; Martha không có lòng tin như thế với chính bản thân mình; có vẻ như cô thuộc số người mà trước khi sinh ra Chúa đã có lệnh trừng phạt, và bản thân đức hạnh của cô là một hình thức ngoan cố không làm hài lòng Chúa trời. Vả lại đó là đức hạnh gì vậy? Trong dịch bệnh, cô quá nhút nhát, không thể nói chắc rằng đứng trước đao phủ cô sẽ trung thành với Vĩnh cửu hơn mức trung thành cô đã thể hiện với cô gái ngây thơ mà cô tưởng rằng mình rất yêu quý trong thời kỳ dịch hạch. Đó cũng là một lý do nữa để làm chậm trễ đến mức có thể được bản án mà người ta không tuyên.

Cả buổi tối hôm đó cô dành để tuyển thêm những người hầu gái mới, những đứa đã chạy trốn không thấy quay trở về, hoặc nếu trở về thì cũng bị đuổi. Họ đổ nước ra sàn để lau rửa; rải lá thơm trộn với lá thông lên sàn nhà. Chỉ đến khi cọ rửa như vậy người ta mới phát hiện ra Johanna đã chết, bị mọi người bỏ quên, trong phòng áp mái dành cho người hầu; Martha không còn thời gian để thương khóc bà. Ông chủ nhà băng lại xuất hiện, với vẻ mặt đau buồn một cách hợp lý trước tang tóc, nhưng quyết định sống phần đời góa bụa còn lại một cách yên ổn trong ngôi nhà do một bà quản gia tốt bụng nào đó cai quản, theo ý ông, không ba hoa, không ầm ĩ, không quá trẻ song cũng không quá mướp. Không ai, thậm chí cả ông nữa, nghi ngờ rằng người vợ tuyệt hảo của ông hà hiếp ông suốt cuộc đời. Từ bây giờ ông sẽ là người duy nhất quyết định ngủ dậy lúc mấy giờ, ăn lúc nào, ngày nào đi khám thầy thuốc, và sẽ không ai ngắt lời ông nữa nếu ông có kề cà kể hơi dông dài một chút câu chuyện cô bé và con chim sơn ca với một cô hầu phòng.

Ông nhanh chóng tống khứ cô cháu mà trận dịch hạch đã biến cô thành người thừa kế duy nhất, nhưng ông không hề có ý muốn nhìn thấy cô làm chủ bàn ăn trước mặt mình. Ông xin giấy miễn cho phép hai anh em con chú con bác lấy nhau, và tên của Martha thay thế cho Benedicte trên hợp đồng.

Khi biết được ý định của bác, Martha xuống dưới quầy nơi Zébédée đang làm việc. Anh chàng người Thụy Sĩ đã tạo được sản nghiệp; vì chiến tranh với nước Pháp không thể không sớm diễn ra, anh chàng thư lại ở hẳn tại Geneve từ bây giờ sẽ thay Martin đứng tên trong các chuyển khoản với người trong hoàng gia Pháp đang nợ nần ông. Trong thời kỳ bệnh dịch hoành hành, Zébédée thu được mấy vụ cho bản thân, khi quay trở lại anh đã là một nhà tư sản được kính trọng, người ta quên những tội lỗi vụn vặt trong thời trai trẻ của anh. Martha thấy anh đang nói chuyện với một người Do thái, cho vay ngắn ngày, đang bí mật mua lại cho Martin các món nợ và đồ đạc của những người đã chết, với ông ta sự đê tiện trong những thương vụ lắm lời như thế này không đáng kể gì so với nhu cầu. Nhận ra người được thừa kế, anh ta kết thúc câu chuyện với ông Do Thái.

- Lấy tôi làm vợ đi, đột nhiên Martha nói.

- Khoan khoan đã nào - anh chàng thư lại nói, trong đầu tìm lời nói dối.

Anh ta đã có vợ, sau một lần yêu đương vô ý duy nhất trong đời từ hồi còn trẻ, anh đã cưới cô gái thợ làm bánh mì ở Pâquis, vì những lời khóc lóc của cô và sức ép gia đình. Một lần chung đụng từ lâu là lý do ra đời đứa con duy nhất của họ; anh ta cho cô một số tiền trợ cấp, và sắp xếp sao cho luôn có khoảng cách với người nội trợ có đôi mắt viền đỏ này. Nhưng tội lấy hai vợ không thuộc loại tội người ta có thể nhẹ dạ mắc phải.

- Nếu cô tin tưởng tôi - anh nói - hãy để tên đày tớ của cô được yên ổn, và đừng mua hai xu lấy sự hối hận, như thế đắt lắm… Cô có hài lòng đến thế này không khi nhìn tiền của Martin rót vào việc tu bổ các nhà thờ?

- Liệu tôi có sống cho đến lúc chết tại đất nước Canaan được chăng? - Cô gái mồ côi đáp chua chát.

- Người đàn bà mạnh mẽ, khi đã vào nhà của kẻ Nghịch đạo, có thể làm cho Công lý ngự trị nơi đó - anh chàng thư lại vặn lại, anh ta cũng quen với lối nói chữ trong Kinh thánh như cô vậy.

Người ta thấy rõ là anh ta không quan tâm đến việc xoay xở ra sao với nhà Fugger thế lực. Martha cúi đầu xuống, sự thận trọng của anh chàng thư lại cho cô những lý do tốt để khuất phục mà cô đang tìm kiếm dù không ý thức. Cô gái khắc khổ có thói hư tật xấu của một người già: cô yêu tiền vì sự an toàn nó mang lại và sự kính trọng nó cung cấp. Bản thân Chúa cũng đã chỉ định cô bằng chính ngón tay là phải sống cùng những người có thế lực trong thế giới này; cô không quên rằng số hồi môn như cô có sẽ làm tăng gấp mười mấy lần quyền lực của cô trong gia đình với tư cách là vợ, và việc hợp nhất hai gia tài là một nghĩa vụ mà một cô gái biết điều không bao giờ bỏ qua.

Tuy nhiên cô cố gắng tránh nói dối. Ngay lần đầu tiên gặp anh chàng Flamand, cô đã nói với anh:

- Có lẽ anh không biết rằng tôi đã theo đức tin thiên chúa thánh.

Cô chờ đợi những lời trách móc. Vị hôn phu nặng ký bằng lòng với cái lắc đầu trả lời:

- Thứ lỗi cho tôi, tôi còn nhiều việc phải làm. Những vấn đề thần học rất hóc búa.

Và không bao giờ anh ta nhắc lại lời thú tội này nữa. Khó mà biết được đơn giản là vì nó tinh tế một cách kỳ lạ, hay chỉ vì nó quá nặng nề.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng La tinh: Đó không phải là cách chữa bệnh

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.