Ông tới trước cửa Porte de Damme vào lúc cổng thành vừa mở. Tốp lính gác lịch sự chào ông. Họ đã quen nhìn thấy nhà nghiên cứu cây cỏ ra đi vào buổi sáng, gói đồ của ông không làm họ chú ý. Ông bước những bước dài dọc theo dòng kênh; bây giờ mới là lúc người ta chở rau vào thành phố bán; rất nhiều người trong số họ biết ông và lên tiếng chào, chúc ông một chuyến đi may mắn, chỉ có người định đến bệnh viện khám bệnh sa ruột là tỏ vẻ sửng sốt khi biết bác sĩ vắng nhà, bác sĩ Théus an ủi ông ta rằng cuối tuần ông sẽ về, nhưng lời nói dối này thật khó thốt ra.
Trước mắt ông là một trong những buổi sáng đẹp trời, mặt trời lên cao dần dần xuyên thủng đám sương mù. Một sự sảng khoái gần như là vui mừng chiếm lấy tâm trí ông. Dường như thế là đủ để quẳng lại sau lưng, như một cú hất vai, những sợ hãi lo âu trong lòng ông vài tuần qua, để tiến một bước mạnh mẽ tới một nơi trên bờ biển từ đó ông sẽ tìm được một chiếc thuyền. Buổi sáng làm tan những điều u ám, không khí tự do xua tan những mê sảng. Bruges, đằng sau lưng ông một dặm đường, như thể nó ở trong một thế kỷ khác hay trong một không gian khác. Ông ngạc nhiên đã đồng ý tự giam mình gần sáu năm trời trong nhà thương làm phúc Saint-Cosme, sa lầy vào những lề thói thường nhật còn tồi tệ hơn cuộc sống của giới Nhà thờ đã làm ông thấy khủng khiếp khi ông mới hai mươi tuổi, tự thổi phồng tầm quan trọng những mưu mô và những vụ tai tiếng không thể tránh khỏi trong vòng tu kín. Ông gần như ngạo nghễ trước những khả năng bất tận của sự tồn tại khi từ chối thế giới rộng mở trong ngần ấy năm trời. Bước đi của trí tuệ, khai phá một con đường ngược lại với sự vật, chắc chắn sẽ dẫn đến những chiều sâu tuyệt vời, song nó lại làm cho không thể thực hiện được bản thân công việc tồn tại. Từ quá lâu ông đã tự tước bỏ niềm hạnh phúc là được đi thẳng về phía trước trong tính hiện tại của khoảnh khắc, để cái ngẫu nhiên trở thành số phận của mình, chẳng cần biết tối nay ông sẽ ngủ ở đâul, hay trong tám ngày nữa ông sẽ làm thế nào để có bánh ăn. Sự thay đổi làm ông như tái sinh, gần như là một sự luân hồi. Những bước chân thay nhau chuyển động đủ để làm yên ắng tâm hồn. Đôi mắt ông chỉ chăm chú nhìn xuống bước chân đi, đồng thời vẫn quan sát thú vị màu xanh đẹp đẽ của cây cỏ. Tai ông hài lòng ghi lại tiếng hí của một chú ngựa non đang phi nước kiệu dọc theo hàng rào cây xanh hay tiếng chiếc xe bò cót két trên đường. Một sự tự do hoàn toàn sinh ra do sự ra đi.
Ông đến gần thị trấn nhỏ Damme, đó là hải cảng cũ của Bruges, trước kia khi bờ biển này còn chưa bi cát lấn, những con tàu lớn từ đại dương vẫn cập bến nơi đây. Thời kỳ sầm uất đã qua rồi, những con bò cái gặm cỏ ở nơi trước kia người ta chất lên tàu những kiện len. Zénon nhớ ra đã có lần nghe nói tay kỹ sư Blondeel đã cầu xin Henri-Juste ứng trước một phần số tiền cần thiết để chống lại sự xâm lấn của cát, ông nhà giàu thiển cận đã từ chối người đàn ông khéo léo có thể cứu được cả thành phố. Lão keo kiệt ấy chẳng bao giờ hành động khác đi đượcÔng dừng lại trên khoảnh đất rộng giữa thị trấn để mua một chiếc bánh mì tròn. Các ngôi nhà giàu có ddax bắt đầu hé mở cửa. Một bà xơ hồng hào trắng trẻo trong chiếc mũ bảnh bao thả con chó bácbê ra, con chó vui mừng chạy ra xa, nó đánh hơi trên cỏ, trước khi đứng im một lúc với thái độ hối tiếc của loài chó khi đi đại tiện, để rồi lại tiếp tục nhảy và chơi. Một đám trẻ ríu rít đi đến trường, tròn trĩnh và dễ thương như những con chim cổ đỏ trong bộ quần áo đủ các sắc màu. Tuy nhiên đó chính là những thần dân của nhà vua Tây Ban Nha một ngày nào đó sẽ làm những người Pháp đều phải đau đầu. Một con mèo đi ngang qua, trở về nhà, đôi chân chim treo lủng liểng thò ra ngoài miệng nó. Mùi bột và mỡ dễ chịu thoát ra từ cửa hiệu một người bán thịt quay, lẫn với mùi nhạt nhẽo trong hiệu thịt bên cạnh, bà chủ cửa hàng đang dội nước cọ rửa ngưỡng cửa dính tiết. Cành cây quen thuộc dùng để treo cổ đứng bên rìa thị trấn, trên đỉnh gò nhỏ rạp cỏ, nhưng xác chết treo ở đó đã lâu, dưới nắng gió và mưa, đến nỗi nó gần như khoác lên mình vẻ hiền lành của một vật cũ kỹ bị bỏ quên, gió đùa nghịch thân thiện với những mảnh quần áo rách đã phai màu. Một đội lính cầm nỏ ra đi bắn chim sáo, đó là những kẻ tư sản vừa sung sướng vừa chuyện trò vừa vỗ vai nhau, người nào cũng đeo chéo qua vai chiếc túi trong đó có một mẩu của sự sống mới đây còn ca hát dưới bầu trời. Zénon rảo bước. Lúc đầu chỉ có một ông đi trên con đường giữa hai bãi chăn thả gia súc vật. Cả thế giới dường như được ghép từ bầu trời xám và cây cỏ xanh, tràn đầy nhựa sống, không ngừng chuyển động trên mặt đất như làn sóng. Một khoảnh khắc, ông nhớ lại khái niệm giả kim thuật viriditas, lỗ thủng vô tội của tồn tại thúc đẩy một cách yên bình ngay cả bản chất của sự vật, một mẩu sự sống trong tình trạng thuần khiết, rồi từ chối mọi khái niệm để gieo mình vào sự đơn giản của buổi sáng, không hơn.
Mười lăm phút sau, ông gặp một người bán hàng xén đang đèo hàng sau lưng đi trước ông, họ chào nhau, người bán hàng xen than phiền hàng hóa ế ẩm, bao nhiêu làng mạc trong nước đã bị bọn kỵ binh Đức cướp phá. Ở đây, ít ra cũng còn được yên ổn, không có chuyện gì lớn xảy ra. Zénon đi tiếp và lại chỉ thấy trên đường có mình ông. Vào quãng trưa, ông ngồi lại ăn bánh trên một sườn dốc từ đó ông nhìn thấy lấp loáng vệt xám của biển ở đằng xa. Một lữ khách có chiếc sào dài đến ngồi cnahj ông. Đó là một người mù, ông ta cũng lôi đồ ăn từ trong chiếc dãy hai túi ra. Bác sĩ thán phục sự khéo léo của người đàn ông có hai hốc trắng ở mắt khi ông ta cởi cây kèn túi đeo trên vai xuống, tháo dây đai và nhẹ nhàng đặt cây đàn xuống cỏ. Người mù tỏ ý vui mừng vì trời đẹp. Ông ta kiếm sống bằng cách làm nhộn cho đám thanh niên trai gái nhảy ở nhà trọ hoặc trong sân một trang trại, tối nay ông sẽ ngủ lại ở làng Heyst, chủ nhật ông biểu diễn ở đó, ông ta sẽ đi tiếp đến vùng Sluys, nhờ Chúa, vẫn còn khác nhiều bọn trẻ để họ có thể kiếm sống khắp nơi, và đôi khi cảm thấy hạnh phúc. Mynheer có tin điều này chăng? Vẫn còn thấy đây đó những phụ nữ đáng giá cao những người mù, không nên thổi phồng sự bất hạnh mất đôi mắt. Như rất nhiều người đồng cảnh khác nhau, người mù này sử dụng lạm dụng từ nhìn, ông nhìn thấy Zénon là một người đàn ông tuổi trung niên có giáo dục, ông nhìn thấy mặt trời vẫn còn trên đỉnh đầu, ông nhìn thấy người đi trên con đường mòn sau lưng họ là một người phụ nữ hơi tàn tật đang đeo ách trên đó có hai chiếc xô. Vả lại không phải những lời hươu vượn của ông ta đều sai: chính ông ta nhận thấy trước tiếng một con rắn đang trườn trên cỏ. Ông ta thậm chí cố lấy chiếc gậy đập chết nó. Zénon chia tay ông ta sau khi đã bố thí một lia, và bị bám theo bằng những lời cầu chúc đến chướng tai.
Con đường đi vòng qua một trang trại khá lớn, đó là trang trại duy nhất trong vùng nơi người ta cảm thấy tiếng lạo xạo của cát dưới bàn chân. Trang trại có vẻ tươi tốt với những khoảnh đất nối với nhau bằng những nhóm cây phỉ, tường rào chạy dài theo bờ kênh, sân phủ bóng cây đoạn, nơi người phụ nữ đeo ách lúc trước ngồi nghỉ trên ghế, ách để xuống đất, và trông chừng hai chiếc thùng để bên cạnh. Zénon lưỡng lự, rồi đi qua. Nơi đây gọi là Oudebrugge trước kia thuộc về nhà Ligre, có thể bây giờ nó vẫn là của gia đình này. Năm mươi năm trước, mẹ ông và Simon Adriansen, ít lâu trước lễ cưới, đã đến đây thu hoạch tiền niên thu của khoảnh đất này, đó là một trong những lần cậu bé cảm thấy vui thích. Mẹ cậu ngồi bên dòng kênh, thả đôi chân mà bà vừa rút khỏi giày xuống dòng nước, nhìn qua làn nước trông chân mà bà vừa rút khỏi giày xuống dòng nước, nhìn qua làn nước trông chân bà lại càng trắng hơn. Simon đang ăn, nhưgnx vụn bánh bay ra đậu vào chòm râu cằm xam xám. Thiếu phụ bóc cho con quả trứng vừa chín tới và đưa cho nó cái vỏ trứng quý báu. Cậu chơi trò chạy theo chiều gió trên những đụn cát gần đó, nắm trong lòng bàn tay cái vỏ trứng nhẹ ấy, nó chỉ chực thoát ra để bay trước mặt, rồi dừng lại một lúc, nó như con chim, khiến lúc nào cũng phải cố nắm lấy nó, và đường chạy là những đường tròn bị cắt đoạn hay những đường thẳng gẫy. Đôi khi ông thấy đã chơi trò này trong suốt cuộc đời mình.
Ông đi chậm lại trên nền đất đã cứng hơn. Con đường lên xuống qua những đụn cát, chỉ nhận ra nhờ những vết xe trên cát, ông đi ngang qua hai tên lính có lẽ thuộc đại đội Sluysm và vui mừng vì đã mang theo vũ khí, vì mọi tên lính gặp ở miền hoang vắng đều có thể biến thành cướp. Nhưng chúng bằng lòng làu bàu chào ông một cách thô bạo và có vẻ vui mừng khi ông đáp lại chúng bằng cùng thứ tiếng. Trên đỉnh một ủ cát, cuối cùng ông cũng nhận ra làng Heyst, và kè đá trong đó bốn hay năm chiếc thuyền đang nghỉ ngơi. Những chiếc khác dập dềnh trên mặt biển. Xóm nhỏ bên bờ biển khơi có tất cả những tiện nghi của thành phố thu nhỏ: chợ, chắc là nơi bán cá, nhà thờ, cối xay gió, một bãi đất trống trên đó dựng giá treo cổ, những ngôi nhà thấp và những nhà kho cao. Quán trọ Bồ câu nhỏ xinh đẹp mà Josse đã nói với ông là nơi tập hợp những kẻ trốn chạy là một túp lều dưới chân đụn cát, với một chuồng bồ câu trong đó người ta cắm một cái chổi dùng làm biển hàng, có nghĩa là nơi nghỉ ngơi nghèo khó này cũng là một ổ bẩn thỉu thôn dã. Tại những nơi như vậy cần phải chú ý tới hành lý và tiền bác có trong người.
Ở chỗ khóm hoa houblon trong vườn, một khách say đang nôn thốc nôn tháo. Từ chiếc cửa sổ con trên tầng, một mụ đàn bà gào lên với người say, rồi mái đầu bù xù của mụ rút vào và chắc là mụ quay vào đánh một giấc. Josse đã nói cho Zénon biết mật khẩu, anh ta coi ông như bạn bè. Triết gia bước vào và chào mọi người. Căn phòng chung ngợp khói và đen như một cái hầm. Mụ chủ lom khom trước lò sưởi đang làm món trứng rán, một thằng bé giúp mụ thổi ống bễ. Zénon ngồi xuống bên một chiếc bàn và nói, hơi khó chịu khi phải ngâm nga câu nói đã có sẵn, như nghệ sĩ rong đang diễn trong hội chợ:
- Ai muốn có cứu cánh...
-...phải có phương tiện, - mụ đàn bà nói và quay lại. - Ông từ đâu tới?
- Josse gửi tôi đến đây.
- Anh ta gửi đến đây không ít người, - bà chủ quán nói với cái nháy mắt tình tứ.
- Đừng nhầm về tôi, - triết gia nói, không hài lòng vì hé thấy ở cuối phòng một tên trung sĩ đội mũ cắm lông đang lộn túi hắn ra. - Tôi theo đúng luật.
- Thế thì ông đến chỗ chúng tôi làm gì? - Bà chủ xinh đẹp phản ứng. - Ông đừng có băn khoăn vì Milo, - bà ta nói tiếp, ngón tay chỉ vào tên lính. - Đấy là người yêu của em gái tôi đấy. Anh ta đã đồng ý. Ông ăn cái gì chứ nhỉ?
Câu hỏi gần như một lời ra lệnh. Zénon đồng ý ăn cái gì đó. Trứng rán dành cho tên trung sĩ, bà chủ mang ra món ragu tạm ăn được đựng trong một cái bát tô. Bia khá ngon. Ông thấy tên lính người Anbani, hắn đã bám đít đoàn quân của ngài công tước vượt dãy Alpes đến đây. Hắn nói thứ tiếng Flamand ô hợp với tiếng Ý, hình như mụ chủ quán không quá vất vả để giao dịch với thứ ngôn ngữ đó. Hắn phàn nàn bị rét run lập cập suốt cả mùa đông, lợi tức thì chẳng hề có như người ta nói ở Piemont, vì bọn theo Luther có thể cướp bóc được hay bắt người đòi tiền chuộc được không nhiều như người ta nghĩ ở đấy và không thu hút quân đội đến.
- Thế đấy, - chủ quán nói giọng an ủi. - Chẳng bao giờ ta kiếm được như ta tưởng đâu. Này cô Mariken!
Mariken xuống gác, đầu đội khăn san. Cô ta ngồi cạnh trung sĩ. Họ ăn cùng một đĩa. Cô ta đút vào mồm hắn những miếng mỡ to tỉa từ trứng ra. Cậu bé thổi bễ đã lần đi.
Zénon đẩy tô ra và muốn trả tiền.
- Sao vội thế? - Bà chủ quán xinh đẹp buông thõng. - Chồng tôi và Niclas Bambeke sẽ về ăn tối bây giờ. Ở ngoài biển toàn phải ăn nguội, thật tội nghiệp.
- Thịt giá hai mươi lia, bia năm lia và năm duyca giấy phép của trung sĩ, - bà ta giải thích lịch sự. - Giường thì phải trả thêm. Họ không giương buồm trước sáng mai đâu.
- Tôi đã có giấy đi đường rồi, - lữ khách phản đối.
- Chỉ có giấy đi đường khi nào Milo hài lòng, - mụ chủ bỏ đi. - Ở đây anh ta là Vua Philippe.
- Tôi vẫn còn chưa nói là tôi xuống tàu, - Zénon bác bỏ.
- Không mặc cả! Từ phía cuối phòng tên lính Anbani cao giọng gầm gừ. Tao không nhọc công đêm ngày ở kè để xem ai đi hay không đi.
Zénon trả số tiền mụ yêu cầu. Ông đã cẩn trọng để trong ví vừa đủ số cần thiết để người ta không nghĩ là ông có nhiều hơn giấu trong người.
- Thuyền ấy tên gì?
- Cùng tên với ở đây, - chủ quán nói. - Bồ câu nhỏ xinh đẹp. Đừng để ông ta nhầm, phải không Mariken?
- Cái đó không nhầm được đâu, - cô gái nói. - Với Gió bốn phương ông ta sẽ lạc trong sương mù và phi thẳng tới tận Vilvorde.
Câu nói đùa có vẻ làm cho hai mụ đàn bà rất khoái chí, ngay cả tên Anbani hiểu vừa đủ cũng phá lên cười. Vivorde là một nơi ở trong đất liền.
- Ông có thể để hành lý lại đây, - chủ quán lưu ý ông giọng vui vẻ.
- Thì cũng như cho nó lên tàu, - Zénon nói.
- Ông khách đặc biệt này không có đức tin, - Mariken nói vẻ chế nhạo khi ông đi ra.
Ở ngưỡng cửa suýt nữa thì ông vấp vào gà mù, ông ta đến cho đám thanh niên nhảy múa ở đây. Ông ta nhận ra Zénon và khúm núm chào ông.
Trên đường ra cảng, ông gặp một toán lính đang lên quán. Một tên hỏi có phải ông vừa từ Bồ câu nhỏ xinh đẹp đi ra không, thấy ông trả lời là có, họ để ông đi. Chắc chắn Milo là chủ ở đây.
Bồ câu nhỏ xinh đẹp trên biển là chiếc thuyền khá lớn vỏ tròn đang nằm trên cát vì triều xuống. Zénon đi đến đó mà chân gần như vẫn khô. Hai người đàn ông đang cuốn chão cùng với thằng bé lúc nãy thổi bễ trong quán trọ, một con chó chạy giữa đống thững. Xa hơn, trong một vũng nước, một đống máu me đầu đuôi cá trích cho thấy người ta đã mang đồ đánh bắt được đi xa. Một trong hai người đàn ông nhảy xuống đất khi thấy lữ khách đến.
- Tôi là Jan Bruynie, - anh ta nói. - Josse gửi ông đến đây đi Anh phải không? Còn phải xem ông muốn trả bao nhiêu đã.
Zénon hiểu là thằng bé được phái gấp đến đây để báo trước. Bọn người này chắc chắn phải lợi dụng sự phong lưu của ông.
- Josse nói với tôi là mười sáu duyca.
- Thưa ông, đó là khi đi nhiều người. Hôm trước, tôi chở mười một người. Hơn nữa thì không đi được. Mười sáu duyca mỗi đứa theo Luther, là được một trăm bảy sáu. Tôi không nói là với một người…
- Tôi không thuộc giáo phái cải cách, - triết gia ngắt lời. - Tôi có một bà chị cưới một lái buôn ở London…
- Chúng tôi có nhiều chị như thế lắm, - Jan Bruynie pha trò. - Thật hay ho được nhìn thấy người ta bỗng nhiên bấp chấp say sóng để được đến ôm hôn những người thân thiết trong cuộc chiến…
- Chưa đâu, - triết gia nói, ông xoa đầu con chó đã chạy theo chủ ra bãi biển.
- Chẳng qua là bắp cải với cải bắp thôi, - Jan Bruynie nói. - Ông được phép đi, bởi vì vẫn chưa bị cấm, nhưng cũng không phải hoàn toàn được phép. Vào thời Hoàng hậu Marie, vợ Vua Philippe, thì còn được, nói ông bỏ quá cho, hồi đó người ta cũng thiêu bọn dị giáo như ở đây. Bây giờ tình hình xấu lắm: Hoàng hậu là con lai, và đẻ giấu. Bà ấy tự nói là mình còn trinh, nhưng cái đó chỉ chơi khăm Đức Bà được thôi. Người ta moi ruột các linh mục ở đất nước này và ỉa cả vào những chiếc bình thiêng. Không tốt đâu. Tôi thích đi đánh cá gần bờ biển hơn.
- Còn có thể đánh cá ở ngoài khơi nữa, - Zénon nói.
- Đi đánh cá thì người ta về lúc nào cũng được, nếu tôi đi Anh, chuyến đi có thể kéo dài… Gió, ông biết không, hay thời tiết thuận lợi... Và nếu có kẻ tò mò đến nằm lẫn vào đống hàng của tôi, một con thú săn tức cười lên tàu, rồi đến lúc về... Thậm chí đã có lần, - anh ta nhỏ giọng nói thêm, - tôi đã chở thuốc súng cho Ngài de Nassau. Hôm đó chẳng tốt tí nào trên chiếc thuyền của tôi.
- Còn có các thuyền khác, - triết gia lơ đãng nói.
- Cái đó còn phải xem, thưa ông. Chiếc Saint-Barbe vẫn thường làm việc với chúng tôi đã bị hư hỏng: không làm gì được. Chiếc Saint-Boniface cũng đang có chuyện...Dĩ nhiên có nhiều thuyền trên biển, nhưng chỉ có những gã khôn ranh biết lúc nào chúng quay về... Nếu ông không vội ông có thể đến Blankenberghe hay Wenduyne xem, nhưng ông sẽ thấy giá cũng như ở đây thôi.
- Thế còn cái kia, - Zénon nói, chỉ một chiếc thuyền nhẹ hơn trên đó một người đàn ông đang bình thản ngồi nấu nước ở đuôi tàu.
- Gió bốn phương ấy hả? Ông cứ đến đó đi nếu trái tim ông mách bảo. - Jan Bruynie nói vậy.
Zénon suy nghĩ, ngồi trên một thùng cá bỏ đi. Con chó đặt mõm lên đầu gối ông.
- Dù gì thì gì, anh cũng sẽ ra đi vào sớm mai chứ?
- Đi đánh cá thưa ông, đi đánh cá. Tất nhiên, nếu ông có năm mươi đuyca thì...
- Tôi có bốn mươi, - Sébastien Theus nói dứt khoát.
- Thôi bốn mươi nhăm vậy. Tôi không muốn lừa đảo khách hàng. Nếu ông không vội gì ngoài việc đến thăm chị ở London, sao không nghỉ lại hai ba ngày ở Bồ câu nhỏ? Mấy người chạy trốn cứ như bị lửa thúc đít ấy, lúc nào cũng thế... Ông sẽ chỉ trả một phần thôi.
- Tôi không thích chờ đợi gì sất.
- Tôi ngờ đấy. Và thế sẽ thận trọng hơn, vì giả định rằng gió đổi chiều... Ông đã làm luật với con chim của mấy mụ ở quán trọ chưa?
- Nếu đó là năm đuyca họ móc của tôi...
- Thế vẫn chưa là gì đâu, - Jan Bruynie nói vẻ khinh thường - mấy mụ ấy thu xếp với hắn để không xảy ra chuyện đáng tiếc trên đất liền. Này, Niclas, anh ta kêu lên với bạn, một hành khách đây!
Một người đàn ông tóc đỏ hoe khổ vai cỡ đại thò nửa người ra cửa boong.
- Đây là Niclas Bambeke, - chủ tàu tuyên bố. - Còn có Michel Sottens nữa, nhưng nó về nhà ăn cơm rồi. Ông cũng ăn với chúng tôi ở chỗ Bồ câu nhỏ xinh đẹp chứ? Để hành lý của ông ở đây.
- Tôi sẽ cần đến nó vào ban đêm, - bác sĩ nói, giữ chặt chiếc túi xách khi thấy Jan muốn giằng ra. - Tôi là bác sĩ phẫu thuật và tôi mang dụng cụ đi cùng, - ông nói thêm để giải thích vì sao túi nặng thế, nếu không có thể làm cho người khác đoán mò.
- Ông bác sĩ phẫu thuật còn trang bị cả súng cơ đấy, - chủ tàu mỉa mai, ghi nhận bằng đuôi mắt cái báng súng bằng kim loại làm túi hé mở.
- Đó là một người thận trọng, - Niclas Bambeke nói, nhảy ra khỏi thuyền. - Người ta gặp bọn xấu, ngay cả trên biển.
Zénon theo gót chúng quay lên nhà trọ. Đến góc chợ, ông rẽ xiên, để cho chúng tưởng ông chỉ tránh nước. Hai tên vẫn tiếp tục vừa đi vừa nói chuyện sôi nổi về cái gì đó, bên cạnh là con chó và thằng bé chạy vòng tròn. Zénon đi vòng quanh chợ và nhanh chóng trở lại bãi biển.
Đêm buông xuống. Cách đó hai trăm bước, một nhà thờ bị sụp một nửa lún trong cát. Ông nhìn vào trong. Một vũng nước còn lại sau một đợt triều cường mạnh tràn đầy khoang giữa đựng những bức tượng bị muối ăn mòn. Linh mục tu viện trưởng chắc được cứu thoát và hẳn phải cầu nguyện. Zénon nằm dưới cổng lớn, gối đầu lên túi. Bên phải ông nhìn thấy những vỏ thuyền màu tối. Với một ngọn đèn ở đuôi chiếc Gió bốn phương. Lữ khách nghĩ những gì ông sẽ làm ở nước Anh. Việc đầu tiên sẽ là tránh để cho mình bị nghi là một tên gián điệp của giáo hoàng giả vờ tị nạn. Ông tưởng tượng đang đi lang thang trên thành phố London, xin một suất bác sĩ phẫu thuật trên hạm đội hay tại phòng khám của một bác sĩ giống như Jean Myers. Ông không biết tí tiếng Anh nào, nhưng học một ngoại ngữ cũng nhanh thôi, vả lại tiếng La tinh có ảnh hưởng xa lắm. Nếu có chút may mắn, sẽ có thể có được nhận việc tại nhà một ông lớn tò mò muốn tìm hiểu các chất kích dục hay muốn chữa bệnh thống phông. Ông đã nhận những khoản trả thù lao hời nhưng không phải lúc nào cũng được trả, quen ngồi trịnh trọng hay thấp hèn bên một cái bàn nào đó tùy theo tính khí của Ông lớn hay Hoàng thân Công chúa của ngày hôm đó, quen những cuộc tranh luận với những thầy thuốc địa phương vốn hay thù địch với ông lang người nước ngoài. Ở Innsbruck hay ở nơi khác, ông đã qua tất cả những chuyện đó. Cũng cần nhớ chỉ được phép nói đến Giáo hoàng với những lời ghét cay ghét đắng, như nói về Jean Calvin ở đây, và phải thấy Vua Philippe là thằng cha tức cười, như Hoàng hậu nước Anh sẽ như thế ở Flandre.
Ngọn đèn trên thuyền Gió bốn phương tiến lại gần, rung rinh trên tay một người đang đi, ông chủ nhỏ bé hói đầu dừng lại trước Zénon, ông đã ngồi nhỏm dậy.
- Tôi đã thấy ngài đến nằm nghỉ ở cổng lớn. Nhà tôi gần đây thôi, nếu ngài sợ sương chiều...
- Tôi thấy thoải mái ở nơi đây, - Zénon nói.
- Không muốn cỏ vẻ là người quá tò mò, nhưng tôi có thể hỏi họ lấy của ngài bao nhiêu để sang Anh không?
- Chắc chắn ông phải biết giá cả của họ.
- Tôi không trách cứ gì họ đâu, thưa ngài. Mùa đi biển ngắn lắm: sau lễ Các thánh, ngài cần thấy rằng không phải lúc nào cũng thuận tiện để giương buồm. Nhưng ít nhất họ cũng cần trung thực... Ngài không nghĩ rằng với giá đó họ sẽ đưa Ngài tới tận Yarmouth đấy chứ? Không, thưa ngài, họ sẽ đổi ngài với dân đánh cá ngoài đó, và ngài lại quay lại trả tiền với giá mới.
- Đó là một cách giống như cách khác, - lữ khách nói kín đáo.
- Thưa ngài phải chăng người ta không nói rằng sẽ là may mắn cho một người đàn ông không còn trẻ nữa khi đi cùng ba gã khỏe mạnh sao? Rồi sẽ nhanh chóng bị một gậy mái chèo thôi. Họ bán lại bọn người tội nghiệp sang Anh, mà chẳng ai hay biết gì.
- Anh sẽ đề nghị tôi để anh chở sang Anh trên chiếc Gió bốn phương chứ gì?
- Không, thưa ngài. Tàu tôi không lớn. Ngay cả mũi Frise với nó cũng là quá xa. Nhưng nếu chỉ là thay đổi không khí, ngài cũng phải biết rằng vùng Zélande cũng nằm ngoài tầm tay của Nhà Vua, như người ta nói, ở đó lúc nhúc bọn ăn mày, từ khi ngài được Nassau tự mình giao phó cho Thuyền trưởng Sonny... Tôi biết những trang trại nơi cung cấp những thứ cần thiết cho các ngài Sonnoy và de Dolhan... Ngài làm gì ạ?;
- Tôi chăm sóc cho đồng loại, - bác sĩ nói.
- Trên những chiếc tàu ba cột buồn của các ngài đó, ngài sẽ có cơ hội chăm sóc những vết chém đẹp đấy. Và nếu biết lựa chọn gió tốt thì có thể đến đấy sau vài giờ. Thậm chí có thể lên đường trước nửa đêm, Gió bốn phương không cần phải dự trữ nước nhiều.
- Làm thế nào mà anh tránh được lính tuần cửa Slyus?
- Chúng tôi biết nhiều người, thưa ngài. Tôi có bạn bè ở đó. Nhưng ngài sẽ phải bỏ bộ quần áo tươm tấp và mặc như dân chài nghèo khó... Nếu tình cờ có người lên thuyền...
- Anh vẫn chưa nói cho tôi biết giá của anh.
- Mười lăm đuyca có nhiều quá với ngài không?
- Giá khiêm tốn đấy. Anh có chắc trong đêm đen sẽ không bơi đến tận Vilvorde không?
Anh chàng nhỏ thó đầu hói nhăn mặt đau khổ.
- Bọn Calvin vô lại! Lũ ăn hại Đức Đồng trinh! Chính bọn Bồ câu nhỏ xinh đẹp đã làm ông tin điều đó ư?
- Tôi nói những gì họ nói với tôi, - Zénon nói ngắn gọn.
Người đàn ông vừa bỏ đi vừa chửi rủa. Khoảng mười bước, hắn quay lại, làm cho chiếc đèn xoay một vòng. Gương mặt giận dữ trở lại vẻ nô lệ.
- Tôi thấy là ngài biết tin tức đấy, - anh ta lại dịu dàng bắt đầu. - Nhưng không nên để cho người ta lừa. Xin ngài tha lỗi cho tôi có hơi quá, nhưng tôi không thể làm gì được, trong vụ ngài de Battenbourg. Thậm chí người hoa tiêu hôm đó cũng không phải người ở đây... Hơn nữa chuyện đó không thể so sánh được về cái lợi: ngài de Battenbourg là một miếng mồi lớn. Ngài sẽ được an toàn trên thuyền của tôi như trong nhà người mẹ thánh thiện của ngài vậy...
- Đủ rồi, - Zénon nói. - Thuyền của anh có thể giương buồm vào nửa đêm; tôi có thể thay quần áo trong nhà anh ở cạnh đây, và giá của anh là mười lăm đuyca. Hãy để tôi yên.
Nhưng gã đàn ông nhỏ thó này không phải hạng người có thể để người ta nhanh chóng làm thất vọng. Anh ta chỉ tuân theo sau khi đã quả quyết với ngài lớn rằng nếu quá mệt mỏi, ngài có thể quay lại với anh ta với giá rẻ và chỉ có thể đi được vào đêm sau. Thuyền trưởng Milo nhắm mắt, ông ta không cưới Jan Bruye. Zénon sau khi được bỏ lại một mình tự hỏi tại sao ông lại tận tâm cứu chữa những gã vô lại này khi chúng bệnh tật, bởi vì ông sẵn sàng giết chúng khi chúng hoàn toàn khỏe mạnh. Khi chiếc đèn quay về chỗ của nó dưới đuôi tàu Gió bốn phương, ông đứng dậy. Đêm đen che giấu những cử động của ông. Ông chậm rãi đi một phần tư dặm về hướng Wenduyne, gói đồ ở dưới cánh tay. Chắc là nơi nào cũng thế thôi. Không thể biết gã nào trong hai tên hề này nói dối, hay tình cờ cả hai đều nói đúng. Cũng có thể là cả hai đều dối trá, và đó chỉ là sự kình địch giữa những người nghèo khổ.
Muốn thế nào thì quyết định thế ấy.
Một đụng cát che khuất ánh đèn ỏ Heyst, dù làng nằm rất gần. Ông chọn cho mình một chiếc hố tránh được gió, và cách rất xa đường thủy triều đang lên, ngay trong đêm những điều này rất dễ nhìn thấy nhờ độ ẩm ướt của cát. Đêm mùa hè ấm áp. Bao giờ buổi sáng cũng để ngẫm nghĩ. Ông nằm dài trên chiếc áo khoác. Sương mù che khuất những vì sao, trừ sao Vega gần thiên đỉnh. Biển âm vang tiếng động muôn thuở. Ông ngủ một giấc không mộng mị.
Cái lạnh đánh thức ông dậy trước khi bình minh đến. Một màu nhợt nhạt xâm chiếm bầu trời và những đụn cát. Thủy triều lên đã liếm gần hết đôi giày của ông. Ông run rẩy, nhưng cái lạnh đã mang trong mình lời hứa hẹn một ngày hè đẹp trời. Xoa nhẹ đôi chân bị tê cứng vì bất động lúc đêm, ông nhìn biển không hình hài đang sinh ra những làn sóng nhanh chóng biết đi. Tiếng biển từ thuở hồng hoang vẫn tiếp tục đến bây giờ. Ông bốc một nắm cát để nó chảy qua kẽ ngón tay. Calculus: bên cạnh những nguyên tử nối nhau chảy xuống này mọi tư duy về con số đã được bắt đầu và hoàn tất. Thời gian cần thiết để những khối đá biến thành cát như thế này ắt hắn phải nhiều hơn số ngày ghi trong Kinh thánh hàng thế kỷ. Ngay khi còn trẻ, sự suy ngẫm của các triết gia cổ đã dạy ông cách khinh mạn sáu nghìn năm khốn khổ, chúng là tất cả những gì người Do thái và Thiên chúa giáo công nhận về thời cổ đại xa xôi của thế giới, thời cổ đại đó được họ do theo trí nhớ ngắn ngủi của con người. Những người dân quê ở Dranoutre đã chỉ cho ông trong những đầm than bùn những thân cây khổng lồ mà họ tin rằng trận Đại hồng thủy đã làm nó trôi dạt đến đó, nhưng có nhiều lần khác nước đến xâm lấn nơi này chứ đâu chỉ một lần mà người ta gán cho nó câu chuyện một vị giáo trưởng thích rượu vang, cũng như đã từng có nhiều lần lửa thiêu hủy sự vật ngoài tai họa khủng khiếp Sodome. Darazi đã nói về hàng hà sa số những thế kỷ chỉ là một thời điểm của sự sống vô tận. Zénon tính toán rằng ngày hai mươi tư tháng Hai tới nếu ông còn sống, ông sẽ tròn năm mươi chín tuổi. Nhưng mười một hay mười hai lễ chuộc tội cũng chẳng khác gì nắm cát này: từ đó có thể cho ra những con số chóng mặt. Trong hơn một tỉ rưỡi khoảnh khắc, ông đã sống ở đâu đó trên mặt đất, còn Vega quay xung quanh thiên đỉnh và biển vẫn rì rào ở tất cả những bãi biển trên thế giới. Năm mươi tám lần ông đã nhìn thấy cỏ mọc vào mùa xuân và sự phong phú của mùa hè. Chẳng mấy quan trọng việc một người đàn ông ở tuổi này sống hay chết.
Mặt trời đã nóng bỏng khi từ trên đỉnh đụ cát Bồ câu nhỏ xinh đẹp giương buồm lên. Thời tiết hẳn là thuận lợi để ra khơi. Con thuyền nặng đi nhanh hơn ta tưởng. Zénon lại nằm xuống hố cát, để hơi ấm làm tan đi trên người ông những nhức mỏi ban đêm, chiêm ngưỡng những dòng máu đỏ qua đôi mi khép. Ông cân nhắc những vận may của mình như thể đó là cơ may của người khác. Có vũ khí như ông, ông có thể bắt thằng vô lại trên chiếc Gió bốn phương đưa đến một bãi biển nào đó chỉ có những Ăn mày của Biển mới lui tới: ngược lại ông sẽ biết bắn vỡ đầu hắn nếu hắn có ý định hướng mũi thuyền lên một chiếc thuyền của Nhà Vua. Ngày xưa ông đã có lần sử dụng chính đôi súng lục này mà không hề ăn năn chống lại một tên người Arnautc tấn công ông trong rừng Bungari; cũng như sau lần hạ gục Perrotin rình đánh lén ông, ông càng vì thế mà cảm thấy mình là đàn ông. Nhưng nay ý nghĩa phải bắn vào hộp sọ kẻ gian xảo làm ông cảm thấy chán ngán không hơn. Ý kiến gia nhập vào hội thủy thủ trên tàu của các ngài Sonnoy và Dolhain làm thầy thuốc phẫu thuật là một lối thoát chấp nhận được; ông đã dẫn dắt Han đi theo hướng đó từ hồi những kẻ yêu nước nửa cướp biển vẫn chưa gây thanh thế và chưa cướp bóc được nhiều để mạnh như bây giờ. Một vị trí bên cạnh Louis de Nassau không bị loại trừ: vị quý tộc này chắc chắn vẫn thiếu một bác sĩ giỏi phục vụ. Dù có là một nghĩa sĩ hay hải tặc thì sự tồn tại như thế cũng chẳng khác quãng đời còn lại trong quân đội Ba lan hay trong hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ. Trường hợp xấu nhất, thậm chí vẫn có thể sống nhờ mũi đốt và dao mổ trong đội quân của công tước trong một thời gian nào đó. Và đến ngày chiến tranh làm ông cảm thấy gớm ghiếc, vẫn còn hy vọng nhờ đôi chân dẻo dai tìm đến nơi nào đó mà hiện tại sự ngu ngốc tàn bạo nhất của con người vẫn chưa gieo rắc tới. Không có gì trong tất cả giả thiết đó là không thể được. Nhưng cần nhớ lại là dù gì đi nữa có thể ở Burges không bao giờ ông bị lo lắng.
Ông ngáp, không bận tâm nghĩ các phương án này nữa. Ông tháo đôi giày nặng cát ra, hài lòng giẫm từng bước sâu vào lớp cát nóng và chảy đi, đi xuống phía dưới và khoan khoái trước làn sóng biển mát mẻ. Ông cởi quần áo cẩn thận đặt hành lý lên đó cùng đôi giầy nặng, rồi tiến ra biển. Thủy triều đã xuống: nước ngập ngang bắp chân, ông lội qua những vũng nước lấp lánh như gương và hòa mình vào chuyển động của sóng.
Không quần áo và không người xung quanh, những yếu tố chi phối cuộc sống rơi xuống chân ông như một bộ trang phục vừa rơi xuống. Ông lại trở thành Adam Cadmon của các triết gia kỳ bí, được đặt giữa trung tâm sự vật, ở vị trí này hiện ra và bật lên những gì ở mọi nơi khác là phú bẩm và không được nói ra. Trong cõi mênh mông này không có vật gì có tên; ông không nghĩ được con chim đang bắt cá, đứng đung đưa trên mỏm đá kia là con mòng biển, và con vật lạ đang đưa đẩy những chiếc chi rất khác với chi người trong một vũng nước là con sao biển nữa. Thủy triều vẫn đang rút xuống, để lại đằng sau những con ốc xoáy tinh khiết như những hình xoáy ốc của Archimet; mặt trời lên cao mà ông không nhận ra, làm bóng người ông ngắn lại trên cát. Với niềm tôn kính hẳn sẽ khiến ông phải chết trên một trong khắp các quảng trường của Mahomet hay của Christ, ông nghĩ những biểu trưng phù hợp nhất của Đấng chí cao mà người ta thường đoán là có tồn tại vẫn là những biểu trung mà những kẻ sùng bái nhất bác bỏ một cách võ đoán, và địa cầu do lửa tạo thành này là Chúa duy nhất hữu hình đối với những tạo vật sẽ tàn lụi nếu không có nó. Cũng như thế, thiên thần thật nhất là con mòng biển kia, hơn những Thiên thần thượng đẳng hay hạ đẳng ở chỗ nó hiển nhiên đang sống. Trong thế giới không bóng ma này, ngay cả sự tàn bạo cũng thanh khiết: con ca bơi dưới sông kia trong chốc lát chỉ là một miếng ăn ngon lành rướm máu trong mỏ con chim bắt cá, nhưng con chim không kiếm cớ biện minh cho cơn đói của nó. Con cáo và con thỏ, mưu mô và sợ hãi, sống ở đụn cát nơi ông ngủ, nhưng kẻ sát sinh không viện dẫn những đạo luật ngày xưa do một con cáo thông thái ban hành hay nhận được từ một con cáo chúa; nạn nhân không cho là mình bị trừng phạt vì những tội ác của nó và không cam đoan lòng trung thành của nó với nhà vua khi nó chết. Sóng bạo liệt song không giận dữ. Cái chết, luôn tục tĩu ở loài người, song lại sạch sẽ trong cõi cô liêu này. Tiến thêm một bước nữa trên biên giới giữa chất chảy và chất lỏng, giữa cát và nước, và một con sóng mạnh hơn con sóng khác sẽ làm ông hẫng chân. Phút hấp hối ngăn ngủi không nhân chứng hẳn sẽ nhẹ nhàng hơn cái chết một chút. Có thể đến một ngày ông không tiếc vì kết cục ấy không xảy ra. Nhưng khả năng này, cũng giống như các dự định đến Anh hay Zélande, chẳng qua sinh ra từ nỗi sợ hãi ngày hôm trước hay những nguy hiểm trong tương lai mà hiện tại vẫn vắng bóng, những phương pháp do lý trí đặt ra chứ không phải do sự cần thiết đã áp đặt lên cuốc sống. Giờ chết vẫn còn chưa điểm.
Ông quay lại chỗ để quần áo, phải mất một lúc ông mới tìm thấy, vì chúng bị phủ một lớp cát mỏng. Biển lùi lại làm khoảng cách thay đổi. Dấu chân ông trên nền sỏi ấm ngay lập tức bị sóng làm biến mất; trên cát khô, gió xóa mọi dấu vết. Thân thể sạch sẽ đã hết mệt mỏi. Một buổi sáng khác trên bờ biển giống hệt sáng nay, như thể sự chuyển tiếp ngắn ngủi giữa cát và nước đã có từ mười năm nay: hồi ở Lubeck, có lần ông ra cửa sông Trave với con trai người thợ kim hoàn để nhặt long diên hương từ Bantích tới. Mấy con ngựa cũng xuống tắm, cởi bỏ yên cương và vải phủ mông ướt đẫm trong nước biển, chúng lại là những tạo vật tồn tại vì chính chúng, chưa không phải là những con vật cưỡi hiền lành thông thường. Một trong những mẩu long diên hương bao bọc trong lớp nhựa một con côn trùng; như một ô cửa sổ hứng ánh mặt trời vào nhà, ông nhìn con vật nhỏ bị đóng chặt trong một thời kỳ của trái đất mà ông không thể đến. Ông lắc đầu, như người ta vẫn làm để đuổi một con ông cứ quấy rầy: giờ đây ông rất hay sống lại những thời gian đã bị phá vỡ. Ngày ở Travemunde được giữ trong trí nhớ như trong một chất gần như không tiêu hủy, di vật của một mùa mà ông đã tồn tại một cách đẹp đẽ. Nếu ông còn sống mười năm nữa, có lẽ ông sẽ vẫn như hôm nay.
Ông mặc lại cái vỏ người không mấy hứng thú. Mẩu bánh hôm qua còn lại và chiếc bình còn nửa phần nước mà ông đã lấy trong một bể nước làm ông nhớ rằng con đường của ông cho đến tận cùng sẽ đi giữa thế giới con người. Cần phải tránh né họ, nhưng đồng thời vẫn tiếp tục nhận sự giúp đỡ và giúp đỡ họ. Ông đặt lại chiếc túi lên vai cho cân, rồi đeo đôi giày vào thắt lưng bằng dây giày, để hiến mình cho cái thú đi chân trần trên cát một lúc nữa. Tránh làng Heyst, nơi làm ông có cảm giác vết loét trên làn da đẹp đẽ của cát, ông đi giữa những đụn cát. Từ trên đỉnh đụn gần nhất, ông quay lại nhìn biển. Thuyền Gió bốn phương vẫn nằm dưới kè, những chiếc khác đã ở gần cảng hơn. Một cánh buồm ở chân trời có vẻ thanh khiết như một cánh chim; có thể đó là tàu của Jan Bruynie.
Ông đi gần một giờ cách xa con đường mòn vạch trên cát. Đến một chỗ có nhiều thung lũng giữa hai gò phủ dầy cỏ sắc nhọn, ông thấy có một nhóm sáu người đi về phía ông; một ông già, một phụ nữ, hai người đàn ông và hai thanh niên cầm gậy. Ông già và người phụ nữ bước đi có vẻ khó nhọc qua những ổ gà đầy nước. Tất cả ăn mặc kiểu tư sản thành phố. Có vẻ họ thích đi thẳng không muốn bị ai hỏi chuyện. Tuy vậy họ cũng trả lời khi ông lên tiếng, nhanh chóng yên lòng dưới sự quan tâm của lữ khách lịch sự nói tiếng Pháp kia. Hai thanh niên đến từ Bruxelles; đó là hai người yêu nước thiên chúa giáo đang tìm cách đến với đội quân của hoàng tử Orange. Nhóm kia theo Calvin; ông già là thầy giáo ở Tournai định trốn sang anh với hai người con trai; người đàn bà đang lấy khăn lau trán cho ông là con dâu. Đi bộ đường trường quả quá sức chịu đựng với người đàn ông khốn khổ ấy. Ông ngồi một lúc xuống cát để lấy lại hơi; những người khác ngồi xuống quanh ông thành vòng tròn. Gia đình này gặp hai thanh niên tư sản Bruxelles từ Eclo: cùng bị nguy hiểm và cùng đường chạy trốn nên họ đã kết nhóm với nhau, vào lúc khác hẳn họ đã là kẻ thù của nhau. Hai thanh niên thán phục nói về ngài de La Mark, ngài đã không cạo bộ râu cằm chừng nào các Bá tước còn chưa được trả thù, ngài vác gỗ cùng quân lính, và treo cổ không thương tiếc những tên Tây Ban Nha rơi vào tay ngài; chúng ta cần chính những người như ngài ở Hà Lan. Zénon cũng kể cho những người chạy trống biết chi tiết vụ ngài de Battenbourg và mười tám quý tộc đi theo bị bắt do tên hoa tiêu phản bội đã đưa họ đến mũi Frise: mười chín người này đã bị giam trong pháo đài Vilvorde và bị chém đầu. Hai con trai ông thầy giáo xanh mặt khi nghe chuyện, sợ không biết cái gì sẽ chờ đợi chính họ trên bờ biển. Zénon an ủi: làng Heyst có vẻ là một nơi chắc chắn, miễn là phải trả đậm cho tên đại úy gác cảng; những kẻ trốn chạy vô tên tuổi thì không bị nguy hiểm nhiều như các ông hoàng. Ông hỏi nhóm Tournai có mang vũ khí theo không: họ có, ngay cả chị phụ nữ cũng phòng sẵn một con dao. Ông báo trước họ đừng nên rời xa nhau: tập trung lại, họ không phải sợ bị trấn lột khi vượt biển; tuy nhiên nên canh chừng khi ngủ ở nhà trọ và trên cầu tàu. Còn gã ở Gió bốn phương, hắn khá khả nghi, nhưng hai thanh niên Bruxelles mạnh khỏe chắc sẽ biết cách trị hắn và một khi đã đến Zélande, cơ hội gặp các băng đảng khởi nghĩa dường như chắc chắn. Ông thầy giáo đứng dậy khó nhọc. Zénon, đến lượt mình bị hỏi chuyện, giải thích mình là bác sĩ trong vùng, và rằng ông cũng đã nghĩ đến chuyện vượt biển. Các câu hỏi không đi xa hơn; chuyện của ông không làm họ quan tâm. Khi chia tay với họ, ông đưa cho ông thầy thuốc trường làng một lọ nước nhỏ có thể làm ông dai sức hơn chút ít. Ông chào từ biệt họ trong lời cám ơn ân cần.
Ông nhìn họ tiếp tục đi con đường đến làng Heyst và bỗng nhiên quyết định đi theo họ. Đông người, chuyến đi sẽ đỡ nguy hiểm hơn; thậm chí trong những ngày đầu ở bờ biển bên kia họ còn có thể giúp đỡ lẫn nhau. Ông đi cách họ khoảng một trăm bước chân, rồi đi chậm lại, để khoảng cách tăng dần giữa nhóm người và ông. Ý nghĩ phải đối mặt trước Milo hay Jan Bruynie làm cho ông đã thấy chán ngán không thể chịu đựng được. Ông dừng hẳn và rẽ nghiêng về phía trong đất liền.
Ông nghĩ lại đôi môi xanh và hơi thở gấp gáp của ông già. Ông giáo trường làng này quên đi tình trạng tội nghiệp của mình, bất chấp gươm đao, lửa và sóng để tuyên cao đức tin rằng định mệnh phần lớn loài người sẽ kết thúc ở địa ngục, ông thầy đó như một tấm gương của sự điên rồ muôn thuở; nhưng ngoài sự điên rồ giáo điều, chắn chắn giữa những con người không bình yên có tồn tại sự hối thúc và lòng thù hận trào lên từ sâu thẳm trong bản chất của họ, và đến một ngày khi người ta không theo mốt tự tiêu diệt lẫn nhau vì lý tưởng tôn giáo nữa, thì sẽ lại có một lý do khác. Hai người yêu nước Bruxelles dường như hành động đúng lẽ hơn, nhưng tuy họ đón nhận nguy hiểm tính mạng vì chuộng tự do, song họ vẫn tự ve vuốt mình là những con dân trung thành của Vua Philippe; nếu tin họ thì mọi việc sẽ tốt đẹp nếu gạt bỏ được ngài quận công. Những căn bệnh cố hữu của thế giới còn cố hữu hơn thế nhiều.
Chẳng mấy chốc, ông đã đến Oudebrugge, và lần này ông đi vào trong sân trang trại. Vẫn người đàn bà đó đang ngồi ở đấy: ngồi bệt xuống đất, bà đang nhổ cỏ cho những con thỏ con bị nhốt trong cái giỏ lớn. Một đứa trẻ mặc váy chạy quanh bà. Zénon xin một chút sữa và ít thức ăn. Bà ta nhăn mặt đứng lên bảo ông tự kéo lọ sữa đặt dưới giếng cho mát lên, vì bà ta bị chứng thấp khớp khó quay cần giếng. Trong khi ông xoay xỏa với cái ròng rọc, bà đi vào nhà và mang trở ra pho mát trắng và một phần tư bánh kem mứt. Bà xin lỗi vì sữa không được ngon, nhạt và ngả màu hơi xanh.
- Con bò già gần như khô rồi, - bà nói. - Nó có vẻ như mệt mỏi vì cho sữa. Khi dẫn nó sang với con bò mộng đực, nó không muốn nữa. Chắc sẽ phải giết thịt thôi.
Zénon hỏi trang trại này có còn thuộc nhà Ligre nữa không. Bà bỗng nhìn ông với vẻ nghi ngờ.
- Ông không phải là người của nhà họ đấy chứ? Chúng tôi chẳng nợ gì trước ngày lễ Thánh Michel cả.
Ông trấn an bà: ông đi thu thập cây cỏ, vì đó là ý thích của ông, và sẽ về Bruges. Như ông đã nghĩ, trang trại thuộc về Philibert Lirge, lãnh chúa vùng Dranoutre và Oudenove, một nhân vật quan trọng tại hội đồng Flandre. Như người phụ nữ tốt bụng giải thích thì những người giàu đều có hẳn một lô lốc tên ở đằng sau.
- Tôi biết vậy, ông nói. Tôi cũng là người trong gia đình.
Bà ta không có vẻ tin ông. Lữ khách đi bộ chẳng có gì nói lên sự sang trọng. Ông nói đã đến đây một lần, cách đây rất lâu. Tất cả gần như giống như ông còn nhớ, nhưng nhỏ hơn.
- Nếu ông đã đến đây, thì lúc đó tôi cũng ở đó. Hơn năm mươi năm tôi không dịch chuyển khỏi chỗ này.
Ông còn nhớ hình như sau bữa ăn trên cỏ, họ đã để lại những thức còn thừa cho người dân quê, nhưng ông không nhớ rõ khuôn mặt họ nữa. Bà đến ngồi bên cạnh ông trên chiếc ghế băng; ông làm bà nhớ về những kỉ niệm.
- Hồi đó thỉnh thoảng các ông chủ cũng đến, bà tiếp tục. Tôi là con gái người trông trang trại cũ ở đây; hồi đó có mười một con bò cái. Vào mùa thu, chúng tôi gửi đến nhà họ ở Bruges một xe bò đầy bơ mặn. Bây giờ, không còn như thế nữa; họ bỏ mặc hết thảy... Với lại, với bàn tay tôi, làm việc trong nước lạnh là nó đau lắm.
Bà đặt đôi tay lên đùi, đan chéo những ngón tay biến dạng vào nhau. Ông khuyên bà nên ủ tay trong cát nóng hàng ngày.
- Cát thì ở đây không thiếu, - bà nói.
Đứa trẻ tiếp tục quay trong sân như con quay và phát ra những tiếng kêu không hiểu được. Có lẽ nó bị chứng đần độn. Bà gọi nó, và một sự âu yếm tuyệt diệu làm sáng lên khuôn mặt khó coi của bà ngay khi thấy nó chạy về phía bà. Bà tỉ mẩn lau những vết nước bọt hai bên mép nó.
- Jésus của tôi đây, - bà nói dịu dàng. - Mẹ nó đang làm việc ngoài đồng với hai miệng ăn nữa.
Zénon hỏi bố nó đâu. Đó là chủ của chiếc Saint-Boniface.
- Chiếc Saint-Boniface vừa có chuyện, - ông nói với giọng của một người biết chuyện.
- Bây giờ dàn xếp xong rồi, - bà nói, - nó sẽ đến làm cho Milo. Nó phải kiếm ăn: trong tất cả các con trai, tôi chỉ còn lại được mỗi vợ chồng chúng nó. Vì tôi có hai đời chồng, ông ạ, tôi ấy, - bà tiếp tục, - và chúng tôi có mười người người con. Tám đứa đã ra nghĩa địa rồi. Nuôi nấng vất vả thế mà rồi chẳng được gì cả... Thằng con bé làm việc cả ngày ở chỗ lão xay bột vào những hôm có gió, để chúng tôi có bánh mà ăn. Nó cũng được chân quét dọn. Đất ở đây cằn quá không trồng lúa mì được.
Zénon nhìn căn nhà kho hỏng nát. Ở phía trên cánh cửa, ai đó ngày xưa theo tục lệ đã đóng vào đó một con chim cú, chắc là bị ném trúng và bị đóng đinh sống; đến này vẫn còn vài sợi lông bay phất phơ trong gió.
- Tại sao bà lại bắt con chim chịu khổ hình thế, nó có lợi cho bà? - Ông hỏi, tay chỉ lên chỗ con chim săn mồi lớn bị đóng đinh câu rút. - Những con vật này ăn chuột hại lúa.
- Tôi không biết, ông ạ, bà nói, nhưng phong tục nó là như vậy. Với lại, tiếng kêu của nó báo hiệu chết chóc.
Ông không đáp lại. Đương nhiên bà ta muốn hỏi ông cái gì đó.
- Thưa ông, bọn chạy trốn, mà người ta cho lên thuyền Saint-Boniface… Tất nhiên họ có lợi cho cả xứ này, chính hôm nay tôi đã bán thức ăn cho sáu người. Vả lại có những người trông thương lắm… Nhưng chúng tôi vẫn tự hỏi làm ăn như thế có chính đáng không. Những kẻ chạy trốn, đó không phải vì những chuyện vớ vẩn…Quận công và Vua chắc phải biết họ làm gì.
- Bà không cần phải biết họ là ai, - lữ khách nói.
- Đúng vậy đấy, - bà nói và lắc cằm.
Ông lấy từ đống cỏ lên vài nhánh đưa qua khr giỏ cho mấy chú thỏ non nhai.
- Nếu mấy con vật này làm ông thích, thưa ông, - bà nói giọng cung kính. - Chúng béo, mềm, vừa lúc ngon… Chúng tôi chuẩn bị chúng cho chủ nhật này. Chỉ năm xu một con thôi.
- Tôi ấy ư? - Ông nói, ngạc nhiên. - Thế chủ nhật này bà ăn tối bằng gì?
- Ông ơi, - bà nói, giọng van lơn, không chỉ có ăn mà đủ thôi đâu… Với số tiền đó và bữa ăn qua loa ba xu, tôi sẽ bảo con dâu tối đến mua vài giọt ở quán Bồ câu nhỏ xinh đẹp. Thỉnh thoảng cũng cần phải làm nóng tim lên một chút. Chúng tôi sẽ nâng cốc chúc cho sức khỏe của ông.
Bà ta không có tiền lẻ để đổi đồng florin của ông. Ông nghi ngờ. Không quan trọng. Sự hài lòng làm ông trẻ ra: vả lại, có lẽ chính bà là cô gái mười lăm tuổi đã cúi chào khi Simon Adriansen cho bà mấy xu. Ông cầm túi và đi về phía cổng sắt với những lời chúc mừng thường lệ.
- Đừng có quên chúng đấy, thưa ông, bà nói, đưa cái giỏ cho ông. Cái này có thể làm cho vợ ông thích: trong thành phố không có những con thỏ như thế này đâu. Và vì ông cũng ít nhiều là người của gia đình, ông hãy nói họ đến chữa cho chúng tôi trước khi mùa đông đến. Mưa dột suốt cả năm.
Ông ra đi, chiếc rọ ngoắc vào cánh tay, như một nông dân đi chợ. Con đường nhanh chóng tiến vào một khu rừng nhỏ, rồi mở ra những luống đất cày chưa gieo. Ông ngồi trên mép hố và thận trọng thò cánh tay vào giỏ. Ông vuốt ve mấy con vật khá lâu, gần như khoái trá, chúng có bộ lông mượt mà, xương sống mềm mại, ức mêm trong đó những trái tim đập mạnh. Những con thỏ thậm chí không sợ, tiếp tục ăn; ông tự hỏi những con mắt to và nhanh nhẹn của lũ thỏ đã nhìn ông và thế giới theo cách nhìn nào. Ông nhấc chiếc nắp giỏ lên để chúng chạy ra cánh đồng. Vui mừng vì tự do của chúng, ông nhìn những con vật nhí nhảnh phàm ăn biến mất trong bụi rậm, những nhà kiến thiết mê cung dưới đất, những sinh vật rụt rè, nhưng cũng đùa với nguy hiểm, bị tước bỏ vũ khí, trừ sức mạnh và cái bụng khéo léo, chỉ không chịu khuất phục với sức đẻ không mệt mỏi. Nếu chúng trốn chạy được khỏi những cái hố, khỏi gậy gộc, chĩa hay lưới quăng, chúng sẽ còn được tung tăng chơi chạy thêm lúc nữa; mùa đông bộ lông của chúng trắng lên dưới tuyết, chúng sẽ tiếp tục ăn những ngọn cỏ xanh ngon lành mùa xuân. Ông đá chiếc giỏ xuống hố.
Phần cuối cuộc hành trình không có chuyện gì. Đêm đó ông ngủ dưới một bụi cây. Sáng hôm sau ông đến cửa thành Bruges từ lúc sớm, và luôn được tốp lính gác thành chào hỏi với vẻ kính trọng. Ngay khi về thành phố, nỗi sợ hãi nghẹt thở lại trào ra. Ông lắng tai nghe ngóng chuyện những người đi đường, dù không muốn, nhưng chẳng thấy một câu bất thường nào liên quan đến mấy tu sĩ trẻ nào đó hay đến câu chuyên tình của một cô bé con nhà quý tộc. Cũng chẳng ai nói đến một bác sĩ đã chữa bệnh cho bọn nổi loạn và ngụy trang dưới một tên giả. Ông đến nhà thương làm phúc vừa vặn để đỡ việc cho tu sĩ Luc và Cyprien đang lúng túng với những người bệnh đến ngày càng đông. Mẩu giấy trước khi đi ông để lại vẫn nằm ở trên bàn. Ông vò nó trong bàn tay; đúng, bạn ông ở Ostendc đã khá hơn. Tối hôm đó, ông đến quán trọ tự cho mình một bữa tối kéo dài hơn và thịnh soạn hơn mọi khi.