Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vực Thẳm
Vực Thẳm

❊ ❊ ❊

Từng chút một, những thay đổi hầu như không thể nhận thấy diễn ra trong ông, là kết quả của những nếp mới trong cuộc sống của ông, điều này giống như việc ai đó hàng ngày ăn đều một thứ thức ăn, đến một lúc con người anh ta sẽ thay đổi vì thứ thức ăn, đến thực thể anh ta, thậm chí đến cả hình dạng béo gầy, anh ta lấy sức từ những món ăn ấy, hoặc cũng từ món ăn ấy những thứ nguy hại chảy vào trong người mà anh ta không biết. Nhưng sự khác biệt giữa ngày hôm qua và hôm nay lại nhòa đi, ngay khi ông nhìn vào nó; ông chữa bệnh như từ trước tới nay vẫn làm, và không cần biết đang thăm khám cơ thể một kẻ rách rưới hay một ông hoàng. Sébastien Théus là một tên ngẫu nhiên ông mang, nhưng quyền được gọi là Zénon không phải lúc nào cũng rõ ràng trong ông. Non habet nomen proprium[1]; ông thuộc típ người không ngừng ngạc nhiên đến tận cùng vì có một cái tên, như người ta mỗi lần đi ngang qua gương lại ngạc nhiên là mình có một khuôn mặt, và chính khuôn mặt ấy. Ông tồn tại không hợp pháp và phải chịu một số bó buộc: thì ông vẫn như thế từ xưa. Ông không nói ra những tư tưởng mà đối với ông chúng quan trọng nhất, nhưng từ lâu ông hiểu rằng những ai vì cái lưỡi mà lộ mình chỉ là người ngu, khi thời thế quá dễ dàng để cho kẻ khác lợi dụng yết hầu và cái lưỡi của ta để leo lên. Những lần hiếm hoi ông phát đi ý kiến của mình quá lắm cũng chỉ như những lần buông thả của một người trong sạch. Ông gần như sống giam mình trong bệnh viện Saint-Cosme, là tù nhân một thành phố, và trong thành phố đó là tù nhân một quận, và trong quận đó là tù nhân của khoảng nửa tá phòng một bên mở ra vườn rau và nhà phụ tu viện, còn phía kia nhìn ra bức tường trống trơn. Thỉnh thoảng ông đi xa tìm kiếm những mẫu cây cỏ, đường ông đi chỉ ngang qua rồi ngang lại cánh đồng trồng cấy và con đường kéo thuyền dọc sông, vẫn những lùm cây ấy, vẫn rìa những đụn cát ấy, và ông mỉm cười, không phải không lẫn chút chua chát, khi nhìn thấy lối đi lại của côn trùng vẽ lên đất những đường không thể hiểu nổi trên một khoảnh đất bằng bàn tay. Nhưng sống trong khoảng không nhỏ hẹp, lặp đi lặp lại những động tác máy móc cũng là chuyện thường tình khi người ta đeo đẳng những khả năng hoàn thành một nhiệm vụ cần thiết đã được giới hạn và có ích. Cuộc sống bất dịch đè nặng lên ông như một bản án tù mà vì thận trọng ông đã tuyên cho chính bản thân, nhưng bản án vẫn có thể được hủy bỏ; đã rất nhiều lần, dưới những khung trời khác, ông vẫn tin mình có quyền cư trú hoặc ở chốc lát hoặc ở mãi mãi, thành thử người sống ở khắp nơi và không đâu cả. Không có gì chứng mình rằng ngày mai ông sẽ không lên đường tiếp tục cuộc sống lang thang đã từng là số phận và chọn lựa của ông. Thế nhưng, số phận của ông đang chuyển động: nó bị trượt đi, bản thân ông cũng không hay biết điều đó. Như người bơi ngược dòng trong đêm đen, ông không có những điểm chuẩn để tính toán chính xác sự trôi dạt của mình.

Còn mới đây thôi, khi quay về với những ngõ hẻm nhằng nhịt ở Bruges, ông đã tin rằng việc ông dừng chân ở chỗ cách xa những con đường lớn của tham vọng và của trí tuệ sẽ cho phép ông nghỉ ngơi chút ít sau ba mươi nhăm năm bôn ba. Ông dự tính sẽ nếm trải sự an toàn mong manh của một con vật được sự chật hẹp và bóng tối trong tổ nơi nó đã chọn sống che chở. Ông đã lầm. Bất dịch, nhưng sự tồn tại này sôi sục ngay tại chỗ; những gì ông cảm thấy là một hoạt động gần như khủng khiếp gầm gừ như con sông dưới lòng đất. Ông bị bóp nghẹt trong thứ âu lo khác với cái âu lo của một triết gia bị truy hại vì tác phẩm của mình. Thời gian, ông nghĩ rằng nó sẽ đè nặng trong tay ông như một thỏi chì, thì ngược lại, lại chạy mất và chia nhỏ ra như những hạt thủy ngân. Mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng không còn tương ứng với những ký hiệu trên đồng hồ nữa, thậm chí không ứng với chuyển động các vì sao nữa. Đôi khi ông có cảm giác mình sẽ ở lại Bruges đến hết cuộc đời, và đôi khi dường như ông mới quay về đây từ hôm qua. Không gian cũng thay đổi: khoảng cách cũng nhòa đi như ngày tháng. Anh hàng thịt, người bán thực phẩm rong cũng có thể ở Avignon hay Vadstena; con ngựa bị roi quật, ông đã thấy nó bị khuất phục trên phố ở Andrinople; anh chàng say rượu đã bắt đầu chửi và nôn ở Montpellier; đứa trẻ khóc oe oe trên tay người vú nuôi kia đã sinh ra ở Bologne hai mươi nhăm năm về trước; buổi lễ mixa chủ nhật, ông không bao giờ quên đến dự, ông đã nghe ở đó khúc introit[2] trong một nhà thờ ở Cracovie năm mùa đông trước. Ông ít nghĩ về những sự kiện xảy ra với ông trong quá khứ, chúng loãng đi như những giấc mơ. Đôi khi, chẳng có lý do rõ ràng nào, trong đầu ông hiện lại người đàn bà to béo mà ông đã đồng ý phá thai, dù đã thề lời thề Hypocrate, để tránh cho bà ta cái chết nhục nhã khi quay về với người chồng ghen tuông, trong một khu phố tại Languedoc, hay cái nhăn mặt của Hoàng đế Thụy Điển khi nuốt chửng thang thuốc, hay anh Alei người hầu đang đỡ con la của họ lội qua sông hôm họ đi từ Ulm đến Constence, hay người anh họ Henri Maximilien có lẽ bây giờ đã chết rồi. Một con đường gập ghềnh thỉnh thoảng có những vũng nước không bao giờ khô thậm chí ngay giữa mùa hè làm ông nhớ lại Perrotin nào đó đã rình ông dưới mưa, bên lề con độc đạo, sau hôm xảy ra một cuộc cãi vã mà nguyên nhân không còn hiện lên nữa. Ông hình dung lại hai cơ thể víu vào nhau trong bùn, lưỡi dao sáng loáng rơi xuống đất, và Perrotin bị chính con dao anh ta làm rơi ra đâm phải, cũng hóa thành bùn và đất. Câu chuyện xưa cũ không còn có gì quan trọng nữa, và càng không có gì là quan trọng nếu cái xác chết mềm nhũn còn nóng kia chính là chàng tu sĩ hai mươi tuổi. Chàng thanh niên Zénon, đang đi những bước gấp gáp trên những viên gạch lát to ở Bruges thấy lướt qua anh ta, cũng như lướt qua bộ quần áo bị gió đại dương làm bạc màu, làn sóng hàng nghìn sinh mạng đã sống tại chính điểm này của địa cầu, hay sẽ sống ở đây cho đến khi thảm họa mà chúng ta gọi là ngày tận thế sẽ diễn ra; những bóng ma ấy lướt qua mà không nhìn thân thể người đàn ông này, người mà khi họ còn sống anh ta chưa xuất hiện, hay khi họ ra đời anh ta không còn tồn tại nữa. Những gã nào đó gặp trong khoảnh khắc trước ở trên phố, được nhận ra nhờ cái liếc mắt, rồi bị ném nhanh chóng vào khối bất dạng gồm những gì đã qua, không ngừng làm tăng thêm đoàn hồn ma. Thời gian, nơi chốn, vật chất bị mất những thuộc tính mà nhờ đó ta xác định chúng; hình hài chỉ còn là lớp vỏ của vật chất bị tước nham nhở; vật chất chảy thành giọt vào một thứ hư không không phải là cái ngược lại với nó; thời gian và sự vĩnh cửu chỉ là một thứ, như dòng nước đen chảy trong vũng nước đen bất biến. Zénon chìm trong những suy nghĩ như vậy như một con chiên thiên chúa giáo chìm trong sự suy niệm về Chúa.

Bản thân những ý tưởng cũng trượt đi. Giờ đây ông thấy thích hành động suy nghĩ hơn là những điều rút ra được sau khi suy nghĩ song vẫn cần nghi ngờ. Suy nghĩ, tức là ông đang khám bệnh cho chính mình, giống như việc ông có thể lấy ngón tay ấn vào cổ tay để đếm nhịp đập động mạch quay, hay chạm vào sườn đếm hơi thở. Suốt cuộc đời, ông vẫn sửng sốt vì khả năng mà ý nghĩ có được là liên kết với nhau một cách lạnh lùng như những tinh thể trong những hình thù lạ lẫm, lớn lên như những khối u ăn vào da thịt đã tạo ra nó, hay, một cách quái vật, quyết định cá tính con người, giống những khối trơ mà một số phụ nữ sinh ra, nhưng thực tế đó chỉ là vật chất đã mơ màng. Nhiều trong số các sản phẩm của trí óc bản thân chúng cũng chỉ là hình thù dị dạng như con bê-trên-mặt-trăng. Những khái niệm khác, đúng hơn và rõ ràng hơn, là hình ảnh của một vật thể, chúng được tạo ra bằng bàn tay người thợ bậc thầy, chúng cho ta ảo tưởng khi ở xa; người ta nhìn ngắm không chán những góc cạnh và những đường song song của chúng; tuy nhiên chúng vẫn chỉ là những ô vuông trong đó lý trí tự nhốt giữ chính nó, và những gì sai là gỉ sắt, ăn mòn những thanh sắt trừu tượng đó mà thôi. Từng phút từng giây, con người ta run rẩy như đứng trên bờ một sự chuyển vị nguyên tố: một chút vàng dường như được sinh ra trong hố óc con người; song người ta chỉ có thể vươn tới một thứ tương đương vàng mà thôi; giống như trong những thí nghiệm dối trá bọn giả kim thuật gia ở triều đình vẫn làm cho các khách hàng hoàng tử tin rằng chúng tìm ra vàng, thực chất vàng tụ lại dưới đáy bình cổ cong chỉ là một đồng ducat tầm thường qua tay vô vàn kẻ khác, được người thổi lò đặt vào từ trước đó. Các khái niệm cũng chết như con người: trong nửa thế kỷ qua ông đã thấy rất nhiều thế hệ ý nghĩ tan biến vào cát bụi.

Một hình ảnh ẩn dụ khó nắm bắt hơn lớn dần trong ông, kết quả những lần đi qua biển trước đây. Triết gia tìm cách hình dung toàn bộ lý trí con người, ông thấy trong ông có một khối nương theo những đường cong có thể tính toán được kích thước, trên đó hằn lên những vệt ngang như dòng chảy mà ông có thể lập được sơ đồ, trên đó gió thổi xuống làn nước trơ và nặng tạo thành những nếp gấp sâu. Những hình thù mà trí óc bao chứa cũng giống những đường nét vĩ đại sinh ra từ thứ nước không phân hóa được dồn xuống chỗ xoáy hay thay nhau trồi lên bề mặt xoáy nước; mỗi khái niệm cuối cùng lại sụp xuống chính khái niệm đối lập của nó, như hai cơn sóng lừng đập vào nhau, làm triệt tiêu nhau thành một và triệt tiêu ngay cả lớp bạc đầu. Zénon nhìn lớp sóng lộn xộn chạy trốn, trôi giạt theo nó là một chút rơi ra từ những chân lý nhạy cảm mà chúng ta tưởng rằng chắc chắn. Đôi khi, dường như ông đã nhìn hé thấy dưới lớp sóng kia một vật chất không chuyển động, có lẽ vật chất ấy có quan hệ với ý nghĩ như ý nghĩ quan hệ với lời nói. Nhưng không gì chứng minh được rằng cái thể nền ấy là lớp cuối cùng, cũng không thể chứng minh được rằng sự cố định ấy không che giấu một sự chuyển động quá nhanh đối với trí tuệ con người. Từ khi ông bỏ ý định trao gửi tư tưởng của ông cho một nhóm thính giả nào đó hay viết chúng ra một cuốn sách sẽ được bày trên giá hiệu sách, ông quay sang việc nghiên cứu sâu hơn bao giờ hết những khái niệm thuần khiết. Bây giờ, để thăm khám kỹ hơn, ngay cả các khái niệm ông cũng tạm thời từ bỏ; ông lưu tâm đến trí óc, như người ta nín thở, để nghe rõ hơn tiếng bánh xe đang quay nhanh đến nỗi người ta không nhận ra là nó đang quay.

Từ thế giới ý nghĩ, ông quay trở về thế giới thực với vật chất dày đặc hơn được chứa và giới hạn trong hình thù. Những buổi tối sau khi ăn xong, ngồi co ro trong phòng, ông không cố gắng tập trung suy nghĩ về những quan hệ giữa các sự vật sao cho hiểu chúng đúng hơn, mà ông để mặc ý nghĩ lang thang suy tư về bản chất vạn vật. Bằng cách đó ông sửa lại cái không hoàn thiện của lý trí là chỉ tìm hiểu sự vật để sử dụng chúng hoặc ngược lại để vứt đi, chứ không đi sâu hơn tìm hiểu cái chất tạo ra chúng. Như vậy, nước đối với ông từ trước tới nay là thứ uống vào để làm tan cơn khát, một chất lỏng để rửa, một thành phần của vũ trụ được tín đồ Cơ đốc giáo Demiurge tạo ra theo như linh mục phụ tá Bartholomé Campanus đã dạy ông, rằng Tinh thần trôi nổi trên mặt nước. Nước cũng là yếu tố chính trong lý thuyết thủy lực của Archimede hay trong thuyết vật lý của Thales, hay đồng thời nó còn là một ký hiệu trong giả kim thuật của một trong các lực đi xuống phía dưới. Ông đã nhiều lần tính toán sự dịch chuyển, đo lường các liều lượng, chờ xem những giọt nước lại hợp với nhau trong ống dẫn từ nồi chưng. Giờ đây, tạm thời không quan sát nữa, vì quan sát chỉ là động tác từ bên ngoài nhằm phân biệt và đặc biệt hóa, có lợi cho cái nhìn bên trong của nhà triết học giả kim thuật, ông để nước có trong vạn vật tràn vào phòng như thủy triều đại hồng thủy. Rương và ghế đẩu trôi nổi trên mặt nước, tường bở ra vì sức ép của nước. Bản thân ông buông theo dòng chảy có thể thích hợp với mọi hình dáng nhưng không để bất cứ hình dáng nào chèn ép được nó; ông thí nghiệm về sự thay đổi trạng thái của dòng nước khi bốc hơi hay của những hạt mưa biến thành tuyết; ông tự mình nằm bất động tạm thời như băng giá hay trượt như giọt nước nghiêng trên mặt kính một cách không thể giải thích nổi, chất lỏng là thách thức với mọi con tính. Ông mặc kệ cảm giác ấm áp hay lạnh cóng dính chặt vào cơ thể; nước đưa ông, như cái xác, đi thản nhiên như đưa một thân tảo đi. Trở lại với da thịt mình, ông thấy trên da có chất nhờn, thấy nước tiểu ở bóng đái, thấy nước bọt trên môi, nước có mặt trong chất lỏng là máu. Rồi, ông trở lại với yếu tố mà ông luôn cảm thấy như một phần của nó, ông suy niệm về lửa, cảm thấy trong người có cái sức nóng vừa phải và khoan khoái mà chúng ta và những động vật biết đi hay những con chim bay trên bầu trời đều có. Ông nghĩ về những ngọn lửa của những cơn sốt ngấu nghiến con người mà ông đã nhiều lần tìm cách dập tắt song thường thất bại. Ông suy tư về cái bùng lên trong không gian khi ngọn lửa sinh ra, về niềm vui màu đỏ của lò lửa và về sự kết thúc bằng tro đen. Ông dám nghĩ xa hơn, rằng ông với sự mãnh liệt da diết tiêu hủy tất cả những gì nó chạm vào kia chỉ là một; ông nghĩ tới giàn thiêu, ông đã một lần chứng kiến trong lễ nguyện tin tại một thành phố nhỏ ở Leon, hôm đó bốn người Do thái đã chết, bị kết tội là đã giả dối vào Thiên chúa giáo nhưng vẫn không ngừng thực hành những nghi lễ thừa hưởng của tổ tiên họ, một kẻ dị giáo cũng bị tương tự vì đã dám cho rằng những bí tích không có hiệu quả gì. Ông tưởng tượng ra sự đau đớn cực điểm mà ngôn ngữ con người không diễn tả nổi; ông đang là kẻ ngửi thấy qua mũi mình mùi da thịt chính mình đang bốc cháy; ông ho, bị bao bọc bởi làn khói sẽ không bao giờ tan biến khi ông còn sống. Ông thấy một bên chân bị cháy đen duỗi thẳng ra giơ lên vì các khớp bị ngọn lửa liếm vào, rồi gẫy gập như cành củi dưới cái chụp lò sưởi; đồng thời ông thấy trong đầu có ý nghĩ là lửa và củi vô tội. Ông nhớ lại sau hôm lễ nguyện tin ở Astorga, ông cùng ông già Don Blas de Vela tu sĩ giả kim thuật gia quay lại đó, vùng bị cháy đen làm ông liên tưởng tới khoảng đất của những người làm nghề đốt than; nhà thông thái dòng tu Jacobite cúi xuống cẩn thận nhặt giữa đám củi cháy dở đã tắt mấy chiếc xương ngả sang màu trắng, nhỏ và nhẹ, ông ta tìm trong đống xương đó cái luz truyền thống của người Do thái, nó không bắt cháy và gieo mầm cho sự phục sinh. Từ trước đến nay ông vẫn mỉm cười trước điều mê tín dị đoan của pháp truyền kinh thánh Do thái này. Toát mồ hôi vì sợ, ông ngẩng đầu lên, và nếu đêm khá sáng, qua ô cửa ông nhìn ngắm ngọn lửa không thể vươn tới của những ngôi sao, với một dạng tình yêu lạnh.

Dù làm gì đi nữa, suy ngẫm đưa ông trở lại với cơ thể, chủ đề nghiên cứu chính của ông. Ông biết rằng cái đồ lề y thuật của ông bao gồm hai phần bằng nhau, đó là đôi bàn tay khéo léo và những bài thuốc kinh nghiệm, chúng còn được bổ trợ bằng những điều ông phát hiện được qua các thí nghiệm, để rồi từ đó ông rút ra những kết luận lý thuyết luôn chỉ là tạm thời: trong lĩnh vực này một chút quan sát có suy luận giá trị hơn một tấm mơ màng. Ấy vậy mà sau bao năm phân tích mổ xẻ bộ máy con người, ông vẫn trách sao mình không mạo hiểm táo bạo hơn nữa trong cuộc khám phá vương quốc có đường biên giới là da này, nơi chúng ta nghĩ mình là chúa tể, nhưng thực tế lại là tù nhân. Ở Eyoub, tu sĩ Hồi giáo Darazi bạn ông đã truyền cho ông những phương pháp ông ta khám phá ra trong một tu viện dị giáo ở Ba tư, vì Mahomet cũng có những kẻ ly khai như Christ. Trên căn xép ở Bruges ông trở lại nghiên cứu tiếp chủ đề đã bắt đầu trước kia trong căn phòng cuối sân có dòng nước rì rào chảy ngang qua. Những nghiên cứu này đưa ông đi xa hơn tất cả những thí nghiệm in anima vili[3] mà ông từng thực hiện. Nằm ngửa, co cơ bụng, giãn lồng ngực nơi con vật mà chúng ta gọi là trái tim nhanh chóng bị sợ hãi chạy đi chạy lại, ông cẩn thận cho hai lá phổi phình căng, cố thu nhỏ lại để cơ thể chỉ là một túi khí cân bằng với không khí. Darazi đã khuyên ông nên thở như thế, đến tận cội rễ của sự sống. Cùng với tu sĩ Hồi giáo, ông cũng làm thí nghiệm ngược lại, thí nghiệm về những hiệu quả đầu tiên của sự nghẹt thở chậm. Ông giơ tay, sửng sốt thấy sự điều khiển được phát ra và đón nhận, mà không biết chính xác là ông chủ nào, được phục vụ tốt hơn chính ông, đã tiếp ký lệnh: thực tế, hàng nghìn lần ông nhận xét thấy khi ý muốn mới chỉ nghĩ đến, dù nó được tạo ra bằng toàn bộ sức mạnh tinh thần hợp lại, thì nó vẫn không có khả năng làm ông nháy mắt hoặc nhíu lông mày hơn một đứa trẻ la hét mà lại làm hòn đá chuyển động. Ở đây phải có sự đồng ý ngầm nào đó của một phần bản ngã đã gần gũi với vực thẳm trong cơ thể hơn. Một cách tỉ mỉ như người ta tháo từng sợi xơ ra khỏi thân cây, ông phân biệt từng hình dạng của ý muốn.

Bằng tất cả khả năng có được, ông điều chỉnh những chuyển động phức tạp từ bộ não của ông đến hành động, nhưng như một anh công nhân thận trọng sờ nắn những bánh xe của một cỗ máy mà anh ta không lắp ráp và không biết chữa chỗ hỏng hóc: Colas Gheel hiểu những cỗ máy dệt của ông còn rõ hơn là ông hiểu về những cái lay động tinh tế của bộ máy dùng để cân nhắc từng sự việc nằm trong trán ông. Trong người, ông kiên nhẫn theo dõi mạch đập, thấy chúng không biết những mệnh lệnh phát ra từ khả năng suy nghĩ của ông, nhưng lại phản ứng ngay khi ông lo lắng hay đau đớn, mà những tình cảm này lại không làm lý trí ông suy sụp. Bộ máy giới tính tuân theo sự thủ dâm, nhưng hành động được cố ý hoàn thành này lại ném ông trong một khoảnh khắc vào tình trạng mà ý chí của ông không thể kiểm soát nổi. Cũng như thế, một hay hai lần trong đời, những dòng nước mắt đã chảy ra một cách không thể chấp nhận được và không thể kiểm soát được. Ruột ông, là giả kim thuật gia hơn mức chính bản thân ông chưa bao giờ đạt tới, làm công việc chuyển hóa xác chết súc vật hay cây cỏ sống, phân chia cái cần thiết và không cần thiết mà không cần gì đến sự giúp đỡ của ông. Ignis inferioris naturae[4]: cái đống bùn nâu hình xoắn ốc được uốn khúc một cách khôn ngoan kia, chứa những đồ nấu chín vẫn còn bốc khói trong khuôn, cái bộ đất sét đầy thứ chất lỏng có amoniaque và nitơ là bằng chứng tận mắt thấy và tận mũi ngửi của công việc được thực hiện trong những phòng thuốc mà chúng ta không can dự. Với Zénon, dường như người tinh tế kinh tởm chúng và kẻ dốt đặc cười bẩn thỉu khi chứng kiến chúng phần ít vì những vật đó đập vào giác quan mà phần nhiều vì chúng ta kinh hoàng trước cái thói quen bí ẩn và không thể thay đổi của cơ thể. Xuống sâu hơn nữa trong cái đêm đen đặc trong người, ông chú ý tới khung xương bền vững giấu mình trong thịt, nó sẽ tồn tại lâu hơn ông, và trong vài thế kỷ tới sẽ là chứng nhân duy nhất chứng nhận ông đã từng sống trên đời. Ông biến mình vào trong thứ chất khoáng trơ ì trước những đam mê hay tình cảm con người của ông. Rồi kéo trở lại lên người lớp da thịt tạm như kéo chiếc rèm, ông tưởng tượng trải cơ thể ra nền ga thô trên giường, lúc thì ông dùng ý chí để làm giãn nở hình ảnh ông là một hòn đảo của sự sống, đó là lãnh địa của ông, là lục địa còn bị thám hiểm sai lệch, mà đôi bàn chân là đối cực, lúc thì ngược lại ông thu nhỏ mình chỉ là một dấu chấm trong Cõi vô biên. Sử dụng phương pháp của Darazi, ông cố gắng làm ý thức trượt từ óc đến các bộ phận khác trên cơ thể, gần giống như người ta dịch chuyển thủ đô một vương quốc đến một tỉnh lẻ xa xôi. Ông thử rọi sáng đây đó trong những đường hầm tối đen ấy.

Ngày trước, ông hay cùng với Jean Myers chế giễu những kẻ sùng đạo thấy bộ máy con người là bằng chứng hiển nhiên từ bàn tay của một Đấng Tạo hóa, nhưng nay, sự tôn kính của những kẻ vô thần trước con người tự nhiên mà trong mắt họ là một tuyệt tác ngẫu nhiên đối với ông cũng là một chủ đề đáng cười nhạo. Cơ thể có nhiều quyền lực bí ẩn đến thế vẫn có thể bị hỏng hóc; trong những giờ khắc táo bạo, ông, chính ông, bắt đầu mơ thiết kế một cơ thể máy đỡ thô sơ hơn chúng ta. Lật đi lật lại năm giác quan của chúng ta dưới con mắt bên trong, ông đã dám giả định ra những cấu trúc khác, thông mình hơn, trong đó vũ trụ được phản chiếu đầy đủ hơn. Gập từng đốt tay cuối cùng trong những ngón tay ngả vàng, lúc đầu ông thấy chín cửa tri giác mở vào bóng tối dày đặc của cơ thể, mà Darazi trước kia đã chỉ cho ông, là một mưu toan thô thiển của một nhà giải phẫu nửa hoang dã để xếp loại sự vật; tuy nhiên từ danh sách ấy ông nhận ra rằng những đường dẫn mà chúng ta bị phụ thuộc để nhận thức và để sống thật dễ vỡ, không ổn định, không chắc chắn, tạm thời. Chúng ta khiếm khuyết đến mức phải bịt những hai lỗ để đóng cửa thế giới âm thanh, hai lối khác để bóng tối xuất hiện. Giá như có cái giẻ nào đó ấn vào ba trong số những chỗ hở này, quá gần nhau đến mức lòng bàn tay có thể dễ dàng che kín, và thế là xong đời cái thứ động vật mà cuộc sống chỉ là một hơi thở. Cái vỏ kềnh càng cần được ông rửa ráy, đổ đầy, sưởi ấm bên ngọn lửa hay trong bộ lông một con vật chết, tối đến cần được duỗi dài như một đứa trẻ hay một ông già đần độn, là con tin cho toàn bộ thiên nhiên chống lại ông, và tệ hơn nữa, là con tin cho xã hội loài người. Chính da và thịt là nơi đau đớn nếu ông có bị tra tấn; một ngày nào đó chính vì những sức mạnh này suy yếu đi ông sẽ không thể tỉnh táo hoàn thiện một ý nghĩ đã được phác thảo. Nếu đôi khi ông thấy cần nghi ngờ những thao tác trong trí não ông, mà ông cách ly khi thuận lợi với phần còn lại của vật chất ông sở hữu, thì đó đặc biệt là vì cái phần bị suy yếu ấy phụ thuộc vào sự phục vụ của cơ thể. Ông mệt mỏi vì cái khối hỗn độn của lửa không ổn định và đất sét dày này. Exitus rationalis[5]:tự nhiên một ý muốn nảy ra trong ông, bức bối y như khi da thịt bị ngứa; sự ghê tởm, hay sự kiêu căng chăng, đã đẩy ông làm một cử chỉ chấm dứt tất cả. Ông lắc đầu, nghiêm khắc, như trước một bệnh nhân phản ứng quá sớm một phương thuốc hay một loại thức ăn. Luôn luôn sẽ có lúc ta chết cùng cái giá đỡ nặng nề này, hoặc tiếp tục cuộc sống không có nó, cuộc sống phi vật chất và không thể dự đoán trước, mà không nhất thiết thuận lợi hơn cuộc sống trong da thịt ta.

Một cách khắt khe, gần như miễn cưỡng, sau hơn năm mươi năm, lữ khách lần đầu tiên trong đời bắt mình điểm lại trong trí óc những đoạn đường đã đi qua, tách phần ngẫu nhiên ra khỏi phần có tính toán hay phần cần thiết, cố gắng làm cuộc phân loại giữa cái ít ỏi dường như sinh ra từ bản thân ông với những gì chung thuộc về phận làm người. Mọi việc đều không giống hoàn toàn, cũng không hoàn toàn ngược lại với những gì lúc đầu ông muốn hay ông hình dung trước. Nguyên nhân những sai lầm hoặc là do tác động một yếu tố nào đó mà trước đó ông không tính đến sự có mặt của nó, hoặc do ông ước định nhầm về thời gian, sự việc trên thực tế tỏ ra ngắn hoặc dài hơn so với thời gian trên mặt đồng hồ. Lúc hai mươi tuổi, ông tin mình đã thoát ra khỏi những thói quen hay định kiến làm tê liệt hoạt động của chúng ta và che phủ lý trí, nhưng sau đó ông đã bỏ cả cuộc đời để mua từng xu một cái tự do mà ông cứ tưởng sở hữu toàn bộ ngay tức thì. Ta không tự do khi ta ước ao, khi ta muốn, khi ta sợ, có thể cả khi ta sống. Là bác sĩ, giả kim thuật gia, người chế tạo thuốc súng, nhà thiên văn, dù muốn dù không ông đã khoác trên mình bộ quần áo thời đại ông; ông đã để cho thế kỷ áp đặt lên trí tuệ những đường cong nào đó. Do không đội trời chung với sự giả dối, song cũng do đôi lúc nóng gáy, ông đã dấn vào những cuộc cãi vã quan điểm, phản bác chữ vô nghĩa bằng chữ Không ngu ngốc. Trong khi soát lại quá khứ, người đàn ông này đột nhiên thấy tội ác của những nền cộng hòa hay những ông vua đã đe dọa cuộc sống hay đốt sách ông càng bỉ ổi hơn, những điều mê tín của chúng càng ngu ngốc hơn; giống một kẻ quy đạo, ông đã quá phóng đại cái vinh dự của một thằng đần đội mũ lễ, đội vòng nguyệt quế hay đội mũ ba vòng[6], tưởng ân sủng của hắn hẳn cho phép ông thực hiện các ý tưởng của mình. Niềm ham hố xếp đặt, thay đổi hay sai khiến được ít nhất một phần bản chất sự vật khiến ông lê bước theo sau những người có thế lực trên thế giới này, để mất công dã tràng mà nuôi hy vọng hão. Ông điểm lại những công trình không thực hiện được. Ở hậu cung Hoàng đế Thỏ, nhờ mối thân hữu với tể tướng Ibrahim, một con người đầy quyền thế bất hạnh, ông đã hy vọng thực hiện được kế hoạch làm sạch khu đầm lầy quanh Andrinople; ông đã ấp ủ một cuộc cải cách hợp lý cho bệnh viện Janissaires; dưới sự chỉ đạo của ông người ta bắt đầu tìm mua lại những bản cổ văn quý giá của các thầy thuốc và các nhà thiên văn học Hy Lạp, từ lâu thuộc về tay các nhà thông thái Ả Rập. Trong những bản thảo ấy đôi khi lẫn trong ngôn từ lộn xộn có ẩn giấu cả một chân lý thất truyền. Trong số đó quý nhất có bản viết tay của một người tên Dioscoride, chép lại những đoạn văn cổ hơn của Crateuas, bản viết tay này được tìm ra trong hòm sách một đồng nghiệp người Do Thái tên Hamon đang hầu cận bên cạnh Quốc vương… Nhưng Ibrahim bị lật đổ trong bể máu, tất cả bị cuốn trôi, và ghê tởm trước bước thăng trầm này, sau bao nhiêu những lận đận khác, ông không còn nhớ cả đến việc ông đã từng bắt đầu một công trình to lớn không gặp thời. Ông đã nhún vai khi giới tư sản nhát gan ở Bâle cuối cùng từ chối ông chiếc ghế giáo sư, họ hoảng sợ với những đồn đại rằng ông là một kẻ đồng tính luyến ái và một phù thủy. (Vào lúc đó ông đồng thời là cả hai, nhưng những từ kia không đúng với sự việc; chúng chỉ diễn tả cái mà lũ người nghĩ về việc đó). Dù vậy cho đến mãi về sau chỉ cần nhắc đến bọn người đó ông vẫn cảm giác trong miệng như có giọt mật đắng ngắt. Ở Ausbourg, ông tiếc cay tiếc đắng vì vừa đến nơi thì nhà Fugger cũng vừa thu nhận một thầy thuốc làm việc tại các mỏ, ở vị trí đó chắc hẳn ông sẽ được quan sát những căn bệnh của thợ mỏ làm việc dưới lòng đất, chịu ảnh hưởng đầy thế lực của Chì và Thủy ngân. Ông đã hé thấy trong đó những khả năng chữa trị và những kết hợp chưa từng thấy. Và chắc chắn, ông thấy rõ những tham vọng này thật hữu ích bởi nó đưa trí óc của ông phiêu du, nếu có thể nói như thế: không nên tiến gần tới sự bất động vĩnh hằng từ quá sớm là tốt hơn. Tuy nhiên, khi nhìn lại, ông thấy những biến động ấy chỉ như cơn bão cát.

Trong lĩnh vực phức tạp là thú vui xác thịt cũng vậy. Những gì ông thích hơn cả là những khoái cảm sâu kín nhất và nguy hiểm nhất, ít nhất là trên đất cơ đốc giáo và vào thời điểm sự ngẫu nhiên làm ông sinh ra; có lẽ ông tìm đến chúng chỉ vì khi ông che đậy và bảo vệ, chúng là sự phản kháng hoang sơ trước những lề thói, là ngụp lặn trong thế giới ngầm sôi sục ở bên dưới những gì được nhìn thấy và được cho phép. Hoặc có thể lạc thú ấy hấp dẫn ông, cũng đơn giản và không thể giải thích được như khi người ta thèm ăn một trái chín hơn là ăn cái gì khác: không quan trọng đối với ông, cũng như tham vọng trong ông, hiếm hoi và ngắn ngủi, như thể bản chất con người ông là nhanh chóng cạn kiệt những gì dục vọng có thể trao dạy. Cái mớ bòng bong kỳ lạ mà những người thuyết giáo muốn nói bằng chữ dâm dục, không hề chọn sai (vì dường như đó chính là sự tràn đầy nhục cảm khi giải phóng sức lực) thách thức sự soi xét vì nó được cấu thành từ một loạt các chất đa dạng, mỗi chất lại phân thành những thành phần không đơn giản. Tình yêu có mặt trong đó, có lẽ hiếm hơn là người ta thường nói, nhưng bản thân tình yêu không phải là một khái niệm thuần khiết. Thế giới được gọi là thấp hèn này thông với thế giới tinh tế nhất trong bản chất con người. Cũng như tham vọng rồ dại nhất vẫn còn là một giấc mơ của tinh thần đang cố gắng muốn sắp xếp và thay đổi vạn vật, xác thịt trong những giờ phút táo bạo cũng biến những tò mò của tình thần thành của nó và ngông cuồng như thể nó thích thú làm việc đó; chất men dâm ô rút sức mạnh từ cốt lõi tâm hồn cũng như nó rút từ cốt lõi cơ thể. Niềm đam mê của một thân thể cường tráng, ông chỉ ghép nó quá thường xuyên mà không bao giờ thực hiện được với những dự án vô vọng là một ngày nào đó đào tạo cho mình một môn đệ hoàn hảo. Lẫn trong đó còn có nhiều tình cảm khác, mà mọi đàn ông đều trải qua và đều có thể thú nhận. Tình cảm đối với Fray Juan ở Leon và Francis Rondelet, những người anh em chết quá trẻ; với người hầu Alei và sau này với Gerhart ở Lubeck, đó là sự ân cần như người cha với những đứa con. Những tình cảm níu kéo ấy với ông đã từng như một thứ không thể ngăn tách với tự do con người: nhưng giờ đây, chính khi không có chúng ông lại cảm thấy tự do.

Cũng như thế, ông nghĩ về những phụ nữ ông có lần gần gũi xác thịt. Ông không phân tách ngọn ngành những lý do đưa đẩy ông gắn bó ngắn ngủi với họ, dù chúng đáng được lưu tâm hơn, vì chúng hình thành ít bột phát hơn. Phải chăng ham muốn bất chợt khi nhìn thấy những đường cong đăc biệt của cơ thể ấy chính là nhu cầu được nghỉ ngơi ở nơi sâu xa mà đôi khi phụ nữ ban phát, hay là sự tương hợp thấp hèn mà người ta quen dùng? Hay nữa, sâu xa hơn tình cảm hay thói trụy lạc, ham muốn ấy chính là sự tò mò tối tăm muốn xem thử hiệu ứng của những giao dục bí hiểm về sự phối kết hoàn hảo làm tái sinh trong ta sinh vật lưỡng tính cổ xưa? Tốt hơn nên thẳng thắn nói rằng đó là những lần sự ngẫu nhiên mang khuôn mặt đàn bà. Ba mươi năm trước, ở Alger, động lòng trắc ẩn trước một số phận nhỏ nhoi bất hạnh, ông đã mua một cô gái khá đẹp vừa bị bọn cướp bắt cóc trên bờ biển gần Valence; ông định gửi cô về Tây Ban Nha ngay khi có dịp. Nhưng, trong căn nhà hẹp trên bờ biển hoang vu, đã hình thành một tình cảm thân thiết giữa họ, rất giống tình vợ chồng. Đó là lần duy nhất ông chạm tới một cô gái trinh: kỷ niệm về lần âu yếm đầu tiên ấy, với ông không hẳn là sự chiếm hữu mà đúng hơn là một con người ông cần vỗ về và băng bó. Trong vài tuần, bên ông trên giường và trên bàn ăn là một thiếu nữ man mác u buồn, hàm ơn ông như người ta ngậm ơn trước các thánh trong nhà thờ. Song ông không hề tiếc nuối khi gửi cô theo chân một linh mục Pháp lên tàu về Port-Vendres cùng với mấy người cả nam lẫn nữ bị bắt và được trả về với gia đình và quê hương. Số tiền nhỏ ông cho cô chắc là đủ để cô dễ dàng vượt qua các chặng đường về tới quê ở Gandia… Sau này, thời kỳ ở Bude, trong phần chiến lợi phẩm chia cho ông có lần người ta cho ông một cô gái trẻ thô kệch người Hunggari; ông nhận cô để không làm mình lập dị hơn nữa trong trại lính nơi tên tuổi và gương mặt ông vốn đã khác biệt, nơi ông vẫn là một người cơ đốc giáo và bị coi rẻ dù trong đầu ông có nghĩ gì đi nữa về những giáo thuyết nhà thờ. Chắc chắn ông sẽ không nghĩ tới việc lạm dụng quyền lực chiến tranh trao cho nếu cô ta không quá khát khao làm vai trò con mồi. Quả ngọt của Eva hình như chưa bao giờ ngon hơn thế… Sáng hôm đó, ông theo các sĩ quan của Quốc vương vào thành phố. Ít phút sau khi về trại, ông biết trong lúc đi vắng ở trại nhận được lệnh phải giảm đội hình, thanh toán đám nô lệ và đồ đạc cồng kềnh; những xác chết và xống váy vẫn còn trôi vật vờ trên sông… Hình ảnh cơ thể mãnh liệt là thế giờ đây nhanh chóng lạnh cứng lại làm ông mãi về sau vẫn ghê tởm trước mọi sự chung chạ. Rồi ông quay trở về đồng bằng khói lửa nơi có những pho tượng muối và những thiên thần có đôi khuyên tai dài…

Ở phương Bắc, phu nhân Đờ Froso trọng tình tiếp đãi ông khi ông lang thang gần miền bắc cực trở về. Tất cả mọi thứ trên người nàng đều đẹp: dáng vóc cao, nước da sáng, đôi tay khéo léo băng vết thương và lau mồ hôi cho người sốt, nàng đi với sự duyên dáng thanh thoát trên nền đất rừng hơi ẩm, bình thản nâng váy để lộ đôi chân trần lội qua suối. Được các phù thủy xứ Laponi truyền dạy, nàng đưa ông tới tận rìa đầm lầy, trong những chiếc lều nhỏ, ông được xông và tắm trong tiếng hát linh ảo… Buổi tối tại trang viên nhỏ nhà Froso, bên chiếc bàn phủ vải trắng, nàng mời ông ăn bánh lúa mạch đen với muối, quả mọng và thịt khô; nàng gần ông trong chiếc giường lớn trên phòng cao, một chút thản nhiên sỗ sàng như một người vợ. Nàng là góa phụ, và định vào lễ Saint-Martin tới sẽ làm lễ cưới với một chủ trại láng giềng còn độc thân, để lãnh địa không rơi vào vòng giám hộ của các anh nàng. Còn ông chỉ có ý định tiếp tục nghề chữa bệnh ở xứ sở rộng lớn như một vương quốc này, ngồi cạnh lò sưởi viết sách, tối đến trèo lên chiếc tháp nhỏ quan sát các vì sao… Song, sau tám hay mười ngày gì đó, vì những ngày hạ ấy không có bóng đêm, ông đã lại lên đường tới Upsal, mùa này triều đình chuyển về nơi đó, bởi vẫn hy vọng thụ hưởng ân sủng Nhà Vua, và biến hoàng tử Erik thành vua - đệ tử, đó cũng là điều huyễn tưởng cuối cùng của mọi triết gia.

Nhưng chỉ riêng việc cố nhớ lại những con người kia đã làm phóng to vị trí của họ, và khuếch đại tầm quan trọng của những cuộc phiêu lưu xác thịt. Khuôn mặt Alei hiện lên không thường xuyên hơn khuôn mặt những người lính vô danh cứng lạnh trên những con đường Ba Lan, mà vì thiếu thời gian và phương tiện ông không thể cố cứu họ. Cô nàng tư sản nhỏ bé đi ngoại tình ở Pont-Saint-Esprit làm ông ghê tởm với cái bầu tròn tròn giấu dưới nếp gấp dải đăng ten rua, những lọn tóc xoăn tít xung quanh đường nét võ vàng mệt nhọc, những lời nói dối đáng thương và sỗ sàng. Ông đã nổi giận trước cái liếc mắt cô lẳng vào người ông trong tận cùng sợ hãi, vì không biết cách nào khác để chinh phục một đàn ông. Vậy mà ông đã vì cô ta liều đặt danh tiếng bác sĩ vào vòng nguy hiểm; những động tác vội vã cố để kết thúc trước khi người chồng ghen tuông trở về, cái phần khốn khổ còn lại sau một lần con người ân ái mà ông phải chôn dưới gốc ô liu trong vườn, sự im lặng mua của bọn hầu với giá bằng vàng để trông coi Phu nhân và giặt tấm ga đẫm máu, tất cả những thứ đó đã làm nảy sinh giữa ông và cô ta một thứ tình cảm giữa những kẻ đồng lõa, và ông biết cô ta còn hơn một tình nhân biết một tình nhân. Phu nhân de Froso mang đến cho ông không gì khác ngoài sự an lành, song cũng chẳng hơn bà chủ hiệu bánh có nước da rỗ đã làm phúc cứu ông vào một buổi tối khi ông đến ngồi dưới ô văng cửa hàng chị ta tại Salzbourg. Khi đó ông vừa trốn khỏi Innsbruck, mệt lử và rét cóng, tập tễnh lê bước dưới tuyết. Qua mặt tiền cửa hàng, chị ta quan sát người đàn ông co ro trên chiếc ghế đá nhỏ, và, chắc tưởng ông là ăn mày, chìa ra cho ông một ổ bánh mì tròn còn ấm nóng. Rồi chị thận trọng đóng móc cửa lại thật chắc. Ông không quên rằng con người tốt bụng và ngờ vực này có thể ném gạch hoặc đập xẻng vào ông khi cần. Dù thế nào chị ta cũng vẫn là một trong những gương mặt hiền lành. Vả lại suy cho cùng thì tình bạn hay sự ghét bỏ cũng chỉ đọng lại ít ỏi như sự quyến rũ xác thịt. Những sinh vật đã đi theo hay ngang qua đời ông, dù không hề mất cá tính rõ ràng, khi đã qua đi đều lẫn nhòa thành vô danh, như những cây rừng, nhìn từ xa dường như chúng nhập vào nhau. Linh mục phụ tá Campanus lẫn lộn với Riemer giả kim thuật gia mà ông vẫn ghét những chủ thuyết của họ, thậm chí với cả Jean Myers, nếu ông còn sống thì đã đến tuổi tám mươi. Người anh họ Henri trong bộ da trâu và Ibrahim trong chiếc áo dài lót lông, hoàng tử Erik và ông hoàng Laurent kẻ sát nhân ông đã cùng trải qua vài buổi tối đáng nhớ ở Lyon, hai người chỉ là những khuôn mặt khác nhau của một thứ cố thể, đó là đàn ông. Những thuộc tính về giới tình không có vai trò quan trọng như cái duy lý hay phi duy lý của sự ham muốn giả định: phu nhân rất có thể là một người bạn đồng hành; Gerhart ý nhị như một thiếu nữ. Đó là những con người đã gặp, rồi rời xa trong cuộc đời ông, không bao giờ ông nhìn thấy hai lần, cũng giống như những gương mặt ma quái trồi lên thành hình hài sắc nét đến kinh khủng kia, trong đêm tối chúng từ lông mày bước ra trước khi ông chìm trong giấc ngủ và giấc mơ, lúc thì chúng lướt qua rồi trốn chạy nhanh như sao băng, lúc chúng lại tan đi khi ông, vẫn nhắm mắt, nhìn chằm chằm bên trong. Những bóng ma nối nhau chuyển động này tuân theo những quy luật toán học phức tạp hơn và xa lạ hơn cả quy luật của trí tuệ và giác quan.

Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Các sự kiện trên thực tế đều là các điểm cố định, dù người ta đi qua và bỏ lại phía sau những sự kiện của quá khứ, và phía trước là khúc ngoặt che đi những sự kiện tương lai, và con người cũng như sự kiện. Kỷ niệm chỉ là một ánh nhìn thỉnh thoảng rọi vào những sinh vật đã đi vào trong đầu ta, tiếp tục tồn tại không phụ thuộc vào trí nhớ. Ở Leon, nơi ông tạm trú ngụ trong tu viện của Don Blas de Vela dưới bộ quần áo tập tu, và tiện đó phụ giúp ông ta làm các thí nghiệm giả kim thuật, bên cạnh ông có Fray Juan, một tu sĩ bằng tuổi. Tu viện đông đúc quá, những người mới đến phải dùng chung hai hay ba người một nệm cỏ và chăn. Gió tuyết len lỏi qua những bức tường và Zénon liêu xiêu với chứng ho khan. Fray Juan chăm bạn với tất cả những gì có thể, lấy trộm cả canh của tu sĩ nấu bếp cho bạn dùng. Đã tồn tại ít lâu một amor perfectissimus[7] giữa hai chàng trai trẻ, nhưng với Fray Juan, con người đặc biệt sùng tín với thánh Tông đồ yêu quí, những lời báng bổ và phủ định của Zénon tồn tại mà như không tồn tại. Khi Don Blas bước xuống con dốc ra khỏi tu viện vì bị đám tu sĩ ông từng chăn dắt đuổi đi, cho rằng ông là phù thủy truyền đạo Do thái nguy hiểm, Fray Juan đã chọn đi theo ông lão già nua trong cảnh phế truất, dù anh ta chẳng có họ hàng thân thuộc cũng không phải môn đồ. Với Zénon thì ngược lại, cú đảo chính trong tu viện là vận may để cắt đứt vĩnh viễn với một nghề nghiệp chán ngán, để lên đường trong bộ quần áo thế tục, học hỏi những khoa học ít dính dấp với mơ mộng hơn. Dù ông thầy có tìm hiểu những nghi lễ Do thái hay không thì chàng tu sĩ trẻ cũng chẳng bận lòng, vì với anh, theo công thức táo bạo được các thế hệ học sinh truyền tay nhau dưới áo măng tô, Luật Cơ đốc giáo, Luật Do thái và Luật Hồi giáo không là gì khác ngoài Ba Điều bịp bợm. Don Blas chắc là đã chết trên một nẻo đường nào đó hay trong ngục một tòa án giáo phận; phải tới ba mươi nhăm năm sau học trò cũ của ông ta mới nhận ra trong sự điên rồ ấy là đầu óc thông thái không thể giải thích được. Còn Fray Juan, nếu anh ta còn sống ở đâu đó, thì cũng đã sắp bước vào tuổi sáu mươi. Ông đã cố tình xóa khỏi trí nhớ hình ảnh họ cùng hình ảnh của mấy tháng nay ở bên trong chiếc áo thụng thầy tu. Thế nhưng Fray Juan và Don Blas vẫn đang khó nhọc bước đi trên con đường lởm chởm đá, dưới gió buốt tháng Tư, không cần phải nhớ lại mà họ vẫn ở đó. Francois Rondelet đang đi trên truông Địa Trung Hải, cùng đồ đệ lập những dự án tương lai, cùng tồn tại với Francois không quần áo nằm trên chiếc bàn đá hoa trong gian phòng lớn của trường đại học, và bác sĩ Rondelet hình như đang giải thích hoạt động các khớp tay với người chết hơn là với học sinh, và, vượt thời gian, đưa ra những luận điểm của ông với một Zénon đã già. Unus ego et multi in me[8]. Những bức tượng không có gì thay đổi, cố định ở chỗ của chúng, mãi mãi ngự trên một không gian trải rộng có lẽ là vĩnh hằng. Thời gian chỉ là một con đường nối chúng lại với nhau. Có một mối liên hệ: ta không giúp cho người này việc này thì sẽ giúp cho người khác: ông đã không cứu Don Blas, nhưng ông đã cứu Joseph Ha-Cohen ở Gênes, và không vì thế mà hắn thôi coi ông là một con chiên ghẻ cơ đốc giáo. Không có điểm kết thúc: các thầy giáo hoặc các bạn đồng môn mà ông đã thu nhận một tư tưởng ở họ hay nhờ họ ông đã nghĩ ra một tư tưởng trái ngược khác, vẫn theo đuổi những cuộc khẩu chiến không ai nghe và không thể hòa giải, mỗi người trong quan niệm của mình về thế giới như ảo thuật gia ở bên trong vòng tròn của mình. Darazi, người tìm kiếm cho mình một chúa trời gần gũi hơn cả tĩnh mạch cảnh, tranh luận đến cùng với Don Blas, người coi Chúa trời là Người-Không hiển lộ, còn Jean Myers thì ngậm cười vì chính chữ Chúa trời đó.

Từ gần nửa thế kỷ nay, trí óc là nơi ông đập rộng ra hết mức có thể những vết nứt trên bức tường giam hãm chúng ta. Những chỗ hổng lớn dần lên, hay đúng hơn là dường như bức tường mất dần sự vững chắc nhưng không phải vì thế mà không còn dày đặc nữa, như thể đó là một bức tường khói chứ không phải tường đá. Đồ vật không cần thiết để làm công cụ hữu ích nữa. Đầu ông như một cái nệm, đồ vật cho đi qua đó những vật chất cấu thành nó. Căn phòng chứa một cánh rừng. Cái thang này, được đo trên khoảng cách giữa mông người ngồi và đất, cái bàn dùng làm bàn ăn hay bàn viết này, cánh cửa này mở ra để khối khí giữa các vách ngăn thông với khối khí khác bên cạnh, chúng mất lý do tồn tại mà một thợ thủ công đã trao cho để chúng không còn là thân cây hay cành cây bị lột vỏ như thánh Barthelemy trong những bức tranh ở nhà thờ, mang trên mình những vòm lá ma quái và những con chim vô hình, chúng vẫn kêu cót két trong cơn bão đã tan lâu, trên mình chúng chiếc bào còn để lại đây đó những vết nhựa vón cục. Cái chăn này và cái áo thấy tu treo trên đinh kia còn đẫm mùi mồ hôi, mùi sữa và máu. Đôi giày há mõm để dưới giường đã từng động đậy theo hơi thở của con bò nằm dài trên cỏ, và tiếng con lợn bị chọc tiết kiệt máu kêu eng éc vẫn vang lên trong phần mỡ mà người thợ vá giày phết lên đôi giày. Cái chết bạo liệt hiện diện khắp nơi đây, giống như trong cửa hàng thịt hay trên khoảng đất có giá treo cổ. Con ngỗng bị chẹt cổ vẫn cất tiếng quàng quạc trong chiếc lông ngỗng được dùng để vạch lên tấm giẻ những tư tưởng mà người ta cho là xứng đáng được lưu lại. Tất cả đều khác: tấm áo sơ mi các xơ Bernadines giặt cho ông là cánh đồng lanh còn xanh hơn cả màu trời, và cũng là một đống sợi ngâm dưới đáy một con kênh. Những đồng florin trong túi ông in hình Tiên đế Charles đã được trao đi đổi lại, được đem cho hay lấy cắp, cân đong hay xén gọt hàng nghìn lần trước khi, ở thời điểm nào đó, ông tin chúng là tiền của mình, nhưng những lần chúng xoay mình trong những đôi bàn tay hà tiện hay phóng khoáng đều ngắn ngủi nếu so với bản thân sự tồn tại bền bỉ trơ ì của kim loại, chảy từng giọt vào tĩnh mạch trái đất trước thời Adam sống trên đời. Những bức tường gạch hiện hình từ bùn và một ngày nào đó lại quay về với bùn. Cái phần nhà nhỏ dính liền tu viện nơi ông được ấm no phải chăng không còn là nhà nữa, không còn là cái nơi quy tụ của con người, nơi trú ngụ chắc chắn cho trí óc hơn là cho cơ thể. Cùng lắm nó chỉ là một ngôi lều giữa rừng hay một cái trại bên đường, một mẩu vải rách ném xuống giữa vô cùng và chúng ta. Qua hàng ngói, sương mù và những ngôi sao không quen biết bay vào. Trong ngôi nhà này cư trú hàng trăm âm hồn, và cả những người sống cũng ngu ngơ như những âm hồn: hàng tá đôi tay đã đặt từng viên đá lát, đúc gạch và cưa những tấm ván lát sàn, đóng đinh, gắn hay dán chúng: tìm ra một người thợ đã dệt tấm vải len kia vẫn còn sống cũng khó như nói chuyện với người chết. Nhiều người đã sống ở đây, và sau ông, nhiều người nữa sẽ còn đến sống ở đây như con tằm trong kén. Một con chuột lẩn kỹ nếu không nói là vô hình đằng sau vách ngăn, một con côn trùng đang đục khoét bên trong cái rầm mọt, con mắt chúng nhìn khác với con mắt của ông về những khoảng trống và khoảng đầy mà ông gọi là phòng của mình… Ông đưa mắt nhìn lên. Trên trần, một chiếc kèo cũ dùng lại mang trên mình một niên hiệu: 1491. Vào thời điểm dòng số này được khắc lên để ghi nhớ một ngày bây giờ không còn quan trọng với ai nữa, ông chưa sinh ra, và cả người phụ nữ từ đó ông thoát thai cũng chưa sinh ra. Ông nghịch ngợm đổi chỗ các con số: 1941 sau Công nguyên. Ông thử tưởng tượng về cái năm chẳng có quan hệ gì với sự tồn tại của chính ông, mà người ta chỉ biết có một điều về nó, đó là nó sẽ đến. Ông bước trên cát bụi của chính mình. Nhưng thời gian cũng như những hạt sồi: ông không cảm nhận được cái năm tháng do bàn tay con người dệt nên ấy. Trái đất quay, không hề biết đến lịch julien hay lịch cơ đốc giáo, tạo thành vòng tròn không đầu không cuối như một chiếc nhẫn trơn. Zénon nhớ lại rằng ở Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ là năm 973 niên hiệu Hegire, còn Darazi bí mật tính năm tháng theo niên hiệu Khosroes. Từ năm chuyển sang ngày, ông nghĩ bây giờ mặt trời đang lên trên những nóc nhà ở Pera. Căn phòng đi để lại một dải dài; đai giường kêu kẽo kẹt như dây buộc tàu, chiếc giường trượt từ tây sang đông ngược với chuyển động biểu kiến của mặt trời. Tìm chốn an thân tĩnh tại ở một góc cố định trên đất Bỉ là sai lầm mới nhất; cái điểm trong không gian nơi ông đang ở một giờ nữa sẽ là biển và sóng, lâu hơn chút ít nữa là châu Mỹ và châu Á. Những vùng đất ông chưa từng qua chồng chéo lên nhau trong vực thẳm ở nhà thương làm phúc Saint-Cosme. Bản thân Zénon cũng tan đi như một hạt tro trước gió.

TAN RA VÀ KẾT LẠI… Ông biết khi ý nghĩ dứt đoạn, đường rạn nứt xuất hiện trong sự vật có nghĩa là gì. Hồi còn là tu sĩ trẻ, ông đã đọc trong một cuốn sách của Nicolas Flamel miêu tả opus nigrum[9], một thí nghiệm hòa tan và đốt cháy những hình thể là phần khó nhất trong Bí thuật Lớn. Don Blas de Vela vẫn thường xuyên khằng định trịnh trọng rằng bản thân quá trình vẫn diễn ra khi hội tụ đủ các điều kiện, dù rằng người ta có muốn điều đó hay không. Chàng tu sĩ đã say sưa suy tưởng về những lời cách ngôn mà cậu thấy hình như được rút ra không biết từ một cuốn sách ác hại và xác thực nào đó. Trong nghề luyện đan, bước tách chiết này nguy hiểm đến mức các nhà triết học giả kim thuật chỉ dám ám chỉ đến, khó khăn tới mức nhiều cuộc đời dài đã mất trắng vì tìm cách đạt đến nó. Trước kia ông nhầm xếp nó cùng với cuộc nổi loạn dễ dàng. Sau này, loại bỏ mớ mơ mộng hão huyền cũng cổ xưa như ảo tưởng của con người, chỉ giữ lại những công thức thực tế từ các nhà luyện đan thầy mình, ông đã chọn cách làm hòa tan và đông kết vật chất theo nghĩa thí nghiệm được thực hiện với cơ thể của sự vật. Giờ đây, hai nhánh parabol gặp nhau, đã hoàn tất một mors philosophica[10]: người tiến hành thí nghiệm, bị chính thứ a xít thí nghiệm đốt cháy, vừa là chủ thể vừa là khách thể, là nồi chưng cất mỏng manh và là kết tủa đen ở đáy bình hứng. Thí nghiệm người ta từng nghĩ có thể nghiên cứu trong hiệu thuốc nay đã trải ra khắp nơi. Liệu rằng sau đây những bước tiếp theo của cuộc phiêu lưu tìm giả kim có thành cái gì đó không phải là giấc mơ? Có tới chăng một ngày ông biết đến sự thuần khiết khổ hạnh của Bí thuật Trắng, rồi biết đến chiến thắng của trí tuệ và các giác quan, là đặc trưng của Bí thuật Đỏ? Từ đáy kẽ nứt vụt hiện lên con Quái vật Huyễn tưởng. Ông táo bạo nói Có, như trước kia đã từng táo bạo nói Không. Ông bất thần dừng lại, giật mạnh dây cương trên chính cổ mình. Phần đầu tiên của Bí thuật đã đòi hỏi cả cuộc đời ông. Ông không có thời gian và sinh lực để đi xa hơn, nếu giả định rằng có một con đường và rằng có một con người có thể vượt qua con đường đó. Hoặc là cái chết thực sự sẽ nhanh chóng xuất hiện sau khi suy nghĩ bị thối rữa, bản năng bị chết, hình hài bị nghiền nát, vì bản chất con người gần như không thể chịu đựng nổi, và thật đáng tò mò xem điều đó diễn ra như thế nào. Hoặc trí óc từ nơi chuếnh choáng ấy trở về, lại đi theo đường mòn thường lệ, chỉ thêm được đôi chút khả năng tự do hơn giống như được lau chùi. Xem xét những hiệu ứng ấy sẽ thế nào kể cũng hay.

Ông đã bắt đầu nhìn thấy những hiệu ứng ấy. Công việc trạm xá không để ông mệt mỏi: đôi tay và ánh mắt ông chưa bao giờ tự tin hơn thế. Những bệnh nhân rách rưới mỗi sáng kiên nhẫn chờ giờ nhà thương làm phúc mở cửa được ông chăm sóc với tất cả tài nghệ như ông đã từng chữa trị cho những kẻ thế lực trên thế giới này. Vắng bóng hoàn toàn mọi tham vọng hay sợ hãi, ông áp dụng phương pháp của mình quyết đoán hơn, và gần như kết quả lúc nào cũng tốt: trong sự tận lực ấy thậm chí không hề có lòng thương người. Bản chất khô khan và nóng nảy dường như ngày càng kiên cố cùng tuổi tác; ông ít sợ lạnh hơn; dường như ông không mệt mỏi trước băng tuyết mùa đông và ẩm ướt mùa hè nữa; bệnh thấp khớp nhiễm ở Ba Lan không còn hành hạ ông. Ông cũng không thấy hậu quả bệnh sốt rét cách nhật mang theo từ Phương Đông về. Ông thờ ơ ăn những thức do linh mục tu viện trưởng phái một tu sĩ mang từ bếp ăn sang nhà thương, hoặc ông chọn ở quán ăn những món rẻ tiền. Thịt, tiết, lòng, tất cả những thứ gì đã từng phập phồng và sống làm ông ghê tởm vào giai đoạn sống này, vì con vật khi chết cũng đau đớn như con người, và ông không thích thú gì khi phải tiêu hóa những sinh vật lúc chúng mạt vận. Từ khi ông tự tay cắt tiết một con lợn trong lò lợn ở Montpellier, để kiểm tra xem thời điểm tim co bóp và mạch máu đập có trùng nhau không, ông không thấy phải dùng hai từ khác nhau để chỉ con vật mà người ta mổ và con người mà người ta giết, con vật kiệt sức và con người chết. Khẩu vị của ông chuyển sang bánh mì, bia, bột mì sệt là những thứ vẫn còn giữ âm vị đậm đặc của đất, thích thứ rau nước, những thứ quả dịu mát, những thứ củ và rễ cây có vị. Bà chủ quán ăn và tu sĩ nấu bếp khâm phục đức ăn chay của ông, họ nghĩ ông thật sùng đạo. Tuy nhiên thỉnh thoảng ông cũng bắt mình trầm tư ăn một mẩu ruột hay một miếng gan tái, để chứng minh với chính bản thân rằng việc ông không ăn thit là do tinh thần chứ không phải do khảnh ăn. Ông luôn ăn mặc xuềnh xoàng, vì đãng trí hoặc vì xem nhẹ chuyện ấy, ông không thay đổi quần áo mới. Về chuyện dục tình, ông vẫn là anh thầy thuốc ngày xưa khuyên bệnh nhân sử dụng trợ lực của tình yêu, như trong trường hợp khác người ta khuyên họ nên dùng rượu vang. Theo ông, những giây phút kỳ diệu cháy bỏng vẫn là cách tốt nhất đối với nhiều người trong chúng ta để tiếp cận vương quốc lửa mà có lẽ chúng ta chỉ là những tia sáng nhỏ nhoi, nhưng cái khoái cảm tinh tế thật ngắn ngủi, và thâm tâm ông ngờ rằng cái sự rất dễ thành lệ mòn, quá phụ thuộc vào những công cụ sinh sản xác thịt kia không phải là một trong những thí nghiệm mà người ta ép mình làm một lần để rồi khước từ nó. Sự trong trắng, ngày xưa ông thấy đó là điều mê tín cần chống lại, giờ đây với ông là một trong những khuôn mặt của sự thanh thản: ông nhấm nháp sự hiểu biết lạnh lùng mà ta có được từ những người khác khi ta không ham muốn họ nữa. Song cũng có một lần, bị quyến rũ bởi một cuộc gặp gỡ, ông một lần nữa tự thả mình vào trò chơi, và ngạc nhiên về chính sức lực của mình. Một lần ông nổi khùng trước một tu sĩ vô lại đi bán thuốc bôi dẻo của trạm xá trong thành phố, nhưng ông giận dữ là do thấy cần phải thế hơn là bột phát từ bản năng. Thậm chí ông không cho phép mình một chút tự hào sau một ca mổ thành công, như người ta để một con chó xù mình giũ lông trên cỏ.

Một buổi sáng, trong khi đi lang thang sưu tầm cây cỏ, một chuyện không đáng kể và gần như lố bịch làm ông suy nghĩ; nó sinh ra trong ông một thứ tương đương như một thiên khải sáng láng làm một người sùng đạo thấy được một điều bí nhiệm. Ông ra khỏi thành phố vào lúc bình minh vừa lên để đi đến rìa cát, mang theo một chiếc kính lúp ông đã đặt một thợ kính ở Bruges làm theo những yêu cầu đặc biệt, ông dùng nó để quan sát thật gần các rễ con và hạt cây mà ông thu nhặt được. Gần trưa, ông thiếp ngủ nằm sấp trong một hố cát, đầu gối lên cánh tay, chiếc kính rơi khỏi tay nằm trên một khóm cây khô dưới người ông. Khi tỉnh dậy, ông tưởng nhìn thấy đối diện với mặt mình một con vật chuyển động cực kỳ quái gở, một con côn trùng hay động vật thân mềm đang di chuyển trong bóng tối. Người nó hình cầu, phần bụng, có màu đen lánh và ẩm ướt, được bao quanh bởi một vùng màu trắng hơi ngả sang hồng hoặc màu nhờ nhờ xỉn, những sợi lông mọc quanh viền mép đan nhau đâm lên từ phần mai mềm màu nâu có những đường vạch thành kẽ nứt và u phồng lên. Một sự sống gần như đáng sợ ngụ trong hình hài mỏng manh. Chưa đầy một khoảnh khắc sau, thậm chí trước khi những gì mắt ông nhìn thấy chuyển thành ý nghĩ, ông nhận ra rằng những gì ông thấy chẳng qua chỉ là mắt ông, được phản chiếu và phóng to qua chiếc kính lúp, đằng sau nó cỏ và cát tạo thành lớp thủy như lớp tráng gương. Ông ngồi dậy chìm vào suy nghĩ. Ông đã thấy mình nhìn, thoát ra ngoài con mắt quen thuộc thủ cựu, ông đã nhìn rất gần vào cơ quan nhỏ bé và khổng lồ, gần gũi song lại lạ lẫm, nhanh nhẹn nhưng lại dễ bị tổn thương, được phú một sức mạnh không hoàn hảo dầu vậy vẫn kỳ diệu, mà ông phải nhờ cậy để nhìn thế giới. Từ cái nhìn ấy chẳng rút ra điều lý thuyết nào, song nó nhân lên một cách kỳ quái những hiểu biết của ông về bản ngã, cùng với những khái niệm của ông về nhiều vật thể cấu hợp nên bản ngã. Như con mắt của Chúa ở một số bức tranh thánh, con mắt người này đã trở thành một biểu tượng. Điều quan trọng là phải đón nhặt những gì ít ỏi nó lọc được từ thế giới trước khi nó chỉ trông thấy đêm đen, quan trọng là phải kiểm soát các bằng chứng và nếu có thể sửa chữa sai lầm. Theo một ý nghĩa nào đó, con mắt là đối tượng của vực thẳm.

Ông thoát ra khỏi cuộc diễu hành những ý nghĩ màu đen. Thực tế, ông đã hơn một lần thoát ra khỏi đó. Và ông sẽ còn thoát ra khỏi đó. Những cuốn sách bàn về sự phiêu lưu của trí tuệ đã lầm lẫn khi gán cho cuộc phiêu lưu ấy nhiều đoạn nối tiếp nhau: trái lại tất cả hòa trộn vào nhau; tất cả đều là những chủ đề để nói lại và nhắc lại không bao giờ dứt. Cuộc tìm kiếm của trí tuệ biến thành đường tròn. Trước kia ở Bâle, và ở nhiều nơi khác, ông đã trải qua những đêm như thế. Vẫn những chân lý ấy, ông đã học hỏi lại nhiều lần. Nhưng những trải nghiệm có tính lũy tích: qua thời gian, bước chân đi đã chắc chắn hơn, con mắt đã nhìn được xa hơn vào vài chỗ tối tăm; trí óc đã ghi nhận ít nhất một vài quy luật. Vì ông trở thành người đang leo lên một sườn núi, hay có lẽ là đi xuống, ông lê cao hay xuống sâu ngay tại chỗ, hơn nữa, ở mỗi khúc ngoặt chữ chi, vẫn vực thẳm ấy lại hiện ra lúc ở bên phải lúc lại bên trái. Chỉ nhận ra quãng đường đã leo nhờ không khí ngày càng hiếm và những ngọn núi mới điểm xuyết đằng sau những ngọn lúc trước dường như chắn ngang đường chân trời. Nhưng khái niệm thăng hay giáng đều sai: những ngôi sao tỏa sáng ở phía dưới cũng như ở phía trên; ông ở đáy vực cũng không đúng mà ở giữa cũng không phải. Vực thẳm vừa ở bên kia bầu trời vừa ở bên trong vòm xương. Tất cả giống như diễn ra ở đáy một loạt những vòng khép kín không dứt.

Ông viết trở lại, nhưng không dự định sẽ cho công bố. Trong số tất cả những quyển sách bàn về y học cổ, ông vẫn thích cuốn III Các nạn dịch của Hippocrate, vì những miêu tả các ca lâm sàng rất chính xác cùng triệu chứng tiến triển từng ngày của chúng, và cách chữa trị. Ông cũng viết tương tự như thế về những bệnh nhân được chữa trị ở nhà thương làm phúc Saint-Cosme. Một thầy thuốc nào đó sống sau ông sẽ có thể rút ra được chút gì đó từ quyển nhật ký do một bác sĩ thực hành hành nghề ở Flandre vào thời Hoàng đế Cơ đốc giáo Philippe II. Một dự án mạnh dạn hơn thỉnh thoảng chiếm tâm trí ông, đó là viết cuốn Liber Singularis[11], trong đó ông miêu tả tỉ mỉ những gì ông biết về một con người, đó chính là ông, sự phức tạp của nó, những cư xử, những hành động đã được thú nhận hay còn trong bí mật, ngẫu nhiên hay có tính toán, tư tưởng, và những mơ ước. Rút gọn bớt kế hoạch quá rộng này, ông giới hạn vào một năm người đàn ông này sống, rồi vào một ngày: ông vẫn chưa nắm bắt được chất liệu rộng lớn, và ông nhanh chóng nhận ra rằng trong tất cả những thời gian ông trải qua thì thời khắc đó là nguy hiểm nhất. Ông từ bỏ ý định. Đôi khi, để giải trí, ông viết ra những lời mạo xưng là tiên tri, thực tế đó là những lời châm biếm những sai lầm và những điều quái dị trong thời đại ông sống bằng cách lột tả cái phần mới lạ hay kỳ diệu mà ít người thấy. Nhân tiện đó, và dưới hình thức là những lời giải trí, ông đọc một vài chuyện trong mớ khó hiểu buồn cười này cho một nhạc sĩ đàn ống ở Saint-Donatien, mà ông kết bạn từ khi ông phẫu thuật cho bà vợ yêu quý của ông ta một khối u lành. Nhạc sĩ đàn ống và vợ ông ta điên đầu đoán nghĩa như đoán câu đố, rồi cười khoái trá mà không nhìn thấy trong đó độc tính của sự việc.

Một vật cũng chiếm thời gian của ông trong những năm tháng đó là một cây cà chua, loài thảo mộc hiếm sinh sản theo cách giâm cành, mà ông vất vả mới gây được từ một mẫu duy nhất mang về từ Tân Thế giới. Cây quý này được ông giữ trong hiệu thuốc, làm ông hứng thú làm lại những nghiên cứu cũ của mình về chuyển động của nhựa cây: ông úp một cái chụp để ngăn không cho nước tưới bốc hơi lên, và mỗi sáng đều cân đo cẩn thận, ông đã đo được số aoxơ nước mỗi ngày cây có thể hấp thu được; rồi ông làm các phép toán đại số để xem với khả năng thẩm thấu này, chất lỏng có thể lên đến độ cao nào trong thân và cành. Ông trao đổi chủ đề này với nhà toán học thông thái đã từng mời ông ngụ lại nhà ở Louvain khoảng sáu năm trước. Họ trao đổi các công thức. Zénon nôn nóng chờ thư trả lời. Ông cũng bắt đầu nghĩ đến những chuyến đi mới.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng La tinh: Không có tên riêng.

[2] Khúc dạo đầu trước khi vào lễ mixa ở thành Rôme.

[3] Tiếng La tinh: giảm thiểu hít thở không khí.

[4] Tiếng La tinh: Lửa của thiên nhiên bên dưới.

[5] Tiếng La tinh: Kết thúc đúng lý.

[6] Những người đội mũ lễ là các linh mục tu viện trưởng các tu viện cấp cao; những người đội vòng nguyệt quế là vua, hoàng tử hay công chúa; những người đội mũ ba vòng là các giáo hoàng.

[7] Tiếng La tinh: Tình yêu hoàn hảo nhất.

[8] Tiếng La tinh: Một bản ngã và nhiều kẻ trong bản ngã.

[9] Tiếng La tinh: Bí thuật Đen.

[10] Tiếng La tinh: Cái chết triết học.

[11] Tiếng La tinh: Cuốn sách duy nhất.

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.