Simon Adriansen già đi. Ông nhận ra điều đó không phải vì sức nặng của sự mệt mỏi mà vì ngày càng trở nên thanh thản hơn. Ông biết mình giống anh hoa tiêu đã nghễnh ngãng chỉ nghe mù mờ tiếng bão tố nhưng nhờ sự khéo léo vẫn đoán được sức mạnh dòng nước, gió và những đợt triều cường. Suốt cuộc đời, ông đi từ chỗ giàu ít đến giàu nhiều: vàng chảy về tay ông; ông đã rời ngôi nhà cũ của gia đình tại Middelbourg để chuyển đến ngôi nhà mới do chính ông chăm lo xây cất gần một cảng biển mới được xây ở Amsterdam, vào thời kỳ ông buôn bán gia vị ở thành phố cảng này. Nhà ông trên bến Schreijerstoren như chiếc tráp chắc chắn đón nhận và cất giữ những báu vật từ hải ngoại. Nhưng Simon và vợ, tách xa khỏi kho báu rực rỡ, ở tầng trên cùng trong căn phòng nhỏ trống trơn như một ca bin tàu, và tất cả những thứ xa hoa kia chỉ dành để an ủi những người nghèo khó.
Cửa nhà họ luôn rộng mở, bánh nóng và đèn luôn sáng để đón nhận những con người rách rưới. Đó không chỉ là những con nợ đầm đìa không khả năng thanh toán, những con bệnh mà các nhà thương làm phúc quá tải từ chối chăm sóc, mà cả những nghệ sĩ rong đói khát, những thủy thủ nát rượu, cả một tù nhân bị bêu cọc được người ta nhặt về, vai còn in rõ lằn roi. Như Chúa trời, người muốn rằng tất cả đều tốt đẹp trên Đất của Người và đều vui vẻ dưới ánh mặt trời của Người, Simon Adriansen không chọn, hoặc đúng hơn là cố tình chọn những số phận tồi tệ nhất, do ông ghê tởm luật lệ của con người. Những kẻ ăn mày ấy được chính tay ông chủ khoác cho áo ấm, rụt rè ngồi vào bàn ăn. Dàn nhạc công giấu mình trong hành lang rót vào tai họ tiền vị của Thiên đường; Hilzonde khoác bộ áo váy tuyệt đẹp để đón khách càng làm tăng giá trị của bố thí, mang thức ăn ra múc cho họ bằng chiếc muôi bạc.
Simon và vợ, như Abraham và Sarah, như Jacob và Rachael, sống trong yên bình trong mười hai năm. Tuy vậy họ cũng có nỗi đau riêng. Những đứa con của họ được yêu quý và chăm sóc cẩn thận cứ nối nhau ra đi ngay từ khi mới chào đời. Mỗi lần như vậy, Simon lại gục đầu xuống nói:
- Chúa cũng là một người cha. Người biết cái gì tốt với lũ trẻ.
Và con người thực sự sùng đạo này dạy Hilzonde biết cách lắng đau đớn lại trong cam chịu. Nhưng cảnh buồn bã vẫn không nguôi ngoai. Cuối cùng, một bé gái ra đời và ở lại với họ. Simon Adriansen từ đó sống với Hilzonde trong niềm bác ái.
Tàu của ông giong buồm trên tất cả các dòng sông trên thế giới và đổ về cảng Amsterdam, nhưng Simon vẫn cứ mơ đi một chuyến lớn mà với mỗi chúng ta, dù giàu hay nghèo, đều sẽ kết thúc vì đắm tàu ở một vùng biển lạ. Những nhà hàng hải và những nhà địa lý cùng ông cúi xuống bản đồ các hải cảng và dựng bản đồ cho ông, với ông họ đều không quý bằng những kẻ phiêu lưu trên đường đi tới một thế giới khác, vài anh thầy tu rách rưới, mấy nhà tiên tri bị nhạo báng và bị chế giễu ở quảng trường, một chủ lò bánh mì đầy ảo tưởng tên Jan Matthyjs, một hề rong Hans Bockhold phục sự Chúa bằng ngôn ngữ rao hàng ở hội chợ mà Simon nhặt được vào một tối khi hắn gần như lạnh cứng ở ngoài cửa một quán rượu. Trong số họ có một người nhún nhường nhất, anh ta giấu biệt vốn hiểu biết rộng mà tự nguyện sống ngu đần đi để ơn thánh tỏa xuống mình đầy hơn. Bernard Rottmann, người ta nhận ra anh ta trong chiếc áo lông cũ, trước kia từng là học trò yêu quý nhất của Luther, còn bây giờ anh ta ghét đến phát nôn mửa vị thầy tu ở Wittenberg[1], cho rằng con người đó mẫu mực rởm, vừa nịnh bợ bọn nhà giàu vừa lấy lòng người nghèo, và giáo thuyết của hắn thì lờ vờ đứng giữa chân lý và sự nhầm lẫn.
Do cung cách ngạo nghễ tự xưng Thánh, do tính xấc xược trong cái cách họ nghĩ phải lấy của cải của những người có của, lấy chức tước của người có chức tước để phân phối lại theo ý mình, nên họ bị chính quyền nổi giận; bị đe dọa hoặc chết hoặc phải trục xuất ngay lập tức, những Người Tốt liền bí mật tụ tập tại nhà Simon như thuỷ thủ tụm lại trên một con tàu đang đắm. Song trước mắt họ vẫn có hy vọng, như một cánh buồm hiện ra ở đằng xa: thành Munster. Jan Matthyjs đã đuổi đánh giám mục và các phó thị trưởng và chiếm thành, nơi đó trở thành Thành phố của Chúa, lần đầu tiên con chiên nghèo ở trần gian có nơi nương náu. Quân đội hoàng gia đã kéo đến định triệt phá đất Jerusalem của những con người cùng khổ, song chúng đã thất bại; rồi tất cả người nghèo trên thế giới sẽ đứng về phía những người anh em của họ, từng đội quân sẽ đi từ thành phố này đến thành phố khác cướp lại những kho nhà thờ đáng xấu hổ và lật đổ những kẻ được tôn sùng; người ta sẽ cắt tiết Martin to béo tại ổ chuột Thuringe và cắt tiết Giáo hoàng tại Rome. Simon vừa nghe vừa vuốt bộ râu bạc trắng: khí chất ông đã quen với nguy hiểm khiến ông chấp nhận không nề hà những nguy nan chồng chất trong một cuộc phiêu lưu vì đạo như thế này; sự điềm tĩnh ở Rottman và những câu đùa tếu của Hans xoá đi những nghi ngờ cuối cùng trong ông; ông yên lòng như khi thấy một thuyền trưởng nghiêm túc và một cậu bé giong buồm lạc quan trước lúc tàu nhổ neo vào mùa bão tố. Trái tim ông chứa đầy lòng tin khi ông nhìn những người bạn cùng khổ kéo mũ sụp xuống mắt, thắt chặt dải khăn len sờn, ra đi trong bùn tuyết, sẵn sàng cùng nhau đi đến thành phố Munster trong giấc mơ của họ.
Cuối cùng một ngày nọ, hay đúng hơn một đêm nọ, trước bình minh lạnh tháng Hai, ông lên phòng, Hilzonde đang nằm thẳng và bất động trên giường, dưới ánh sáng ngọn đèn ngủ leo lét. Ông khẽ gọi nàng, biết chắc nàng không ngủ, ông nặng nề ngồi xuống chân giường, và giống như một lái buôn đang cùng vợ tính lại các món trong ngày, ông kể nàng nghe về những lần bí mật tụ tập ở phòng nhỏ tầng dưới. Chẳng phải nàng cũng mệt mỏi đấy thôi vì phải sống ở một trong những thành phố nơi tiền bạc, thể xác và hư vinh phô trương một cách lố bịch ở quảng trường, nơi nỗi đau khổ của con người dường như cứng lại thành đá, thành gạch hay thành những đồ vật cồng kềnh mà Tinh thần không còn sống ở trên đó được nữa? Về phần ông, ông quyết định bỏ nhà đi, hay đúng hơn là bán nhà (vì tại sao lại lãng phí vô ích của cải thuộc về Chúa?) và bán tất những gì thuộc sở hữu của ông ở Amsterdam để đến với Con tàu Munster khi thời gian còn cho phép, vì bây giờ nó đã đông đến mức muốn vỡ, ở đó Rottman bạn của họ sẽ tìm được cho họ chỗ ở và thức ăn. Ông giao hẹn với Hilzonde suy nghĩ và trả lời trong mười lăm ngày nữa rằng nàng có đồng ý đi đến đó không, thực chất là họ sẽ sống trong nghèo khổ, lưu đày, có thể họ sẽ chết, nhưng cũng có thể sẽ may mắn là một trong những người đầu tiên chào đón Thời đại của Chúa.
- Mười lăm ngày, ông nhắc lại, mình nhớ nhé. Nhưng không quá một giờ đâu, vì thời gian gấp rồi.
Hilzonde chống khuỷu tay lên, và mở to mắt nhìn thẳng vào ông:
- Mười lăm ngày đã quá rồi ông ạ, nàng nói với vẻ bình thản khinh rẻ những tài sản nàng sẽ bỏ lại sau lưng.
Simon khen nàng luôn tiến trước ông một bước trên con đường tới Chúa. Sự kính trọng ông luôn dành cho bạn đời không bị mai một trước những nhàm chán của cuộc sống thường nhật. Với những người mà ông chọn, ông không để tâm tới những chỗ chưa hoàn hảo, những bóng tối, những khiếm khuyết mà dù sao người ta vẫn nhận thấy vì nó nổi ngay trên bề mặt tâm hồn, ông già chỉ đánh giá họ bằng những gì có lẽ là trong sạch nhất ở họ, hay những gì họ khát khao đạt đến. Ông thấy chất thánh dưới bề ngoài đáng thương của mấy nhà tiên tri được ông cưu mang. Xúc động trước ánh mắt của Hilzonde ngay lần đầu tiên gặp mặt, ông không nhìn thấy nếp nhăn gần như xảo trá trên đôi môi buồn bã. Người phụ nữ mảnh khảnh và mệt mỏi kia với ông vẫn là một Thiên thần lớn.
Lần bán nhà cửa đồ đạc này là lần cuối cùng ông thu hời. Như mọi khi, chính tính thờ ơ trước tiền bạc khiến tiền bạc đổ vào tay ông, nó giúp ông tránh lầm lẫn sợ bán hố hay tránh vội vàng vì tưởng lời. Hai kẻ lưu đày tự nguyện rời Amsterdam, họ vẫn được giới giàu có tôn trọng dù rằng quyết định đi theo bọn khố rách áo ôm của họ có làm thành phố xôn xao. Họ đi tàu đến Deventer rồi từ đó đi xe bò qua những ngọn đồi phủ đầy lá non ở Gueldre. Họ nghĩ ở các quán trọ vùng Westphalie nếm món giăm bông hun khói; con đường đến Munster với dân thành thị như họ giống như một phần thôn quê. Bà Johanna, được Simon trọng nể vì trước kia từng chịu tra tấn cho đức tin phái rửa tội lại, đi theo phục vụ Hilzonde và đứa bé.
Bernard Rottman đón họ tại cổng thành giữa đống lỉnh kỉnh nào túi nào hòm. Thành phố chuẩn bị sống trong vòng vây vui vẻ và lộn xộn như không khí chuẩn bị trước ngày lễ. Trong khi hai bà phụ nữ vác chiếc nôi và mấy bọc quần áo cũ xuống xe, Simon nghe Người Phục vụ nguyên vĩ đại nói chuyện: Rottman lúc này đang bình thản; cũng giống như đám đông được hắn huấn đạo đang trên đường chở rau và củi từ ngoài cổng thành vào kia, hắn tin vào sự cứu giúp của Chúa. Dù vậy Munster vẫn cần tiền. Hơn cả tiền, thành phố còn cần sự ủng hộ của những người nghèo, những người bất bình hay phẫn nộ đang ở đây đó trên thế giới này, những người chỉ chờ đợi thắng lợi đầu tiên của Chúa Christ mới để lay đổ ách cai trị của những kẻ được tôn sùng. Simon vẫn giàu, ông còn những món nợ có thể thu về được từ Lubeck, ở Elbing, cho tới tận Jutland nay Na Uy xa xôi; ông có sứ mệnh phải đòi lại những khoản tiền chỉ thuộc về Chúa. Trên đường đi ông sẽ biết cách chuyển đến những trái tim sùng đạo thông điệp về các Thánh nổi loạn. Ông là người được trọng vọng vì có lương tri và tiền bạc, với bộ quần áo bằng vải tốt và da mềm, người ta sẽ nghe ông ở những nơi mà những linh mục rách nát không có lối vào. Ông già đổi đạo giàu có này quả là sứ giả tốt nhất của Hội đồng Người nghèo.
Simon đồng tình với những lý lẽ này. Cần phải hành động nhanh chóng không thể để đến lúc các ông vua và linh mục đến giăng bẫy tóm họ, Vội vàng ôm hôn vợ và con gái, ông lên đường ngay lập tức, trên con la khoẻ nhất vừa đưa ông đến cổng thành. Vài ngày sau, những mũi lao sắt đã hiện lên ở chân trời, đội quân hỗn hợp của Vua và Đức Tổng giám mục hạ trại quanh thành phố, họ không có ý định tấn công song sẵn sàng bao vây cho đến khi cần thiết để xoá sổ những kẻ ăn mày đói rách.
Bernard Rottman thu xếp cho Hilzonde và đứa bé sống trong dinh thị trưởng Knipperdolling, anh ta là người bảo trợ sớm nhất của Những Con người Thanh khiết ở Munster. Người đàn ông cao lớn cởi mở và điềm tĩnh coi nàng như chị gái. Dưới ảnh hưởng của Jan Matthyjs đang nhào nặn một thế giới mới như trước kia hắn nhào bánh trong hầm nhà ở Haarlem, cuộc sống trong thành phố đổi khác hoàn toàn, dễ dãi và đơn giản. Hoa quả từ đất thuộc về tất cả mọi người, như không khí và ánh sáng của Chúa. Những ai có quần áo, bát đĩa hay đồ đạc thì để ra ngoài phố dùng chung. Tất cả thương yêu nhau bằng tình thương nghiêm khắc, giúp đỡ nhau, chê trách và dò xét lẫn nhau để phát hiện tội lỗi của nhau; luật lệ dân sự bị bãi bỏ, bãi bỏ cả bí tích, cả dây thừng dùng để trừng phạt những kẻ báng bổ và những tội lỗi thuộc về thể xác; các bà các cô trùm khăn kín mít đi lại như những thiên thần lớn lo lắng, và người ta nghe thấy trên quảng trường tiếng nức nở trong những lễ sám hối tập thể.
Bị quân nhà thờ Cơ đốc giáo bao vây, thành phố nhỏ của những Người Tốt sống trong cơn sốt của Chúa. Tối tối, những bài giảng Tin lành trong không khí tự do lại hà hơi cho tinh thần dũng cảm; Bockhold là Thánh được lòng người nhất, hắn được các con chiên mến mộ vì thường thêm thắt vào những hình ảnh đẫm máu của Ngày tận thế những câu đùa của các vai hề. Dưới mái vòm quảng trường, trong đêm hè ấm áp, tiếng rên rỉ của người ốm và những thương binh đầu tiên của thành phố trộn lẫn với tiếng the thé của đám phụ nữ cầu xin Đức Chúa Cha cứu giúp. Hilzonde thuộc nhóm hăng hái nhất. Mẹ của Zénon đứng đó, thẳng người, dài như ngọn lửa, nàng tố cáo những điều ô nhục bọn La mã đã làm. Những hình ảnh khủng khiếp chứa đầy đôi mắt đẫm lệ, rồi đè lên bản thân nàng, bất ngờ nàng gục xuống như một cây nến thờ dài mà lại quá mỏng mảnh. Hilzonde khóc vì ăn năn, vì trìu mến, và vì mong mỏi cái chết.
Đám tang đầu tiên của thành phố là cái chết của Jan Matthijs, hắn bị giết khi dẫn đầu một toán khoảng ba mươi người và một quân đội thiên thần ra ngoài thành thử đánh lại quân của Đức Tổng giám mục. Hans Bockhold, đầu đội vương miện, trèo lên ngựa phủ áo choàng lễ, nhanh chóng được tôn là Vua Tiên tri trên sân trước nhà thờ; người ta dựng bục để mỗi sáng vua David mới đến ngự, ra các quyết định không cần bàn bạc về công việc ở hạ thế và ở trên trời. Có một vài lần ra ngoài thành đánh lén, họ phá được vài bếp của Đức Tổng giám mục, cướp được mấy con lợn gà, thế là họ tụ tập lại ăn mừng trong tiếng sáo; cũng như mọi người khác, Hilzonde cười to khi thấy mấy người phụ bếp của quân địch bị bắt làm tù binh phải nấu nướng cho đám đông ăn rồi bị đám đông đấm đá cho đến chết.
Dần dần, một sự thay đổi diễn ra trong các tâm hồn, như những giấc mơ ban đêm biến thành những cơn ác mộng mà người ta không hề hay biết. Trạng thái ngây ngất làm các Thánh loạng choạng như người say. Lương thực từ khắp nơi được dồn vào các hầm và kho của thành phố. Vua Christ mới ra lệnh nhịn đói hết sáng này đến sáng khác để dè sẻn chúng; tuy nhiên cũng có khi họ được ngốn ngấu những thùng cá nào bốc mùi thối hoắc, hay những miếng giăm bông nào đã ôi. Bernard Rottmann kiệt sức, ốm yếu, nằm lì trong phòng, nhận hết những mệnh lệnh của Vua mới mà không phản ứng gì, đành bằng lòng với những lời rao giảng cho đám dân chúng tụ tập dưới cửa sổ về Tình yêu, điều làm tiêu biến mọi rác rưởi trên trái đất và về Nước Chúa. Knipperdolling đã được trang trọng thăng chức từ thị trưởng thành phố, chức này đã bị bãi bỏ, để thành đao phủ; người đàn ông béo, cổ đỏ au, cảm thấy hạnh phúc với việc thi hành nhiệm vụ mới, như từ trước tới giờ anh ta vẫn bí mật làm nghề đồ tể. Người ta giết rất nhiều; Vua cho xoá sổ những kẻ hèn nhát và những kẻ do dự trước khi họ lây sang người khác; vả lại mỗi người chết đi là tiết kiệm được một khẩu phần ăn. Trong ngôi nhà nơi Hilzonde ở, mọi người nói chuyện về nhục hình như trước kia vẫn nói chuyện về giá len trong ngôi nhà ở Bruges.
Hans Bockhold khiêm nhường đồng ý để mọi người ở hạ giới này gọi là Thánh Jean ở Leyde, tên thành phố nơi hắn sinh ra, nhưng trước các tín đồ, hắn lấy tên khác, không thể tả thành lời, mà khi gọi tên nó chứa một sức mạnh và sự hăng hái hơn mọi người trần. Mười bảy bà vợ chứng minh cho sức sống mạnh mẽ của đấng Thượng đế. Các thị dân giao phó vợ mình cho đấng Thượng đế sống vì sợ hãi hoặc vì cảm thấy đôi chút vinh hạnh, như họ đã từng giao phó cho hắn những đồng vàng; một vài ả trụy lạc vừa rút chân ra từ tầng lớp thấp kém thì mưu đồ danh vọng bằng cách phục vụ những hứng thú vợ chồng của Vua. Hắn đến nhà Knipperdolling để đi lại với Hilzonde. Nàng nhợt nhạt cả người khi phải tiếp xúc với người đàn ông nhỏ bé có đôi mắt láo liên, đôi tay hắn lục lọi như tay thợ may, giật áo nịt của nàng. Nàng nhớ lại, và không muốn nhớ lại, rằng hồi ở Amsterdam, khi hắn còn là một gã hề rong đói khát ngồi vào bàn ăn, hắn cũng đã lợi dụng vuốt đùi nàng lúc nàng cúi xuống qua người hắn đặt đĩa thức ăn lên bàn. Ghê tởm, nàng nhượng bộ cái hôn từ miệng xâp xấp nước, nhưng sự ghê tởm chuyển ngay thành trạng thái ngây ngất; (những đoan trang cuối cùng trong đời nàng rơi xuống như một bộ quần áo đã rách rưới, hay như lớp ghét bẩn bị người ta kỳ sạch rơi xuống trong phòng tắm hơi; đẫm mình trong hơi thở nóng và nhạt nhẽo ấy, Hilzonde ngừng tồn tại, và những sợ hãi, những thận trọng, những đắng cay của Hilzonde cũng ngừng tồn tại cùng với nàng. Vua dán sát vào người nàng trầm trồ ngắm thân mình mảnh khảnh mà, hắn nói, dường như sự mảnh mai càng làm nổi bật lên những đường nét trời phú cho đàn bà, nổi bật đôi vú dài buông xuống và cái bụng hơi phồng. Gã đàn ông đã quen với gái đĩ và đàn bà nạ dòng thô tục ngây ngất trước sự tinh tế của Hilzonde; đôi tay mỏng mảnh của nàng đặt trên lớp lông mềm mại trên đỉnh Vệ nữ làm gã nhớ đến đôi tay một mệnh phụ kín đáo đặt lên bao tay hay lên người con chó nhỏ lông xoăn. Hắn tự kể về mình: từ lúc mười sáu tuổi, hắn đã biết mình là Chúa. Hắn có lần bị ngã rất đau từ trên cao xuống trong hiệu may quần áo nơi hắn học nghề, người ta đuổi hắn đi trong tiếng la hét và những lời rủa độc ác, hắn đã lên thiên đàng. Một lần khác hắn lại một lần nữa trải qua cái run rẩy chính là Chúa ở đằng sau cánh gà một gánh hát rong mà hắn đóng vai hề; trong một kho thóc, nơi hắn có người đàn bà đầu tiên trong đời, hắn đã hiểu rằng Chúa chính là da thịt đang chuyển động kia, chính là những cơ thể trần trụi mà trước nó cả nghèo khổ lẫn giàu có đều không tồn tại, chính là luồng sóng lớn kia của sự sống cuốn theo cả cái chết và chảy như máu của thiên thần. Hắn nói những lời trên bằng thứ ngôn ngữ kiêu kỳ của diễn viên có xen những lỗi chính tả của con trai một nông dân.
Nhiều tối sau, hắn đưa nàng đến ngồi cùng đám Vợ của Chúa Christ trong một buổi tiệc. Thực khách ngồi chật ních quanh các bàn đến mức có thể tưởng như vỡ ra được; những kẻ bị bỏ đói gặm miếng cổ hoặc miếng chân gà mà Vua hạ cố vứt cho họ, và cầu xin hắn ban phúc. Các Nhà tiên tri trẻ phục vụ Vua với tư cách là vệ sĩ phải dùng đến nắm đấm để giữ trật tự đám đông nhốn nháo này, Divara, hoàng hậu chính thức, xuất thân từ một khu bẩn thỉu ở Amsterdam, bình thản nhai, mỗi miếng ăn lại để lộ cả răng cả lưỡi ra ngoài; thị có bộ dạng một con bò cái biếng nhác và sạch sẽ. Bất thần, Vua giơ tay cầu nguyện, và một vẻ xanh xao đóng kịch hiện ra tô điểm cho khuôn mặt thoa phấn ở gò má. Hoặc, hắn phả hơi vào mũi một thực khách để truyền dạy Tinh thần Thánh. Một đêm, hắn đưa Hilzonde vào phòng sau, cởi váy nàng để khoe với các Tiên tri trẻ cái chỗ màu trắng mênh mông có hình Nhà thờ. Ẩu đả nổ ra ngay sau đó giữa hoàng hậu mới và Divara hai mươi tuổi, vì ả này phát hiện hoá ra tình địch đã già. Hai người phụ nữ đánh nhau trên sàn, giật tóc nhau; Vua lấy lại hoà bình bằng cách sưởi ấm cả hai người trên trái tim hắn vào tối hôm đó.
Cứ dăm ba hôm một lần những tâm hồn ngây dại và điên rồ lại qua một phen rùng mình vì những sự kiện nối tiếp nhau. Hans ra sắc lệnh lập tức phải phá ngay tất cả những ngọn tháp, gác chuông và những đầu hồi nhà nào hãnh tiến vượt các nhà khác, vì như thế chúng như sỉ nhục vào cái công bằng cần phải ngự trị mọi nơi trước Chúa. Thế là từng tốp đàn ông đàn bà và trẻ con léo nhéo ùa vào cầu thang tháp, từng tảng đá lợp đen và từng xẻng gạch đổ xuống đất, rơi cả vào đầu người đi đường và làm hỏng những mái nhà thấp bên cạnh. Người ta tháo rời các thánh bằng đồng xuống chỉ còn bằng một nửa mái vòm Thánh Maurice, làm chúng bị treo xiên xẹo giữa đất trời; rầm nhà bị tháo hết ra, những ngôi nhà được chủ cũ giàu có xây cất nay hở hoác thành từng lỗ to, mưa tuyết tha hồ rơi vào. Một bà già vừa cất lời phàn nàn rằng đến bị chết cóng trong căn phòng mở ra bốn hướng gió liền bị đuổi ra khỏi thành phố. Mụ ta không được Đức Tổng giám mục đón nhận; người ta nghe thấy tiếng mụ từ một cái hố nào đó kêu gào trong vài đêm sau đó.
Đến tối, đám người dừng tay, ngồi thõng chân xuống khoảng không, họ ngửa cổ lên trời sốt ruột tìm kiếm một dấu hiệu kết thúc thời Tận thế. Những màu đỏ phía tây nhạt dần; hoàng hôn qua đi chuyển sang màu xám, rồi màu đen, và những kẻ phá hoại mệt mỏi quay xuống trở về khu nhà ổ chuột ngả lưng ngủ.
Một sự lo lắng giống như vui mừng đẩy dân chúng đi lang thang trên những đường phố đang đổ nát. Từ trên tường thành, họ tò mò nhìn ra những cánh đồng rộng mở nơi họ không thể bước chân đến được, như những hành khách trên chiếc thuyền nhỏ nhoi nhìn biển cả hiểm nguy quanh mình; những cơn buồn nôn vì đói là những cơn ói mửa khi phiêu lưu ra biển cả. Hilzonde không ngừng đi đi lại lại trong ngõ nhỏ, qua những đoạn đường có mái vòm và cầu thang lên chiếc tháp con, lúc thì đi một mình, lúc dắt theo con. Trong cái đầu trống rỗng của nàng như có ai gõ chuông vì đói; nàng thấy mình nhẹ bỗng, nhanh nhẹn như những con chim đang vòng đi liệng lại giữa những mũi tên trên đỉnh tháp các nhà thờ, nàng kiệt sức, nhưng là thứ kiệt sức của một phụ nữ sắp đạt tới đỉnh khoái cảm. Thỉnh thoảng, nàng bẻ một cục đá rủ dài xuống từ trên xà nhà và mở miệng nhấm nháp vị mát lạnh. Những người xung quanh nàng như cảm thấy sự khoan khoái nguy hiểm ấy, dù người ta vẫn cãi cọ nhau vì một lát bánh mì, một cây bắp cải thối, song trong thâm tâm mỗi người có cái gì đó như tình thương yêu kết dính những kẻ đáng thương đói khát lại thành một khối. Tuy vậy bên cạnh đó những người bất bình từ ít lâu nay đã dám lên tiếng; người ta không giết những kẻ dùng dằng nữa; họ quá đông.
Johanna kể lại cho chủ những tin hãi hùng về chuyện thịt phát cho dân chúng mà người ta bắt đầu đồn đại. Hilzonde ăn, vẻ như không để ý nghe. Nhiều người huênh hoang là đã ăn thịt nhím, thịt chuột, hay thứ gì đó còn tồi tệ hơn, họ giống như dân tư sản bị ép sống kham khổ đột nhiên lại khoe khoang về tội thông dâm mà dường như những bộ xương và những bóng ma kia không thể đủ sức làm. Người ta không còn che đậy bản thân nữa để những nhu cầu của thể xác bệnh tật đỡ bị chèn ép quá mức; vì mệt mỏi người ta thôi không chôn cất người chết, nhưng xác người lăn vào trong sân nhà đã được tuyết bọc kín thành những vật sạch sẽ không còn mùi gì. Không ai nhắc nhớ đến bệnh dịch hạch chắc chắn sẽ xảy ra ngay khi tiết ấm tháng Tư quay lại, người ta không hy vọng kéo dài cho đến tận lúc ấy. Cũng không ai nói đến việc quân địch đang áp sát dần thành phố, chúng đang lấp hào chảy quanh thành một cách bài bản; người ta cũng không nói đến ngày kẻ thù tấn công thành chắc chắn đang gần kề. Khuôn mặt những kẻ trung thành hiện lên sự thâm hiểm của những con chó đang chạy làm ra vẻ không nghe thấy đằng sau chúng tiếng roi vút mạnh.
Cuối cùng đến một ngày Hilzonde đang đứng trên thành thì thấy một người đứng cạnh chỉ trỏ cái gì đó. Một hàng người dài đang chuyển động trên những nếp gấp của đồng cỏ; những hàng ngựa đang tung chân trong đất bùn do băng tan. Người ta hét lên vì vui mừng; những đoạn tụng ca vang lên từ những lồng ngực lép: đó chẳng phải là đội quân những người rửa tội lại được tuyển ở Hà Lan và ở Gueldre mà Bernard Rottmann và Hans Bockhold không ngừng nhắc đến, những người anh em đến để giải cứu những người anh em đấy sao? Nhưng những đoàn quân nhanh chóng hoà nhập với quân của giám mục đang bao vây Munster; gió tháng Ba làm cờ hiệu bay, trong đó có người nhận ra cờ hiệu của Vua xứ Hesse; nhà vua theo giáo thuyết Luther này đã liên minh với những kẻ thờ thần tượng để tiêu diệt dân chúng của các Thánh. Đám đàn ông kéo một khối đá đến sát mép tường thành cho lăn xuống, đè nát vài lính công binh đang làm việc dưới chân pháo đài. Một người lính canh cũng ném lửa trúng vào một sĩ quan liên lạc xứ Hesse. Những kẻ đi bao vây đáp lại bằng một phát súng hỏa mai làm mấy người chết. Thế là người ta thôi không thử làm gì nữa. Trong thành chờ đợi cuộc tấn công, nhưng đêm đó nó không diễn ra, mấy đêm sau cũng không. Năm tuần trôi qua trong cái trơ ì của một cơn ngủ lịm.
Từ lâu Bernard Rottman đã chia sẻ những thức ăn dự trữ cuối cùng và giọt thuốc cuối cùng trong nhà; như mọi khi Vua ném từng nắm hạt qua cửa sổ cho thần dân, nhưng không phát phần vẫn còn trong kho dự trữ cất dưới tấm ván lát sàn. Hắn ngủ nhiều. Hắn ngủ ba mươi sáu tiếng không động đậy chân tay trước khi ra giảng đạo lần cuối cùng trước quảng trường gần như không người. Gần đây hắn thôi không đến nhà Hilzonde ban đêm nữa; mười bảy phu nhân bị xua đuổi một cách nhục nhã được thay thế bằng một cô gái chớm tuổi dậy thì, hơi nói lắp, được trời phú cho một trí óc tiên tri. Hắn gọi cô ta một cách âu yếm là con chim mái trắng hay con bồ câu trên tàu Noé. Hilzonde không còn cảm thấy đau khổ khi bị Vua bỏ rơi, cũng chẳng bất bình, chẳng ngạc nhiên, trong nàng ranh giới giữa cái đã xảy ra và cái đã không xảy ra đã bị xoá nhoà; có vẻ như nàng không còn nhớ đã từng được Hans coi là người tình. Nhưng mọi việc vẫn theo quy luật: đêm khuya nàng vẫn thấy mình đợi Knipperdolling về nhà, thấy mình tò mò muốn thử xem có còn làm thân thể mình run lên được nữa không; anh ta đi ngang qua không nhìn mặt nàng, miệng lẩm bẩm gì đó, đầu óc nghĩ về cái khác hơn là về phụ nữ.
Cái đêm quân tổng giám mục vào thành phố, Hilzonde bị đánh thức vào khoảng nửa đêm vì tiếng kêu thét của một lính canh bị cắt cổ. Hai trăm tên lính, dẫn đầu là một tên phản bội, đã tràn vào thành phố qua một cửa ngắm. Bernard Rottman, một trong những người đầu tiên được báo động, nhảy ra khỏi giường bệnh, lao ra phố, tà áo sơ mi đập vào đôi chân gầy trông kì cục; anh ta bị một tên Hungari khoan dung giết chết, vì hắn không hiểu lệnh của tổng giám mục là bắt sống các thủ lĩnh của bọn nổi loạn. Vua bị bất ngờ trong cơn ngái ngủ, hắn chống cự chạy từ phòng này sang phòng khác, từ hành lang này sang hành lang khác, với sự dũng mãnh và khéo léo của con mèo bị lũ chó đôgơ vây dồn; vào lúc tảng sáng, Hilzonde thấy hắn trên quảng trường, vẻ hào nhoáng sân khấu đã tuột mất, trần trùng trục tới tận thắt lưng, người uốn cong lại dưới làn roi. Hắn bị đá vào một cái lồng lớn nơi hắn thường nhốt những kẻ bất bình và những kẻ do dự trước khi xử họ. Knipperdolling bị đánh thừa sống thiếu chết rồi bị vứt trên một ghế băng cho đến chết. Cả ngày, bước chân nặng nề của bọn lính vang lên trong thành phố; tiếng rầm rập này có nghĩa là trên quảng trường đông đặc những người điên loạn, lương tri đã chiếm lại vương quốc của nó nhờ vào những con người bán cuộc đời mình với một số tiền đã định trước, ăn uống theo thời biểu, cướp phá và hiếp dâm nếu có dịp, nhưng có một mẹ già, một người vợ tần tảo, một đám con ở đâu đó, nơi họ sẽ quay về sống khi đã què quặt già nua, những con người ấy đến nhà thờ vì bị ép phải đến, và chỉ tin Chúa một cách cầm chừng mà thôi. Nhục hình lại diễn ra, song lần này là theo sắc lệnh của nhà cầm quyền hợp pháp, được Giáo hoàng và Luther đồng tình. Những con người rách rưới, xanh xao hốc hác, răng lở loét vì đói, làm lũ ác ôn được nuôi dưỡng đầy đủ có cảm giác họ là những con chấy rận ghê tởm đáng giết chết và dễ dàng giết chết.
Hỗn loạn ban đầu qua đi, cuộc trừng phạt nhân danh xã hội diễn ra ở quảng trường Nhà thờ, dưới cái bục trước kia Vua đã chủ trì các cuộc họp. Những kẻ sắp chết mơ hồ hiểu rằng lời hứa của Đấng tiên tri với họ đang được thực hiện, nó khác với những gì họ nghĩ, nhưng mọi lời tiên tri vẫn thường thế: thế giới thử thách họ đã kết thúc; họ sẽ thẳng chân bước đi, lên tới bầu trời bao la màu đỏ. Rất ít người trách móc kẻ đã đẩy họ vào điệu xaraban cứu thế này. Một số khác, trong thâm tâm, không quên rằng đã có những ngày dài họ chờ đợi cái chết, như một sợi dây thừng bị kéo quá căng chắc chắn chỉ mong bị đứt.
Hilzonde chờ đợi đến lượt nàng cho đến tận tối. Nàng đã mặc trước bộ váy đẹp nhất còn lại; tóc nàng được tết bím và kẹp bằng những chiếc kẹp bạc. Cuối cùng bốn tên lính xuất hiện; đó là những kẻ tàn ác thực thà đang làm công việc của chúng. Nàng nắm tay con gái nhỏ Martha đang mếu máo và nói với con:
- Đi nào, con của mẹ, chúng ta đến bên Chúa.
Một tên lính giật con bé ngây thơ ra khỏi tay nàng và ném nó cho Johanna, bà đón nó ôm sát vào chiếc áo nịt ngực đen. Hilzonde theo chúng không nói thêm gì nữa. Nàng đi nhanh đến nỗi những kẻ hành quyết nàng phải dấn bước. Để không bị vấp, nàng nâng hai bên váy bằng xoa xanh uốn lượn quanh chân nàng làm nàng như đi trên sóng. Đến bục, nàng lẫn lộn nhận ra trong đám xác chết có những người nàng từng quen biết, cả một Hoàng hậu. Nàng để thân mình ngã xuống và ngửa cổ ra.
Chuyến đi của Simon biến thành cuộc thập tự chinh. Những con nợ chính đuổi khéo ông đi và không trả tiền, vì sợ mắc tội giao tiền cho bọn rửa tội lại; những kẻ bất lương và những tên keo kiệt thi nhau trách móc ông với cái giọng đầu lưỡi. Anh rể, ông Juste-Ligre, tuyên bố không thể đại diện không thời hạn cho những số tiền lớn mà Simon đã gửi lại chi nhánh của mình ở Anvers; vả lại ông này còn tự khen mình đã quản lý số của cải của Hilzonde và con nàng tốt hơn một thằng đần tham gia quân phiến loạn. Simon cúi đầu, như một kẻ ăn mày bị đánh đuổi, đi ra khỏi chiếc cổng chạm khắc thếp vàng của ngôi nhà thương gia mà ông đã góp công dựng nên. Sứ mạng quyên góp ông cũng chẳng làm được là bao: chỉ có một vài người nghèo khổ đồng ý hiến chút máu của mình cho Những Người Anh Em. Hai lần bị giáo hội nghi ngờ, ông phải trả tiền để không bị vào tù. Cho đến tận cùng ông vẫn là người giàu có được những đồng florin bảo về. Một phần số tiền ít ỏi gặt hái được đã bị một chủ nhà trọ ở Lubeck ăn cướp khi ông bị một cơn trúng phong nằm bất tỉnh.
Sức khoẻ giảm sút khiến ông phải đi từng đoạn nhỏ một, hai ngày trước khi thành bị tấn công ông mới nhìn thấy Munster. Không thể tìm được cách lọt vào thành đang trong vòng vây. Không được tiếp đón tử tế, nhưng ông cũng không bị phiền toái trong trại quân của Tổng giám mục -Hoàng tử, nhờ có lần ông đã giúp đỡ họ. Ông tìm được một chỗ trú ngụ trong một trang trại ngay gần đường hào và bức tường xám đang che giấu Hilzonde và đứa con của ông. Trên bàn ăn bằng gỗ trắng ở nhà bà chủ trang trại, ông ngồi ăn với một quan toà được triệu tập để xử vụ án giáo hội sẽ mở ngày một ngày hai, một sĩ quan của Tổng giám mục, và với nhiều kẻ trốn chạy khỏi Munster, những kẻ này kể lể không mệt mỏi sự điên rồ của đám dân trung thành và tội ác của Vua. Nhưng Simon bỏ ngoài tai những lời bép xép của kẻ phản bội dám khinh miệt những người tử vì đạo. Ba ngày sau khi thành phố bị chiếm lại, cuối cùng ông cũng được phép vào Munster.
Ông bước nặng nhọc trên những con đường đang bị lính tuần khám, dưới nắng chói và gió khô vào sáng tháng sáu ấy, lẫn lộn tìm kiếm con đường của ông trong thành phố mà ông chỉ nghe nói đến này. Dưới vòm Chợ Lớn ông nhận ra Johanna đang ngồi dưới bậc cửa, đứa bé trên tay. Bé gái thét lên khi có người lạ đến bế nó; Johanna không nói lời nào trở lại vẻ cung kính của một người hầu. Simon đẩy cánh cửa gẫy then, đi qua khắp các phòng trống ở tầng trệt, rồi lên các tầng trên.
Quay ra đến quảng trường, ông tới bãi hành quyết. Một mảnh gấm xanh treo trên bục; ông nhận ra Hilzonde từ xa nằm dưới một đám xác chết nhờ mảnh vải này. Lạ lùng là ông không nán lại bên thân thể đã thoát hồn đó, ông quay trở lại với bà quản gia và đứa con.
Một người vắt sữa bò đang dắt bò đi qua phố; tay xách xô với cái ghế đẩu đang rao bán sữa. Một quán rượu đã mở cửa trở lại trong ngôi nhà đối diện. Johanna cầm mấy đồng vàng Simon vừa đưa đi mua thứ gì đó để uống. Lửa nổ lách tách trong lò sưởi. Chốc lát nữa thôi tiếng thìa đĩa chạm nhau sẽ vang lên leng keng trong tay đứa trẻ. Cuộc sống gia đình chậm chạp được nối lại quanh họ, dần dần lấp đầy ngôi nhà hoang phế, như thuỷ triều lên lại phủ kín bãi biển nơi rải rắc những mảnh trôi dạt, những kho tàng của con tàu đắm, và những con cua ở chỗ đất trũng. Bà giúp việc chuẩn bị giường của Knipperdolling cho chủ, để ông không phải mệt mỏi leo lên thang gác lần nữa. Lúc đầu bà chỉ trả lời những câu hỏi của ông già đang chầm chậm nuốt chửng từng ngụm bia nóng bằng một sự im lặng chua chát. Cuối cùng khi bà nói, một thác rác rưởi tuôn ra từ miệng bà, vừa bốc mùi nước rửa bát và mùi Kinh thánh. Vua đối với bà lão Hussite chưa bao giờ hơn một thằng ăn mày được người ta cho ăn trong bếp và lại dám ngủ với vợ ông chủ. Khi đã nói hết mọi sự, bà bắt đầu cọ sàn, khua loẻng xoẻng những bàn cọ, xô và vắt khăn ầm ĩ.
Đêm đó ông ít ngủ, nhưng ngược lại với những gì bà người hầu tưởng, ông không phẫn nộ, xấu hổ, mà là choán trong người ông là nỗi đau nhẹ nhàng hơn có tên gọi là tình thương hại. Trong đêm ấm áp Simon ngột ngạt nghĩ về Hilzonde như về một cô gái ông đã mất từ trước đó. Ông giận mình để lại nàng một mình đi qua bước khó khăn này, rồi tự nhủ rằng mỗi người đều đã có phận có phần, có miếng bánh sống và bánh chết, và rằng đúng là Hilzonde đã ăn phần bánh của nàng như nàng thích vào lúc nàng muốn. Lần này nữa nàng đã đi trước ông; nàng đã trải qua trước ông những sự dằn vặt cuối cùng. Ông tiếp tục viện lý lẽ biện minh cho những kẻ trung thành chống lại Nhà thờ và Nhà nước, những thế lực đã giẫm nát họ; Hans và Knipperdolling đã phải đổ máu; người ta có thể trông mong điều gì khác đây trong cái thế giới của máu này? Từ hơn mười lăm thế kỷ, Nước Chúa trên trái đất, mà Jean, Pierre và Thomas lẽ ra đã tận mắt chứng kiến lúc còn sống, đã bị những kẻ hèn nhát, những kẻ thờ ơ, những kẻ khéo léo xếp xó lười nhác cho đến ngày tận thế. Đấng Tiên tri đã dám tuyên bố ngay ở đây sự xuất hiện của Nước Trời. Ngài đã chỉ ra con đường đi, dẫu cho con đường Ngài chọn không đúng đi chăng nữa. Hans đối với Simon vẫn là đấng Christ, với nghĩa là mỗi người đều có thể trở thành Christ. Sự điên rồ của anh ta dường như không đê tiện bằng những tội lỗi thận trọng của những kẻ sùng Đạo đức và những người hiền triết. Người đàn ông góa vợ không giận dữ vì Hilzonde đã tìm trong cánh tay Vua những lạc thú mà từ lâu ông không còn mang đến cho nàng: là Thánh và Thánh, họ thụ hưởng đến mức lạm dụng hạnh phúc sinh ra từ sự hợp nhất hai cơ thể, nhưng những thân thể ấy, được giải thoát khỏi ràng buộc của thế giới, đã chết đối với mọi sự, trong vòng tay nhau chắc chắn họ trải qua một tình cảm ấm nóng hơn sự hợp nhất của tâm hồn. Bia làm ngực ông già giãn ra, làm ông thêm khoan dung, một niềm khoan dung trong đó có sự mệt mỏi và lòng tốt trước dục cảm và sự xót xa cuộc đời. Ít nhất Hilzonde cũng đang yên nghỉ. Ông thấy mấy con ruồi đang bay vo ve trên giường dưới ánh sáng ngọn nến đặt trên bàn cạnh đầu, vào lúc này ruồi đông vô kể ở Munster, có lẽ chúng vừa đậu trên khuôn mặt trắng; ông thấy đồng tình với sự thối rữa ấy. Bỗng nhiên một ý nghĩ choán toàn bộ con người ông và đảo lộn ruột gan ông, rằng mỗi sáng da thịt của đấng Christ mới lại nằm giữa hai gọng kẹp làm mồi cho miếng sắt nung đỏ như một dấu hỏi kỳ lạ; nó gắn với Con người Đau khổ đáng nực cười kia, ông rơi vào địa ngục của những thân xác hiến dâng quá ít cho niềm vui và quá nhiều cho đau khổ; ông đau với Hans như Hilzonde sung sướng với hắn. Cả đêm, đắp ga trải giường, trong căn phòng tồi tàn bất tiện, ông vấp phải hình ảnh Vua bị nhốt sống trong cũi sắt trên quảng trường, như một người bị hoại tử chân mà cứ bị vấp vào cái chân đau ấy dù không muốn. Ông cầu nguyện mà không phân biệt nổi sự đau đớn dần thắt chặt tim ông, rút từng sợi cơ vai, xuống tận cổ tay trái, và những gọng kìm siết vào khối mỡ trên cánh tay và quanh ngực Hans.
Ngay khi hồi lại được chút sức lực và đi được mấy bước, ông lê mình đến tận cũi sắt nhốt Vua. Dân thành Munster nhìn cảnh này đã nhàm, song một đám trẻ con vẫn đứng sát song sắt ném đinh, phân, những mẩu xương nhọn vào đó, tù nhân sẽ buộc phải giẫm chân trần lên. Bọn lính gác đẩy đám vô lại này ra một cách lấy lệ, như gạt những người quá hứng trong các phòng lễ hội: Ngài von Waldeck đã ra lệnh để Vua thoi thóp cho đến khi hành quyết, dự kiến sớm nhất vào giữa mùa hè.
Tù nhân vừa được đưa trở lại lồng sắt sau đợt tra tấn; hắn vẫn còn run rẩy co rúm người lại trong một góc. Mùi hôi thối từ miệng hắn và từ các vết thương bốc lên. Nhưng người đàn ông nhỏ bé vẫn giữ ánh mắt mạnh mẽ và giọng nói hấp dẫn của nghệ sĩ.
- Tôi khâu, tôi cắt, tôi khâu lược - kẻ chịu nhục hình hát nho nhỏ - Tôi chỉ là một thợ may học việc nghèo khó… Những bộ quần áo da… Đường viền mép váy chưa khâu… Xin đừng khâu tác phẩm của…
Hắn đột ngột dừng lại, ném ra xung quanh ánh mắt lén lút của kẻ vừa muốn giữ bí mật vừa muốn tiết lộ một nửa. Simon Adriansen, kéo giãn bọn lính gác ra, và cho được cánh tay qua ô cũi:
- Chúa sẽ bảo vệ anh, Hans, ông nói, tay chìa ra phía hắn.
Simon trở về nhà như vừa đi một chuyến xa. So với lúc ông ra khỏi nhà, nhiều thay đổi đã diễn ra. Munster dần lấy lại bộ mặt bình thường. Nhà thờ tràn ngập tiếng thánh ca. Đức Tổng giám mục đã đưa người đẹp Julia Alt, tình nhân của ông ta, về ở ngôi nhà cách lâu đài giám mục hai bước chân, nhưng người đàn bà kín đáo này không gây ra tai tiếng. Simon nghe tất cả những chuyện đó với vẻ thờ ơ của một người sắp rời thành phố, và những gì người ta làm ở đó không còn làm ông bận tâm nữa. Nhưng tính đại lượng của ông trước kia nay kiệt cạn như một dòng suối khô. Vừa về đến nhà, ông đã nổi trận lôi đình với Johanna, vì bà quên không chuẩn bị mực bút giấy như ông dặn. Khi mấy vật dụng ấy đã đủ, ông bắt đầu ngồi viết cho em gái.
Ông không liên lạc gì với bà này từ gần mười lăm năm nay. Bà Salome tốt bụng đã cưới một con trai thứ của ông chủ nhà băng Fugger đầy thê lực. Do mấy anh em không hoà thuận nên Martin đã gây dựng lấy gia tài cho mình; ông sống ở Cologne từ đầu thế kỷ. Simon nhờ họ nuôi con ông.
Salome nhận được thư ở ngôi nhà thôn dã ở Lulsdorf lúc bà đang trông coi việc phơi đồ giặt. Giao lại đống khăn ga đẹp đẽ cho người hầu, bà gọi chuẩn bị xe, thậm chí không chờ hỏi ý kiến ông chủ nhà băng, mà ông này cũng ít quan tâm đến nhà cửa, bà gói ghém thức ăn chăn gối, và đến Munster xuyên qua vùng đất hiu quạnh sau những biến cố.
Bà thấy Simon trên giường, đầu dựa trên cái áo măng tô cũ gập lại làm bốn. Bà nhanh chóng thay nó bằng một cái gối dựa. Bà khách và người hầu nói chuyện với nhau về chế độ ăn uống, giường nệm, về cái ghế tựa bị thủng, trong tâm trạng lo lắng tốt bụng của phụ nữ muốn quy giảm bệnh tật và cái chết thành một loạt những đau đớn nhỏ vô hại và không quan trọng, những đau đớn dường như có trên đời để được xoa dịu bằng bàn tay người mẹ. Người hấp hối nhận ra em gái qua ánh nhìn đã lạnh lẽo, nhưng Simon cứ để người mới đến lăng xăng bên giường một lúc. Cuối cùng ông ngồi dậy, hôn Salome theo thường lệ. Tiếp đó ông trở lại minh mẫn như mọi thương gia để điểm lại những của cải thuộc về Martha, và những gì cần phải được lấy lại cho nó trong thời gian sớm nhất. Giấy nợ được ông gấp gói trong một miếng vải bọc xi đúng tầm tay ông. Các con trai ông, người ở Lisbonne, người ở Lodon, người là chủ một xưởng in ở Amsterdam, đều đã giàu có cả, không cần đền những mẩu của cải ông để lại trên trái đất cũng như lời cầu chúc của ông. Simon để tất cả cho đứa con của Hilzonde. Ông già có vẻ như đã quên lời hứa với Đấng Phục nguyên vĩ đại, để một lần nữa tuân theo thói thường của thế giới mà ông sẽ từ bỏ và không thử thay đổi nữa. Hoặc có thể ông đi tới tận cùng niềm vui chua chát là buông rơi tất cả, nên ông chối bỏ cả những nguyên tắc còn quan trọng hơn chính cuộc sống của ông.
Salome làm thân với đứa bé, bà mủi lòng thấy bắp chân nó quá gầy. Bà không thể thốt ra ba câu mà không cầu xin Đức mẹ đồng trinh và tất cả các thánh ở Cologne giúp đỡ: Martha sẽ được những người sùng tượng thánh nuôi dạy. Điều này thật đau lòng, nhưng cũng chẳng đau lòng hơn sự cuồng nộ của kẻ này hay sự đờ đẫn của kẻ khác, không đau lòng hơn việc tuổi già khiến người chồng không thể thỏa mãn người vợ, không mấy đau lòng hơn việc thấy những người mà ta cứu sống lại chết. Simon cố nghĩ đến Vua trong cái cũi đang hấp hối; nhưng những vật vã Hans đang phải chịu không còn gợi lên trong lòng ông một ý nghĩa gì như hôm qua nữa; chúng trở nên có thể chịu được, giống như nỗi đau trong ngực Simon mà ông có thể chịu đựng được và sẽ chết cùng ông. Ông cầu nguyện, nhưng cái gì đó nói với ông rằng Vĩnh hằng không đòi hỏi ông cầu nguyện nữa. Ông cố gắng để nhìn Hilzonde, nhưng khuôn mặt người đã chết không hiện thành hình. Ông phải đi ngược nữa lên, cho tới hồi đám cưới huyền bí ở Bruges, tới bánh và rượu vang họ bí mật uống, tối chiếc áo nịt ngực khoét sâu làm người ta đoán được bộ ngực dài và trong sạch. Rồi cái đó cũng nhoà đi; ông nhìn thấy bà vợ đầu tiên, linh hồn tốt bụng, đang cùng ông thưởng thức sự mát mẻ trong vườn nhà ông ở Flessingue. Salome và Johanna nghe thấy tiếng thở dài liền sợ cuống lên. Họ chôn cất ông trong nhà thờ Saint-Lamprecht sau lễ cầu nguyện có hát thánh ca.
❀ ❀ ❀
[1] Luther vốn là thầy tu ở viện Wittenberg