Bí Thuật Đen

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngôi Nhà Đẹp
Ngôi Nhà Đẹp

❊ ❊ ❊

Dinh thự lộng lẫy ở Forestel được Philibert và vợ xây cách đây không lâu theo mốt Ý; người ta chiêm ngưỡng hàng dẫy phòng sàn bóng loáng và cửa sổ cao mở ra khu vườn nhỏ nơi trong buổi sáng tháng Hai này mưa và tuyết đang rơi. Những họa sĩ được học hành ở Bán đảo về đã phủ lên trần các gian phòng choáng lộn những tích chuyện ngoại tôn giáo và ngụ ngôn: sự hào phóng của Alexandre, sự khoan hồng của Titus, Danae lụt trong trận mưa vàng và Ganymede đang lên trời. Một bàn giấy florentin khảm ngà voi, ngọc thạch anh và gỗ mun, có công đóng góp của ba triều đại, được trang trí thêm bởi hàng cột xoắn nhỏ và những bức tượng phụ nữ khỏa thân được nhan tăng lên qua những tấm gương; những lò xo mở ra những ngăn kéo bí mật. Nhưng Phlibert quá nhạy cảm để ký thác những giấy tờ tầm cỡ Nhà nước vào những chiếc bẫy phức tập như bên trong một ý thức, còn về thư tình thì ông ta chẳng bao giờ viết, cũng không bao giờ nhận, vì những đam mê, rất vừa phải của ông ta, hướng tới những cô gái mà người ta không viết thư. Trong lò sưởi trang trí bằng những bức chạm đầu người tượng trưng cho những đức hạnh chính, lwaru cháy giữa hai cột trụ tường lạnh lẽo và bóng loáng. Chỉ có những rễ cây lấy về từ khu rừng bên cạnh là những vật duy nhất của thiên nhiên không được bàn tay thợ bào, đánh nhẵn và trau chuốt trong khung cảnh huy hoàng này. Trên tủ bát đĩa xếp một vài cuốn sách trưng gáy da cừu hoặc da bê rập vàng tinh; đó là những cuốn sách lễ chẳng ai giở ra; đã lâu rồi Martha đành loại bỏ cuốn Chế định thiên chúa giáo của Calvin, vì cuốn sách dị giáo quá nguy hiểm, như Philibert lịch sự nhắc bà. Bản thân Philibert cũng có một bộ các sách bàn về phả hệ, và một quyển Aretin[1] đẹp trong một ngăn kéo mà thỉnh thoảng ông có giở cho khách xem, trong khi các bà bàn về nữ trang hoặc các kiểu bồn hoa.

Trật tự hoàn hỏa ngự trị trong các gian phòng vừa được thu dọn lại sau buổi chiêu đãi hôm trước. Quận công Alve và trợ lý Lancelot de Berlaimont trên đường thanh tra vùng Mons trở về đã nhận lời đến ăn tối và nghỉ đêm: Quận công quá mệt mỏi không thể leo lên chiếc cầu thang lớn mà không hụt hơi, nên người ta đã dựng giường cho ông trong một phòng tầng dưới, giăng thảm trên giáo mác bằng bạc quanh giường thành chiếc lều để tránh cho ông khỏi bị gió lùa; không còn dấu vết chiếc giường nghỉ của người hùng nơi mà rất tiếc vị khách quan trọng lại ngủ không được ngon. Trong bữa tối, câu chuyện đôi bênh vừa chắc chắn vừa thận trọng; họ nói về những chuyện công với giọng của người biết chuyện; vả lại họ cũng khéo léo chẳng nhấn mạnh đến một cái gì cả. Quận công tỏ ra hoàn toàn tin tưởng vào những gì liên quan đến tình hình ở Hạ Germanie và Flandre; những vụ lộn xộn đã bị thanh toán hết; triều đình Tây Ban Nha không phải sợ mất Middelbourg hay Amsterdam, Lille hay Bruxelles. Ông có thể thong dong đọc Nunc dimittis, và xin Triều đình cho người thay thế mình. Ông không còn trẻ nữa, nước da chứng tỏ bệnh gan của ông; vì ông không muốn ăn nên các vị chủ nhà buộc phải giữ bụng đói. Tuy nhiên Lancelet de Berlaimont vẫn ăn uống thoải mái, vừa ăn vừa kể chuyện cuộc sống của lính tráng. Vua Orange đã bị đánh bại; chỉ có một điều làm anh ta kém hài lòng là vấn đề kỷ luật cũng như việc quân đội được trả lương rất thất thường. Quận công nhíu mày và lảng sang chuyện khác; ông thấy sẽ không có chiến thuật lắm nếu lúc này lại nhắc đến những vết thương tiền bạc trong sự nghiệp vì hoàng gia. Philibert, người biết rất rõ thâm hụt này lên đến mức nào, cũng muốn đừng ai nói đến tiền bạc trên bàn ăn.

Các vị khách đã lên đường từ rạng sáng dưới ban mai màu xám; không mấy hài lòng vì phải ngâm nga một bài chúc tụng quá sớm, Philibert đã quay lên phòng ngủ, trở lại chiếc giường, nơi làm việc ưa thích nhất của ông ta do đôi chân bị thống phong. Vợ ông thì ngược lại, hàng ngày bà vẫn dậy sớm, nên thức giấc giờ này với bà chẳng có gì lạ. Martha bước từng bước đều trong các gian phòng trống, chỉnh lại trên tủ vài đồ vật nhỏ bằng vàng hoặc bạc mà bọn gia nhân đặt hơi lệch, hay gại gại móng tay xuống một cái chân quỳ, hất lên chút sáp khó có thể nhận ra. Một lúc sau, một thư ký mang từ trên xuống cho bà một lá thư đã bóc của linh mục phụ ta Campanus. Cùng với lá thư là một mảnh giấy ghi mấy lời mỉa mai nho nhỏ của Philibert, viết rằng qua thư bà sẽ được tin tức về người em họ của họ và anh của bà.

Ngồi trước lò sưởi, sau chiếc trướng thêu tránh lửa quá nóng, Martha đọc bức thư dài. Những trang giấy phủ đầy một nét chữ đen sột soạt trong đôi tay nhỏ của bà từ ống tay áo đăng ten. Bà nhanh chóng ngừng lại nghĩ ngợi. Ngay khi bà trở về Flandre sau lễ cwowsci, Bartholomé Campanus đã báo cho bà biết rằng bà còn có một người anh cùng mẹ khác cha; linh mục phụ tá còn khuyên bà nên cầu nguyện cho kẻ ngoại đạo này, mà không biết rằng Martha không cầu nguyện. Câu chuyện về đứa con trai ngoài giá thú với bà là một vết nhơ nữa trên người mẹ đã quá bị bôi nhọ. Không mấy khó khăn, bà nhận ra triết gia bác sĩ nổi tiếng nhờ công chăm sóc bệnh nhân dịch hạch ở Đức chính là người đàn ông mặc áo choàng đỏ mà bà đã gặp bên giường bệnh của Benedict, người đã hỏi bà một cách kỳ lạ về bố mẹ đã chết. Bà đã nhiều lần nghĩ về con người du bạt đáng sợ này, và tưởng tượng về ông ta. Giống như đã quan sát Benedict trên dường bệnh, ông ta đã nhìn thấy bà trong trạng thái trần trụi: ông đã nhìn ra tính xấu chết người là sự hèn nhát mà bà mang trong người, mà tất cả những người xung quanh tưởng bà là người mạnh mẽ đều không thấy được. ý nghĩ về sự tồn tại của ông với bà như cái giằm đâm vào cơ thể. Ông chính là kẻ nổi loạn mà bà đã không biết cách để trở thành; trong khi ông lưu lạc trên những con đường trong thế giới này, thì bà chỉ quanh quẩn từ Cologne đến Bruxelles. Bây giờ, ông đã rơi vào cái nhà tù tối tăm mà bà trước kia đã sợ hãi một cách hèn hạ; sự trừng phạt đang đe dọa ông ta với bà là đúng đắn: ông đã sống theo ý thích; những nguy hiểm ông đang chịu là chính do ông chuốc lấy.

Bà quay đầu, một hơi gió lạnh làm bà khó chịu: lửa dưới chân chỉ đủ làm ấm khoảng nhỏ trong căn phòng lớn. Cái giá lạnh kia hình như là cái giá lạnh người ta cảm thấy khi có bóng ma đi ngang qua: người đàn ông đó từ nay chỉ còn cách cái chết rất gần với bà luôn là một bóng ma. Nhưng chẳng có gì sau lưng Martha ngoài phòng khách lộng lẫy và trống rỗng. Cũng thứ trống vắng rực rỡ ấy đã ngự trị cuộc đời bà. Những kỷ niệm đôi chút dịu ngọt duy nhất là những kỷ niệm về Benedict mà Chúa đã lấy đi của bà, nếu quả thực có Chúa trên đời, và bà thậm chí chẳng biết chăm sóc đến cùng; đứctin theo phúc âm đã từng đốt cháy bà thời thanh xuân, bà đã bóp chết nó trong chiếc thưng sành: bây giờ nó chỉ còn là lớp tro nhiều vô tận. Từ hơn hai mươi năm, bà chưa bao giờ nghĩ khác rằng địa ngục sẽ chờ đón bà; đó là tất cả những gì bà còn giữ được từ học thuyết mà bà chưa bao giờ dám lên tiếng sám hối. Nhưng khái niệm về địa ngục của chính bà sau rốt lại biến thành thái độ điềm tĩnh và chai sạn; bà biết tự đày đọa mình như biết cách làm vợ một người đàn ông giàu có mà bà đã góp vào đó của cải của mình, và biết cách làm mẹ một đứa con ngớ ngẩn chỉ biết cùng lắm là đấu gươm và uống rượu với đám thanh niên quý tộc, hay còn nữa bà biết rằng Martha Ligre sẽ chết vào một ngày nào đó. Bà đã là người đức hạnh không mấy khó khăng, vì chẳng bao giờ có những anh chàng ga lăng để phải từ chối; những say đắm yếu ớt của Philibert đã không còn hướng tới bà nữa sau khi con trai duy nhất của họ ra đời, đến mức mà bà cũng chẳng phải thực hành những lạc thú được phép. Bà đã đơn độc chứng kiến những ham muốn đôi lúc đến với bà dưới làn đa; bà đối xử khinh miệt với chúng hơn là khuất phục chúng, như người ta vừa khinh vừa ghét những ngày bị hành kinh. Với con trai, bà là một người mẹ đúng mực không tìm cách chiến thắng sự hỗn xược bản chất của cậu bé hay không làm cậu ta phải yêu mình; người ta nói bà cứng rắng đến tàn nhẫn trước bọn người hầu nam và nữ, nhưng cần để bọn vô lại này kính trọng mình. Thái độ của bà với nhà thờ cảm hóa tất cả mọi người, nhưng trong thâm tâm bà coi thường tất cả những tình cảm giả mạo này. Nếu người anh mà bà nhìn thấy mỗi một lần này đã sống sáu năm dưới tên giả, giấu giếm những thói xấu của ông tà và thực hành những đức hạnh vờ vĩnh, thì đó cũng chẳng là gì nếu so với những điều bà làm suốt cuộc đời. Bà cầm bức thư linh mục phụ tá và lên chỗ Philibert.

Như mọi khi, khi bước vào phòng chồng, bà nhăn môi vẻ miệt thị vì thấy những sai lầm trong kiểu sống và chế độ ăn của chồng. Philibert đang ngồi lún trong mất chiếc gối mềm rất có hại cho bệnh thống phong của ông ta, và hộp đựng kẹo trứng chim vừa tầm tay cũng hại không kém. Ông ta đã có đủ thời gian để nhét dưới tấm nệm cuốn sách của Rabelais mà ông luôn để bên cạnh để giải trí giữa hai lần đọc cho thư ký viết. Bà ngồi xuống, nửa thân trên rất thẳng, trên một cái ghế đặt khá xa giường. Người chồng và người vợ trao đổi vài lời về các vị khách đến thăm hôm trước; Philibert khen Martha về cách thức tổ chức tuyệt vời trong bữa ăn mà rất tiếc là quận công đã đụng dao dĩa quá ít. Cả hai đều động lòng trắc ẩn về bộ dạng mệt mỏi của ông ta. Trước mặt người thư ký đang dọn dẹp giấy tờ sang phòng bên ngồi chép lại, Philibert to béo nhận xét một cách kính cẩn rằng trong bữa ăn họ nói quá nhiều đến lòng dũng cảm của những kẻ nổi loạn bị hành quyết theo lệnh quận công (vả lại người ta cũng phóng đại gấp đôi số người này), trong khi không nhắc đến nhiều lắm dũng khí của con người đại diện cho Nhà nước và cho chiến tranh đang chết dưới bộ áo giáp vì chủ nhân. Martha làm một cử chỉ đồng ý.

- Tôi thấy những trọng án xã hội không được đảm bảo như quận công tin, hoặc quận công muốn làm người khác tin, ông nói thêm giọng khô khan hơn sau khi cánh của đóng lại. Tất cả sẽ phụ thuộc vào sự cương quyết của người kế tục ông ta.

Martha thay vì trả lời hỏi ông có cần thiết phải đổ mồ hôi dưới đống chăn lông to thế kia không.

- Tôi cần những ý kiến đúng đắn của vợ tôi vào những việc khác hơn là vào đống gối của tôi, Philibert nói với giọng cười nhạo nhẹ nhàng ông thường nói với vợ. Bà đã đọc thư của chú chúng ta chưa?

- Vụ này khá bẩn thỉu, Martha nói đôi chút lưỡng lự.

- Tất cả những vụ có công lý nhúng mũi vào đều như vậy đấy, và công lý làm chúng trở nên bẩn thỉu nếu chúng chưa đến nỗi thế, ông có vấn nói. Linh mục phụ tá, rất hay xét đoán theo cảm tính, có lẽ thấy hơi quá nếu trong một nhà có tới hai án hành hình.

- Ai cũng biết là mẹ tôi chết ở Munster nạn nhân của bạo loạn, Martha nói, mắt đen ngầu vì giận dữ.

- Đó là tất cả những điều quan trọng mà người ta phải biết, và đó là những gì tôi khuyên bà cho khắc trên bức tường một nhà thờ, Philibert nói tiếp với chút châm biếm ngọt ngào. Nhưng giờ tôi đang nói chuyện với bà về cậu con trai của bà mẹ không thể chê trách này… Chắc chắn là ông chưởng lý ở Flandre còn nợ chúng ta nhiều livre, tôi muốn nói đến số tiền liên quan đến những người thừa kế nhà Tucher, và có thể ông ta sẽ thấy dễ chịu nếu chúng ta bớt đi cho ông ta một vài khoản… Nhưng tiền không dàn xếp được mọi chuyện, ít nhất là không dễ như những người như linh mục phụ tá, có ít tiền, tưởng vậy. Tôi thấy vụ việc này đã đi quá sâu rồi, và Le Coq có thể có lý do của ông ta để gạt ảnh hưởng của ta. Bà có xúc động quá với tất cả chuyện đó không?

- Ông hãy nghĩ là tôi không quen biết người này, Martha lạnh lùng nói, ngược lại bà nhớ rất rõ kẻ lạ lùng này lúc ông dỡ chiếc mặt nạ hợp pháp của ông ta là bác sĩ chữa bệnh dịch hạch ở phòng khách hơi tối trong nhà Fugger. Nhưng đúng là ông biết nhiều về bà hơn là bà biết về ông ta, dù gì đi nữa, chỗ sâu kín này trong dĩ vãng của bà thuộc vào loại chỉ quan trọng với bà mà thôi, và Philibert không thể bước vào đó.

- Hãy ghi nhận là tôi chẳng chống lại ông anh họ của tôi và anh trai của bà chút nào cả, rằng tôi rất muốn ông ấy đến chữa cho tôi bệnh thống phong, ông cố vấn nói và kê đầu lên đống gối đệm. Nhưng ai bảo ông ta lại luồn về Bruges như con thỏ chui dưới bụng đàn chó và lại còn mang cái tên giả chỉ lừa được những đứa ngốc… Thế giới chỉ yêu cầu chúng ta đôi chút kín đáo và đôi chút thận trọng. Xuất bản mấy cái ý kiến làm điên đầu bọn Sorbonne và Giáo hoàng để làm gì?

- Im lặng thế này thật khó chịu đựng nổi, bỗng Martha nói, dù bà không muốn bật ra.

Ngài cố vấn nhìn bà với vẻ ngạc nhiên tinh quái:

- Sẽ rất tốt, ông nói, nếu ta giúp ông ta rút chân ra khỏi vụ này. Nhưng bà biết cho rằng nếu Pierre Le Coq đồng ý làm vậy, tôi sẽ là người chịu ơn ông ta trong khi lẽ ra ông ấy chịu ơn tôi, và nếu biết đâu đấy ông ta không đồng ý, tôi sẽ phải nuốt chữ không. Cũng có thể Ngài de Berlaimont sẽ biết ơn tôi vì tránh cho ông ta một kết cục tai tiếng cho một người đàn ông mà cha của ông ta bảo vệ, nhưng, hoặc giả tôi nhầm to, hoặc ông ta đâu có lo lắng về những gì diễn ra ở Bruges. Bà vợ yêu quý của tôi đề nghị gì nào?

- Không gì để ông có thể trách cứ tôi sau sự kiện này, bà nói giọng khô khốc.

- Vậy là tốt rồi, ông cố vấn nói vẻ bằng lòng của một kẻ thấy tránh được nguy cơ một cuộc cãi vã. Vì đôi tay thống phong của tôi không cho phép tôi cầm bút, nên nhờ bà viết hộ tôi cho chú của chúng ta là chúng ta muốn ông cầu nguyện cho chúng ta…

- Không đả động đến vấn đề chính sao? Martha nói một cách thích đáng.

- Chú chúng ta khá tinh tế để hiểu một sự khước từ, ông nói cúi đầu xuống; Điều quan trọng là thư không đi tay không. Chắc chắn là bà còn chút đồ dự trữ để gửi cho ông ấy nhân mùa Chay (patê cá sẽ tốt đấy), và vài khổ vải cho nhà thờ của ông ta.

Người chồng và người vợ nhìn nhau. Bà khâm phục sự thận trọng của ông, như những ngừoi vợ phục chồng mình vì lòng dũng cảm hay chất nam giới. Mọi việc tốt đến mức ông bất cẩn thêm vào:

- Mọi sự bắt đầu từ chỗ bố tôi coi ông cháu hoang này cứ như con đẻ vậy. Nuôi dạy trong một gia đình tối tăm, lại không đến trường…

- Ông nói đến chuyện những con hoang như người nhiều kinh nghiệm lắm vậy, bà nặng nề buông lời mỉa mai.

Ông đã có thể thoải mái cười, vì bà đã quay lưng lại tiến ra phía cửa. Thằng con ngoài giá thú của ông với một cô hầu phòng (mà có thể không phải của ông) khiến ông thoải mái trong quan hệ với vợ hơn là cản trở ông. Bà ấy luôn nhắc lại lời buộc tội ấy, còn thì bỏ qua những việc khác quan trọng hơn mà chẳng nói lời nào và có khi cũng chẳng nhận thấy (ai mà biết được?). Ông gọi bà lại.

- Tôi dành cho bà một điều ngạc nhiên đây, ông nói. Sáng nay tôi nhận được một thứ tốt lành hơn là thư của chú chúng ta. Đây là thư chứng duyệt phong đất Steenberg là đất tử tước. Bà biết là tôi đã thay Lombardie bằng Steenberg, vi cái danh phận này có cơ làm con và cháu một chủ nhà băng phải buồn cười.

- Ligre hay Foulcre tôi đều thấy hay cả, bà nói với một vẻ kiêu hãnh lạnh lùng, tên nhà Fugger được Pháp hóa theo cách thường dùng.

- Cả hai đều dễ làm người ta liên tưởng tới nhãn mác dán trên túi tiền, ông cố vấn nói. Chúng ta sống trong thời không thể thiếu một cái tên đẹp để tiến vào triều đình. Cần phải biết tru cùng với chó sói, vợ yêu ạ, và biết hét với công.

Khi bà đi khỏi, ông với tay vào lọ kẹo trứng chim và nhét đầy mồm. Ông không bị lừa bởi vẻ khinh miệt chức tước của bà: mọi phụ nữ đều yêu sư hào nhoáng. Có gì đó làm hỏng tí chút vị kẹo trong miệng. Thật tiếc không thể làm gì được cho ông già nghèo khổ ngu ngốc này mà không phải thỏa hiệp.

Martha bước xuống cầu thang chính. Dù bà không muốn, song cái tước vị mới vang lên trong tai bà một cách dễ chịu; dù gì đi nữa, con trai họ đến một ngày sẽ phải cám ơn họ. So sánh hai việc, lá thư của linh mục phụ tá giảm hẳn tầm quan trọng. Viết thư trả lời thật là một việc nặg nhọc không tránh được; bà bắt đầu cay đắng nghĩ rằng Philibert gì thì gì vẫn luôn làm theo ý ông ta, và suốt cả cuộc đời bà sẽ chỉ là một quản gia giàu có cho một người đàn ông già có. Lạ lùng thay, người anh trai mà bà bỏ mặc cho số phận lúc này lại gần gũi với bà hơn là chồng và con trai duy nhất: với Benedict và mẹ, ông là một phần thế giới bí mật bà vẫn giam mình trong đó. Theo một nghĩa, bà tự kết tội trong ông ta. Bà cho gọi ông bếp trưởng để bảo ông lấy quà gửi kèm lá thư, ông ta chè chén trong bếp.

Ông bếp trưởng có một việc nhỏ muốn trình bày với Bà chủ. Đây là cơ hội tuyệt vời. Vì bả chủ biết là của cải của Ngài Battenbourg đã bị tịch thu sau khi ông ta bị hành quyết. Hiện tại số của cải này vẫn còn bị tạm giữ, người ta chỉ tiến hành bán chúng sung công sau khi đã trả hết các khoản nợ. Không thể nói rằng người Tây Ban Nha không làm việc theo quy chế. Nhưng, nhờ người gác cổng cũ của kẻ bị hành quyết, ông biết có một lô thảm không được ghi vào danh mục và có thể lấy được chúng. Đó là những bức tranh tuyệt đẹp của Aubussons tả lại Lịch sử Thánh, Sự tôn thờ của con bê vàng, Sự chối Chúa của Thánh Pierre, Đám cháy Sodome, Con Dê tế thần, Những tên Do thái bị ném trong lò lửa. Ông bếp trưởng tính tỉ mỉ đã kê hẳn một danh sách nhỏ để trong túi con. Bà chủ có lần đã nói là rất thích sang sửa lại những bức màn trướng ở Phòng khách Ganymède. Và, dù gì đi nữa, những tấm thảm này càng ngày càng có giá.

Bà nghĩ một lúc rồi gật cằm đồng ý. Đó không phải là những chủ đề ngoại đạo, như những bức Philibert mua hơi nhiều quá. Và bà nhớ đã có lần nhìn những bức đó tại dinh thự Ngài de Battenbourg, chúng tạo ra ấn tượng rất quý tộc. Đây là một vụ không nên bỏ qua.

❀ ❀ ❀

[1] Arestin: Tác gia châm biếm của Ý (1492-1556)

thừa kế ở thư viện ông chú, linh mục phụ tá Campanus, người sưu tầm sách. Buổi trưa, nằm dài trên đồng cỏ, anh bật cười to khi đọc đến một câu hài hước La tinh của Martial[2], hay mơ mộng hơn, buồn bã nhổ bọt xuống ao và mơ về một phu nhân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Marguerite Yourcenar

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.