Chiến Trận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Sau những tháng lạnh giá, trời trở nên mát mẻ đôi chút, bà Marie để ngỏ cửa cho ánh sáng rọi vào và để nghe tiếng mưa rơi. Sáng nào cũng vậy, bà thường vứt những vụn bánh mì rơi vãi từ bữa điểm tâm lên bậc cửa. Về nguyên tắc, mọi chú chim đều là khách mời dự tiệc, song những chú chim cổ đỏ coi sóc cây lê cho bà ngăn không cho mấy chú sẻ ngộ tí tẹo lại gần và chỉ dành cho chúng những hạt thừa còn lại. Chú chim cổ đỏ nổi giận khi một kẻ không mời lò đò đến. Nhẩy nhót trên gờ xi măng lỗ chỗ tổ ong, chú bình tâm dùng bữa, tự tin ở sức mạnh của mình. “Con chim cổ đỏ của tôi”, bà thường nói - một từ sở hữu bất thường vì đối với bà chẳng có gì sở hữu (bà thường gọi chỗ ở của mình là “ngôi nhà trong vườn Joseph”). Là người dịu dàng nhưng nghiêm khắc với trẻ nhỏ và các con vật (cả chú chó săn Pyrrhus đáng thương của Rémi, thường bị bà lắc chuông bên tai buộc phải ngậm miệng mỗi khi rống lên như còi), bài biết thỏa hiệp với các chú chim: không phải vì lòng yêu thương tràn đầy mà đơn giản chỉ vì cuộc sống chung cho cả hai bên có được yên tĩnh và tôn trọng lãnh thổ của nhau - cùng thân hình nhỏ bé, đầu rụt trong hai vai, cùng cung cách trang điểm, cùng bữa ăn đạm bạc (nếu phải dự một buổi lễ hay sinh nhật, sau những lời mời mọc đưa đẩy dài dòng, bà dành chấp nhận nếm một chút rượu mùi, một miếng thức ăn bằng quân cờ), thức dậy và đi ngủ vào những giờ nhất định, cùng vẻ hoảng sợ kín đáo. Bà kể chú chim cổ đỏ của bà mạo hiểm đến tận bàn ăn, nơi bà nấu nướng mà không thấy phiền nhiễu, hình như nó rất chăm chú, cái đầu luôn ngọ nguậy như thể lo lắng đến việc vì sao phải làm và làm cái gì vậy. Nhưng chúng tôi vẫn phải tin lời bà mặc dù lúc chúng tôi có mặt,chú chim bằng lòng nhặt những vụn bánh mì chua và cũng với chiến lợi phẩm thu được bay lên, ẩn mình trong cây lê. Cả hai ai việc nấy không ngó ngàng gì nhau.

Đi trong vườn, chỉ thoáng qua cánh của rộng mở là thấy bà trong công việc quen thuộc, hoặc ngồi ở bản ăn hoặc bàn làm việc chăm chú - một sự cần mẫn được bộc lộ ngay cả trong những công việc nhỏ nhất, trù việc nội trợ và khâu vá là bà làm qua quýt để giết thì giờ. Để mạng một chỗ rách, bà túm 2 mép chỗ rách lại,lấy chỉ dính thật chặt, vì thế, trên áo váy của bà xuất hiện những đường thật kỳ quặc. Thứ năm, ngày nghỉ của học trò, bà giành để chuẩn bị bản tin của xứ đạo và buổi chiều,phân phát tới từng nhà kèm một lời thông báo giống nhau trước ngỏ mỗi nhà: “Người đưa thư” rồi bà hóm hỉnh thêm vào “của thượng đế đây”. Câu nói trở thành như mật hiệu, một thành viên mới được đón nhận vào cuối câu đồng thời với sự xuất hiện bà. Cứ như vậy với mọi nhà, đôi khi có thay đối chút ít để đỡ nhàm tai. Không ai bắt bà phải gấp tờ tin làm tư, cuốn dải băng giấy có đề tên người nhận bên ngoài, chẳng qua bà muốn tạo cảm giác đấy là bản tin của Chúa Trời.

Trước khi ngồi vào bàn, bà lồng chiếc găng cũ màu đen vào bàn tay phải. Chiếc găng chỉ được sử dụng vào dịp này để các ngón tay bà không bị đen nhẻm vì mực ướt khi vuốt các nếp gấp với những động tác chính xác có phương pháp trên chiếc bàn thô sơ choán hết cả chiếc bếp chật chội nơi bà thường quay mặt vào tường, trang trọng làm lể trong không khí u tịchThời gian như dừng lại mỗi khi các bản tin có màu hồng, vàng thẫm, xanh hoặc xanh da trời thay đổi theo tuần chất đống trên tấm vải dầu với từng gói mười bản một- thì phía bên kia, những chồng tin cũng sụt xuống.

Đôi lúc chúng tôi muốn giúp bà. Bà dành cho một chỗ và cả bốn chúng tôi sáp lại theo ba cạnh bàn. Một mắt nhìn bà làm, một mắt liếc nhìn tờ tin, chúng tôi cố gắng bắt chước một cách trung thành nhất những thao tác của bà nhưng không thể được. Chúng tôi chẳng cảm thấy từ cái bề ngoài này có một cái gì trong trẻo, dịu êm mê hồn cả. Đó chẳng khác gì những trò chơi trong những ngày hè trống rỗng mà việc đề xuất ấy như một cái phao cứu đắm, một liều thuốc hiển nhiên chữa nổi buồn cho chúng tôi và liều thuốc ấy, vừa nếm phải đã lộ rõ là còn xa mới thỏa mãn được sự mong chờ của chúng tôi. Vả lại,bà nghi ngờ sự nhiệt tình của chúng tôi và dè chừng những gói báo có thể rơi. Tuy nhiên trong chừng mục nào đó, bà hài lòng về sự giúp đỡ tự giác và cảm động về sự quan tâm của chúng tôi đối công việc thiện nguyện của bà, công việc của con kiến hèn mọn với sứ mệnh to lớn về đạo pháp của bà. Bà không thể từ chối ba lính mới chúng tôi gia nhập quân của Chúa. Hơn nữa, bà không bao giờ từ chối điều gì đối với những đứa con của Joseph. Song bà biết đó là lời hứa rất hão huyền.

Gấp được khoảng hai chục bản tin, một số bản gấp rất cẩu thả là kết quả công việc của chúng tôi. Bốn góc tít giấy đáng nhẽ phải đặt chồng lên nhau theo góc vuông duy nhất thì lại xô xệch lung tung. Một vài bản lúc đầu trông chẳng khác gì cái quạt. Bà thở dài, vội vuốt gấp lại bằng chính bản tay đeo găng của bà, và lại dạy chúng tôi làm lại từ đầu: Đấy, các cháu cứ làm theo bà, chẳng khó gì, cứ gấp tờ giấy làm tư. Được, được rồi. Lần này chúng tôi đã nắm được cách làm, hồ hởi bắt đầu làm lại nhưng ngay sau đó, nổi nhàm chán lại ập đến. Các góc lại nhanh chóng méo xẹo, xiên lệch với lại giống hệt cái quạt. Nhưng có sao đâu, khi một trong số những tờ tin bị gấp xòe ra một cách đặc biệt, chúng tôi lấy che mặt vờ làm điệu bộ tu sỹ dòng Các-men. Đến nước này, bà không giữ bình tĩnh được nữa. Con sẻ nhỏ giận dữ khuấy động vũng nước. Bà giật tờ tin trong tay chúng tôi, giậm chân, tay sửa lại cặp kính gọng vàng óng: như thể là tăng công việc của bà lên gấp đôi rồi đấy, thà để bà tự xoay xở còn hơn. Bà nói thêm khá to, như độc thoại trên sân khấu để chúng tôi thấy rằng bà có thói quen làm một mình. Sau lời trách móc che giấu sự bí ẩn buồn bã của cuộc đời, bà từ chối mọi tiếng thơm hạnh phúc. Chúng tôi hiểu lờ mờ khi nhìn cái nội thất chật hẹp không có trang trí nào khác ngoài tấm lịch bưu điện treo phía trên chiếc bàn, khi nhìn cái bóng dáng màu ghi, lom khom, vào cuộc sống khổ hạnh, eo hẹp và đơn điệu của bà - trong chốc lát, chúng tôi ân hận và tự hứa sẽ không làm như thế nữa.

Sau khi gấp xong, bà cắt các băng giấy trắng để cuốn quanh mỗi bản tin, rồi lấy hồ dán hai đầu lại. Bà dùng con dao bằng nhựa để phết hồ song dao cứ gảy luôn vì bị ấn quá mạnh. Bà liền thay bằng các que diêm và không quên bẻ lấy đầu que tẩm lưu huỳnh. Bà không vứt gì đi cả, những que diêm đó được tận dụng để châm bếp ga. Sau khi châm bếp, những que diêm không chịu rơi mà cứ dính chặt vào các ngón tay khiến bà thổi phù phù. Bà đã gắng chịu đựng sự quấy nhiễu của chúng tôi, nhưng đến nước này thì không thể chịu thêm được nữa –đống giấy trắng mà bà mất bao khó nhọc thu gom lại đã bị hỏng. Bà lo lắng quan sát chúng tôi tay lăm lăm cầm kéo, đứng lệch hướng với dải trang trí, những vòng hoa và khăn trải bàn dưới lọ hoa quen thuộc: nhũng tò giấy được gấp làm tư, làm năm, cắt xén góc, khoét rồi mở ra tạo nên chiếc đăng ten thật đẹp. Chúng tôi rất tự hào, phô trương tác phẩm của mình trước bà cô tội nghiệp. Bà cố tỏ ra đồng tình, gượng cười nhìn chúng tôi chằm chặp qua các lỗ khoét rất nghệ thuật trên tờ giấy đẹp của bà.

Màn cuối công việc, chúng tôi tỏ ra có ích. Bà mở cuốn sổ có ghi danh mục những người nhận tin đưa cho chúng tôi bảo đọc lần lượt chậm rải cái danh sách dài đặc được chép rất chân phương, nét thanh, nét đậm bằng bút lông của cô giáo giàBà hơi sững lại khi chúng tôi đọc quá nhanh hoặc không để ý đến chữ “đã chết” ghi thêm trước chữ Untel–bằng ba chữ viết tắt. Chiếc băng hỏng đó bà giữ lại làm giấy nháp.

Sự tập luyện này có tác dụng trấn an. Chúng tôi còn đùa thế khi đọc đến hai hoặc ba lần cái tên buồn cười, rồi tên nào cũng vậy và cuối cùng danh sách phải đọc cũng hết, chúng tôi buộc phải nghiêm túc. Giữa những lời đọc, chúng tôi nghe thấy tiếng ngòi bút lông sột soạt trên giấy, tiếng tíc tíc như chim gõ kiến trong lọ mực, tiếng bàn tay chạm nhẹ trên giấy thấm mực, tiếng thở dài của bà cô. Mái đầu trắng xóa cúi sát xuống tờ giấy bà giục chúng tôi tiếp tục công việc. Việc ghi chép cực nhọc này là những giây phút rất bận rộn của bà.

Xong đâu đấy, bà dồn chỗ mực còn lại vào lọ, làm ngòi bút và cuộn vào trong một vuông vải nhỏ để ngòi bút không đâm phải gỗ của lọ đựng bút. Bà không muốn nghe nói về hút bi, mặc dù sự xuất hiện của nó làm cha thích đến mức ngồi đâu cũng tán dương. Ông cho đó là một cuộc cách mạng, một tiến bộ khoa học đã hơn một lần bẻ gảy cái ách nô lệ. Đã hết thời những chiếc bút mực chảy nhòe lần túi trong áo vét, làm bẩn măng sét áo sơ mi của ông. Các nhà đại diện thương mại, những người tiêu biểu cho sự hiện đại cá cược về sự đổi mới. Cha cố thuyết phục bà rằng bút bi là tương lại, rằng chẳng bao lâu nữa ngay cả học trò cũng sử dụng nó, rằng người ta đã từ bỏ bút lông ngỗng để dùng ngòi kim loại mà không còn giữ lại gì của bút lông nữa, rằng cần hòa nhập với thời đại mình. Song bà cho rằng đã và đang làm tốt công việc hàng cái bút của mình và giả điếc trước những lý lẽ của người cháu trai. Không thể lung lạc được. Đối với bà, bút bi bắt đầu một kỷ nguyên suy thoái, từ bỏ những nét thanh, nét đậm,và do đó, bà linh cảm tới những lối ngữ pháp về việc hợp giống, hợp số của phân từ quá khứ và hợp thời động từ, những trường hợp ngoại lệ và dấu mũ “chiếc mũ trên đỉnh chóp rơi xuống vực”- tất cả những cái hay của động từ làm chóng mặt học trò được bà truyền thụ dưới dạng những công thức huyền bí (“Tôi bắt đầu nhận ra động từ “nhận thấy” chỉ có một “P”). Bút bi, đó là con ngựa thành Troie đồ sộ với bốn kỵ sỹ của Ngày Tận Thế, một loại tháp Babel cuối cùng, nơi tiếng nói và con người bị tiêu tan. Bởi vì tiếng nói là trật tự của tạo hóa tức Chúa Trời. Số phận của nhân loại giữ được cân bằng trên ngòi bút lông hiệu Sergent-major.

Bà ngờ rằng người ta không cần đến tài năng của mình nữa. Bà đã kéo dài thời gian làm việc thêm 5 năm sau tuổi nghỉ hưu một cách giấu diếm, rốt cục trường dòng đã trao tặng bà một tấm huy chương vì thành tích nữa thế kỷ giảng dạy của bà. Lời mời thuộc dòng tên được gửi đi và kèm theo một nghi lễ nhỏ, khuyến khích bà, nhân chứng không còn tái hiện nữa, bằng những lời tiễn biệt. Thị trưởng, mục sư, các thầy trợ-tế, các bà xơ của giáo đoàn được phép ra ngoài, các đạo sỹ ghé qua,các nhà quý tộc, hầu hết số học sinh cũ của bà - ba thế hệ, một ít trong số đó đã làm bà, và những người không đến được đã gửi thư đến chúc mùng,các thư đó được đọc trước công chúng -, những kỷ niệm và xúc động trào dâng làm ngón tay bà lóng ngóng như một cô bé trên chiếc bục dựng ở sân trường, tại đó bà cô mảnh dẻ nhận những lời chúc tụng. Mặt bà đỏ bùng khi một người khách dự lễ ôm hôn bà (chúng tôi nghe tiếng hôn rất kêu phát ra từ đôi môi khô nứt của ông ta trên loa phóng thanh). Rồi sau đó bà mạnh dạn ấp úng nói lời đáp từ, bày tỏ sự nuối tiếc phải rời sự nghiệp của cả một đời - nhưng cũng phải nhường chỗ cho thế hệ trẻ chứ? Bà không nghĩ tới việc đó, chắc chắn vậy. Bà tin rằng sau bà là một nạn hồng thủy, ý muốn nói là những cây bút bi và những lối ngữ pháp hợp giống hợp số - bà kết thúc bài nói với một lưu ý rất hài hước rằng những người đặt bản tin xứ đạo sẽ gặp lại người đưa thư của Thượng đế ngay ngày thứ năm tới. Và đây, bà đã sắp đặt điều này. Hãy nghe đây: các vị chưa thể chôn cất được tôi. Đừng vội rơi nước mắt, khi bà nghe những tiếng sụt sùi, đừng gì cả. Bà hờn dỗi lạnh lùng rời khỏi bục.

Những ngày sau đó, bà nhiệt tình gấp bội trong việc hoàn thành sứ mệnh của mình về xứ đạo và sự nhiệt tình thái quá này của bà đã kéo theo những lời châm chọc của Mathilde, người vợ góa của Emili em trai bà, thái độ suồng sả với tôn giáo của Mathilde làm bà khó chịu. Bà lên án sự lăng mạ và chờ đợi thời vận của mình. Bà hờ hững nói rằng cây thuốc lá cảnh trong vườn cô em dâu,người say sưa chăm sóc vườn cảnh, không đẹp không dày bằng những cây thuốc lá của ông mục sư. Phản ứng lại, Mathilde nói mình không tưới cây thuốc đó bằng nước thánh. Bà cô nhún vai, khinh bỉ “xì” một tiếng làm bắn ra một đám nước bọt rồi càu nhàu bỏ đi giữa những khóm hoa. Các vụ cãi cọ giữa hai người còn đi xa hơn, song chúng tôi không cho những cuộc cãi cọ ấy của các bà già là quan trọng - số phận của họ giờ đã được định, dính vào nhau, là địch thù của nhau, từ khi mà một người, là em trai của người này và là chồng của người kia cố kết họ lại với nhau. Các cuộc cãi cọ của họ mượn những ẩn khuất từ sự âu yếm vòng vo. Khi sau vài giờ bà chị chồng không xuất hiện, bà Mathilde đến tận nhà đưa chỗ súp còn lại cho bà chị mà nếu không bà đã đổ đi, điều đó cho phép bà chị coi là bằng chứng của lòng tận tuỵ khi nhận súp. Một lần khác, bà Melthilde đến cho bà chị chiếc khăn san, lấy cớ bà Marielàm họ xấu hổ vì quần áo rách rưới trên vai bà. Và vẫn những lời phê phán dai dẳng không thôi về sự ngu tín của bà chị chồng. Một cách trở lại thời hai mươi của họ - những tính toán được so sánh bằng sự trìu mến cho và nhận - trong một cuộc cải cọ, trách móc, nay đã chìm vào dĩ vãng, rằng người kia đã góp phần vào nổi bất hạnh giáng vào họ. Nói một cách văn hoa, sự việc những cây thuốc lá cành nói hộ điều đó.

Thời gian phụng sự việc đạo của- bà đã đến hồi kết thúc, bà buồn phiền tự hỏi sau khi bà qua đời ai sẽ giương tiếp ngọn cờ. Thật đơn giản, sau khi bà khuất núi, những bản tin được đặt hàng chồng ở nhà người bán bánh dùng để gói những chiếc bánh bán. Chỉ có những người ở xa, đôi khi tận “chân mây cuối trời” là khổ vì chúng, đã yêu cầu gửi theo đường bưu điện để biết tin tức xứ đạo chủ yếu là những buổi lễ, chẳng hạn như vào ngày mùng 5 lúc 7 giờ 30, buổi lễ tạ ơn chúa đã được thông báo cách đây một năm, sẽ được tố chức,rằng ngày 7 lễ cưới của người con trai này với cô gái kia sẽ được cử hành hoặc để bày tỏ lỏng xót thương đối với một cụ già tuổi 75 nào đó, một người tận tâm với xứ đạo, bị đột tử - nói chung là những lời tưởng niệm, những lời cầu nguyện, và lời mời đến dự lễ.

n Học Năm xuất bản: 1993 Số trang: 216 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thùy An, Hoàng Kim, Kim Phượng, Thuận Thiên Kiểm tra: Thái Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 10/9/2011 Making Ebook Project #177 - www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean Rouaud

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.