Chiến Trận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Chú Rémi là người đầu tiên tỏ ra lo lắng. Chú rình ông cha xứ Bideau qua tấm ri-đô và gọi giật giọng khi thấy cha đi vào nhà thờ. Vị cha xứ khẳng định buổi sáng không hề có công chuyện gì với bà Marie cả. “Cái ông Bideau ngu ngốc này – theo chú Rémi – chẳng thấy gì bất bình thường ở đấy ư, khi mà bà Marie luôn bám riết lấy ông”. Chú Rémi là người chơi đàn ống chính thức và duy nhất trong vùng. Chú tự an ủi cho những lần phục vụ không công dành cho nhà thờ bằng thổi đoạn đôi chống giáo quyền – một cuộc chạy marathon hàng tuần: 3 buổi cầu kinh thường kỳ cộng với những buổi kinh chiều tối, chủ nhật; mỗi sáng hàng tuần có kinh nhật tụng lúc 7 giờ, thêm vào đó còn có những buổi lễ cầu kinh cho người sống và người chết. Bài hành khúc lễ cưới do chú sáng tác rất nổi tiếng, được nhiều người yêu cầu. Chú hơi phật lòng khi những cặp vợ chồng trẻ lại thích bài hành khúc của Mendelssohn, mà chú cho là khoa trương, hơn bài của chú. Nếu ai đó muốn chú đảm nhiệm cho phần nhạc của một buổi kinh nhật tụng mà chú không có hợp đồng, thì chỉ cần nài nỉ một chút là không bao giờ chú có thể từ chối. Chú tự trách mình về chuyện này và thông báo rằng, lần tới, khi cha Bideau và các tu sỹ hầu lễ của cha đi qua cửa hiệu của chú thì họ sẽ phải ngã chỏng gọng. Thế nhưng, lần tới mọi người đều nghe thấy: “Cám ơn ông Rémi, chúng tôi biết là có thể trông cậy vào ông.”

Việc bà cô Marie đến trưa rồi mà vẫn không đi ra phố đã khiến chú Rémi khá lo lắng. Chú muốn giải bày với mẹ tôi điều này, song không biết phải bắt chuyện với bà ra sao. Nói với bà như nói với những người vừa câm vừa điếc, phải đến gần sát sạt mà nói. Chú hỏi chúng tôi sức khoẻ mẹ ra sao, và mẹ thì đứng cách đấy 2 mét, như kẻ đi đày, rất xa xôi. Bà đã mất nhiều năm để tái hoà nhập với thế giới của những người sống.

Thế là Rémi phải tự quyết định, bất chấp tất thảy, với sự chi viện của mẹ chú. Theo thói quen, chúng tôi ở trong bếp – căn phòng duy nhất thực sự có hơi ấm trong mùa đông. Ở đây, ngoài ăn uống, chúng tôi còn chơi đàn, cãi lộn, làm bài tập – hoặc chẳng làm gì cả, và thường thì như vậy. Khi thấy cả bốn chúng tôi thu mình trong nỗi đau vừa xảy ra, bà Mathilde tỏ ra rất thông cảm đến mức chúng tôi hiểu rằng nỗi đau đớn này còn khủng khiếp hơn cả chúng tôi tưởng tượng. Chú Rémi xin lỗi vì đã đến quấy rầy chúng tôi, hỏi nhanh về những tin tức, bỏ qua câu trả lời mà từ đó đi đến lý do chú đến thăm: Sáng nay các cháu có nhìn thấy bà Marie không? Này, bà không đi qua đây, thật đấy. Các cháu không thấy chuyện này đáng lo ngại sao? Đúng, hiển nhiên là đáng ngại rồi, song chúng tôi không còn biết thật rõ là phải lo lắng ra sao. Bởi vì bà Marie, trong trò chơi ú tim quen thuộc, luôn luôn hết sức điệu bộ để xuất hiện đúng lúc mà chúng tôi báo động về sự biến mất của bà. Tuy nhiên chú Rémi muốn biết rõ đích xác và do chúng tôi không phản ứng gì, chú đề nghị đi thám thính ngôi nhà nhỏ bị cây hoàng dương trong vườn che khuất một nửa. Đoàn thám hiểm lên đường theo lối giữa các khóm cây hồng mà những cành héo quấn vào nhau trên vòm giàn, dẫn đầu là chú Rémi, bước chân nhún nhẩy, theo sau là bà Mathilde và mẹ tôi, cả hai đều mặc đồ đen, và sau đó, chẳng mấy chốc chú chó săn Pyrrhus bướng bỉnh cũng nhảy vào đoàn viễn chinh. Chú Rémi phỏng đoán có thể có nguy hiểm nên yêu cầu bọn trẻ con chúng tôi đi tụt lại phía sau. Đến trước ngôi nhà nhỏ, chú cố ghé mắt nhìn qua cửa sổ, nhưng những tấm ri đô kéo che kín, từ đó chú suy ra rằng bà cô đang ở bên trong. Bất chợt, chú khuyên chúng tôi quay về nhà, song không ai nhúc nhích và mẹ cũng chẳng nói gì, nên chú khuyên chúng tôi đứng ra xa. Cửa nhà vẫn đóng im ỉm. Cần phải đập vỡ miếng kính chỗ ngang núm cửa. Bà Mathilde cúi xuống nhặt một viên đá đưa cho anh con trai, song chú Rémi tính hay tỷ mẩn theo thói quen của người thợ chữa đồng hồ. Chả là bà Mathilde thuộc nhóm người phụ việc mà lại. Để khỏi vướng víu, chú Rémi ném viên đá ra xa. Con Pyrrhus hiếm khi hiểu được những gì người ta chờ đợi nó, co cẳng chạy vút đi, dùng mõm nhặt viên đá về. Giờ đâu phải lúc nô đùa, nên nó bị một cái đá vào mõm. Khi bà Mathilde, 70 tuổi, quay lại, thở hổn hển do phải chạy tìm dao, chú Rémi hiểu ra rằng chú lại phải mất thêm thì giờ đi tìm dao, bởi vì bà Mathilde nói không có con dao cắt kính trong ngăn kéo phía trên cao, bên trái. Chú Rémi muốn biết ai đã không để nó đúng chỗ nên có ý tìm kiếm thủ phạm trong ba kẻ tình nghi: bà mẹ, chú và con chó. Phía bên trong cửa kính, chăn trùm kín tận cằm, bà Marie đang ngắm nhìn bầu trời sau hàng mi khép kín. “Con đã sẵn sàng đây, lạy Chúa. Nếu Người muốn. Hãy cử các thần đến mang con đi với Người, thưa Đấng Tối cao. Nhưng con nghe thấy cái gì ấy nhỉ? Có phải các vị sứ giả của Người đã đến đấy không? Cái tiếng kèn kẹt trên kính, tiếp theo là tiếng lách cách khô và vỡ ấy? Các vị, những người chuyên cướp đi những linh hồn báng bổ, đã bẻ khoá cửa xông vào từ khi nào vậy?” Chú Rémi, bị đứt tay vì phải luồn tay vào vặn nắm đấm chốt cửa khẽ chửi thề. Sau khi chú mở được cửa sổ – điều này chúng tôi rất thán phục – chú ngồi trên mép cửa, dùng mông đít làm điểm tựa để xoay người, hai tay túm cẳng chân ốm yếu nhét qua khung cửa và khi lọt sang phía bên kia, chân chú lại vướng vào tấm rèm ri đô, và ban mai lợi dụng cửa mở lọt vào trên giường, chú như gặp một ảo giác: Bà Mathilde, tai dán sát trên bộ ngực lép kẹp của bà Marie, theo dõi rất kỹ lưỡng theo kiểu người Ấn Độ hơi thở cuối cùng của sự sống. “Mẹ vào lối nào vậy?” - “Im nào”, bà Mathilde nói - “Cô ấy chết rồi à?” chú Rémi hỏi - “Vào qua lối cửa chính”, bà mẹ trả lời – Câu trả lời chậm lại này, suy ra là trái tim của bà Marie vẫn còn đập. Cánh cửa ra vào đặt đúng hướng tây (mặt trời lặn soi rõ bữa ăn chiều đạm bạc của bà cô già cô đơn), gỗ phồng rộp vì những cơn mưa mùa đông nên luôn luôn phải xô đẩy mới mở ra được. Cứ xem bà Marie thường vẫn tỳ người vào mở cửa ra sao thì rõ. Thật đáng sợ khi nghe thấy xương cốt bà kêu răng rắc. Song, nhờ kinh nghiệm thực hành lâu năm, bà hưởng được sức lực vào đúng điểm và tỏ ra khá tự hào về tài năng của mình. Vả lại, không bao giờ bà đóng cửa ra vào, trừ những đêm giông bão, khi bầu trời vỡ tan ra thành những mảnh vụn trên biển Đại Tây Dương. Lúc đó thì cả lời cầu nguyện lẫn lời cầu xin Đức mẹ đồng trinh Biển cả phù hộ đều không làm tiêu tan được nỗi sợ hãi của bà: bà vặn một vòng ổ khoá để trấn an. Mắt nhắm nghiền, không đeo kính gọng kim loại mạ vàng, tóc bạc trắng bết lại dưới chiếc mũ lưới ngủ, trông bà lúc này như một người khác, gần như xa lạ, cứ như thể đêm qua người ta đã bày trò đánh tráo – bà cô Marie của chúng tôi là người không thể chết (làm sao bà có thể chết với cái tuổi không tuổi này và bà lại được các Đấng Tối Cao che chở?) sau giấc ngủ cuối cùng như Đức Mẹ Đồng Trinh[1], bị đánh tráo bằng một thi thể tầm thường có những nét hao hao giống. Đây không phải là bà cô mà chúng tôi quen biết bà vốn là một người nhanh nhẹn hoạt bát, bận rộn với đôi mắt tinh ranh và với ngôn từ bỗ bã cơ. Bà cô của chúng tôi làm sao có điểm chung với cái con người bất động và im lặng kia? Bà làm sao có thể giống với vẻ xanh xao trắng như ngà kia, vì do cứ thoăn thoắt đi lại trong gió tây đôi má mát mẻ của bà đã bị sùi đỏ như vải gai thô cơ mà? Con Pyrrhus trèo vào qua cửa sổ như người chủ của nó, nhảy lên giường. Bà Marie bật nảy người lên như lò xo, đến mức chúng tôi đã chợt tưởng bà tỉnh lại, sửng sốt do thấy mọi người vây quanh bà, nhưng rồi bà lại đổ người xuống, đầu đè ngang chiếc gối. Cái mũ ngủ bằng lưới tụt xuống che chụp mắt bà, bà Mathilde nhẹ nhàng khéo léo sửa lại cho ngay ngắn. “Muốn hử?” chú Rémi rít khẽ, tay giơ lên doạ chú chó to xù lông đỏ hung ư ử nằm ẹp xuống tấm thảm dưới chân giường. Nó vẫn không hiểu. Nó muốn, như thói quen, làm vui lòng bà Marie bằng những cử chỉ âu yếm bồng bột, những biểu hiện khiến bà Marie phát sửng sốt, kính bị xiên xẹo cả đi.

Chúng tôi đưa bà giáo già đi cấp cứu ở một bệnh viện gần nhất. Chú Rémi qui tội cho cái lò sưởi than. Chú nói là khi bước vào trong ngôi nhà nhỏ đã ngửi thấy một mùi khác lạ, không phải là mùi thức ăn mà bà cô Marie vẫn nấu nướng. Cả ông bác sỹ Maubrilland khi vừa mới đến đã lập tức được mời hít ngửi. Trước đây, người ta không bao giờ lại dám cho phép dẫn dắt ông bác sỹ vào một con đường tầm thường như vậy, nhưng, sau cái chết của cha, sự linh thiêng huyền thoại về khám bệnh của ông ta đã tan tành mây khói. Trước đây, mỗi khi ông đưa ra lời phán xét là với sự đảm bảo chắc nịch và quả quyết. Từ nay đứng trước chúng tôi, có lẽ ông ta sẽ phải dùng một giọng khiêm nhường hơn: chẳng gì thì chúng tôi vẫn có thể đọc được trong cuốn nhật ký của cha những buổi hẹn mát-xa vào thời gian sau ngày cha chết. Ông bác sỹ đã khuyên chữa bằng vật lý trị liệu như là liều thuốc cho những cơn đau lưng kinh khủng của cha. Không còn chuyện phó thác mù quáng vào lời phán xét của ông ta nữa. Chính vì vậy, cả bảy chúng tôi có mặt ở đây, mũi hếch lên trời là cố để phát hiện loại xạ khí chết người đang làm tất thảy chúng tôi có vẻ choáng váng. Chúng tôi lần lượt nâng nắp lò sưởi để bổ sung thêm thông tin. Nhưng chẳng thấy gì có sức thuyết phục cả (vả lại, ô-xít các-bon không có mùi) và bằng một lối thoát theo kiểu Zola – một tác giả ở thư mục sách cấm – có lẽ không hoàn toàn hợp với bà cô của chúng tôi.

Khi bà cô Marie mở mắt lại, nhà thương kết luận bà đã khỏi bệnh và trả bà về cho chúng tôi.

❀ ❀ ❀

[1] Dormination: Giấc ngủ cuối cùng của Đức Mẹ Đồng Trinh Marie, trong giấc ngủ đó Đức mẹ đã qui tiên. Ở đây ý tác giả muốn ví bà Marie như Đức Mẹ Đồng trinh, độc thân, cùng tên.

n Học Năm xuất bản: 1993 Số trang: 216 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thùy An, Hoàng Kim, Kim Phượng, Thuận Thiên Kiểm tra: Thái Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 10/9/2011 Making Ebook Project #177 - www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean Rouaud

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.