III
Các vị giám mục xứ Bizăngxơ thảo luận chuyện giới tính của các đấng thần linh, dưới con mắt bà Marie, chẳng mấy chốc mà các vị biến thành các nhà khiêu dâm học. Khi mẹ tôi đến nhà hộ sinh, nơi không cho bọn trẻ con vào, cha và chúng tôi phải đậu xe ở ngoài. Cha rất bối rối khi chúng tôi hỏi người là làm thế nào để phân biệt được trong những đống thịt hồng hồng bé tí tẹo đâu là con trai đâu là con gái? Cha ngập ngừng một lúc, gõ gõ ngón tay vào vô lăng xe - mỗi khi cha khó chịu, người vẫn thường như vậy. Gọi bộ phận sinh dục nam là dương vật chăng? Quá bác học. Cơ quan giao cấu của nam giới? Ẻo lả quá. Cái chim? Cách gọi của trẻ con (cha là một đứa bé không còn trẻ con nữa). Bất chợt, tia sáng lóe ra - rồi cha ngoái lại với nụ cười tinh ranh và ngượng nghịu: “Vòi rô-bi-nê”. Cha thật là một người kín đáo kỳ diệu.
Không có thêm thông tin nào khác về chuyện này, thành thử về sau đã nảy ra nhiều chuyện khi phát hiện ra chức năng kép của vòi nước. Tuy nhiên như thế cũng đủ rồi. Mũi tên chỉ rung rinh một lúc rồi cắm chặt vào hồng tâm. Cái hơi hướng câm lặng bao phủ xung quanh cái bụng tròn trịa của các bà mẹ, đó cũng là một cách nhấn mạnh sự ngông cuồng của cái cơ thể thánh thiện mờ ảo làm chúng tôi phải rất thận trọng khi lại gần nó, gần như phải tách ra. Sự sống dường như chỉ vừa mới gắn bó với cuộc sống.
Những ẩn ý thỉnh thoảng cũng hé lộ ra. Chứng cớ là trong chiếc hộp đựng giầy có quyển vở ghi chép bài hát của bà Aline lúc còn là cô gái (có ghi quyển vở này thuộc về… và ký tên). Ở đó, giữa những bài toán tích phân của Théodore Botret, nhà thờ lang thang xứ Bretagne ở Paimpol[1] và giữa những bài thơ của ông là câu “tôi có 2 con bò to lớn và anh nhỏ con quá anh yêu ạ” (16 tuổi mà thấp tịt), chúng tôi bất chợt phát hiện ra đối tượng đang cần tìm. Nó không là gì khác, các vị có thể đã đoán ra rồi, thưa các bà, cái nịt bít tất đã bị mất mấy hôm nay.
Không biết người cô già Marie của chúng tôi đã xoay sở thế nào để thông báo, nhân khi chị Nine có kinh lần đầu, chính bà kể lại rằng chuyện này nằm trong “ngoặc đơn” cuộc đời bà một thời đoạn đến 8 năm: từ 18 tuổi (chẳng phải quá sớm) đến 26 tuổi. Đó là sự lầm lạc của tự nhiên trong một cơ thể ốm yếu gày còm, có điều kiện cho những hăm hở yêu đương. Từ nay bà có thể toàn tâm toàn ý vào công việc noi theo các đấng thánh thần và vào việc giáo dục trẻ con: Trong 50 năm, bà đã dạy dỗ hai nghìn bé gái thuộc 3 thế hệ, chừng ấy nền cộng hòa, hai cuộc chiến tranh thế giới. Ngoài ra bà còn cùng với những học trò của mình cầu nguyện cho nền hòa bình ở Algérie.
Tài năng cô giáo, ấy là món nợ của bà đối với Đức Chúa Trời. Bà có sự mạng truyền bá sao cho không một cây sung nào tồn tại mà không có quả. Chính vì vậy mà bà, người phụ nữ 40 tuổi tập đọc, tập viết và tập tính, hầu như tự mò mẫm trong tư thế quỳ phủ phục dưới đất. Mỗi khi đến nhà bà đặt “một con gà cho 5 người”, chúng tôi thấy vậy đều phát hoảng. Bà ngồi trong góc tối ở nhà bếp, giữa bức tường và chiếc tử buýp-phê, chiếc áo gi-lê đỏ khoác trên đôi vai gầy còm giống như chiếc áo lễ đỏ rực đang thiêu cháy bà. Bà khẽ đung đưa cái đầu từ trước ra sau theo dòng suy nghĩ đơn điệu và theo tiếng kẽo kẹt của chiếc ghế bành bằng liễu giỏ. Có lẽ toàn thân bà thực hiện chức năng của chiếc đồng hồ, có lẽ bà sống là để đo thời gian của cuộc sống của bà. Thỉnh thoảng và kéo lại chiếc cổ áo gi-lê cho chặt quanh cổ và rùng mình như có một cái lạnh từ trong bật ra dữ dội. Khuôn mặt bà luôn luôn cúi gằm bị che khuất sau mớ tóc cứ phất lên xõa xuống theo nhịp lắc lư đều đặn cái cử động vĩnh cửu của bà. Bàn chân bà đi giầy păngtúp quá rộng, tất xộc xệch cái nọ đặt trên cái kia. Bà lẩn trốn những cái nhìn vào làu bàu đáp lại những câu chào của chúng tôi. Bà rút ra từ ngăn kéo tủ buýp-phê một quyển vở để ghi lại số người đến đặt ăn. Bà ghi chép với nét chữ ngập ngừng, cần mẫn, có một cái gì đó kỳ diệu, trong tư thế chân đứng chân kiễng của những người bị liệt 2 chân thời cổ xưa mà mỗi bước đi giật cục thật khó khăn mới thoát khỏi tai họa. Nếu bà không mở miệng, thì ắt hẳn phải nhìn thấy bà trong tư thế: gập mình trên trang giấy, gần như nằm nghiêng trên cánh tay trái, cần mẫn như người học việc, bật ra những từ như đứa trẻ sơ sinh và mớ tóc rủ xuống tạo thành một thành lũy chắn cái nhìn của chúng tôi. Rồi khi nhiệm vụ đã hoàn thành, bà khép quyển vớ, cùng với cây bút chì đặt về chỗ cũ trong ngăn kéo vào quay lại ngồi trên chiếc ghế bành, đầu cúi xuống, chúng tôi không đọc được trên khuôn mặt lơ đễnh của bà một thứ tình cảm khó chịu hay vui vẻ nào. Điều đó như là tín hiệu bảo rằng chúng tôi hãy đi đi, hãy để bà ở lại với cõi lòng sâu lắng của bà. Trông bà thật ủ dột, nếu đặt bà ra lối đi có những cây thông tuyết tới con đường lớn thì con đường ắt hẳn phải có những dáng vẻ rất thần thánh. Phải nói rằng bà rất sòng phẳng trong chuyện tiền nong. Họ hàng rất tự hào về điều này, rất biết ơn bà, thành ra họ không bao giờ quên không nhét vào túi sắc đem đến cho bà một vài quả trứng mà họ chăn nuôi được.
Có thể do ngây ngất với thành công, cũng có thể do lòng nhân từ mách bảo mà bà cô Marie muốn bé gái Annie sau này trở thành cô giáo như bà, song lần này bà đã đành chịu thua. Bé gái Annie, không có tuổi, cái đầu to tướng, luôn tươi cười và đôi mắt xếch đuôi nheo của đất nước Mông Cổ tinh thần của bé, thoải mái tự do chạy loăng quoăng khắp thị trấn trong chiếc áo bơ-lu học trò, đôi tất trắng kéo tận lên đầu gối, mái tóc dễ thương luôn đội chiếc mũ ba-rét, ngạo nghễ với những dải ru băng xinh đẹp mà nhờ nó bé đã có lần đoạt giải duyên dáng. Như người Do Thái bị trục xuất khỏi Jérusalem, bé nhắc đi nhắc lại không chán với mọi người qua đường khi họ hỏi thăm bé: “Ngày mai Annie sẽ đi Paris đây”. Cuối cùng ước mong của bé được thỏa mãn. Paris của bé là ở trên cửa hàng bánh ngọt người chị cả của bé ở Passy. Không biết bé có nói chuyện với những người ở các khu giàu sang, những người có lẽ không khoan dung độ lượng như chúng tôi, rằng ngày mai bé sẽ đi Paris không? Giống như một người mới đến cứ tìm kiếm thành Rôma trong thành Rôma và cứ đi từ Rôma sang Rôma mà chẳng nhận thấy gì cả không? Thực vậy, Paris là từ duy nhất mà bé nhận dạng được nhờ một mẹo của bà Marie: ở vị trí chữ A bà vẽ cái tháp Eiffel, thành thử đứng trước công trình vĩ đại này, bé Annie hiển nhiên là người duy nhất trong số hàng triệu người khách thăm có thể đọc được tên cái thành phố mơ ước trong sự rối rắm của rầm kèo.
Thật đáng thương cho bà Marie. Người ta thấy bà cố tỏ ra vui vẻ gượng gạo để chen vào cuộc hội thoại, dù rằng bà là khách không mời. Bà chỉ bực mình là không ai không quan tâm đến bà. Bà luôn có cái để mà nói về mọi chuyện. (Điều này làm cha tức giận. Người không thể hiểu được bà mà cũng có ý kiến về một cầu thủ bóng đá nào đó. Dù bị quở trách, bà bất chấp tất cả, làm cho mọi người phải nhắc tới tên cầu thủ đó để phòng trước một cuộc tranh luận sắp tới, lúc đó bà sẽ nói về cầu thủ ấy như nói về một người quen cũ). Nhưng hôm đó, chủ đề thảo luận chẳng hợp với bà[2]. Bà sợ hãi nó thậm chí như một bệnh dịch hạch của tâm hồn, vì nó đề cập đến phương pháp ghép các bộ phận cơ thể và cách thụ thai, những chuyện mà vì lòng từ thiện đúng đắn của thế hệ bà không bao giờ cho phép bà giảng dạy. Ít nhất bà cũng đã dũng cảm nhảy xuống nước chứ không chịu ngồi một mình trên hòn đá lẻ loi, bằng việc thêm thắt những điều bà biết được về chuyện này, nói về cái kinh nghiệm nhỏ nhoi của bà như một viên đá khiêm nhường trong cái tào nhà tri thức đồ sộ và, nếu không có Nine, thì có lẽ chẳng ma nào chú ý tới bà. Vậy thì trước việc góp chuyện mà thành công rất ít ỏi, bà cô già nua nhắc lại, như một tài liệu quan trọng cần bổ sung vào cái hồ sơ tế nhị về giới tính, rằng về phần bà, vấn đề đã được giải quyết vĩnh viễn từ tuổi 26, và điều này, sự tắt kinh tiền định đó còn lâu mới làm bà đau khổ, theo như bà nói, mà còn là điều tốt đẹp nhất trong những điều đã đến với bà - như một giải thoát thần kỳ khỏi sự nhắc nhở phiền toái mỗi tháng của cái tính nữ. Đó là một thức đặc ân thánh thượng cho phép bà có cơ thể và đầu óc được tẩy sạch bụi trần, để xây dựng trên đống đổ nát của cuộc đời phụ nữ cái thân phận trong trắng của cô giáo may mắn, vì sự vinh quang của Đấng Tối Cao.
Người ta đã chế giễu bà đôi chút, ngạc nhiên vì bà đã không bao giờ lấy chồng. Bà tuyên bố ông ta chỉ thiết tha có mỗi mình bà, rằng không thiếu những người cầu hôn bà, và mặc chúng tôi năn nỉ, bà giữ khư khư bí mật về họ. Song, nhìn cái thân thể bé nhỏ xám xịt của bà, chúng tôi tưởng tượng những người cầu hôn bà chắc phải buồn tẻ lắm lắm, thành ra bà đành chọn cách ở vậy như một gái già trong trắng, Mẹ của 40 đứa con năm.
Chỉ một lần duy nhất chúng tôi bắt gặp bà với vẻ điệu bộ. Đó là vào ngày cưới của cha mẹ. Trên bức ảnh chụp rước dâu, bà đưa cánh tay cho ông ngoại khoác, bảnh bao trong chiếc áo dài bó sát màu đen, vai đeo chiếc túi nhỏ màu đen, khuôn mặt bé nhỏ băn khoăn làm cho cái cằm bà nhọn ra một cách ngạo nghễ, nhưng lúc đó trông bà đã hoàn toàn trắng toát. Khúc hát cao cả của con thiên nga chào mừng đứa cháu trai vẫn không thể xóa đi 30 năm tự từ bỏ, quên mình. Ở tuổi 26, bà đã có cái dáng đi phổ biến của một bà già bé nhỏ. Thật khó có thể tưởng tượng một bà cô vốn luôn chạy ngược xuôi mua bán trong các cửa hiệu, nhằm chọn một chiếc áo dài, thân hình bó chặt trong bộ quần áo màu đen đứng ngắm vuốt trước gương, đưa tay lần sờ những đường nét đáng thương của mình. Chắc chắn bà bắt chước cách ăn mặc của ông ngoại. Thực vậy, ông thường mặc những bộ đồ cưới. Bà có vẻ vui thích lắm, không tìm cách lẩn trốn ông thợ chụp ảnh, đầu ngoẹo xuống vai, chúng tôi chòng ghẹo bà mỗi khi thường thấy bà trong bộ dạng như vậy. Đó thực sự là bà Marie, là dấu ấn của bà, thành thử sau này khi đứng trước những phụ nữ của Modigliani[3], chúng tôi đã hơi thất vọng, với cái nghiêng đầu này họ đã giành được niềm vinh quang mà đáng lẽ nó thuộc về bà Marie vĩnh viễn. Khi một người có cái bột phát duyên dáng, biểu hiện sự táo bạo, thì không thể coi họ bắt chước người khác. Chúng tôi càng thất vọng khi biết bà tin rằng những cái nhìn nịnh bợ, những biểu hiện sốt sắng nhắm vào bà hơn là nhằm vào những người đi đầu lễ cưới. Bà biết rõ bà không có được vẻ tao nhã của người Paris như ông ngoại - trông cách ông vắt chiếc áo ja-két trên tay thật quý phái, chắc chắn phải có thày dạy mới làm được. Chúng tôi cảm thấy ngay ở bước đi sai lệch đầu tiên, bà đã sẵn sàng quay trở lại với những chiếc váy chẳng ra hình thù gì của bà, với chiếc bị đen nhẻm sờn cũ và với căn nhà nhỏ bé trong khu vườn, xin mở ngoặc là ngôi nhà đã bị đóng cửa trong cái ngày đẹp trời này. Bà sẵn sàng tính lùi lại chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng của bà năm bà 26 tuổi. Chính thế mà một lần vì không thể giả vờ buồn phiền với những chuyện của bà, chúng tôi cùng bà tính toán. Bà đã làm những tính toán của chúng tôi bị đảo lộn, chúng tôi ngạc nhiên, bởi vì bà sinh năm 1890, mà lại nói là sinh vào năm 1916, tháng 5 - tháng mà người em trai Joseph của bà chết trận.
Đích thực đây mới là điều mà bà nói với chúng tôi. Bà bâng quơ nói đến những tính toán bí hiểm của bà. Nỗi khổ đau được giữ lại quá lâu và thầm kín, nhục dục bị kìm nén như kìm nén những giọt nước mắt, hai điều chết người này cứ làm cuộc đời bà mãi mãi rối loạn bất bình thường.
❀ ❀ ❀
[1] Paimpol: thị trấn nằm trên bờ bức nước Pháp thuộc vùng Bretagne, là một hải cảng quan trọng phục vụ việc đánh bắt cá.
[2] Nguyên văn: đất dụng võ không phải để cho bà.
[3] Modigliani (Amedeo): (1884-1920), họa sĩ Ý theo trường phái Paris. Những tác phẩm của ông chỉ giới hạn vẽ gương mặt con người, nổi tiếng với những đường nét đượm buồn duyên dáng, với màu sắc và nét vẽ tinh khiết.