Vùng hạ sông Loire, mưa là người đồng hành, là phân nửa cuộc đời thủy chung. Vùng này nổi tiếng nhờ có một sắc thái đặc biệt, trừ một vài khiếm khuyết, còn thì rất phù hợp với mọi người. Những đám mây chưa nặng hơi nước đại dương từ vùng thượng Saint-Nazaire[1] ùa vào cửa sông Loire, ngược dòng sông như guồng nước quay không ngừng, trút xuống vùng Nantes sự ẩm ướt thừa thãi của nó. Nhìn chung, lượng mưa không lớn lắm, nếu nhìn nhận theo mùa, song hơi nước được khéo léo chắt lọc suốt năm đến nỗi những người chỉ qua lại đây hầu như không thấy nổi một ngày trời quang mây tạnh và chắc chắn họ có ý nghĩ là vùng này nổi tiếng với mây và mưa. Thật khó thay đổi được định kiến của họ ngay cả khi có người cam đoan khí hậu ở đây thật êm dịu như huyền thoại - bằng cớ được công chứng viên xác nhận là hoa mi-mô-da nở khắp mọi nơi trong vườn, vài cây cô trụi lá - các số liệu được thể hiện ở: thời gian có nắng, lượng mưa, trên bảng thống kê hàng năm. Thời tiết ẩm ướt, đó là sự thật, nhưng quá quen rồi nên chẳng còn mấy ai để ý nữa. Người ta thế thốt một cách thực tâm dưới con mưa bụi dai dẳng rằng đấy không phải là mưa. Những ai đeo kính phải lau mắt kính đến hai mươi lần trong ngày như một cái máy, tập làm quen tiến bước trong những đám giọt nước li ti, làm khúc xạ cảnh quan, chia cắt lớn, nhỏ, méo mó, thật khó lòng xác định nổi đâu là điểm mốc của nó: đi lại được là nhờ vào trí nhớ. Nhưng rồi đêm đến, mưa lất phất trên thành phố, ánh đèn nê-ông từ những biển quảng cáo nhấp nháy, vẽ lên trong đêm tối ven biển những dòng chữ tỏa sáng, những ngôi sao nhỏ nhảy múa lấp lánh trước mắt, những tia sáng màu xanh, đỏ, vàng này đập vào mắt kính làm lóe sáng choáng ngợp mắt người, như cảnh sắc huyền ảo của kinh thành Versailles. Bỏ kính ra, nếu so sánh, thì đây như một bức tranh nguyên bản phẳng phiu.
Nhờ đó, những người sản xuất các dụng cụ quang học mới có công ăn việc làm. Không phải vì bệnh cận thị ở đây nhiều hơn nơi khác, mà do phải lau mắt kính của họ bằng vạt áo sơ mi kín đáo kéo ra khỏi quần, hay góc khăn trải bàn trong cửa hiệu, hoặc khăn mùi soa vo tròn trong lòng bàn tay. Mối nguy hiểm tăng lên gấp bội khi bỏ kính ra, bị rơi xuống, vỡ vụn. Đó là một trong muôn vạn điều bất tiện mưa gió gây nên, là nguyên nhân của nỗi buồn và những cơn đau đầu nhức nhối, buộc phải chớp mắt liên tục. Tóc tai rối bời có thể có nguyên nhân khác, nhưng lỗi thuộc về ai nếu như người ta phải chạy vào trú trong những quán cà phê nằm đọc trên phố? Rồi chỉ còn có cách phải đợi, trước mặt là ly rượu, rồi hai, rồi ba ly, cho đến lúc trời quang quạnh quẽ.
Chống khuỷu tay im lặng trong quán rượu, ngắm hình bóng mình phản chiếu trên cửa kính, những người uống rượu e ngại nhìn khách qua đường khom lưng, rảo bước dưới mưa rào. Họ không dám phô nụ cười kẻ cả khi một chiếc ô bị gió thỏi lật ngược. Đơn giản họ lấy làm sung sướng vì đã khôn ngoan hơn trong cách tránh mưa. Khi ngớt mưa, trên nóc các tòa nhà, bầu trời trở nên sáng hơn, họ cho rằng trời đã quang bên tợp một hơi cạn chén rượu trắng, đóng khuy áo vét, hoàn tất mọi việc, bước ra khỏi cửa, nhưng không, cơn mưa trở lại - thế rồi, phẩy tay trên miệng chiếc ly đã cạn: Lại uống thôi, có sao đâu.
Trận mưa cho biết những dấu hiệu rất chắc chắn: gió tây sạch sẽ, mát mẻ, những con chim mòng biển từ xa, quay trở lại đất liền, đậu trên những thửa ruộng đã cày như những quả bóng bông, những con chim én, mùa mè, bay sàn sạt trên nóc các tòa nhà, xoay tròn, chăm chú và câm lặng, trong vườn những đám lá lay động và xào xạc trước gió, những chiếc lá hình kim của những cây dương rung lá hốt hoảng, những người đàn ông ngoảnh mặt vè phía bầu trời vương vãi những gợn mây, các bà thu lượm quần áo, khăn bàn (phơi ga trải giường trong gió biển là điều tuyệt vời vì gió chứa vi lượng i-ốt và muối ngấm vào trong sợi vải), tháo những chiếc cặp nhiều màu như những con chim mồi trên sợi dây, trẻ con đang nghịch cát, các bà mẹ gọi về, những chú mèo liếm lông đưa chân sau lên phía sau tai và với ba tiếng gõ vuốt nhẹ lên mặt kính khum khum của chiếc phong vĩ biểu, chiếc kim sập xuống.
Những giọt mưa đầu tiên không thể nhận thấy được. Người ta ngước nhìn lên cao, hoài nghi rằng họ đã nhận mọi thứ từ bầu trời màu ngọc trai, sáng chói kia, nơi ấy ánh sáng lấp lánh của Đại dương đang lung linh, những hạt mưa nhỏ luôn thuận lòng đưa tiễn nước triều lên, những ngọn triều nhỏ có hệ số 50, 60, trong nhịp triều hai ngày một lần. Người ta luôn chăm chú vào những đợt triều từng làm cho các thủy thủ phênixi vô cùng sợ hãi - biển cạn kiệt dưới vỏ tàu như trút tuột vào trong cái tác lớn do sụt đất, và rồi nước dồn ngược trở lại bằng những đợt sóng trào ngầu bột, dữ dội chiếm lấy mảnh đất vừa bị mất đi - nhưng những đợt sóng ấy là ngoại lệ, chỉ xảy ra hai lần trong một năm. Điều cơ bản là nước triều tràn lên, trút xuống trên mặt bùn là mỏm đá phủ đầy rêu từ lâu đã không làm cho ai để ý đến nữa. Trời và biển như vô tình dàn dựng với nhau về một bức tranh màu tro, những vỉa than angtraxit làm cho sóng và mây trời thêm nổi bật,chân trời không còn là đường phân chia giữa trời và biển, giữa sóng và mây, một thứ hòa tan chồng lấp, kết dính với nhau. Xứ sở này là của mưa: mưa có thể rỉ ra từ cây, cỏ, từ chất bi-tum rải đường xám xịt đồng điệu với đất trời hay nỗi buồn của con người. Nỗi buồn mang nặng đặc tính địa phương, dè xẻn mọi ấn tượng, thỉnh thoảng dâng trào trong một tiệc rượu thừa thãi. Mưa là yếu tố hão huyền của cái công trình vĩ đại được hoàn thiện dưới mắt chúng ta. Mưa là tiền định., Ngay những triệu chứng đầu tiên, chìa bàn tay ra, lúc đầu không cảm thấy gì cả. Rồi lật ngửa bàn tay, nơi làn da nhạy cảm nhất, nhưng để hứng cái gì: một giọt nước nhỏ bằng đầu chiếc kim, và rồi vô số hạt bụi thủy tinh làm cho bề mặt các đám mây sáng lên lấp lánh, bầu trời như sà gần xuống, ngay phía trên đầu ngón tay, như nhìn qua cái lỗ bé tí xíu của chiếc hộp cắm bút cũ kỹ Le Mont-Saint-Michel hay qua vòm nhà thờ lớn Lourdes[2]. Ngay từ khi giọt nước li ti phác thảo trên lòng bàn tay, người ta đã định liệu ngay tính nghiêm trọng của những điều bất trắc. Đôi khi sự việc chỉ dừng lại ở đó. Trời không mưa nữa. Thủy triều trào dâng đơn độc, kèm theo làn gió vuốt ve mượt như tơ không làm cho mái tóc rối bời mà ngược lại như được chải mượt mà, và không mang đến một tin tức đáng giá nào của Đại dương. Hoặc có khi chỉ làm một âm bản: Sargasse[3] vô can, Bermudes[4] bình yên. Vịnh Stream bao bọc bờ biển Bretagne, có dòng nước ấm chảy gian lận trong Đại Tây Dương, từ biển Ca-ri-bê đổ tới, nhờ đó mà có hoa mi-mô-da, cây trúc đào và cây mỏ hạc - thậm chí có thể dùng mẹo đưa vào bình khi mùa đông lạnh lẽo. Nếu không có vịnh Stream, thì mỗi mùa đông cửa sông sẽ bị đóng băng như ở cửa sông Saint-Lauren[5], vùng Nantes ngang với Montréal. Vì vậy tuyết ở đây chỉ có gọi là một màng mỏng và mười năm mới có một lần, tuyết vừa chớm đông trên mặt đất thì đã tan ngay. Tất nhiên, đó là không tính đến cái mùa đông giá lạnh nổi tiếng năm 1929, năm Pierre dấn thân đến Commercy, và sau đó là mùa đông 56 đã gây ra biết bao nạn nhân trong số những người không nơi trú ngụ, nhưng trẻ con vùng cửa sông lại được dịp tự hào trưng bày những tạo vật hình người bằng tuyết như từng đọc ở đâu đấy mà tới bây giờ mới được xác nhận, những viên than nhỏ làm mắt, củ cà rốt làm mũi, mũ, tẩu thuốc, khăn phu-la, bổ sung cho bộ sưu tập đồ chơi của chúng. Mùa khô năm 76 cũng vậy, vùng Bretagne không một giọt mưa, đồng cỏ héo khô, hạt bắp nhỏ tí bằng hạt đậu lu-pin, lũ bò sữa gầy trơ xương lõ lẹo như những con chó săn thỏ. Sự tổn thất do thời tiết, không có cách giải thích nào hơn là quy hết cho những vệt đen bí hiểm trên mặt trời, cho sự phun trào của núi lửa ở Nam bán cầu, hoặc do trái đất đung đưa trên trục quay của nó. Người ta nhớ lại chính xác rằng đó là do không có chuẩn mực. Chuẩn mực ấy chính là mưa.
Hễ trời mưa là thủy triều dâng, thực ra, không thể nói hoàn toàn là mưa được. Đó là một đám bụi nước, những nốt nhạc nhỏ trầm tư sâu lắng, một lời bày tỏ lòng kính phục nỗi ưu tư. Có một tấm lòng nhân từ độ lượng và với sự tha thứ ấy, lòng độ lượng vuốt ve khuôn mặt, xóa bớt nếp nhăn vầng trán, làm lắng dịu những suy nghĩ băn khoăn. Mưa rơi thật kín đáo không nghe, không thấy, cửa kính không tỏ nổi dấu ấn của nó, mặt đất thu trọn vào lòng không chút vương vãi.
Trái lại, nỗi buồn lại là thứ độc tố của tạm hồn, độc tố ấy là những cơn mưa phùn dai dẳng, vòm trời thấp tịt xuống - sà sát thầm thì thân thiện với các tháp chuông, đài nước và những cột trụ cổng đền, hòa nhập trên đỉnh những ngọn cây cao. Đừng nên nhạo báng dân tộc Celtes[6] cổ xưa vì đã sợ hãi trời sụp xuống: cái bầu trời siêu hình được sáng tạo ra dưới vòm trời xanh cao. Đó chính là lớp mây đen màu đá nằm ngủ vô duyên trên miền đất này, sắp đặt nơi cố thủ mong manh giữa mây và đất, tăm tối, chứa nặng nước. Đó không phải là mưa mà là một sự lưu chiếm không gian có ý thức, một bức màn đậm đặc, dịch chuyển chậm rãi, dai dẳng mà chỉ cần một luồng gió nhẹ đủ đẩy chúng vào nơi trú ngụ, tại đó, bụi đất giữ lại màu sắc sáng trong của nó, thứ mưa phùn này là của những tháng tới, tháng mười một và mười hai, làm cho toàn bộ cảnh vật thấm nước, cán phẳng đến mét vuông hy vọng cuối cùng, cái ấn tượng rằng thế giới được hoàn thiện một cách lặng lẽ, và sa lầy ở đấy. Nơi này, những vũng nước mưa bão không thể đọng lại được mà bị hấp thụ ngay từ những tia nắng mặt trời đầu tiên, cũng không có những cơn cuồng lũ buộc phải sơ tán khỏi thảm họa, mà nạn nhân chỉ nhờ vào sự cứu giúp của những chiếc thuyền đậu sẵn ở tầng trệt ngôi nhà của họ (ruộng đồng bên dòng sông Loire thường xuyên bị ngập lụt, nhưng phải chấp nhận con sông này, nó có quyền thay hình đổi dạng.) Cảnh quan dường như vẫn nguyên vẹn, chỉ có đồng vằng xanh hơn, một màu xanh yến mạch, thành phố xám xịt hơn, một màu xám chì. Tinh thần đồng lầy đã bao bọc tất cả. Những đồng cỏ, bãi cỏ xanh, dưới thảm xanh rờn ấy đầy bọt biển. Những đôi giàu mạo hiểm bước tới đây, đế giày hẳn sẽ to bè vì dính đầy bùn đất. THật mạo hiểm khi lảng vảng gần bên hố và hồ nước - phải thật thận trọng nếu không sẽ bị trượt - luồn qua một bụi cây - chẳng khác nào đứng dưới vòi sen trong bồn tắm - đứng tựa lưng vào cây - vỏ cây nhớt nhát - người ta chơi trò Héc-quyn[7]. Những chiếc áo khoác bằng dạ màu nước biển nặng trịch phơi từ đêm trước vẫn không khô. Bánh mì mềm nhũn, bức tường như phình ra do ẩm ướt, một số đại lục hiện hình trên bức thảm. Không biết những tia nước nhỏ lí tí có thể ngấm vào từ đâu được. Bộ tản nhiệt nóng lên một cách vô ích, nước vẫn luồn vào qua lỗ nhỏ của chiếc kim như dưới cổng khải hoàn môn. Cơ thể mỏi nhừ, các bộ phận kêu răng rắc, xương cốt khơi gợi lại những cơn đau cũ. Những ngày dài âm u, không cả hứa hẹn một ngày sáng sủa. Đèn đốt từ sáng đến tối. Người ta phải vén ri-đô những mười lần để xác định là mưa vẫn rơi rả rích, tí tách, chẳng hề có dấu hiệu ngớt đi chút nào. Những điều mong manh nhất có thể bị ngộ nhận: đã tưởng thoát khỏi những tháng tối mò, thì lại rơi vào những tháng mưa rào dữ dội.
Mưa phùn không có được nhịp điệu phong phú như mưa rào. Những giọt mưa rào nảy lên sáng loáng trên thanh kẽm cửa sổ, chảy xẻ rãnh, đùa giỡn trên máng nước, nhảy nhót, vỗ rào rào trên mái nhà, bằng tài năng của nghệ sĩ hòa âm,với cái tai thính nhạy, có thể phân biệt được vật liệu lợp nhà: Đá đen, thứ vật liệu lợp nhà thông dụng ở mạn bắc sông Loire; ngói, gỗ tôn mái nhà kho, kính cửa tò vò trên mái nhà. Sau trận mưa bất chợt, kết thúc một cơn bão, vòm trời thủy ngân nhấp nháy phía trên thành phố. Dưới ánh sáng bạc chói chang ấy, những vùng lân cận nổi bật lên như được nhà điêu khắc chạm trổ: những túm tua bằng đá gắn trên những mũi tên của Thánh Nicolas, lá cây được tỉa tót, những chiếc lông cánh của loài chim bay cao, nhưng đường lượn của mái nhà, những đàn ăng-ten. Thị lực xác định được một biển hiệu cách xa trăm mét - vì vậy, người ta tránh được những điều rắc rối. Vỉa hè rạng rỡ màu xanh như bụng cá xác-đin bán nơi góc phố khi vào mùa. Những chiếc xe buýt chạy rúc còi đinh tai, làm cuộn lên dưới lốp xe những vệt khói trắng yếu ớt. Những tủ kính được lau sạch rực sáng. Không khí mát dịu có mùi thơm bạc hà. Thành phố như một kỷ vật được lưu giữ trong ánh sáng rực rỡ của một quả chuông pha lê.
Những cơn mưa dữ dội dường như muốn thay thế mọi thứ. Nếu như cái lạnh đã thiết lập được vị trí, thì mưa phải đợi đến kỳ trăng sau, một cơn gió lốc quét sạch tất cả cái bẩn thỉu của mùa đông. Thỉnh thoảng, vì một thoáng phấn khích, một thân cây bị bật gốc; cây khác, cụt ngọn; chiếc xe, lật ngược; ống khói bay biến, một số chong chóng chỉ chiều gió biến đi đâu mất - thật khó có thể xác định được sức mạnh gớm ghê đến vậy: không thể tránh khỏi vụng về và có lẽ không thể nói được về những trận gió xoáy, đôi khi chiếc phong kế bị kẹt vì gặp phải trận cuồng phong dữ dội hoặc con đê phải lùi bước trước sự giận dữ của những cơn triều cường.
Mưa kèm theo gió tây bắc rất lạnh, bị kích thích, thúc ép bởi những trận gió khủng khiếp từ Đại Tây Dương dồn tới, mưa tát xiên vào mặt. Những hạt mưa quất mạnh như những mũi tên nước xuyên qua người, quật ngã những ai lỡ đường. Gò má, mũi, bàn tay đỏ thẫm màu son. Thị hiếu đã tiến triển từ làn da xanh nhạt lãng mạn đến làn da rám nắng của miền nhiệt đới. Nhưng nước da mọng đỏ từng mảng trên mặt không bao giờ là một tiêu chí quyến rũ - ngay cả người da đỏ châu Mỹ luôn muốn có màu da đồng đỏ đẹp. Nếu những trận mưa mùa đông ấy chẳng sinh lợi được gì, thì ít ra chúng cũng đem lại chút ít thư giãn sau khi đã làm các cơ bắp mỏi rã rời. Sự thư giãn ấy là kết quả của một cố gắng. Về nhà, người khô ráo, ních quần áo, kệ bên ngoài gió bão gầm rít, lãng quật. Điều may mắn nhỏ nhoi ấy không phải ai cũng có được: còn những người vô gia cư, nghèo khó, bần cùng. Sự nghèo túng không lợi dụng cái gì hết. Diogène[8] coi thường mọi quy tắc đạo đức xã hội nên đã sinh ra sự huyễn tưởng của nhà hiền triết - nghèo túng. Đây còn là câu chuyện “thiên thời địa lợi”. Có thể đòi hỏi Alexandre[9], với tài năng vĩ đại đừng ngăn cản ánh sáng mặt trời, song những đám mây thì sao. Le Cynique không thể láu lỉnh được mãi trong cái thùng tô nô của ông ta: bị nhúng ướt, đóng băng lạnh giá, không một tua nắng nhỏ nhoi sưởi ấm những mẩu xương già nua của lão. Chắc trong bài diễn thuyết của mình, ông ấy phải yêu sách ngay tức thì việc sáng lập ra Đội quân cứu thế. Đối với cư dân ở đây, những trận mưa mùa đông là nỗi khổ đau dai dẳng, nó không hề có dáng vẻ bông lơn như những trận mưa rào mùa xuân. Khi các vị đã quan sát kỹ càng, thận trọng bầu trời trước khi ra khỏi nhà, nó có vẻ quang đãng, rải rác những đám mây trắng, vội vã trôi nhanh qua miền này như có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc xâm lấn của những trận mưa rào tàn bạo trên vùng biên giới phía Đông. Không ngần ngại, các vị có thể để ô ở nhà và mang theo sọt giấy, bình đựng xà phòng. Sau những ngày tháng tối tăm, là khát khao mùa xuân cháy bỏng đến nỗi người ta chống đối kịch liệt sự kéo dài của mùa đông. Thực tế, sự dịu êm đầu tiên là những luồng gió ấm, thoảng hương, lan tỏa trong không khí còn vấn vương mùa đông của những ngày dài thêm ra. Người ta ghi nhớ một số điểm mốc chính xác: giờ tan tầm, giờ đóng cửa hàng, giờ tàu, giờ lên đèn đường. Mọi người quá cuốn hút với những thông tin tốt lành, sung sướng nhận thấy những ngày đẹp trời đang tới gần, đến nỗi chẳng mấy ai để ý ở ngay trên đầu họ, trong vòng 3 phút thôi, bầu trời lại bị che phủ và tệ hại hơn, không một dấu hiệu báo trước, mưa lại đến. Trời mưa dữ dội đến buồn cười, trận hồng thủy đến như trẻ con với âm thanh gấp gáp, vui vẻ. Mưa như làn vũ điệu ga-lốp thử nghiệm, như tràng pháo hoa tung lên giữa ban ngày, những viên đá lát đường vẫn khô nguyên. Người qua đường chạy vào trú dưới mái tam quan hoặc dưới mái che của một tửu quán chen chúc kín đầy khuôn cửa. Không ai muốn một trận mưa kiểu này, bằng chứng là tóc tai nước chảy nhỏ giọt, trông đến buồn cười. Đây không phải mưa mà là một phần của trò chơi ú tim, một trò mèo vờn chuột. Thế rồi, thời tiết lấy lại được hơi thở của nó và bầu trời tìm lại được sắc màu phơn phớt xanh. Chỉ cần một chút mây tạnh trời quang thôi là các vị sẽ tha thứ cho tất cả.
❀ ❀ ❀
[1] Saint-Nazaire: Vùng thuộc cửa sông Loire nước Pháp, là cảng ngoài của Nantes và là một trung tâm đóng tàu thủy và thủy phi cơ của Pháp.
[2] Lourdes: thủ phủ vùng thượng Pyrénées, quận Arclès-Gazot. Một địa điểm hành hương quan trọng dâng hiến Đức Mẹ Đồng trinh. Vùng này có hai nhà thờ lớn được xây vào năm 1876 và 1958.
[3] Sargasse: Thuộc một vùng rộng lớn trên biển Bắc Đại Tây Dương, có rất nhiều rau câu. Sargasse cũn đồng thời là tên một loại rau câu vùng này.
[4] Bermudes: Là đảo thuộc Anh trên biển Đại Tây Dương, vùng đông bắc đảo Antilles.
[5] Saint-Lauren: Tên một con sông lớn vùng Bắc Mỹ, dài 3800km, chảy từ Hồ Thượng cung caố nước cho vùng Đông Nam Canada, bao quanh Montréal và Québec rồi đổ ra Đại Tây Dương, tạo nên một cửa sông tuyệt đẹp. Tàu thuyền hoạt động 8 tháng trong năm, những tháng còn lại bị đóng băng.
[6] Celtes: một nhóm người nói ngôn ngữ Ấn – Âu, có nguồn gốc ở vùng Tây Nam nước Đức, từ đây họ bị xua đuổi khắp nơi để cuối cùng bị người La Mã khuất phục. Hiện nay, tại miền Galles thuộc Anh, và Ailen, người Celtes và ngôn ngữ của họ được bảo tồn tốt nhất.
[7] Một trò chơi trong các chợ phiên, người làm trò phô diễn sức khỏe bằng những cành cây lớn trụi lá, song thực ra cành cây đã mục.
[8] Diogène Le Cynique: Nhà triết học Hy Lạp, sinh ở Sinope (413-327 trước công nguyên), người coi thường sự giàu sang và những tập tục xã hội. Ông luôn sống trong một chiếc thùng tô nô. Ông côn khai tuyên bố coi thường sâu sắc bản tính người, đến mức mà ngay giữa buổi trưa ông đốt đèn trên đường phố Athènes, nói là “ta đi tìm một con người”.
[9] Alexandre La Grand: mất năm 323 trước công nguyên, là Hoàng đế của một quốc gia hùng mạnh, người sáng lập ra thành phố Alexandric Ai Cập, nơi có ngọn hải đăng nổi tiếng.