Một năm sau đến lượt Emile hy sinh. Chỉ một năm thôi mà tên của hai anh em cách nhau quá xa trên danh sách những nạn nhân chiến tranh dài bất tận nơi tượng đài liệt sỹ: Joseph ở cột những nạn nhân năm 1916, Emile trong cột năm 17. Tên của họ cách xa nhau đến mức họ là anh em ruột thịt mà như chỉ là quan hệ họ hàng, chỉ ai tò mò chú ý tới sự đồng âm mới nhận thấy. Có lẽ nếu đặt cạnh nhau, người ta sẽ nghĩ họ đã cùng hy sinh trên một mặt trận, cùng ngã xuống bên cạnh nhau, cùng bị một quả tạc đạn quét đi. Với cái chết thứ hai này, bà Marie không còn nước mắt để mà khóc nữa, bà chia sẻ nỗi đau với Mathilde, người vợ góa trẻ, mẹ của bé Rémi. Cha Rémi chỉ biết mặt con trong lần nghỉ phép ngắn ngủi nhân dịp bé ra đời. Lúc ấy là đêm, với bộ quân phục, Emile bước vào phòng khẽ khàng lại gần chiếc nôi cẩn thận nghiêng mình để không trút xuống cái vật nhỏ bé đang thiu thiu ngủ kia những xáo động của chiến tranh - vui sướng ngỡ ngàng trước đôi bàn tay nhỏ xíu nắm chặt của bé trong những giấc mơ trong trắng, trước mái tóc thiên thần, nét viền tinh tế của đôi mắt đang say ngủ, các đường ven trong suốt, hơi thở của bé mát dịu không thể diễn tả được lướt nhẹ trên bàn tay đầy thương tích của Emile như muốn nói khẽ hãy im lặng. Vén tấm vải Mu-xơ-lin lên, Mathilde giới thiệu tác phẩm với người đàn ông vĩ đại của cô. Bởi cô thấy anh vĩ đại trong bộ đồ lính buồn tẻ ám mùi hôi, bụi bặm, toát ra nỗi bất hạnh của nghề lính chiến. Cô đọc được trong những nét cứng cỏi, trong những nếp nhăn mới xuất hiện trên khuôn mặt quanh miệng và trên vầng trán của anh sự ác liệt mà anh phải chịu đựng nơi chiến trường, sự dũng cảm anh khơi dậy từ chính lòng mình. Cô không dám nói với anh về những thiếu thốn mọi bề của hậu phương, về những nhiệm vụ gay go vốn thuộc về đàn ông mà cô phải tự quyết định một mình, về sự chán nản của cô, về cái lễ noel vô vị không có anh bên cạnh, về cái máng ăn gia súc bé tẹo[1] bất chấp tất cả vẫn luôn đặt trên chiếc tủ com-mốt cùng với giấy bọc giả làm ngọn núi và biến cái góc Palestine này thành một thứ cảnh quan như ở Magdala[2] Cô cảm thấy đầy biết ơn và thương xót. Một tay quàng qua cổ anh, cô thú nhận sự thiếu thốn tình yêu đến dữ dội. Anh chia sẻ với cô nỗi cô quạnh, tay đưa nhẹ nôi, ngây ngất với mùi nước hoa dịu dàng tỏa ra từ người đàn bà có điểm chút phấn son. Cô đã chờ đợi đằng đẵng đến mức không còn dám chắc người đàn ông đang đứng trước mặt là người mà cô đã mong ngóng ngày trở về một cách tuyệt vọng. Bây giờ ngắm nhìn anh sát gần, cô phân vân không biết khổ người anh có vừa với chiếc áo len cô đan. Khi đan chiếc áo này cô vòng hai cánh tay lại, ôm ghì tưởng tượng, ước lượng theo trí nhớ tầm vóc người chồng, nhớ lại vị trí cô vùi đầu vào. Bây giờ cô áp trán vào đôi vài này còn anh lần lượt tháo từng chiếc kẹp tóc, khéo léo như người bắt chấy, đặt trên chiếc bàn ngủ, để sáng hôm sau cô lấy lại cặp tóc. Anh làm việc này sau khi đã chuyền đứa bé cho cô vì nó thức dậy và khóc. Nó khóc tới lúc được đặt trên tay người mẹ và bắt đầu bú chùn chụt mới thôi. Những giọt sữa chảy ra từ miệng nó. Sau khi bé đã bú thỏa thuê, người cha bế bổng nó lên ở đầu cánh tay trong ánh bình minh xanh mờ, mà nếu bé tè thì cái dòng cảm hứng màu trắng sẽ làm bẩn bộ quân phục dạ màu xanh. Nhưng Emile chẳng hề bận lòng đến chuyện ấy. Từ nay anh cảm thấy có một sức mạnh diệu kỳ để vượt thoát mọi thương tích trong các trận đánh sắp tới, vững tâm như một nghệ sỹ múa vượt qua làn mưa đạn, vì được bao bọc kỷ niệm về đứa con hoan hỉ, sinh vào ngày 2 tháng 12, ngày kỷ niệm Austerlitz[3] và Lễ Đăng quang, một dấu hiệu không thật rõ là gì song không bao giờ Rémi quên nhắc mỗi khi tới ngày sinh nhật.
Đám tang Emile đã không có Emile. Trong nhiều năm Mathilde thầm lặng trước ngôi mộ rỗng không. Dẫu sao thì chồng của cô cũng đã chết. Thi thể anh đã được nhận dạng chính xác. Về sau cuộc chiến quá khủng khiếp tới mức chẳng chừa các y tá, bác sỹ nữa. Công việc chuẩn bị cho bãi pháo hạng nặng trước một cuộc tấn công quy mô đôi khi kéo dài 8 ngày, mà trong 8 ngày đó mục tiêu cần tiêu diệt chịu một lượng đạn pháo dội xuống đủ để xóa sổ một quốc gia khỏi bản đồ. Những kẻ bất hạnh, bị đất vùi lấp đến mức không thể cựa quậy, tai ù điếc vì tiếng ồn inh ỏi, không thể với tay lấy bình nước, phải nhịn ăn hằng mấy ngày trước khi đoàn hậu cần tới nơi (những vị anh hùng không vũ khí tiến lên theo các đường hầm khênh một cái nồi to tướng để khỏi sóng thức ăn ra ngoài cùng những túi dết đầy bánh mỳ; ngủ chập chờn trong giao thông hào, tin chắc thế giới đến ngày tận thế cũng chỉ còn là cái lò lửa khủng khiếp. Những xác chết bị bỏ rơi lún sâu dần vào trong đất sét, trượt vào lòng hố bom mìn, rồi chẳng mấy chốc bị chôn vùi dưới lớp đất. Họ loạng choạng trong đợt xung phong, luôn vấp phải cánh tay như cố vươn ra khỏi đất, hay bàn chân, và ngã nhào đè lên xác chết. Họ lẩm bẩm chửi thề - chửi mình và chửi cả người chết. Những cái ngáng chân thâm hiểm của người chết như là một lời mời chào khốn kiếp. Nhưng nhờ những cú ngã ấy người ta mới tháo gỡ được những tấm thẻ quân nhân khỏi cổ người chết, cứu vãn cho bao người vô danh này khỏi một tương lai không được ai nhớ tới, đưa họ trở về trạng thái dân sự, bi kịch của người lính vô danh là đã đánh mất sự sống và tên tuổi cũng không ai hay. Chính vì vậy mà người ta đã thông báo cho vợ Emile là anh đã chết, thi thể được chôn vùi ở vùng Hauts-de-Meuse. Nhưng giả sử Emile đã để thất lạc tấm thẻ quân nhân của anh và một người khác đã nhặt được nó thì sao? hoặc giả đã đổi cho một đồng đội vì một dàn xếp bí mật nào đó hoặc để gây phức tạp cho viên hạ sỹ quan đần độn thì sao? Emile đã chết thật rồi sao?
Có những tù binh rất lâu mới trở về, đôi khi hàng năm sau khi chiến tranh kết thúc. Như vậy niềm hy vọng chưa phải đã tắt. Theo một vài nhân chứng, ít nhiều đã có những người làm lại cuộc đời ở mặt trận phía Đông. Một số người vốn chỉ làm công cho các phú ông tìm thấy trong đôi mắt xanh của phụ nữ Ba Lan nào đó một vài ác-păng[4] đất mà họ không có được ở quê nhà. Những người không có của hồi môn coi Tổ quốc không đáng phải mang ơn hơn những người phụ nữ cô đơn đang tìm kiếm những tay đàn ông quả cảm. Rồi những câu chuyện kể về những người lính đói khát, đi lang thang giữa những vùng hoang lạnh lẽo, và được các bà mối lái rình đón nhận về. Một miếng bánh sandwich một chút hơi nóng đôi khi cũng đủ níu giữ những con người khốn khổ này ở lại. Nhưng chẳng nhẽ Emile lại phải đi tìm kiếm ở nước khác những gì anh đã có ở quê nhà?
Niềm hy vọng rồ dại về việc chồng có thể trở về cứ héo mòn theo năm tháng, Mathilde đã có lúc tìm kiếm niềm an ủi trong sự cứu rỗi của tôn giáo, tất nhiên không như bà chị chồng Marie, mà theo cách của riêng cô, có tính tạm thời hơn, có nghĩa là, như lời đồn đại, năng đi lại với một vị thầy tu rất quyến rũ. Tuy nhiên, sẽ là quá đáng nếu tưởng tượng ra rằng họ đã lén lút hôn nhau. Nhiều nhất thì họ cũng chỉ mới là thấy thích thú khi chuyện trò với nhau, cùng thêu dệt về đề tài chung xung quanh nỗi cô quạnh của họ - những cuộc tán gẫu thắm thiết cũng vừa đủ cho hai người như mối tình câm lặng. Suy cho cùng Chúa Jésus cũng là một chàng đẹp trai: Chính các bà thách thức tòa án Do Thái và luật lệ La Mã, chính các bà là những người đầu tiên xuống mồ, và để đền bù sự chung thủy này, các bà được hưởng một điều mới chưa từng có: sự Phục sinh. Thánh Paul[5] đã viết ra những điều khá mỹ miều được mọi người cảm phục, nhưng khi người đến Ephense[6] hoặc Corinthe[7], thì không còn một ai muốn nghe cái anh chàng lùn tịt nói lắp này nữa. Vị thày tu đã nhận được từ thượng đế một khuôn mặt thần thánh sử dụng vào việc lôi kéo những con chiên[8] lạc bầy trở về đàn. Là con ong thợ ngay từ những giờ đầu tiên, bà Marie nuôi dưỡng cho những con chiên này một tính cách dữ tợn hoàn toàn theo giáo phái Gia-cô-banh[9] vì nó mà những cây thuốc lá cảnh của Mathilde phải chịu khốn chịu khổ.
Phải mất 10 năm lá thư từ Commercy mới tới tay chúng tôi. Đối với Mathilde, nó đánh dấu sự kết thúc tuổi xuân, đánh dấu cái thời điểm từ bỏ ý chí rằng từ này, nếu vẫn còn mơ mộng thì cấm chỉ không được tưởng tượng ra rằng những điều mộng mơ một ngày nào đó sẽ thành hiện thực. Ngay sau bức thư chia buồn, mọi người hiểu rằng điều hy vọng chẳng bao giờ đến cả, rằng không có điều kỳ diệu, chẳng có chuyện người phụ nữ Ba Lan với đôi mắt to nắm tay chàng trai người Pháp bé nhỏ lịch thiệp, cũng không có chứng hay quên, mà rằng Emile đã chết. Đơn giản là trong thư người đồng đội của anh thông báo anh được mai táng sơ sài dưới gốc cây bạch đàn và anh ta vẫn có thể tìm lại cây này nếu gia đình muốn đưa xác Emile về - điều này, dường như là ước muốn của người chết và lý do chôn cất lén lút là để tránh cho Emile khỏi bị chôn tập thể hoặc bị thối rữa ngay nơi chiến trường. Những dòng chữ nhòe đi dưới mắt Mathilde, kèm theo cái chớp mi là dòng nước mắt trào ra tuôn rơi xuống lá thư. Bây giờ cô khóc không phải vì cái tin Emile chết nay được xác nhận rõ ràng - cô đã đón nhận cái tin ấy cách đây 12 năm - mà vì nó chấm dứt sự đợi chờ, khắc khoải của cô, mọi hy vọng đã khép lại. Cô nhẩm tính niềm hạnh phúc có được trong thời xuân sắc bị chôn vùi, và bảng tổng kết quá nghèo nàn, quá cỏn con: cô đã chịu biết bao khổ ải nhọc nhằn để được hưởng quá ít lợi lộc.
❀ ❀ ❀
[1] Crèche: Theo kinh thánh, Chúa Jésus bị đẻ rơi trên máng cỏ gia súc ở Béthléem, của Palestine. Ngày nay những người theo đạo thiên chúa và Nhà thờ thường diễn lại cảnh Chúa Jésus sinh ra trên máng cỏ trong dịp Noel.
[2] Magdala: một thành phố cổ ở Palestine, bên bờ hồ Tibériade.
[3] Austerlitz: Thành phố của Tiệp Khắc (cũ). Nơi Napoléon đã đánh bại liên quân Áo - Nga vào ngày 2/12/1805.
[4] Arpent: đơn vị đo cũ bằng khoảng 20 đến 50 ay.
[5] Thánh Paul sinh tại Tarse khoảng giữa 5 và 15 sau công nguyên. Là người Do Thái sùng đạo mãnh liệt, ông bị một sức mạnh siêu nhiên vùi chôn trên đường tới Damas và trở thành đồ đệ của Chúa Christ thành thử đôi lúc người ta coi ông như là người sáng lập thứ hai của đạo cơ đốc.
[6] Ephese: Thành phố của Ionie nguyên là một quốc gia nhỏ ở châu Á, trên bờ biển Egéc. Biển này là một phần của Địa Trung Hải, nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Là một trung tâm tài chính và thương mại lớn ngay từ thế kỷ VI trước công nguyên. Có đền Artémis là kỳ quan thứ 7 của thế giới.
[7] Corinthe: Một trong những thành phố giàu có nhất của Hy Lạp cổ đại.
[8] Brébis: còn có nghĩa là những con cừu cái.
[9] Jocobin: Giáo phái Gia-cô-banh do thánh Dominique sáng lập tại Toulouse (Pháp) năm 1215 nhằm chống lại dị giáo Anbi ở Languedoc. Ngày lễ vào mùng 4 tháng 8.