Tan hoang và đổ nát. Khi còn sống, không bao giờ cha chịu để cánh cửa bị phá vỡ. Người theo dõi sát sao, không cho phép một lỗ hổng tồn tại, một bức tranh bị tróc, một mái nhà bị dột, một ống nước bị tắc. Người ta đưa cho cha bể non bộ thành Venise, ông cứu nước cộng hòa khỏi cảnh ngập lụt bằng việc gắn xi măng mặt nước, bọc lại formica, làm khô các kênh rạch, tạo ra những chiếc thuyền Gôn-dôn trên đường ray rồi Venise được cứu thoát. Đối với mảnh vườn, cho có một dự án thế kỷ với những núi đá, thác nước, những hốc tường đầy hoa. Bà cô đã lo lắng về chỗ mà cha dành cho những pho tượng của bà. Chứng kiến sự mê say này là nhóm động vật tỏa tia trên chiếc lá và vài viên đá hoa cương nhặt từ vùng nội Bretagne, chất đống sau cốp xe sát bức tường trong cùng, nhanh chóng bị khỏa lấp dưới đám cỏ.
Những công việc lao khổ cật lực này che lấp đỉnh cao tinh tế công việc phục chế của cha: sửa chửa búp bê cho các cô con gái của cha, chắc chắn rồi, nhưng khi tiếng tăm của người lan truyền,thì cả cho các bé gái trong vùng nữa, bọn trẻ tràn trề hy vọng mang đến cho cha một con búp bê chột mắt hoặc cụt tay. Cha chỉnh lại những bộ phận bị mất. Trong xưởng sửa chữa, giữa những hộp định. Cha thu thập các bộ phận lấy ra từ những con búp bê hồng, cũ kỹ để bố sung cho những con búp bê đui què – nào mắt, nào đầu, nào tay, nào chân, thật chẳng khác nào một cuộc triển làm các vật tạ ơn. Đôi khi các búp bê ra về với một mắt khác màu, một chân ngắn hơn hoặc hồng hơn hay mập hơn cái kia nhưng các cô bé hình như chẳng nhận thấy có sự khác biệt.
Được xây dựng từ thời ông nội, căn nhà để xe nằm ở cuối vườn ngăn cách với đường phố bằng một cánh cửa sắt. cánh cửa thể hiện rõ sự tàn bạo vào thời ông nội. Luận chứng của Eiffel[1] và thành công của Wendel[2] chắc chắn đã được ông cân nhắc lựa chọn. Ông sợ không theo kịp bước tiến của thời hiện đại - vì người ta đã thuyết phục ông rằng sắt bền hơn, rằng cái khung đó sẽ bảo vệ nhà ông tốt hơn với thời gian.
Không được bảo dưỡng - lẽ ra cánh cửa phải được cạo rỉ và sơn lại ba năm một lần -, rỉ dễ dàng ăn đến miếng sắt cuối cùng. Nhũng đảo san hô vàng nhuốm màu đất son lúc đầu tiên nhô lên xung quanh những chiếc đinh tán rồi lan dần ra tạo thành những quá đồi rồi những lục dịa làm hư hỏng mặt hàng màu xanh của cánh cửa như biển san hô. Cuối cùng, chỉ một vài vệt sơn cặn là còn gợi nhớ lại quá khứ của thành Pompéi[3]. Chỉ ấn nhẹ ngón tay là chúng tôi có thể đục lỗ qua tấm tôn. Những tấm kim loại bị ô xy hóa, ăn mòn, tróc vảy như vỏ cây tiêu huyền. Trước khi được thay, cánh cửa nguy hiểm đến mức chúng tôi được lệnh không được tới gần. Ngoài mối đe dọa của bệnh uốn ván vì một phoi sắt đâm, chúng tôi có thể bị chết bẹp dưới những tấm sắt nặng hoặc bị lưỡi dao lam nằm giữa mối hàn đâm thủng. Nhờ những kiện hàng to tướng quá cảnh qua mảnh vườn bên cạnh của chủ Rèmi, nên những con chim én có cơ hội làm tô dưới những chiếc dầm kèo ở nhà để xe. Không bị làm phiền, chúng lượn vòng trong cái nhà kho bỏ hoang, hót lích chích.
Chiếc cửa sắt sử dụng rất khó, được gấp lại như tấm bình phong và để đóng được cửa, tốt nhất phải có hai người, nếu không thì phải là người to lớn như người vừa từ giã chúng tôi. Muốn đóng cổng thì khi kéo những cánh của về phía mình,phải khớp những cái then gắn chặt chúng vào đất và trần nhà. Những cánh tay rất mỏi vì phải giữ những tấm kim loại cao đến hai mét rưỡi, máu từ bàn tay đưa lên cháy ngược trở lại và thường thường, chúng tôi phải dán mắt vào những lổ đục trên chiếc xà của to tướng nên rỉ sắt rơi vào mắt. Thế là chúng tôi cáu um buông tất cả để dụi mắt và khó hy vọng sẽ dựng lại được mấy cái tấm cửa sắt to tổ bố ấy. Công việc này sẽ rất bình thường khi cha đảm nhiệm với sức lực đáng gờm của những người lớn. Sau khi cha mất, nó đã dạy cho chúng tôi rằng từ rày cuộc sống sẽ đầy gian nan, trắc trở, để đương đầu với những gian nan ấy, chúng tôi cần có một tinh thần như tàu phá băng, rắn rỏi và quả quyết mà hiện giờ chưa có, chỉ biết khóc nhè trong vai Robinson buồn rầu bỏ tàu lên hoang đảo.
Cái cửa gổ nhà xe ở góc vườn sẽ tiêu tan giống như mũi tàu tấp vào bờ biển đầy tảo lục từ từ mục ruỗng: kết quả hợp tác của những trận mưa vùng Atlantique và những cú ném bóng va mạnh lên nó, làm rung chuyển những mảnh ván lát cũ kỷ. Đầu tiên có hàng loạt tiếng răng rắc, tiếp theo là những đường nứt đầu tiên xuất hiện, rồi đến một ngày, quả bóng xuyên thủng cánh cửa bay qua nhà xe đập mạnh vào tấm tôn. Năm tháng dần trôi, những tấm ván treo ngày càng ít đi trên nẹp sắt, chúng rơi ra và rút cục rơi xuống cỏ, yên nghỉ ở đó như một dải trang trí ít được chú ý ở đầu tàu Mikado.
Mấy năm sau chiến tranh, một chàng trai 20 tuổi đã giạt về quê hương không một xu dính túiAnh hầu như mất phương hướng đến mức người cha phải cho anh dùng cái nhà xe che chăn các bức họa, và những chiếc bút lông, thực hiện các bản vẽ và những công việc khác để kiếm sống. Lúc đính hôn, chàng trai đã họa tên cô vợ chưa cưới bằng thứ chữ màu vàng lên mặt trong cánh cửa mà anh thường dùng làm bảng màu khổng lồ để thử màu. Sau này, có thể vì một cuộc cãi cọ mà anh đã phủ đen dòng chữ ấy bằng một hình chữ nhật kín đáo, đến mức làm mọi người quên hẳn. Tới giờ, mưa thau đi rửa lại nhũng tấm ván cũ kỹ. Hàng chữ ấy lại tái hiện như con ngựa thành Troie gọi như tình yêu.
Bà cô không dung thứ sự bừa bãi. Làm khuynh gia bại sản này, nên bà bắt đầu ngăn chặn sự phá hoại của thời tiết bằng thứ nghị lực mà bà đã dùng khi lau khô những lít nước đã biến căn nhà nhỏ của bà thành một bể tắm do chỗ nối rảnh thoát nước ô bếp bị vỡ. Bà đã chiến đấu dũng cảm suốt một đêm chống lại con dê của lão Séguin[4], chỉ một mình với những mảnh vải lau nhà, chân dầm trong nước, bà tát nước, vắt khô, đổ hết sô nước này đến sô nước khác theo thói quen không muốn làm phiền ai, chỉ nhờ người khác sắp đặt tốt hơn mục “Tác hại của nước” vào giữa vị trí hộp phích của bàNgày hôm sau, mệt lử, bà báo trước với chúng tôi rằng chắc chắn bà sẽ cần tới Joseph ngay khi ông trở về. Bởi bà sợ đống giẻ vô tích sự của bà không chống cự được lâu. Được kéo đến để đánh giá tính nghiêm trọng của thảm họa, Joseph bày tỏ lòng khâm phục trước sự ngoan cường và tài tháo vát của bà cô, cái đã đặt bà vào bậc thiên thần. Nhưng những lần khác, và do nhiều lần hờn dỗi, Joseph lại châm chọc tính bảo thủ giữ lại mọi thứ của bà khi một vật ông đã vứt đi nay lại thấy trong kho ngôi nhà nhỏ hoặc khi bà khăng khăng dùng chất giả đá hoa cương dán lại hàng ngàn mảnh vỡ của bức tượng nhỏ Nữ Thánh Anne bị đổ khỏi bệ một cách thần bí (một ước nguyện không được chấp thuận, sự giận dữ của Chúa chăng?), một sự ghép hình theo không gian ba chiều mà bà đã làm mấy tối ròng để cho một kết quả không lấy gì mĩ mãn: một thánh Anne đầy sẹo đáng thương, do cách xếp, ghép quá tồi, hồ phòi ra từ tất cả các vết thương làm cho khuôn mặt thánh nhợt nhạt bên cạnh người con rễ thợ mộc của bà. Nhưng bà không từ bỏ một thứ gì chẳng hạn như một nắm thạch cao vụn, một phiên bản về mẹ của Chúa, người mà chú bé Jésus gọi là bà ngoại.
Bà Marie sẽ chi tiêu rộng rãi để phản đối việc đưa mảnh vườn tới chỗ tàn tệ. Với những lọ cồn, băng dính dán cầu may và những tiếng gọi Chúa, bà tự coi là có nghĩa vụ tiếp tục sự nghiệp của người cháu trai đã khuất. Bà làm việc này để tưởng nhớ tới người cháu đó.
Và rồi, bà cũng là người đầu tiên buông lơi. Qua Năm mới – như cái mốc cuối cùng, tự hứa là sẽ vượt qua, rồi bà thấy cần nghĩ ngơi đôi chút và từ sáng mùng 2, người ta không thấy bà với công việc ấy nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Eiffel (Guslave): Kỹ sự người Pháp, người thiết kế, sáng tạora nhiều công trình kiến trúc lớn ở Pháp, đặc biệt là tháp Eiffel ở Paris mang lên ông.
[2] Wendel (Ignace de): Nhà công nghiệp Pháp, ngưòi khởi đầungành luyện kim ở Creusol.
[3] Pompéi: thành phố cổ nổi tiếng vói màu son tường gần Naples, bị núi lữa phun trào chôn vùi vào năm 79.Thế kỷ 18, haiphần ba thành phố đã được tìm lại nhờ khai quật.
[4] La chèvre dc Mr. Séguin: truyện của Alphonse Daudet.