Từ bệnh viện trở về, ông ngoại trèo ngay lên gác thượng giấu mình. Từ ngày đến ở nhà chúng tôi trong khuôn khổ và sứ mệnh giúp đỡ nhân đạo, ông ngoại tự đặt cho mình hai chức trách, còn ngoài ra thì chẳng nên yêu cầu ông bất cứ việc gì. Hai chức trách này bao gồm đi mua bán vào buổi sáng (“ông Burgaud” nhanh chóng quen thuộc với những người bán hàng, họ khen ngợi ông tận tuỵ) và sắp xếp căn gác thượng – một sáng kiến của riêng ông là dành các buổi chiều để thực hiện. Xin hiểu cho rằng: đi mua bán là để được ra ngoài, và sắp xếp căn gác thượng là để có sự yên tĩnh. Ông cũng tự giao cho mình một sứ mệnh mà nó làm hỏng cả những ngày ông sống tại nhà chúng tôi và làm cho những ngày này nhanh tới chỗ kết thúc ấy là thay thế quyền lực của cha mẹ hoàn thiện việc giáo dục đứa cháu ngoại Zizou. Nó nhanh chóng trở thành người để ông bắt nạt. Rằng không được đặt khuỷu tay trên bàn ăn, không được nhai há mồm ra, không để thìa chạm lách cách vào đĩa, không được ngắt lời, không được nói leo, vân vân. Mẹ tôi bị giày vò trong nỗi đau nên chẳng hề nhận thấy gì cả. Chính chị Nine, với tuổi 14 kiêu kỳ, trước việc đứa em gái bị đày đoạ đã đứng ra lo toan mọi việc. Hôm bà Marie chết, chị cho mời ông bà lại và thông báo họ cần nghỉ ngơi ngay sau khi chôn cất bà cô Marie. Nếu mẹ lúc nào cũng nhận thấy sự có mặt của hai ông bà già bên cạnh mẹ, thì có lẽ mẹ sẽ phải hỏi lý do họ ra đi.
Đi mua bán, đối với ông ngoại, cũng là cách để giấu diếm mua bánh kẹo, thứ mà thầy thuốc khuyên ông không nên dùng từ lúc phát hiện trong máu ông thừa glucô, tuy chưa đến mức hàng ngày phải tiêm insuline – nên dùng những viên đường nhỏ Sacarin, loại ông chẳng hề thích, thay cho tám viên đường cho cốc cà phê. Suốt đời ông tự an ủi theo cách của những người sầu não như vậy. Trước kia, ông mua lẻ từng lạng kẹo một, không để ai phải mất công chọn lựa hộ. Ông có một địa chỉ mua kẹo ở thành phố Nantes. Đó là một cửa hàng cổ lỗ, tối om, một thứ dị bản thời thực dân có từ hồi thành phố còn trong cảnh nghèo nàn tối tăm, nằm ở phố Verdun, gần nhà thờ lớn. Cửa hiệu đầy ắp hàng hoá như một kho ở ngoài đảo xa. Trong cửa hiệu luôn sực nức mùi cà phê chưa đóng gói để lộn xộn bừa bãi, mùi chè, mùi mứt kẹo. Các liễn thuỷ tinh xếp thành hàng trên ba giá hàng ở lối ra vào. Quả là khó lựa chọn trong đống vô khối thứ ngon tuyệt những kẹo thơm beclingô, kẹo mật, kẹo bạc hà, kẹo gôm bổ phổi màu xanh, kẹo viên sôcôla, kẹo lạc, kẹo thơm violette, mứt quả thục quỳ, cam thảo, kẹo viên Vichy và những thứ khác nữa. Ông ngoại muốn tự phục vụ nên cắm ngập chiếc thìa đồng hình máng cân đối vào giữa những thứ tuyệt diệu này, song những người chủ cửa hiệu với làn da phủ đầy bột, lọt thỏm trong chiếc áo blu màu ghi rộng thùng thình, đã không để ông rảnh tay lựa chọn. Đó là nhiệm vụ của họ. Quả vậy, họ luôn phải canh chừng để ý. Họ xúc ước lượng vài gam gần sát với trọng lượng cần bán và chỉ cần thêm 1 hay 2 chiếc kẹo vào nữa là đạt được sự thăng bằng hoàn hảo của hai chiếc khay trên cái cân to kếch xù loại Roberval. Sự chính xác này là niềm vinh quang nghề nghiệp của họ. Sẽ là bất công nếu không để họ được thực hành cái tài nghệ mà họ đã phải trả giá bằng cả thế kỷ bán mứt kẹo. Từ nhà chúng tôi ông ngoại trở về Riancé mang theo những chiếc túi xách nhỏ màu trắng được cột kỹ lưỡng. Vừa về tới nhà, ông nhét ngay chúng vào cái hộp đựng đồ dự trữ riêng của ông. Chiếc hộp hình trụ có các hoạ tiết cổ lỗ được giấu phía trên tủ buýp phê, ngoài tầm với của bọn trẻ cháu ông. Chỗ giấu chẳng mảy may bí ẩn với ai cả, nhưng nó thuộc về nếp nhà. Ông chờ mọi người rời khỏi bếp để bốc lấy một nắm kẹo to đùng cho cả ngày làm đường dính bết cả vào túi và bà ngoại phát cáu. Người ta nghe thấy tiếng kéo ghế dựa trên lớp gạch ca-rô. Như vậy, ông đã thay đổi cách thức sắp đặt lại nhà cửa, song điều cốt yếu chính là ông muốn tập thể dục theo kiểu đứa trẻ-già nua, như là cách để làm thời gian ngừng lại.
Dù không thể hút thuốc trong xưởng may ngổn ngang vải vóc, cũng vì tay phải bận rộn với công việc, môi thì ngậm kéo, vì thế, để bù lại, ông ngậm mút kẹo. Người ta có thể nghe thấy tiếng róc rách khe khẽ của nước bọt, tiếng nuốt ực ở cổ họng trong khi khuôn mặt trắng ngà của ông vẫn tập trung chăm chú vào mũi kim. Lúc đó, ông mất đi cái vẻ hơi hống hách, ngạo mạn thường thấy khi môi ngậm điếu thuốc lá và đôi mắt ti hí hằn nếp nhăn của ông toát ra một cái gì đó như sự nhẫn nhục cam chịu.
Nhưng ở nhà chúng tôi, sau giấc ngủ trưa, ông lên gác hai. Từ đó thỉnh thoảng lại phát ra một tiếng động nặng chịch lúc nghe như tiếng kéo lê một đồ vật bằng gỗ, lúc như tiếng đất đá sụt lở, lúc nữa như tiếng thuỷ tinh vỡ, khiến mọi người khá lo ngại. Chúng tôi thường chỉ phí công vô ích khi giỏng tai lên thì lại chẳng thấy động tĩnh gì nữa, hình như ông đã ngà ngà ngủ. Bà ngoại tỏ ra lo âu: Nhưng mà ông ấy làm cái trò gì ở trên đó thế nhỉ? Bà sợ là ông đã khám phá ra trong các mớ hỗn độn rối tung rối mù của chúng tôi một hòn đảo khác ở Levant. Chúng tôi thèm đến chết muốn trèo lên gác thượng xem sao, song lại bị cấm, tuy không chính thức vì không có chỉ dụ nào bắt như vậy, nhưng một khi ông ngoại đã ở trong lãnh địa của mình thì không phải là người để người ta quấy rầy. Thái độ im lặng của ông, cách ông nhìn người khác mà không thèm thấy với con mắt nheo nheo sau làn khói thuốc lá, dựng lên quanh ông một vòm an toàn. Chỉ có thể vượt qua cái vòng an toàn ấy với sự đồng tình của ông. Ông xuống gác một giờ trước bữa ăn chiều, mạng nhện dính trên tóc, bụi bặm bám trên chiếc áo vét, ông cẩn thận chải chuốt quần áo, dùng hai móng tay là lại đường li trên ống quần (bà ngoại đã gợi ý ông mặc một bộ đồ khác thích hợp hơn mà chẳng ăn thua gì). Sau đó, ông yêu cầu chúng tôi rửa tay cùng với ông.
Một buổi tối, tại bàn ăn, bà ngoại đánh liều hỏi ông vài câu về những việc làm của ông trên gác thượng. Ông không trả lời trực tiếp bà ngoại mà lại quay ra hỏi mẹ có biết câu chuyện về vùng Commercy không. Mẹ ngẩn đầu lên, ngạc nhiên sao ông lại hỏi chuyện lẩn thẩn như vậy. Ông thôi không nài hỏi thêm nữa. Tuy nhiên, vào một ngày chủ nhật, người ta thấy ông nói gì đó với bà Mathilde qua hàng rào cây thăng ở ngoài vườn. Bà Mathilde xua tay như muốn xoá đi cái điều gì đó mà bà không còn muốn nghe nhắc tới nữa.
Thế rồi, bà Marie qua đời, hôm đó là ngày 19 tháng 3, ngày thánh Joseph[1], cứ như thể trong suốt chuyến công du vô ý thức của mình, mỗi ngày bà đều xé một tờ lịch để cập bến đúng vào ngày mà đối với bà nó gắn bó đứa cháu trai vừa mới chết với kỷ niệm xa xôi về người em trai của bà[2].
Hôm chôn cất bà Marie, trời nổi gió. Áo lễ khoác ngoài bị tốc lên cùng lúc với những chiếc váy của các bà. Bọn trẻ trong ban hát đồng ca xúm xít túm giữ lấy cái cán lá phướn cao chót vót có diềm hình giọt nước bạc óng ánh. Lá phướn xoắn vặn trong cơn gió lốc, cuốn lại, phồng lên, như sắp sửa bay khỏi cán. Người cầm cây thánh giá đi đầu đám tang, chúi mình trong gió bão trông giống như người lính cầm kích đi đầu đoàn quân, cây thánh giá bằng đồng chĩa ra phía trước. Cha xứ Bideau không còn có thể giữ được chiếc khăn lễ trên cánh tay, đành quấn nó xung quanh cổ như quấn chiếc khăn quàng. Chiếc khăn bay lất phất sau lưng cha lấp lánh váy vàng. Gió liên tục thổi lật các trang cuốn sách kinh của cha khiến cha không đọc kịp. Vì sợ trang giấy mỏng tang bị rách, cha gập sách lại và đọc ngẫu hứng những lời cầu nguyện. Những bài Thánh ca cha bắt nhịp rống lên bị cơn gió mạnh quăng quật trên đường phố Paris cuốn đi khiến mọi người không kịp hát đồng thanh. Vị tu sĩ phụ trách về nước thánh đã rảy cả xô nước quí lên chiếc áo lễ của cha. Thành ra khi tới nơi, đến lúc cần rảy nước phép, phải chia nhau số nước còn lại, và nhúng que rảy nước phép vào xô chỉ để làm vì. Gió gào rít quất vào đám tang dậm chân tại chỗ. Mọi người bước đi lầm lũi, đầu cúi gằm, hơi thở đứt quãng, nhắm mắt đưa chân theo người đi trước. Họ chỉ lo sao cho không để gió cuốn bay. Bà ngoại và mẹ đã bỏ mạng che mặt. Ngoại giữ chặt chiếc mũ trong tay, khá nhiều người khác phải chạy đuổi theo những chiếc mũ bê-rê hay chiếc khăn bị gió cuốn bay. Chiếc xe tang được con ngựa của ông Biloche kéo đi cứ chòng chành lắc lư, những bức trước đen ở xa bay phần phật, giống như bầy quạ bâu xung quanh xác chết. Tới khúc quanh gấp dẫn tới nghĩa địa, chiếc xe chỉ thiếu chút nữa đã lật nhào (đây là chuyến đưa tang cuối cùng của nó – sau đó, người ta dùng xe cứu thương đưa người chết). Anh con trai ông Biloche cho rằng nếu xe tiến thêm lên nữa sẽ đặt sự an toàn của người chết vào vòng nguy hiểm. Anh chọn trong đám người đưa tang ba người đàn ông khoẻ mạnh, để cùng nhau khiêng chiếc quan tài ra khỏi xe tang. Sau khi đưa mắt thoả thuận, họ nâng vụt chiếc quan tài lên vai dễ dàng tới mức phải ngạc nhiên. Sức nâng quá mạnh mà quan tài lại nhẹ tựa lông hồng khiến nó bật lên giống như cú nhảy của người tình nguyện trên chiếc thảm được căng ra trong ngày hội cứu hoả. Ngự trị trên lưng những người đàn ông, áp chặt vào má những người khuân vác, có lẽ thi thể bà lăn trong chiếc áo quan quá rộng, đến nỗi Đức Mẹ Marie Đồng trinh của chúng tôi đã vượt qua ngưỡng cửa nơi yên nghỉ cuối cùng như một nữ hoàng, gương mặt ửng hồng vì những người đàn ông hết sức tuấn tú đã tôn cái nữ tính e lệ của bà lên cao như vậy.
Từ nghĩa địa trở về, ông ngoại trèo lên căn gác thượng lần cuối cùng, lôi chiếc hộp đựng giầy ra, trở xuống, ông đưa cho mẹ tôi kèm theo vài lời giải thích. Mẹ nghe với vẻ rất chăm chú khúm núm và rồi không biết để chiếc hộp vào đâu, mẹ nhét vào góc gầm bàn, ở đó sẽ chẳng mấy chốc nó bị biến mất, ngập dưới đống giấy má. Đôi vợ chồng già xếp va li đồ đạc lên chiếc xe 2 CV. Cảnh tiễn đưa diễn ra rất chóng vánh ngay trên vỉa hè trước cửa hiệu (chòm râu ông ngoại thì nhọn và bà ngoại thì quá dịu dàng), cuộc chia tay diễn ra rất vụng về lúng túng, thể hiện rõ một cảm giác thất bại. Chiếc xe vừa mới khuất sau chỗ ngoặt là chúng tôi lập tức lao lên gác hai đánh giá bình phẩm những bố trí sắp đặt mới trong căn phòng.
Thực vậy, chúng tôi không còn nhận ra căn gác thượng được nữa. Nếu coi sự ngăn nắp chỉ là một biến dạng thuộc về thuật toán học chủ quan của sự lộn xộn, thì có thể nói rằng căn gác thượng được sắp đặt ngăn nắp theo ý ông ngoại, vẫn y như trước, song theo một trật tự lộn xộn, có nghĩa thay thế vào sự hỗn độn này bằng một sự hỗn độn khác, chỉ khác là sự hỗn độn sau không quen thuộc đối với chúng tôi. Trên giá được chất chồng theo thời gian những cặn bã quý giá thuộc nền văn minh, tạo thành một bản liệt kê địa tầng những thế hệ nối tiếp nhau cùng ý nghĩa sơ đẳng về sinh tồn của họ. Trong khi sắp đặt lại cái đống ngáo ộp này, ông ngoại đã đảo lộn rối mù thời gian ngày tháng, đã xáo trộn các quân bài in hình Pincevent[3] thân thuộc của chúng tôi. Trong cách chia bài mới này, mọi vạch mốc của chúng tôi đã biến mất. Cùng với những yếu tố như vậy, ông đã sáng tạo ra một bức tranh khác, một lịch sử khác. Từ nay sẽ phải quen với sự phân chia lại trí nhớ với bức tượng nhỏ hình người đàn ông bằng gốm xanh đặt trong chiếc lồng chim hoàng yến, với chuỗi tràng hạt đen đeo ở cổ chú gấu con cụt tay (vì nó mà chúng tôi biết được cha thiếu tài khâu vá nếu không có lẽ đã trả lại cánh tay cho nó). Từ nay sẽ phải quen với những bộ chân nến bằng đồng giữ chức năng kẹp 78 chiếc đĩa hát ở trên, quen với những cuốn tạp chí vứt bừa bãi trong chiếc nôi tết bằng cành liễu giò, phát triển thêm cái nghệ thuật bất di bất dịch về chế biến món thịt ra-gu trắng trong vòng 100 năm tới. Cũng phải quen với cái gương vỡ vụn trên sàn bụi bặm bám đầy phản chiếu những chiếc rui mè qua các mảnh vỡ, quen với đôi giầy mồ côi chặn một tập hoá đơn được đính vào nhau rất cẩn thận, chứng tỏ cho cả nghìn năm sau rằng chúng đã được thanh toán sòng phẳng, quen với tất cả những đồ vật tự tái hiện mà chẳng có lời giải thích: chiếc tẩu nhỏ bằng nhôm, viên đạn súng cối hình nón bằng đồng thau, cái mũ trung Hoa chết tiệt thủng lỗ chỗ như khay đãi vàng, cái đồ dùng hình ngoằn ngoèo như con rắn, chiếc hộp gỗ được chia thành các ô đều nhau. Sự đảo lộn làm lộ ra không chỉ những thứ trước đây bị chôn vùi, bị quên lãng, mà rõ ràng là có cả những cái mới lạ chưa từng thấy.
Ông ngoại cũng đã moi ra được cả một lô xích xông các ảnh chân dung. Ông xếp chúng ngay ngắn thẳng hàng đối diện với chiếc ghế bành Voltaire gãy thành mà ông vẫn ngồi (dưới chân ghế, chiếc gạt tàn đầy ắp mẩu thuốc lá chứng giám điều này). Ông xếp loại các bức ảnh không chú trọng về phả hệ mà bằng cách nhóm những gia đình có nét giống nhau, qua những quan hệ về hình thái học, như thể ông cố tìm lại dấu vết đi qua của sự sống trong cái lý thuyết về sự hoá kiếp, cố nắm được cái công thức về tính bất tử qua sợi chỉ đỏ về tính đồng dạng này. Đối mặt với những mảnh vụn của chính mình ẩn trong những khuôn mặt cũ xưa mà phần lớn là xa lạ này, chúng tôi không thể phủ nhận mình là một phần vĩnh cửu của những khuôn mặt đó. Chúng tôi nhận thấy trong những cặp mắt các cụ tổ xa xăm này (hầu hết được chụp Đa-nghe[4]), đôi mắt nguyên vẹn của Zizou em gái út chúng tôi, và cái nhìn của họ được gửi gắm qua cái chết làm chúng tôi bối rối.
Chiếc hộp đựng giầy vẫn kia, cái lễ bàn giao trịnh trọng cùng vài câu thì thầm một cách bí mật với mẹ, thì ra ông ngoại thu gom vào cái hộp các-tông đó những thứ quan trọng trong số những cái ông tìm thấy. Chúng tôi lắc lắc chiếc hộp, không thấy có tiếng kêu leng keng. Nếu không chứa vàng thì có thể ít nhất nó cũng mang lại cho chúng tôi chứng cớ về một dòng họ vinh quang nào đó.
Trong hộp có những bức ảnh, bưu ảnh, thư từ, một cái trâm gài, một tấm lác[5] và 2 quyển vở. Chữ viết trong quyển rách bươm nhất, khá nắn nót ở những trang đầu, nhưng những trang càng về cuối càng nguệch ngoạc, đến mức hầu như không thể đọc được, một vài ghi chú bị gạch xoá in hằn loang lổ sang phần trắng những trang cuối chưa viết. Trong các bức ảnh, chúng tôi nhận ra ông bà nội: ông nội Pierre hoặc ngồi trong xe ô tô hoặc mặc bộ quân phục, bà nội Aline, béo phì ngồi trong chiếc ghế bành, tay ôm chú cún lốm đốm đen trắng trên đầu gối, hoặc một cô gái cười tươi. Cuối cùng thì tất cả mọi thứ tài liệu lưu trữ này cũng ăn nhập được với nhau, chỉ trừ một bức tranh Thánh mà hình như có lần chúng tôi đã thấy trong cuốn kinh của bà cô Marie. Nhưng xem kỹ, thấy có lời cầu nguyện ghi ở mặt sau bức tranh với giọng điệu yêu nước mạnh mẽ. Như vậy bức tranh có liên quan tới cuộc đại chiến thế giới, cuộc chiến mà Thượng đế đã lựa chọn một cách dứt khoát đứng về phía nước Pháp. Với một sự che chở như vậy, ai mà chẳng hiển nhiên dễ dàng thoát khỏi cuộc chiến. Joseph, người em trai yêu quí của bà Marie ắt hẳn phải hài lòng lắm với điều này, song một quyển sổ ghi chép khẳng định ông đã hy sinh ở Tours vào ngày 26 tháng 5 năm 1916 do bị nhiều vết thương. Chúng tôi lấy ra bức ảnh tang tóc đặt trên tủ buýp phê và thay vào đó, theo ý của chị Nine, cái hàm răng vàng và hai chiếc nhẫn cưới.
Có cái gì ở bên trong quả hồ đào? Tha hồ để cho trí tưởng tượng bay bổng. Còn cái hang của Ali Baba? Thanh gỗ của cây thánh giá đích thực? Tiếng nói của Rudolf Valentino[6]? Chúng tôi đập vỡ quả hồ đào và nuốt chửng nó, biết rằng nó có chứa nguyên tố vi lượng và các vitamin, gluxit và lipit, nhưng không biết rằng cái hang của Ali Baba là nằm trong đầu Shéherazade, thanh gỗ của cây thánh giá đích thực ở cái cây Tri thức và giọng nói của Rodolf Valentino ở trong ánh mắt người điếc.
❀ ❀ ❀
[1] Ở Pháp, mỗi ngày đều gắn với tên một vị thánh.
[2] Cháu trai và em trai của bà Marie cũng trùng tên với Thánh Joseph.
[3] Phong cảnh tiền sử của vùng Yeine và Morne, phía trên hợp lưu sông Seine và Loing.
[4] Daguerrétype: Phương pháp chụp ảnh do Jacques Daguerre (1778-1851) phát minh vào năm 1833.
[5] Médaillon: vật tròn hoặc hình ô van trong có ảnh chân dung đeo ở cổ.
[6] Rudolf Valentino: nghệ sĩ điện ảnh người Ý, nổi tiếng bởi sắc đẹp (1895-1926).