Khi các sự kiện bắt đầu không ổn đối với bà cô Marie, lo ngại một nỗi đau mới nữa cho con gái mình (cha chúng tôi qua đời chưa đầy 2 tháng), ông bà ngoại đề nghị sẽ đến ở nhà chúng tôi để giúp đỡ mẹ trong cơn khốn đốn. Mẹ không dám từ chối. Ông bà chất chiếc va li to tướng lên chiếc 2 CV và bắt đầu cuộc viễn chinh phi thường từ Riancé đến Random: 80km đường cấp hai qua một vùng quê đâu đâu cũng giống hệt nhau với những cánh đồng bằng phẳng thẳng băng, hàng rào được cắt tỉa khéo léo, cây cối thẳng tắp, những thị trấn không có gì đặc sắc, những nhà thờ không theo một lối kiến trúc nào, những ngôi nhà không kiểu cách, những con người không rõ nguồn gốc. Suốt chặng đường, bà ngoại đắm mình trong những suy nghĩ sâu kín của những bà vợ tuyệt vời vùng hạ sông Loire.
Việc ông bà đến ở nhà chúng tôi thật là món trời cho đến bất ngờ, dù rằng nó chả to tát gì cho lắm. Ông bà vừa tới nơi, lập tức chúng tôi vội vã giúp tháo gỡ đồ đạc. Zizou, cô em gái chúng tôi, sức vóc nhỏ bé, tay nắm chặt chiếc va li to tướng đặt lên ghế sau xe, kéo xềnh xệnh được 2 mét, khiến ông bực tức gắt gỏng nó hãy cẩn thận. Thái độ cáu kỉnh của ông như gáo nước lạnh thật sự dội vào nỗi phấn khởi của chúng tôi.
Vừa tới bệnh viện “Cầu nối-của-tình thương”, bà cô Marie của chúng tôi chìm ngay vào cơn hôn mê hoàn toàn, những trò khôi hài sau cùng của bà chấm dứt ở đây. Bởi vì lần này nguyên nhân đã rõ, chắc sẽ không có điều kỳ diệu hồi sinh thứ hai, nên 5 người chúng tôi cố chen chúc trong chiếc xe 2 CV để đến thăm bà lần cuối cùng.
Thời tiết lúc này vào cuối đông: mưa to và gió lớn, bầu trời đảo lộn quay cuồng, từng đám mây âm u lũ lượt theo nhau bị xé vỡ, bới tung và cái lạnh ẩm lọt vào chiếc xe khốn khổ của chúng tôi qua vô vàn những kẽ hở. Bốn chúng tôi nêm cứng người trên ghế băng phía sau mà vẫn không xong. Vóc người nhỏ bé của mẹ cũng chẳng giúp ích gì lúc này. Cũng số người ấy, chúng tôi có thể ngồi thoải mái trong chiếc xe DS, nhưng trong xe của ông ngoại, chúng tôi trở nên như những con cá xác-đin đóng hộp. Bà ngoại nhanh chóng tìm ra giải pháp: ngoại sẽ không đến bệnh viện nữa, chỉ đơn giản có vậy. Vả lại, bà Marie chắc gì còn đủ minh mẫn. Ngoại có đến hay không thì đối với bà Marie cũng chẳng hề có chi khác nhau. Ngược lại, mẹ cứ nài nỉ để mọi người trong chúng tôi có thể ôm hôn lần cuối cái con người mà chẳng bao lâu nữa sẽ rời bỏ thế giới này. Chúng tôi trở thành những chuyên gia về ôm hôn lần cuối.
“Các con hãy ôm hôn cha đi!”, mẹ đề nghị chúng tôi trước cái thi thể được mặc quần áo, thắt cra-vát, hai bàn tay chồng lên nhau nằm ở giữa giường, một tư thế cho thấy tính chất bất bình thường (thường thường cha ngủ ở phía bên trái). Cái hôn thứ nhất, cha vẫn còn giữ được chút hơi ấm. Làn da trên đôi má vừa được cạo râu của ông vẫn còn thoảng mùi nước xà phòng, vẫn còn chút ít mềm mại. Lúc đó việc ôm hôn cha chẳng khó khăn gì hơn ôm hôn một đứa bé đang thiu thiu ngủ: chúng tôi cúi xuống rất thận trọng, hôn lướt nhanh, môi chỉ vừa chạm, cảm thấy hơi ấm cơ thể là, hấp, nhiệm vụ đã hoàn thành, chúng tôi quay ngay lại nép mình quanh chiếc ghế bành mà mẹ như luôn dính chặt ở đó. (Lần thứ 2, đứng trước lúc đóng nắp quan tài, một mùi chua chua bốc ra từ bụng cha, chúng tôi nhất quyết lẩn trốn).
Chiếc xe Bobosse cũ kỹ bị nêm chặt lọc cọc trên con đường ẩm ướt. Chỉ một làn gió hơi mạnh cũng đủ níu bước nó lại. Chúng tôi tự an ủi với ý nghĩ rằng lúc trở về sẽ khá hơn. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cảm thấy tủi nhục khi những chiếc xe khoẻ hơn (ba mã lực trở lên) cứ vượt lên, coi xe chúng tôi như thứ giẻ rách, như thứ mấp mô lồi lõm của vệ đường, họ găm vào chúng tôi những cái nhìn giễu cợt hoặc đầy vẻ lạnh lùng. Những người nhã nhặn nhất ra hiệu cổ vũ dẫn đường chúng tôi, những kẻ tử tế thì bằng cách uốn éo người trên ghế xe, lấy làm phiền lòng khi phải vượt chúng tôi. Tất cả những chiếc xe hiệu Samaritain có tốc độ tốt đó mỗi khi vượt qua đều làm bắn nước lên chúng tôi, chắc những người trong xe lấy làm thích thú lắm vì chúng thuộc về kỷ nguyên vệ tinh, trong khi ì ạch phía sau là cái xe cà tàng như cái hang biết chạy của những người du mục thời tiền sử. Cả ba chúng tôi ngồi chen chúc phía sau, như bị tra tấn, người lắc lư, có lẽ họ nghĩ rằng chúng tôi bị bắt cóc và cái ông già mặt lạnh tanh ngồi trước vô lăng không phải là ông ngoại chúng tôi. Ngồi ghế trước bên cạnh ông, mẹ cũng giữ thái độ im lặng như ông. Người mẹ bật nảy trên lò so chiếc ghế con như một con rối thảm hại, cái cười nhăn nhó ở khoé môi mẹ không thể hiện trách cứ hay phiền lòng, không thể hiện gì khác ngoài sự khắc khổ cần thiết phải chịu đựng, chẳng hứa hẹn vội vàng điều gì trong mọi trường hợp để rồi phải thêm một lời hứa thứ hai vào lời hứa trước – cái nỗ lực phi thường này, đó là tất cả những gì chúng tôi có thể đòi hỏi ở bà. Chiếc xe 2 CV cứ nảy chồm chồm làm cho cái tang của mẹ mất đi chút ít sự trang nghiêm. Mẹ phải chỉnh lại chiếc mũ đen khi xe ngoặt gấp làm nó tụt thấp xuống trán. Trong cử chỉ của mẹ có một phản xạ tự nhiên của sự sinh tồn. Tuy nhiên, chúng tôi đồ rằng những lúc thế này chắc mẹ phải thấy tiếc cái xe DS màu đỏ sẫm đang để trong gara chờ người mua mà bây giờ không có người lái nó trở nên vô dụng đối với chúng tôi. Xe có bộ dây chằng chống sốc được lót lớp dạ phớt thật êm, động cơ kêu ro ro với tốc độ lớn, những cú tăng tốc ngoạn mục. Xe được bọc kính bốn phía, ghế xe mềm mại, tiện nghi và cha thường ngả lưng vào đó nghỉ ngơi. Cha mới dùng nó chưa đầy 3 tháng. Ngồi trên xe, chúng tôi trở thành thượng đế. Nếu lái nó, chắc cha đã vượt qua nhẹ nhàng cái xe 2 CV này như vượt qua đám hố rãnh và ném ra lời chế nhạo về cái xe thảm thương cùng những người ngồi trong đó, giống như cha đã từng làm cho bầu không khí trong làn sương mù ở Tourmalet vui nhộn hẳn lên bằng cách đánh xi nhan ra hiệu cho ông ngoại, con người gan dạ bé nhỏ đầu đội mũ cát-két trắng của những tay đua ngựa, ngồi trước vô lăng chiếc xe cổ lỗ sỹ như ở trong bộ sưu tập lao xuống cái dốc tối mù. Bất hạnh và gia thế sa sút, nỗi đau khổ của chúng tôi càng dầy thêm.
Bệnh viện “Cầu nối-của-tình thương” gồm một tu viện cũ và phần làm thêm sau này khi cái nhà đón khách thập phương đó biến thành trung tâm cai nghiện cho những con bệnh trong vùng. Cổng chính có mái đua vươn ra kiểu La Mã, xe ngựa bốn bánh có thể đi qua. Sân trong bị các toà nhà cao che khuất tối âm u. Ở những toà nhà này, mặt tiền luôn sũng nước mưa, các cửa sổ có hai lớp chấn song làm những người đến thăm cảm thấy một nỗi buồn nghèn nghẹn ở cổ. Những khóm dương Ý mọc thành rừng trên nóc nhà. Chiếc chuông thỉnh những tiếng ngân trầm đục bị gió làm cho méo mó. Các nữ tu đi qua sân, vội vã, vòng qua những vũng nước, hai tay giữ chiếc áo dài đen bị cơn gió lốc thổi tốc lên và, khi tấm khăn voan trắng trên mũ bị gió cuốn phủ che mắt, do không còn tay để gỡ ra, họ quay trở lại, lùi lại vài bước trước khi ùa cả vào trong cái hành lang có những cửa sổ rộng mà qua đó thấy cả một bầu trời hỗn loạn. Mùi sơn có silic, mùi khai thối từ những người già ỉa đái dầm dề không tự chủ được, người ta phải đổ ngập lênh láng cả hàng tẳm lít chất tẩy uế, mùi hôi lộn mửa của căng tin (cái món súp buổi chiều có hương vị muôn thuở mà người ta vẫn phục vụ trong trường học), bóng dáng bận rộn của các bà xơ loắt choắt đi như trượt trên thảm linoléum[1], những người bệnh mặc pyjama đi lang thang tìm kiếm cái mà họ không biết rõ là gì, và đây là điều bóp chết họ, những cái nhìn điên loạn toát ra hàng nghìn nỗi đau đớn, day dứt, một sự kết tủa những lo âu mà vĩnh viễn không một hoá chất nào có thể chắt lọc được, những bàn tay co rúm các ngón cái nọ ngoặc vào cái kia như hai mắt xích của một dây chuyền chạy rầm rập không ngớt, những dáng đi ngập ngừng, sợ sệt, những lời nói ảo tưởng, những cử chỉ thô bạo của những kẻ sa sút trí tuệ, và khu hành lang phía sân trong tu viện là dành cho bè cánh những người cứng đầu cứng cổ: những dòng giống của Napoléon và của Louis XIV, tất cả các nữ thánh Anastasia[2] và các công chúa giả mạo trong một cuốn Almanach de Gotha[3] tưởng tượng, những triều đại hoang đường của vương quốc những kẻ ngây ngô. Tóm lại là cả một dòng họ những kẻ bịp bợm mà Đức Mẹ Marie[4] đồng Trinh tối cao của chúng tôi không thể chịu quá lâu.
Chúng tôi chen chúc trong cái xà lim bé tẹo dành cho nữ tu kín có các bức tường và đồ đạc cũng màu trắng toát, nhưng đứng cách xa chiếc giường đặt đối diện cửa sổ nơi có những cây dương bị gió thổi dạt nghiêng ngả. Chúng tôi không dám lại gần vì sợ làm rối loạn việc truyền huyết thanh, sợ vướng vào ống dẫn khi cúi xuống ngó cái hình hài bé nhỏ tím nhợt có đôi cánh tay gầy khẳng khiu trắng muốt. Vóc dáng bà quá mảnh dẻ, bất động trên tấm ga trải giường đến mức chúng tôi nghĩ rằng bà Marie đã chọn cách tự xoá mình nhẹ nhàng chứ không phải là chết. Khuôn mặt mang kính của bà tan ra trong màu xanh nhợt nhạt của chiếc gối, thân hình bà làm ga trải giường trũng xuống thành hình một cái sàng nhỏ. Bà chỉ còn là cái nếp hằn bé tí của sự sống được nối liền với thế giới bằng những ống nhựa trong suốt mà một làn gió siêu phàm sẽ chẳng mấy mà xoá nhoà đi.
Mẹ trở nên lạc lõng trong bộ đồ tang. Chúng tôi đang đứng bên bờ vực của vũ trụ mà toàn bộ những gì thuộc về bề mặt đều phải rơi lọt xuống. Chúng tôi gần như nín thở, cảm thấy tan ra trong con suối đang sắp cạn khô này. Các tu nữ, thông thường rất cương quyết với bệnh nhân, lần này đi rón rén trên mũi ngón chân để không quấy rầy giấc ngủ của con người đang đi dần vào cõi cực lạc. Khi một trong số các tu nữ khám bệnh cho bà, mẹ tôi ra chiều đã rất sốt ruột, phát lệnh rút lui. Chúng tôi từ biệt người bà trắng bệch đang hấp hối mà không hôn vĩnh biệt.
❀ ❀ ❀
[1] Một thứ vải nhựa lót sàn nhà.
[2] Anastasia: Các nữ thánh tử vì đạo dưới thời Dioclétien, Hoàng đế La Mã (284-305). Ở đây tác giả dùng với nghĩa khôi hài chỉ những người mất trí năng.
[3] Ý tác giả muốn nói đến cuốn sách lịch (Almanach de Gotha) xuất bản ở Gotha thuộc Đức bằng tiếng Đức và Pháp từ 1763 đến 1944, trong đó có ảnh của các công chúa.
[4] Chỉ bà cô Marie phải vào viện.