Con người ta, sau khi qua đời, sẽ phục sinh mang trên mình một cơ thể hoàn toàn mới mẻ, giống những kẻ non choẹt, cử chỉ lóng ngóng như người đi mượn. Chúng tôi biết được điều này từ bà cô Marie, từ tư thế khác thường của bà khi đợi chúng tôi trong căn buồng trên gác hai trông ra phố mà mẹ đã thu xếp cho bà sau khi từ bệnh viện trở về. Một tay bà tì vào thành giường như Talleyard[1] lúc đã chán ngấy mọi thứ, dường như bám vào thì ít mà tìm kiếm một tư thế, một đường cong mới trong không gian thì nhiều. Trong đường cong đó đặt nội tiếp cái lưng còng, đôi chân và đôi tay khẳng khiu, cái tư thế đầu ngoẹo của bà. Bà bối rối vì đã chơi chúng tôi một vố, như muốn xin lỗi vì đã vờ ra khỏi nhà, nhìn chòng chọc vào mặt chúng tôi, ghé sát sạt như những người đã mất cảm giác khiến người ta phát hoảng. Cảm nhận trên của chúng tôi được khẳng định khi thấy bà đứng bất động: đây đâu phải là bà cô của chúng tôi, dưới mắt chúng tôi cái phần để nhận dạng đã bị mờ nhạt, tẩy rửa trong bóng tối chập chờn – và, trước bà cô lạ lẫm này, chúng tôi, vâng, đúng vậy, giống như những kẻ vô tri vô giác.
Không hiểu thánh Jean[2] nói gì về sự tái hiện của Đức Chúa Jésus vào cái buổi sáng đầy ảo giác ấy, lúc mà công việc cứu rỗi chúng sinh đang vấp phải trở ngại? Thánh Jean sẽ nói gì về việc Thánh Marie-Madelaine[3] sáng ra chạy tới ngôi mộ và thấy nó trống rỗng? - Thánh Marie, kẻ sùng chúa Jésus cuồng nhiệt, dùng cả loại nước hoa đắt tiền vùng Galilée[4] để rảy lên đôi chân Đức Chúa cao cả bằng cách phủ mái tóc có xức dầu thánh của mình lên đó khi Đức Chúa bách bộ đến thuyết giáo. Thánh Marie-Madelaine hỏi người chết đã được chôn ở đâu, bởi vì thánh muốn mang nó đi, bảo đảm cho nó thoát khỏi cái chết bằng tình yêu vĩnh cửu của thánh. Thánh Marie-Madelaine chẳng phàn nàn là người ta đã đánh lừa thánh về việc phục sinh. Thánh không tỏ ra xúc phạm cũng chẳng cứ khư khư với niềm hy vọng ân xá. Thánh diễu cợt những lời dị nghị làm các tông đồ nản lòng. Đối với thánh, chỉ thể hiện tình yêu cũng là đủ rồi và thánh sẽ còn thể hiện tình yêu này cho đến tận cuối đời. Và Đức Chúa, Người đã thấu hiểu, nên sử dụng – chính xác là lần đầu tiên – một từ âu yếm: “Marieam”, Người chỉ nói đơn giản vậy, và thánh Marie ngoái đầu đáp lại: “Mon rabbi”, tiếng do thái có nghĩa là vị chúa tể của con, cũng có nghĩa là người đàn ông của em, con người tất cả của em, nỗi cô đơn của em, bởi vì Đức ngài là người duy nhất chặn lại được nó sau khi, trước Người, tất cả những kẻ đàn ông khác lèn lấn nhau chật ních trên giường thánh mà vẫn không chặn lại nổi. Và bây giờ, hãy thử giao kịch bản này cho một nhà đạo diễn và xem những gì ông ta sẽ làm (lạy chúa, hãy tha thứ cho họ, bởi vì họ không hiểu được những gì họ làm) “ông ta sẽ xô người nọ vào người kia, rối tinh rối mù, yêu cầu họ ôm ghì xoắn tít lấy nhau thật hăng say trong niềm vui tái ngộ, và cả Đức Chúa Jésus lẫn thánh Marie-Madelaine cũng như ông đạo diễn có lẽ đều đã không hiểu nổi cái từ Phục sinh tinh tế. “Các con hãy ôm hôn bà Marie đi”!, mẹ nói với chúng tôi.
Chúng tôi không dám – không muốn đụng vào cái phế quản bị khói lò sưởi làm thương tổn của bà, không muốn tin vào người bà hiện hồn trở về này. Hơn nữa, bà chưa bao giờ biết ôm hôn: bà áp chiếc má khô lên gò má mà người ta vội chìa ra thật nhanh như sự lướt qua của tĩnh điện – bà chút chút đôi môi vào khoảng không và điều này rất có giá đối với một cử chỉ bày tỏ âu yếm. Không bao giờ bà bế ẵm hay vuốt ve ai cả, chẳng bao giờ bà ôm ghì ai, với Đức Chúa Jésus của bà, người mà ôm ghì trong vòng tay giang ra cũng không, không cả với những đứa trẻ mà bà túm lơ lửng như một khúc củi trên thành gác trong lò. Có một bức ảnh chụp bà trong sân đang giơ cao bé Nine hai tháng tuổi trên cánh tay đưa cao ngang mặt như nhà vô địch nâng cao chiếc cúp. Bé Nine được xoay về phía ông thợ ảnh – là cha, dĩ nhiên – và bà thì e thẹn như gái về nhà chồng nấp sau bé.
Tình cảm khô khan như vậy thì làm sao gây được mối rung cảm. Chúng tôi lần lượt từng người tiến lại gần bà. Bà rời tay khỏi thành giường đặt lên vai chúng tôi. Cách thức ôm ghì này – bà không thể làm tốt hơn – đó là điều mới lạ chưa từng thấy đối với bà. Chúng tôi cảm thấy bà muốn đánh dấu sự kiện trở về không chắc chắn này, bằng một cử chỉ thừa. Suốt đời nhỏ bé, những ngày ở bệnh viện càng làm cho bà nhỏ bé hơn, tưởng như bà đã bắt đầu sự co lại bên trong.
Những cái ôm hôn kiểu này đặt ra vấn đề cho những ai đeo kính. Họ phải lo sao lẩn tránh khuôn mặt thật khéo léo, sao cho giữ khoảng cách đủ rộng để gọng kính không tụt rơi. Bà cô của chúng tôi lo tránh sự cố – và cả lời bình phẩm bà hay thốt ra theo thói quen – bà không thích thú với tiếp xúc xác thịt, khiến mỗi lần ôm hôn bà đều phải thao tác luồn vòng ra phía sau nhiều hơn là cần thiết làm cho chúng tôi ôm hôn vào cái núm gắn trong tai bà. Đồ trang sức này không phải là để trang điểm: thời bà co tục xâu tai các bé gái mà không cần hỏi ý kiến chúng, không hơn gì đối với những kẻ bị xẻo tai. Mũi kim mạ vàng xâu tai sau vài tuần, với cái giá làm máu chảy ròng ròng, cắm sâu trong tai cho tới lúc chết. Một kiểu lễ nghi bộ lạc khiến bà cô rành rành là người thiên chúa giáo của chúng tôi thành một nàng công chúa quê mùa. Chúng tôi chào cáo biệt bà với cái cảm giác lành lạnh của thứ kim loại đó trên môi (“Lạy chúa, họ đã quên cái đinh trong vết thương của Người” Thomas nói).
Sau đó, bà Marie trở nên mất trí. Lúc đầu chúng tôi cũng chẳng tỏ ra lo lắng gì cả. Khi bà hỏi Joseph đâu, nếu tính đến tuổi già cộng với nạn động đất ập đến với chúng tôi ở ngoài vòng địa chấn, chúng tôi chấp nhận kiểu đãng trí này hoàn toàn chính đáng. Ngay cả khi xác chết đã đặt trước mũi, cái chết vẫn không bị xoá sạch. Tôi nhớ đã có lần, vào một tối chủ nhận khi đang xem vô tuyến ở nhà chú Rémi, tôi đã vội đứng vụt dậy chạy đi báo cho cha về kết quả một trận đấu mà ông từng quan tâm. Khi bừng tỉnh lại thì tôi cũng đã đặt tay trên nắm đấm cửa ra vào. Như vậy chúng tôi giải thích với bà Marie rằng cha đang đi kinh lý và rằng những công việc ngày càng kéo ông đi xa nhưng ông cũng trở về rồi. Bà giả vờ nghe theo những lập luận của chúng tôi. Rồi sau một lúc hành xác, bà lại tiếp tục hỏi về cha. Bà thấy rõ có cái gì đó không ổn.
Chúng tôi thoả thuận là bà cô Marie sẽ sớm tối sống ở nhà chú Rémi sau khi chú hoàn tất việc dọn dẹp một căn phòng. Bà sẽ không trở lại căn nhà nhỏ cùng với chiếc lò sưởi chết tiệt của bà nữa. Ở nhà chúng tôi cũng không được vì mẹ không đủ sức trông nom bà. Chúng tôi phải tìm kiếm ở nhà bà những đồ vật thân thuộc của bà đem để ở nhà chú Rémi để bà đỡ cảm thấy lạ nước lạ cái hơn. Đó là cây thánh giá, những khung ảnh nhà thờ Lourdes và Lisieux, chiếc hộp gỗ nhỏ đựng những phiếu ghi chép hàng ngày của bà, cộng với vài thứ đồ mỹ nghệ và một mớ phù hiệu thánh đặt vào trong tủ và dưới gối cho bà. Trước tiên bà quả quyết rằng cây thánh giá không phải của bà, cây thánh giá của bà đã bị người ta đánh cắp và bà sẽ phàn nàn với chú Joseph về chuyện này ngay sau khi ông trở về. Chú Rémi có sức chứng minh ngược lại, song trước lý lẽ bướng bỉnh của bà, chú đành chỉ biết giơ tay lên trời, chán nản và tuyên bố xin thôi nhiệm vụ này. Bà Mathilde bảo chú trở về với bàn chữa đồng hồ của chú và bình tĩnh thay thế chú. Thực vậy, cây thánh giá đã bị đánh cắp, nhưng tên kẻ cắp hãy coi chừng, bởi khi Joseph trở về sẽ túm cổ hắn. Bà Marie nói rằng bà biết đích xác điều này và rằng bà không điên trong khi chờ đợi, bà không thích cây thánh giá mới. Bà Mathilde hiểu rằng cô em chồng không thể ngủ cùng với một kẻ xa lạ thoát y nửa người, nên nhét cây thánh giá vào ngăn kéo tủ.
Con Pyrrhus mừng rỡ vì được gặp lại người bạn già của nó. Cả ngày nó ở trong phòng, nằm phủ phục trên chiếc giường, thỉnh thoảng mới nhảy xuống chạy loăng quăng qua chỗ chú Rémi ở cửa hiệu, đón nhận vài cái vuốt ve thân mật, đôi khi cũng được bà Mathilde vuốt ve, và khi thấy mọi việc đều ổn nó lại trèo lên gác về chỗ nằm cũ của mình. Nó tỏ ra khá thấm nhuần vai trò của nó, rất có trách nhiệm đến mức chỉ cần ai đó nói “con Pyrrhus đang ở chỗ bà Marie” là mọi người hết phải băn khoăn.
Bà cô Marie luôn miệng hỏi về Joseph. Mọi người đều trả lời như nhau: ông đang đi kinh lý, ông gặp bất trắc, không lâu nữa ông sẽ trở về, vì chán nản, chúng tôi suýt đã thú nhận tất cả. Dần dà chúng tôi nhận ra có sự hiểu lầm to. Ở những điều huyên thuyên trong những câu nói của bà, bà muốn tới gặp ông, yêu cầu đưa bà tới Tours – và cả chuyện về nước Bỉ nữa chứ. Nói đến Tours thì đúng rồi, sông Loire thì cũng tạm khiên cưỡng chấp nhận, vì ở đây có Orléans, Beaugency[5], như phần kéo dài lê thê tới miền đất cửa sông. Nhưng tại sao lại nói đến nước Bỉ ở đây cơ chứ? À mà phải rồi, có lần cha đã thử tham gia nhất thời ở bên Bruxelles, hồi mà cha đề nghị đưa những bức ảnh có tính giáo dục vào các trường tự do (do chẳng mấy thành công nên vẫn còn cả một đống tranh lù lù để trong nhà kho ở vườn, toàn bộ tập cựu ước 30 bản khắc màu) nhưng có nhiều năm cha chỉ dành cho bát đĩa và vùng Bretagne. Chúng tôi phải công nhận thói gàn gở của bà ghi chép những câu chuyện trong các cuộc trưng bày tác phẩm rộng lớn là có lý, như thể đây là cách thức chắc chắn nhất để bà được gặp lại cha còn sống, lùi lại điểm xuất phát từ phía sau, đảo ngược lại dòng đời của bà từ điểm số 0, lắp ráp lại thời gian như lắp ráp lại những gì đã được tháo dỡ. Chúng tôi công nhận rằng bà đã hoà trộn tất cả với nhau, và giờ đây, với một nghệ thuật điêu luyện – nếu có thể nói -, nhưng đầu óc bà đã ngấm sâu cái lý thuyết về không gian – thời gian tương đối nên không thể theo dõi được câu chuyện của bà. Tuy nhiên bà nhấn mạnh: Joseph bị thương. Dường như bà bị các ảo giác ám ảnh, hay là bà nhận được qua kênh đồng cốt tiếng gọi của cha đang gặp nạn, có thể đang bị bỏ rơi không ai giúp đỡ ven rìa đường, đang hấp hối trong khung chiếc xe con bị nghiền nát của ông. Chúng tôi phải tự trấn an với ý nghĩ hễ nơi nào cha đến thì không thể có gì có thể xảy ra với ông.
Chính bà Mathilde đã tháo gỡ cho những suy nghĩ rối tung rối mù của người tòng phạm già của bà. Bà lần lượt rút từng sợi chỉ và kết cấu lại dàn ý cho trí nhớ của bà Marie. Mọi chuyện thế là xong. Bà Marie chỉ mất trí để mà tìm lại nó hoàn hảo hơn. Sự nhầm lẫn không phải từ phía bà mà từ phía chúng tôi, từ sự cảm nhận của chúng tôi về ảo ảnh của bà. Cái nút vấn đề là tất cả do nỗi đau của chúng tôi, chúng tôi đã nghĩ như thể cha là ông Joseph duy nhất đã chết kể từ khi khai thiên lập địa ra vũ trụ này, có nghĩa là từ thời điểm mà đầu óc chúng tôi có thể biết tới. Đối với bà Marie, ông còn là người thứ hai: Joseph bị thương ở Bỉ, được chuyển về Tours và chết ở đó lúc 21 tuổi, ngày 26 tháng 5 năm 1916[6].
Từ sau đó, chúng tôi để mặc bà nhởn nhơ theo trí nhớ cổ lỗ của bà. Một khi nguyên tắc đã được xác lập, chúng tôi hầu như có thể nối lại cuộc thoại. Thật lạ lùng khi nghe chú Rémi hỏi bà về những tin tức ngoài mặt trận và bà nhìn chú với vẻ suy nghĩ: đầu óc cái thằng đáng thương này hoàn toàn gàn gở rồi. Những điều bà nói có thể coi là một sự lang thang theo dòng những kỷ niệm. Chúng tôi khá khó khăn để thông hiểu được bà, bởi vì bà không gợi lại quá khứ theo mạch liên tục. Chúng tôi nghĩ là bà bị ám ảnh bởi cái âm hưởng ảo não của phố Verdun, nhưng bà lại ở với chúng tôi và khóc thương cái chết của cha. Chúng tôi mừng với điều tốt lành hơn này – với nỗi đau mà chúng tôi cùng chia sẻ với bà và bà lại khóc những người thân đã khuất:
Joseph và Emile[7], cả hai hy sinh ngoài mặt trận, cách nhau một năm và sau đó là cô em gái Eulalie – bà Mathilde giải thích cho chúng tôi biết cô ấy chết sau Emile một năm do bệnh dịch cúm từ Tây Ban Nha tràn tới, - Cuối cùng bà khóc Pierre, một thần đồng của năm Mười bốn[8], người em trai sau cùng của bà, chết vì không chịu đựng nổi sự qua đời của người vợ Aline. Về ông Emile, bà là người đầu tiên gợi lại chuyến du hành của Pierre tới Commercy, với những lời nguyền rủa: “Một cuộc mai táng vội vã, như một diễn viên hài kịch”. Đoạn này, bà Mathilde tỏ ra kín đáo hơn nhiều và có vẻ không nắm rõ. Bà thú nhận rằng về điểm cụ thể này, bà Marie có thể lảm nhảm một cách đầy đủ. Nhưng ngược lại, về phần mình, chúng tôi bắt đầu xem bà đại loại như một bà cô bói toán mà từ miệng cô chỉ có thể phát ra những chân lý. Bà là bã cà phê[9] hiệu nghiệm chúa sừng của chúng tôi giúp biết được quá khứ. Đơn giản là những giải đáp cho các câu hỏi của chúng tôi nêu ra một cách lộn xộn, và cuối cùng vấp phải cái vùng Commecy thần bí, giống như trong cái trò chơi ghép hình chúng tôi rơi vào tình cảnh có một miếng gỗ ghép hình thừa. Cứ như vậy thi thoảng bà lại lắc lư từ trước ra sau, lôi tuốt chuyện từ thời cổ lai hy ra kể vanh vách, rồi lại thu mình lại. Đây là một lối thoát Giăng-xen. Suy cho cùng có thể đầu óc cuồng nhiệt của Pascal[10] cũng đã lôi cuốn cả ông vào một vài trò hề khiến gia đình Périer phải cười như nắc nẻ, nhưng người cháu gái từ bi đã rất đúng khi không phổ biến những trò hề này. Có lẽ người ta chỉ nhớ được mỗi đoạn về chuyện bắt đứa bé già thần đồng[11] phải câm họng, trong không gian vô tận và trong im lặng vĩnh hằng. Và do vậy, trước câu pha trò của bà Marie, chúng tôi không biết nên cười hay mếu. Từ những chuyện nhỏ nhặt vô thưởng vô phạt như lần đầu trong đời thử dùng môi son lấy từ quầy hàng mỹ phẩm của bà Mathilde, hoặc nói rằng cha xứ Bideau đã cầu thân với bà, hoặc nữa đòi một điếu thuốc lá và, đáng nhẽ châm lửa hút (điều mà bà hoàn toàn không thể) thì lại giắt vào tai như ông bán hàng rong rau quả với cây bút chì.
Bà cũng thường xuyên đòi chúng tôi đưa bà trở về nhà mẹ bà. Trổ hết các ngón ngoại giao, chúng tôi vẫn hoài công để giải thích rằng cụ ấy không thể đón tiếp bà mà vẫn không muốn nghe gì sất, và vì không ai muốn làm phúc đi kèm bà, bà đi một mình. Bà mặc áo măng tô, hấp tấp đội mỹ. Không ai có thể giữ bà lại. Bà đi lang thang giữa thị trấn như một bà già lạc đường, thậm chí không đáp lại cả câu chào của những người qua đường mà nhìn chăm chăm vào mặt họ như những người kỳ lạ, dấu mặt né tránh mỗi khi họ hỏi chuyện. Thế là chú Rémi lấy xe, đuổi kịp bà và họ cùng trở về trong im lặng, chậm rãi cứ như đang tìm kiếm một địa chỉ. Theo đầu óc bướng bỉnh của bà có thì họ đã hai, ba lần đi qua quảng trường. Lúc về trước nhà, chú Rémi nói là đã tới rồi và bà tỏ ra an tâm. Một vài lần khác, dường như bừng tỉnh lại, bà thở dài thốt ra “Ừ nhỉ” và đổ sụp xuống. Song những suy nghĩ ngông cuồng lại xâm chiếm bà: hãy dẫn bà trở lại nhà mẹ bà, không ai tưởng tượng mẹ bà sẽ khủng khiếp như thế nào khi bà đến bàn ăn chậm.
Lần cuối cùng, bà cô Marie ăn tối cùng với chú Rémi và bà Mathilde, chú chó Pyrrhus nằm phủ phục dưới chân bà. Bây giờ thì các bữa ăn luôn mang dáng dấp của một vở diễn ngẫu hứng. Bà Marie chẳng bao giờ thiếu trò, bà ứng tác chơi trò ảo thuật với chiếc cùi dìa, đặt cái ga men dành cho con Pyrrhus vào trong dĩa của bà, nhắc lại rằng mẹ bà sẽ không hài lòng hoặc tức giận nếu bà ăn miếng pho mát mà theo bà đã bị tẩm thuốc độc. Tối đó, bà cầm chiếc khăn ăn nhúng ngập sâu trong bát súp rồi phủ lên chiếc ti vi đang mở. Sau một thoáng kinh ngạc, thường xuất hiện sau mỗi phát minh mới của bà, chú Rémi sợ chiếc ti vi mới tinh của chú bị chập mạch, vội vàng nhảy tới chiếc công tắc đặt phía trên bồn rửa bát và ngắt điện. Tức thì trong bóng đêm có tiếng động như một vật gì đó đổ ngã khe khẽ và tiếng chó sủa. Bà Mathilde mò mẫn tìm ngọn nến, thắp lên, và trong ánh sáng xanh yếu ớt chập chờn, hiện ra một bức tranh thế kỷ: bà Marie ngã quỵ trong chiếc ghế bành bằng liễu giỏ, hốt hoảng, đầu đội mớ quần áo ướt nhỏ giọt xuống mặt và mắt kính, đây đúng là Đức Mẹ đang đau khổ đầu đội những cọng rau loà xoà. Chú chó Pyrrhus to lớn lông đỏ hung đang đứng chồm hai chân lên người bà, liếm láp những cọng rau trên đầu bà một cách âu yếm.
Chúng tôi đưa bà Marie tới bệnh viện “Cầu nối-của-tình thương – như chúng tôi đã nói trước khi xảy ra đoạn kết kỳ cục này-nơi của những người điên.
❀ ❀ ❀
[1] Talleyrand (hay còn gọi Talleyrand-Périgord), tổng giám mục và nhà ngoại giao Pháp (1754-1838). Là giám mục nhà thờ Autum năm 1778, sau đó trở thành tổng giám mục giới tăng lữ rồi bị giáo hoàng kết tội, ông từ bỏ hẳn giáo hội để đi vào con đường ngoại giao.
[2] Jean (hay còn gọi Jean-Baptiste) được coi là “vị thánh báo trước mọi việc”, con trai của thần Zacharie và Elisabeth. Là vị thánh đặt tên cho Đức chúa Jésus là Chúa cứu thế.
[3] Marie-Madelaine: (Thế kỷ I), kẻ sám hối, được Chúa Jésus cho quy đạo và được phong Thánh. Lễ Thánh Marie-Madelaine vào ngày 22 tháng 7 hàng năm. Ở đây ám chỉ bà Marie.
[4] Galilée – vùng của người Palestine, gần hồ Génésareth, nơi mà Đức Chúa Jésus thường bách bộ đến thuyết giáo.
[5] Orléans, Beaugency: Hai chị em trấn nằm bên bờ sông Loire cách Paris 116km về hướng nam. Bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh năm 1940.
[6] Joseph: Do mất trí, bà Marie lẫn lộn giữa Joseph (bố của tác giả) và Joseph em trai của bà chết trận ở Bỉ. Lúc này tác giả chưa được kể về ông Joseph em trai bà Marie, nên họ lầm lẫn lung tung.
[7] Joseph và Emile: hai người em trai của bà Marie.
[8] Quatorze: năm 1914 – năm bắt đầu thế chiến thứ nhất (1914 – 1918).
[9] Bã cà phê (Marc de café) dùng trong thuật bói toán.
[10] Pascal (1623 – 1662): nhà toán học, vật lý, triết học và là nhà văn Pháp rất nổi tiếng vì những công trình khoa học của ông. Từ 1646, Pascal có quan hệ với giáo phái Giăng-xen và sau đó đã “quy đạo” vào đêm 23 tháng 11 năm 1654, trở thành thành viên của giáo phái Giăng-xen.
[11] Le vieil enfast génial.