Chiến Trận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Mùa đông năm 1929 là một trong những mùa đông khủng khiếp nhất. Ngày mồng 2 tháng 2, người ta tìm thấy xác một người say rượu bị băng phủ cứng trong tư thế đứng dựa vào một thân cây (theo báo Người đưa tin Cửa sông). Ngày mồng 5, Brière, vùng đầm lớn thứ hai ở Pháp sau Camargue, vốn trước là vịnh, có những hòn đảo rải rác, qua nhiều năm tháng được phù sa bồi đắp thành đầm, chỉ trong một đêm đã đông cứng lại trong veo như thủy tinh hóa. Những con hải ly, thứ gấu trúc Mỹ từ dãy núi Appalaches[1] được đưa vào vùng đầm từ hồi đầu thế kỷ để người dân ở đây có thêm chút thu nhập từ những tấm lông thú của chúng nay chết cứng, nửa mình vùi trong băng đá chừng tỏ chúng đã cố tìm cách thoát thân khỏi hang ở bờ đầm (tờ Bán đảo phương Tây). Ngày mồng 8, trong cảng Saint - Nazaire ở Anchorage[2], một tài buôn bị băng tuyết tích tụ trên cầu sụt lở nhấn chìm. Bến cảng và bãi đầm phủ đầy xác chết của loài chim mòng biển, những chú chim nhỏ bé chồng chất lên nhau trắng xóa, đầy gập lại rúc trong cánh mong tìm kiếm hơi ấm cuối cùng. Dòng sông Loire cuốn phăng những tảng băng, một tảng to kềnh tới mức suýt đánh đắm cả chiếc tàu nạo vét lòng đầm cao lừng lững như thị trấn Sain - Florent[3] - sự may mắn đã giúp con tàu Titanic[4] của vùng nước ngọt này dạt lên một mỏm ngầm toàn cát. Sau đó, gió biển thổi dồn tuyết lại thành từng đống, làm tê liệt cả một vùng. Các đoàn tàu hỏa chết dí do các đầu máy dù được trang bị như những chiếc xe gạt tuyết vẫn không dọn dẹp xuể được đất đá ngổn ngang trên đường ray. Những kẻ nghèo khốn khó vẫn thường phải trả giá đắt cho những thái quá của tự nhiên: những người đi kiếm ăn chết cứng vì băng giá trong hố hay trong một lán trại tạm bợ, họ là những người già cô đơn và những đứa trẻ gầy còm ốm yếu, những con chó lang thang và những con chim sẻ ngô.

Piere đã lên đường vào chính thời điểm khắc nghiệt này, bất chấp những lời phản đối của Aline khuyên anh hãy đợi ngày trời đẹp. Cô cho rằng dù ở đâu thì Emile vẫn không thể biến mất ngay được (người ta liên tưởng đến nỗi sợ hãi của các phụ nữ vào buổi sáng lễ Phục sinh họ chạy đến nấm mộ và chỉ thấy dưới đó đáng lẽ một cơ thể được chúa ban phước lành, thì lại là một mớ những dải băng nhỏ). Sau khi đã uổng công thử con đường hành chinh, kiệt sức với những chạy chọt hợp pháp, quá mệt mỏi, Pierre quyết định tự mình sẽ đi tìm kiếm người anh trai ở bên gốc cây bạch đàn. Anh không chịu lùi chuyến đi sang ngày hôm sau, dù thời tiết thế nào. Thế nhưng có người kháo nhau anh đi là vì chuyện buôn bán, chỉ vì chuyện buôn bán mà thôi không một lời ám chỉ nào về bản chất thực sự của chuyến đi. Nhưng thôi, hãy giữ kín chuyện này chỉ chúng ta biết với nhau. Và, ngày mồng 5, từ sáng sớm, không đếm xỉa đến những lời can ngăn của người vợ, Pierre khởi hành theo hướng Commercy đến sống Loire rồi đến Orléans, và từ đây, lợi dụng đoạn dốc của sông, đến Montargis, Sens, Troyes, Bar-le-Duc.

Mặt sau bức ảnh chụp một thanh niên đẹp trai mặt nhọ nhem, có dòng chữ của Aline, giống nét chữ ghi trong quyển vở chép bài hát của bà. Dòng chữ gọn lỏn: đi Commercy ngày 5/2/1929. Ảnh chụp Pierre ngồi trước vô-lăng chiếc xe to tướng, như chiếc xe buýt. Rõ là xe phải to như thế để dễ dàng cho công việc buôn chuyến đồ sành sứ của anh. Vô-lăng đặt phía phải xe, song không phải như ở nước Anh, mà đơn giản vì thời đó người ta ít sợ những va quệt theo chiều ngược lại hơn là bị sa xuống hố. Cùi tay đặt lên thành cửa kính xe, mặt hướng về người thợ chụp ảnh, anh lộ rõ vẻ mãn, nguyện, có lẽ anh biết rằng những chiếc xe giống xe của anh không đi qua các phố, và càng ít qua đường thôn xã. Có thể xe anh là chiếc duy nhất nên đây là dấu hiệu của công việc làm ăn phát đạt - do vậy anh có vẻ là người có danh vọng, kính mạ vàng và bộ ria mép có điểm những sợi bạc hơi loăn xoăn. Anh trang bị chống rét rất cẩn thận: nào mũ, nào áo măng tô, nào găng tay, nào khăn quàng cổ.

Aline đứng gần cửa xe, dáng vẻ to lớn phục phịch, chiếc mũ thồn thộn chụp sâu hẳn xuống đầu, người ních trong chiếc áo lông cáo cổ chật trùm kín cả mũi. Trông cô cũng có vẻ duyên dáng nào đó trong chiếc áo măng tô chữa lại bó sát người. Để chống chọi với làn gió lạnh làm dựng cả lông thú trên chiếc khăn quàng, cô cọ xát hai bàn chân vào nhau, thành ra trông cô cứ như giữ thăng bằng người trên mũi bàn chân. Đây thực là một thách thức đối với cái cơ thể phục phịch của cô. Trông cô có vẻ rầu rĩ, lo lắng, bất bình. Pierre thì như đứa trẻ hớn hở ngồi trước vô lăng chiếc chiến xa tuyệt vời. Cô biết rằng không gì có thể bắt anh dừng lại được - và về điều này người con trai anh là Joseph thừa hưởng từ nơi anh. Nhưng Joseph không có hình trong ảnh chụp. Có thể Joseph lúc đó là người chụp.

“Em yêu, như anh đã hứa”, Pierre đã mở đầu trang viết trên cuốn vở ghi chép cuộc hành trình như vậy. Đối với anh phải hứa làm bản tường trình thật trung thành mới có tiền cho chuyến đi. Anh phản ảnh những trục trặc nhỏ nhất trên đường: miêu tả những lần dừng xe phải đặt đôi tay lên mui xe nóng bỏng, lên cái lò sưởi bốc khói này như thế nào để khỏi rét cóng, nhân viên trạm xăng nóng tính ra sao, cả chuyện con mèo đen chạy qua đường mà anh cho đây là một điềm xấu - dường như được khẳng định bởi vì ngày hôm sau, khi qua Beauce hay Brie (“một sa mạc trắng”), ngoặt tay lái tránh con gà mái, xe anh bị lạng trên một váng băng và lao xuống hố. Nhờ 2 con bò, xe anh được kéo lên. Anh cảm ơn và mời rượu người nông dân chủ 2 con bò, song bác ta từ chối thẳng thừng như bị xúc phạm, có thể bác ta nghĩ là anh thưởng công. Pierre cũng ghi chép chỉ tiêu vào quyển sổ này. Anh muốn chứng minh rõ rằng chuyến đi không phải là một cuộc du lịch dễ chịu. Anh chọn những quán ven đường khiêm tốn, ăn trưa qua quýt, quáng quàng. Ngay cả nếu tự cho phép một thực đơn chắc dạ hơn ở bữa chiều, thì giữa món thịt bò hầm, gà hoặc vịt quay, anh chọn món thịt bò hầm mà anh cam đoan không thể có được hương vị kỳ lạ như ở nhà.

Xe lăn bánh thận trọng qua cánh đồng đầy tuyết phủ, anh mô tả tình trạng các con đường, phong cảnh, các đoạn chuyển tiếp, sự xuất hiện các hàng rào, đồi núi, sự thay đổi nền văn hóa, những vùng cỏ cây, như một giáo trình ngắn gọn về địa lý có biểu đồ hình vẽ minh họa. Tới Sens, anh ngất ngây hồi lâu trước nhà thờ Saint - Etienne, và tất nhiên ghi chép lại kiểu cách bài trí trong phòng đợi. Anh say sưa phấn khởi tới mức tự hỏi cái nhà thờ với “kích cỡ bề thế” này mà chẳng gợi lại cho anh hình ảnh người vợ to béo mà anh vừa chia tay. Trên đường đi anh cũng ghi chép về những cửa hàng kim khí, các cửa hiệu bán hàng nội trợ, thỉnh thoảng ghé vào một cửa hiệu (để gọi là có ý niệm), liều lĩnh đưa ra một ý kiến chê bai về mốt tất dài màu lòe loẹt ở Troyes[5], xếp hạng các thành phố theo mức độ sạch sẽ. Ở vùng đồng bằng, anh ghi chép những biến đổi của ánh sáng, về khoảng sáng trong bầu trời u ám, về những ánh phản chiếu màu xanh lơ trong sương mù. Tất cả cái màu trắng này làm anh lóa mắt: do vậy anh dán tờ giấy bóng kính mờ nhiều màu từ những chiếc kẹo chua nhơn nhớt lên đôi mắt kính, thích thú với trò này: giống như một anh hề phản chiếu trong kính chiếu hậu xe. Anh cảm động vì một người ăn xin lạc đường, lái xe đưa con người lang thang ngắc ngoải vì đói và rét này đến thành phố gần nhất và dúi vào tay ông ta vài xu, nhưng lại chửi rủa thậm tệ một đoàn người lang bang trong gió rét vì cái nhà xe lưu động của họ cứ lù rù như bò trên đường buộc xe anh phải chạy theo đuôi những con ngựa của họ.

Anh gợi nhớ lại người anh trai đã hy sinh, người mà anh sẽ tìm lại bên gốc cây bạch đàn, người mới chỉ một lần duy nhất được ôm ghì bé Rémi trong cánh tay, nhớ lại những khổ đau chung mà cả 3 anh em phải chịu đựng trong cuộc chiến tranh khủng khiếp này. Anh không cưỡng lại ý muốn đi vòng quanh Verdum, và đến Lemmes, trên con Đường Thánh[6], anh dừng lại trước một quán ăn - giải khát nhỏ. Ở đó, những người còn lành lặn hoặc mặt đầy sẹo do thương tích chiến tranh trông rất khủng khiếp tụ tập cùng nhau chia sẻ ký ức của những người sống sót như anh. Tất cả những con người hành hương từ cõi khổ đau này kể cả những người Đức, vẫn nhận ra nhau mà chẳng cần nói một lời. Họ chào nhau bằng cái gật đầu trước khi ngồi xuống, không sao dứt khỏi nổi ám ảnh kinh hoàng của chiến trường bị cày xới tan nát, nơi mà sự sống của họ chỉ có giá trị tượng trưng, sự sống mỏng manh đến mức chẳng còn hương vị gì. Gần quán cà phê, có một căn nhà tồi tàn bán đồ kỷ niệm mà người cai quản chỉ còn là một nửa con người (xét theo chiều cao). Chủ hiệu có lẽ không phải than phiền về việc bị cụt một cẳng chân nếu như không bị mất cánh tay cùng phía, vì như thế ông có thể chống nạng. Bà vợ, sáng ra đặt ông ngồi trông hàng và ông chờ ở đó, thẳng đuột như chữ “i”, đợi bà vợ chiều quay lại. Để gọi là mua giúp ông ta vài thứ, Pierre mua cho người chị gái Marie vài bức tranh Thánh in trong thời chiến tranh, một trong những bức tranh đó được thu nhặt từ Commercy.

Dẫu sao những suy nghĩ của anh vẫn hướng về người vợ, nó được ghi xen vào giữa các dòng chữ, được chêm với những từ dịu dàng - càng đi xa những dòng suy nghĩ này càng thể hiện rõ trong những điều anh tường thuật. Tới thị trấn Bac-le-Duc, trong căn phòng buồn tẻ của một khách sạn, anh đã bộc lộ sự ủy mị yếu đuối như các cô gái, tâm sự phía cuối trang trong một đoạn kết cho thấy anh nhớ vợ vô hạn - từ “vô hạn” được gạch chân nhiều lần bỗng nhiên trở nên rất chuẩn, cứ như thể sự vô hạn được đo bằng ôn[7] để lấp đầy sự trống rỗng trong cuộc đời họ. Qua lời tự thú này, và đồng thời chỉ cần nhìn bức thảm phai màu trong phòng, chiếc bình xách bằng sành trong chiếc chậu thau và chiếc bình nước trên bàn ngủ, có thể cảm thông ngay được với cái say mê vô tận của Pierre đối với người vợ chẳng mấy duyên dáng gì.

Từ đây anh hoàn thành nốt phần còn lại của chuyến đi một cách vội vàng. Không còn dạo nhở nhơ, thậm chí không còn nhọc công để viết nắn nót, từ bỏ lối văn phong tô điểm và cần mẫn của đứa học trỏ ngoan để viết thật nhanh nghuệch ngoạc - toàn tâm toàn ý thực hiện dự định của mình. Tất nhiên, cây bạch đàn đã không còn. Nó thật không thích hợp với cái khí hậu lạnh giá ở đây, đã chết vào một mùa đông sau nhiều năm chống cự bướng bỉnh, và đã bị đốn chặt. May mà còn lại cái gốc tuyết phủ trắng nên người bạn viết bức thư vẫn nhận ra nó. Bác ta chỉ ngạc nhiên sao lâu quá mới có người tới tìm kiếm xác Emile, và sau vài lời giới thiệu, bác kể lại cho Pierre về những giây phút cuối cùng của Emile, rồi cả hai vác cuốc xẻng đi tìm cái cây xứ nam cực đó. Bước chân họ lạo sạo trên tuyết trong cánh rừng Commercy.

Dưới gốc cây, đất đóng băng rất râu. Tiếng cuốc chim vang lên trong cánh rừng toàn cây to, làm rung chuyển các cành cây, làm tuyết từ đó rơi lả tả lên vai họ - và, sau những cố gắng cật lực mà chẳng kết quả, họ nghĩ có lẽ chỉ thắng được cái thứ đất đông cứng khốn kiếp này sau khi băng tan. Song chờ băng tan thì có mà đến tết. Mà Pierre thì không thể chờ đợi. Tức thì người kia nảy ra một ý. Hai người đàn ông quay về kiếm một cái thùng nấu giặt quần áo, xúc đầy tuyết đổ vào, đặt nó lên chiếc bếp lò vừa tự sáng chế với những cành cây khô, rồi khi nước sôi, họ đổ lên mặt đất đóng băng, chờ một lúc rồi hót thứ bùn nóng đi, và cứ thế, dần dần, như những nhà cổ sinh vật học thận trọng, họ đào tới được chỗ người chết nằm. Khi cái thi thể có lẽ gần như có quan hệ với graal[8] lộ ra, Pierre nói thật khó nhận ra người anh của mình trong cái thi thể chỉ mờ mờ như con người này - cái hình thể bị a-xít trong đất, độ ẩm và sự khác biệt giữa các mùa phân hủy, áo va-rơi mục vụn thành nhiều mảnh, khóa dây thắt lưng to bản không còn nguyên vẹn, khuôn mặt và đôi tay teo tóp bọc dưới lớp da, toàn bộ nằm trong quặng bẩn đất đá đóng băng - và, để đưa được xác ra, không có cách nào khác ngoài việc tiếp tục dội thứ nước sôi trong chiếc thùng giặt lên những phần còn lại đáng thương của một cuộc đời, như dội lên đầu những kẻ vây hãm leo lên đánh chiếm thành - và, khi đám hơi mù mịt trên chiếc hố nhỏ tan đi, hậu quả là trong cái khối nhão nhoét nóng bỏng, những mẩu thịt vụn cuối cùng đã bở vữa hết. Xương cốt trở lại màu trắng hếu. Bây giờ họ lần lượt nhặt từng chiếc xương thả vào thùng giặt rửa thật sạch sẽ rồi xếp lên trên tuyết theo một trật tự rất tỷ mẩn gần như nhà giải phẫu học, và chẳng mấy chốc, chao ôi thật kinh ngạc, họ đếm được số xương chày nhiều hơn cần thiết, có hai bộ khung xương lồng ngực và bây giờ là hộp sọ thứ hai. Người bạn, bối rối trước cái nhìn ngơ ngác của Pierre, nhớ lại bác ta đã lợi dụng cái hố đào sẵn để nhét một xác chết thứ hai vì thấy cái xác này thối rữa gần sát đó. Vấn đề thật nan giải, toàn bộ những khúc xương giờ đều không thể phân biệt được vì chúng đã được lóc khỏi những mẩu da cuối cùng: Trong hai bộ xương này, cái nào của Emile? Trong nỗi chán chường, thất vọng, Pierre đánh liều thử một giải pháp nực cười: vì đầu Emile và đầu anh có cùng một vòng đo, anh thử đội chiếc mũ phớt của anh lên hai hộp sọ, nhưng cả hai hộp sọ đều lọt thỏm lồi lên. Pierre đội lại mũ sau khi đã lau chùi phía trong nơi hai hộp sọ dính vào. Có lúc anh đã rất muốn chơi trò sấp ngửa với hai xác chết này (theo quan điểm của Simon de Montfort[9]: Thượng đế sẽ nhận biết được người của mình). Miễn là có được một bộ xương hoàn chỉnh. Nhưng rồi, sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng anh quyết định là chọn bộ xương được khai quật thứ hai, bởi nghĩ rằng thân thể của người anh trai chắc chắn đã được chôn xuống trước, song tác giả lá thư lại không nhớ thật rõ gì cho lắm, phân vân không biết có phải bác ta đã đẩy trước tiên cái xác bị phân hủy nhiều nhất xuống lòng hố hay không, đến đây thì Pierre e rằng với cái trò may rủi này có thể đánh mất xác người anh, nên đã đi đến kết luận thôi không cần bàn nữa: Anh sẽ mang tất cả về.

Họ trở về hơi muộn với những chiếc hòm vốn dùng đựng táo mà người kia vốn là nhân viên phân xưởng đóng bao bì đã thủ về để nhốt các chú thỏ. Nếu dùng quan tài thì không thể được: vì phải xin phép mỗi khi đi qua các quận, và trường hợp của Emile đã rắc rối rồi, không biết phải giải thích thế nào về cái xác sinh đôi này? Họ xếp các khúc xương và hòm, cố lèn thật chặt để không lúc lắc, dùng rơm chèn chặt như với những đồ bát đĩa dễ vỡ, chất các hòm lên xe, phủ chăn lên trên, rồi khi nhiệm vụ đã hoàn thành, Pierre nói với người đã giúp rằng anh phải về nhà ngay lập tức. Từ lúc đó, anh cho xe chạy bon một mạch, vun vút trên những con đường tuyết phủ, suýt sa xuống hố cả trăm lần, theo những con đường phụ vòng qua những thành phố lớn, lợi dụng đường vắng vẻ do thời tiết xấu và sự cô độc giữa cái thế giới trắng xóa để che giấu lỗi của mình, chỉ dừng lại để ăn uống, ngủ một hoặc hai giờ bên vệ đường, và để ghi lại câu chuyện khai quật theo lối văn điện tín, quyển sổ nhật ký đặt thăng bằng trên vòng vô-lăng xe. Phần còn lại, chúng tôi không biết gì nhiều hơn. Chỉ có người phụ nữ đã làm anh phải lái xe chạy rất nhanh độc quyền biết được cái đoạn kết vội vã này.

Về cái chết của Mathilde, khi mở hầm mộ, người đào huyệt kinh ngạc phát hiện ra những đống xương vụn được phủ kín bằng những tờ quảng cáo về loại táo Ma-đơ-len. Đó chính là tác phẩm cuối cùng của Yvon: Thật là trò trẻ con mà đi thuyết phục hắn ta rằng trong thời gian này, chiến tranh đã gây ra biết bao tàn khốc cho những người lính, đến mức thiếu cả những ván đóng quan tài mai táng những người.

❀ ❀ ❀

[1] Appalaches: Dãy núi miền đông Bắc Mỹ, nằm giữa Alabama và cửa sông Saint- Laurent.

[2] Anchorage: Một thành phố của bang Alaska.

[3] Saint - Flaurent: Thị trấn đảo Corse.

[4] Titanic: Tàu xuyên biển Atlantique thuộc hạm đội White Star Line của Anh, nổi tiếng về kích thước (dài 271m, trọng tải 60.000 tấn) và về trang bị sang trọng trên tàu. Ngay trong chuyến ra khơi đầu tiên trong đêm 14 rạng ngày 15/4/1912 tàu đã gặp nạn khi va phải một núi băng trôi ở miền nam Terre - Neuve và bị nhấn chìm, trong khi dàn nhạc và hành khách đang đồng thanh hát bài thánh ca: “Hỡi Thượng đế, hãy cho chúng con lại gần Người hơn nữa”. 1500 người đã chết. Chính thảm họa này làm cơ sở cho những Hội nghị quốc tế 1929 và 1948 về an toàn cho những người đi biển. Nhiều người cho rằng con tàu to nhất, vĩ đại nhất thời đó lại bị nhấn chìm ngay trong chuyến ra khơi đầu tiên thì chỉ có thể là tác phẩm của chúa trời hay quỷ dữ trừng phạt con người vì dám đặt biệt hiệu “không thể nhấn chìm” cho tầu.

[5] Troyes: Thủ phủ cũ của vùng Champagne, trên dòng sông Seine, cách Paris 1518 km về phía đông nam.

[6] La Voie Sacrée: Tên dùng trong chiến tranh thế giới thứ nhất của con đường từ thị trấn Bac-le-Duc đến phố Verdum ở Nante, là con đường chi viện duy nhất cho Verdum bị vây chặt.

[7] Aune: đơn vị đo chiều dài cũ bằng 1,18 - 1,20 m.

[8] Graal - chiếc bình mà người ta cho rằng Chúa Jésus đã dùng trong bữa cơm cuối cùng giữa Chúa với các tông đồ trước hôm Chúa chịu khổ hình. Ở thế kỷ 12 và 13, nhiều tiểu thuyết hiệp sỹ đã kể về việc các hiệp sỹ của vua Arthur đi tìm kiếm chiếc bình Graal.

[9] Bá tước Simon de Montfort (1208-1265), con trai thứ ba của lãnh chúa Simon IV (Pháp), lãnh đạo cuộc nổi dậy của các nam tước chống lại vua nước Anh Henri III.

n Học Năm xuất bản: 1993 Số trang: 216 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thùy An, Hoàng Kim, Kim Phượng, Thuận Thiên Kiểm tra: Thái Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 10/9/2011 Making Ebook Project #177 - www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean Rouaud

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.