Hội đồng quân sự quân khu vừa thảo luận những biện pháp mới nhằm nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị chưa được một ngày thì có điện báo của Mát-xcơ-va. Bộ Tổng tham mưu chất vấn: căn cứ vào đâu mà ra lệnh cho các đơn vị đứng ở các khu vực cố thủ chiếm lĩnh dải đất phía trước. Hành động đó có thể khiêu khích bọn Đức gây xung đột vũ trang. Phải hủy bỏ ngay lệnh này.
Bức điện làm tư lệnh buồn bã. Bởi đây là sáng kiến của đồng chí, và bây giờ lại phải hủy bỏ mệnh lệnh đã ban hành.
Thế mà lại có những tin tức mới đáng lo ngại từ các đơn vị bảo vệ.
Người bạn đồng ngũ của tôi ở kỵ binh là tướng Đ. X. Pi-xa-rép-xki, tham mưu trưởng tập đoàn quân 5, từ biên giới đáp máy bay về Ki-ép. Kiếc-pô-nô-xơ, Va-su-ghin và Puốc-ca-ép nghe anh báo cáo ngay. Pi-xa-rép-xki cho biết bọn Đức ngày càng tăng cường thế bố trí của chúng. Điều đặc biệt lo ngại là bọn phát-xít đá bắt đầu thu dọn vật cản đặt ở biên giới. Chúng đang ráo riết tập trung bom đạn, hơn nữa, còn xếp ngay trên mặt đất, tức là chúng không có ý định bảo quản lâu. Cuộc tiến công có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Còn bộ đội ta vẫn ở nguyên những nơi đóng quân cố định. Muốn chiếm lĩnh những vị trí phòng ngự được bố trí dọc biên giới, cần ít nhất một ngày, thậm chí tới hai ngày. Liệu địch có cho ta từng ấy thời gian không? Tham mưu trưởng tập đoàn quân kết thúc báo cáo tình hình bằng câu hỏi: đã đến lúc báo động chiến đấu cho bộ đội phòng thủ biên giới chưa?
Kiếc-pô-nô-xơ đăm chiêu. Đồng chí nói là hoàn toàn đồng ý với nỗi lo ngại của bộ tư lệnh tập đoàn quân. Tình hình biên giới quả là bất an, và Hội đồng quân sự quân khu sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết thuộc thẩm quyền của mình. Nhưng bây giờ chưa thể báo động chiến đấu, song cần suy tính kỹ càng để cho các sư đoàn thuộc thê đội một của tập đoàn quân tiếp cận biên giới quốc gia. Khi kết luận, tư lệnh tỏ ý tin rằng Mát-xcơ-va đã biết rõ tất cả và khi cần thiết sẽ báo trước cho chúng ta và hạ lệnh. Còn bây giờ, có lẽ, chưa phải lúc.
Nhưng chúng tôi hiểu rằng thời điểm đó đã sắp đến rồi. Cũng ngay hôm ấy có báo cáo của I. X. Va-ren-ni-cốp, tham mưu trưởng tập đoàn quân 26, gửi tới. Đại tá báo cáo: “Bọn Đức đang chuẩn bị xuất phát tiến công”.
Tất nhiên, Mát-xcơ-va biết rõ tình hình phía bên kia biên giới hơn chúng tôi và bộ tư lệnh tối cao đã áp dụng mọi biện pháp. Ngày 15 tháng Sáu, chúng tôi nhận được lệnh bắt đầu từ ngày 17 tháng Sáu sẽ đưa tất cả năm quân đoàn thuộc thê đội hai lên biên giới. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này ngay từ đầu tháng Năm: theo lệnh của Mát-xcơ-va, chúng tôi đã làm được nhiều việc, như chuẩn bị sẵn lệnh hướng dẫn cho các quân đoàn, cán bộ chỉ huy đã trinh sát các đường hành quân và các khu vực tập kết. Giờ đây chỉ còn hạ lệnh cho những người thực hiện. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc.
Các quân đoàn có từ hai đến ba ngày để chuẩn bị hành quân cơ động cấp tốc. Một số sư đoàn phải lên đường vào tối 17 tháng Sáu, những sư đoàn còn lại chậm hơn một ngày. Các đơn vị đều mang theo mọi thứ cần thiết cho tác chiến. Để giữ bí mật bộ đội chỉ được hành quân đêm. Tính ra đã phải chuyển quân đêm từ tám đến mười hai lần.
Kế hoạch được lập rất tỉ mỉ. Quân đoàn bộ binh 31 từ vùng Cô-rô-xten tới biên giới vào sáng 28 tháng Sáu, gần Cô-ven. Trước ngày 22 tháng Sáu, cơ quan tham mưu quân đoàn vẫn đóng ở địa điểm cũ. Quân đoàn bộ binh 36 phải chiếm lĩnh vùng biên giới Đúp-nô, Cô-din, Crê-mê-nét vào sáng 27 tháng Sáu; quân đoàn bộ binh 37 phải tập trung ở vùng Pê-rê-mư-sli-a-nư, Brê-gia-nư, Đu-na-i-úp vào sáng 25 tháng Sáu; quân đoàn bộ binh 55 (trừ một sư đoàn ở lại vị trí cũ) được lệnh tiến ra biên giới vào ngày 26 tháng Sáu, còn quân đoàn bộ binh 49 thì vào ngày 30 tháng Sáu.
Không để bọn Hít-le phát hiện được việc chuyển quân, chúng tôi không chọn khu vực tập kết các quân đoàn ở ngay sát biên giới, mà lui về phía Đông, các biên giới vài ngày đường chuyển quân.
Để kiểm tra việc tổ chức hành quân, Hội đồng quân sự yêu cầu phòng tác chiến cơ quan tham mưu tập đoàn quân phải cử đại diện xuống từng sư đoàn. Nhưng do không đủ người, nên phải huy động cả cán bộ của các phòng khác.
Công việc thêm dồn dập. Chúng tôi phải sửa lại một vài điểm cần thiết trong kế hoạch phòng thủ biên giới, chuẩn bị bản đồ tác chiến ở các hướng chiến dịch chủ yếu, xác định đường hành quân, nghiên cứu và tổng kết tài liệu trinh sát thực địa của các quân đoàn và tập đoàn quân. Ngoài ra còn tiếp nhận và bố trí hai tập đoàn quân, điều động các quân đoàn ra biên giới.
Tình hình đó buộc phải nhắc tướng Puốc-ca-ép rằng từ lâu, tôi đã đề nghị tăng thêm biên chế cho phòng tác chiến. Tướng An-tô-nốp có mặt trong lúc nói chuyện đã lắc đầu:
– Ồ, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích, lấy đâu ra mà tăng. Nghe nói, Bộ Tổng tham mưu có lệnh trong vòng hai tuần phải giảm hai mươi phần trăm biên chế bộ máy ở trung ương và các quân khu… Đừng nói đến chuyện xin thêm người, mà hãy nghĩ là sẽ phải chia tay với ai.
– Lệnh đâu? – Puốc-ca-ép bực tức hỏi.
– Chỉ nay mai thôi ta sẽ nhận được, - đồng chí chuyên gia về tổ chức và động viên” của chúng tôi thản nhiên trả lời.
– Bao giờ nhận được, chúng ta sẽ tính. – Im lặng một lát, Puốc-ca-ép nói thêm: - Còn phòng tác chiến, tôi không cho phép giảm biên chế. Đồng chí hãy tìm thêm người ở các phòng khác.
– Rõ, - An-tô-nốp vui vẻ đồng ý.
Tôi sung sướng vì tham mưu trưởng không cho giảm biên chế của phòng tác chiến… (Chúng tôi chưa kịp chấp hành lệnh đó thì chiến tranh đã bắt đầu. Sau này, tôi có cảm giác là không thể có một mệnh lệnh như vậy vào trước lúc nổ ra chiến tranh chỉ có một tuần, Khi viết cuốn hồi ký này, tôi quyết định phải kiểm tra lại trí nhớ của mình. Và quả là đã có một mệnh lệnh như thế.).
Khi lệnh hướng dẫn điều động các quân đoàn ra biên giới đến tay người chấp hành thì nảy sinh rất nhiều vấn đề và đề nghị.
Quân đoàn trưởng bộ binh 55 là người đầu tiên gọi điện cho Puốc-ca-ép. Đồng chí hỏi: nên giải quyết những phân đội đang tập huấn nhảy dù như thế nào và có điều thêm tới đây ba tiểu đoàn như trong kế hoạch không?
Puốc-ca-ép trao đổi với tư lệnh và sau đó bảo tôi;
– Báo cho quân đoàn trưởng, đưa ngay tất cả các phân đội vắng mặt trở về và không điều thêm một tiểu đoàn nào đến chỗ tập huấn nữa.
Sau này, tôi được biết các phân đội tham gia tập huấn không kịp trở về quân đoàn trước khi nổ ra chiến tranh.
Điện thoại ở chỗ tham mưu trưởng liên tiếp đổ hồi: người yêu cầu đưa các binh độ được bộ chỉ huy lấy đi làm các nhiệm vụ khác nhau trở về quân đoàn, người đề nghị nhanh chóng rút pháo binh từ thao trường về, người đề nghị bổ sung phương tiện vận tải. Các kế hoạch huấn luyện làm kinh tế và xây dựng đều lập ra cho thời bình. Bây giờ phải gấp rút sửa lại nhiều điều cơ bản. Nhưng chúng tôi không thể làm hết mọi việc nếu chưa có lệnh của Mát-xcơ-va.
Trong những ngày tháng Sáu đầy lo âu này, tôi đặc biệt nhớ tới một cuộc gặp gỡ. Một hôm, đang vùi đầu vào công việc, tôi không nhận ra có một người nào đó bước vào phòng làm việc.
– Chào đồng chí đại tá! – một giọng vui vẻ bỗng thốt lên.
Rời mắt khỏi bản đồ, tôi bắt gặp người quen cũ đang đứng trước mặt. Đó là trung tướng I. X. Cô-nép. Lần đầu tiên số phận ghép chúng tôi lại với nhau vào năm 1927, tại nhà an dưỡng ở Giu-rơ-dúp. Chúng tôi khá thân nhau. Người bạn mới của tôi trực tính và hóm hỉnh. Đồng chí đọc nhiều, tranh thủ từng phút rảnh rỗi.
Tôi cùng đồng chí chuyện trò nhiều vấn đề thuộc đời sống bộ đội mà chúng tôi cùng quan tâm. Qua những trao đổi đó, tôi biết Cô-nép là một cán bộ chỉ huy luôn luôn có những suy nghĩ độc đáo và sáng tạo, một người không chỉ am hiểu về chiến thuật, mà còn nắm vững phương pháp huấn luyện chiến đấu. Tôi thấy Cô-nép có tài phát hiện mầm mống của những cái mới, cái tiến bộ trong công tác quân sự. Mọi điều khuôn sáo đều làm cho đồng chí hết sức khó chịu, và dù thân thiết với nhau, bạn cũng không tránh khỏi những lời phê phán gay gắt.
Trước chiến tranh, Cô-nép đã chỉ huy quân khu Bắc Cáp-ca-dơ mà bộ phận chủ yếu của nó là tập đoàn quân 19 mới của chúng tôi. Đồng chí được bổ nhiệm làm tư lệnh tập đoàn quân này. Nhưng tôi không ngờ lại được gặp đồng chí ở đây, tại Ki-ép sớm như vậy.
Muốn chuyện trò nhiều, nhưng cả hai đều rất bận. Cô-nép đề nghị tôi cho biết về tình hình của quân khu. Tôi mời đại tá Bôn-đa-rép giới thiệu tình hình ở bên kia biên giới, còn tôi trình bày những gì nắm được về tình hình và vị trí đóng quân của bộ đội quân khu. Cô-nép hài lòng.
– Cảm ơn các đồng chí đã cho biết tình hình, - đồng chí nói. – Bây giờ, tôi có thể về đơn vị của mình.
Vẫn giọng sảng khoái như xưa, đồng chí chia tay tạm biệt.
– Chúc anh mọi điều tốt lành, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích. Hẹn gặp lại.
Khi ấy, chúng tôi không hề nghĩ rằng còn lâu mới gặp lại. Bởi sau đó, tôi cùng với bộ tham mưu quân khu rời đến Tác-nô-pôn,còn Cô-nép cùng với tập đoàn quân của đồng chí được điều động về Phương diện quân Tây.
Người chỉ huy pháo binh xuất sắc I-a-cô-vlép của chúng tôi được lệnh về Mát-xcơ-va làm chủ nhiệm Tổng cục pháo binh. Và trung tướng M. A. Pác-xê-gốp đến thay đồng chí vào giữa tháng Sáu. Chúng tôi còn ít biết về đồng chí. Tướng Kiếc-pô-nô-xơ và chính ủy quân đoàn Va-su-ghin đã quen đồng chí từ hồi công tác với nhau ở quân khu Lê-nin-grát. Đầu những nă ba mươi, tôi cùng với đồng chí Pác-xê-gốp, khi đó là một trung đoàn trưởng pháo binh trẻ tuổi, theo học tại Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-dê. Học xong, chúng tôi chia tay nhau.
Bước đường hoạt động của vị trung tướng pháo binh 42 tuổi này cũng giống như phần lớn các tướng lĩnh Hồng quân nổi tiếng. Pác-xê-gốp xuất thân từ một gia đình nông dân, năm mười chín tuổi đã gắn bó số phần của mình với những người bôn-sê-vích. Thời nội chiến, đồng chí chiến đấu ở Trung Á. Đầu óc thông minh sắc sảo và trí nhớ hiếm có đã giúp đồng chí trở thành một pháo thủ xuất sắc. Năm ba mươi tuổi, Pác-xê-gốp đã chỉ huy tiểu đoàn rồi trung đoàn pháo binh. Tiếp đó, đồng chí theo học ở Học viện binh chủng hợp thành, rồi lại trở về trung đoàn pháo binh, và chỉ ít lâu sau được đề bạt rất nhanh làm chủ nhiệm pháo binh quân khu Lê-nin-grát. Khi xảy ra chiến sự ở eo Ca-rê-li-a, đồng chí là chủ nhiệm pháo binh tập đoàn quân 7, sau đó lại về quân khu, rồi từ đó đến Mát-xcơ-va với cương vị tướng thanh tra pháo binh của Hồng quân. Ba năm phục vụ với những chức vụ cao nhất trong pháo binh đã giúp ích Pác-xê-gốp được nhiều. Hiện nay, đồng chí là một cán bộ chỉ huy có tầm nhìn chiến dịch bao quát, dũng cảm và quyết đoán.
Sáng 19 tháng Sáu, khi tôi báo cáo với Puốc-ca-ép về tin các quân đoàn tiến ra khu vực sát biên giới thì Pác-xê-gốp cùng tham mưu trưởng vá chủ nhiệm hậu cần pháo binh bước vào. Không khí trang nghiêm trong phòng làm việc của Puốc-ca-ép lập tức bị xáo trộn. Vóc người hơi gầy nhưng cân đối và hết sức linh hoạt, từ ngoài ngưỡng cửa, đồng chí đã cất tiếng sang sảng vui vẻ chào hỏi người thủ trương tư lự của chúng tôi. Đồng chí tiến đến, siết tay thật mạnh rồi nhanh nhẹn tiến về phía tôi, chìa bàn tay nhỏ nhắn rám màu đồng hung. Nụ cười long lanh trên đôi mắt màu sẫm.
– Chào I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích! Số phận lại đưa chúng ta…
Những ngón tay nắm chặt của Pác-xê-gốp vẫn không buông khỏi bàn tay tôi, đồng chí quay sang tham mưu trưởng và thốt lên:
– Puốc-ca-ép, đồng chí thấy không, tôi lại gặp đồng hương! Thật không hẹn mà nên!
Gieo mình xuống chiếc phô-tơi như ngồi lên yên ngạ, Pác-xê-gốp cần thận sửa lại ngôi Sao vàng trên ngực (đồng chí được phong Anh hùng Liên Xô vì những chiến công đột phá tuyến Man-néc-hem), vân vê bộ ria đen xẫm tỉa mảnh.
– Xin đồng chí cho biết những yêu cầu đối với chúng tôi?
Suốt cuộc gặp gỡ sôi nổi, khuôn mặt Puốc-ca-ép vẫn giữ vẻ bình tĩnh trang nghiêm và nhã nhặn lạnh lùng vốn có. Với giọng chậm rãi và khô khan, đồng chí bắt đầu trình bày thực chất của sự việc: do thiếu phương tiện chuyên chở nên những quân đoàn bộ binh được điều ra biên giới chỉ mang theo số đạn rất hạn chế. Làm thế nào để có thêm đạn dự trữ?
Pác-xê-gốp thốt lên:
– Bản đồ đâu?
Tham mưu trưởng pháo binh đưa ra tấm bản đồ gấp. Pác-xê-gốp nhanh nhẹn trải ra, chăm chú quán sát một lát, đôi lông mày đen mảnh nhíu lại, máy môi rồi ngẩng đầu lên:
– Những kho đạn pháo chủ yếu của ta cần được bố trí dọc theo các tuyến đường bộ đội hành quân. Khi tới địa điểm đã định, các quân đoàn sẽ có đạn.
– Đồng chí tư lệnh quân khu muốn có ít nhất một nửa cơ số đạn được chở tới địa điểm trước khi các quân đoàn hành quân đến. – Puốc-ca-ép nói.
Pác-xê-gốp ngước nhìn chủ nhiệm hậu cần pháo binh.
– Chúng tôi xin cố gắng, - đồng chí ấy trả lời.
– Không phải sẽ cố gắng, mà là sẽ hoàn thành, - Pác-xê-gốp dứt khoát cam đoan.
– Còn nữa, - Puốc-ca-ép nói để kết luận, - chúng tôi đề nghị đồng chí Pác-xê-gốp đích thân theo dõi sao cho toàn bộ phương tiện vật chất của pháo binh hiện còn nằm ở doanh trại vì không có phương tiện kéo, được đưa về ác quân đoàn trong thời gian ngắn nhất. chúng tôi sẽ lấy những xe còn lại của trung đoàn ô-tô quân khu để làm việc này. Nếu chưa đủ, sẽ chở ngay bằng đường sắt.
– Rõ. Chúng tôi sẽ hoàn thành! – chủ nhiệm pháo binh tuyên bố dứt khoát. Và đồng chí rời phòng làm việc cũng nhanh như lúc bước vào; tiếng nói vang, đanh theo giọng miền Đông của đồng chí còn vọng lại mãi từ ngoài hành lang.
Tôi xin nói trước một chút rằng Pác-xê-gốp đã giữ đúng lời hứa. Đồng chí đã nhanh chóng tổ chức việc chở đạn đến địa điểm tập trung được quy định của các quân đoàn bộ binh.
Ngày càng có nhiều báo cáo đáng lo ngại từ các tập đoàn quân gửi về. Trong số những điện báo nhận được ngày 19 tháng Sáu, tôi còn nhớ mãi bức điện của tướng Pô-nê-đê-lin, tư lệnh mới của tập đoàn quân 12. Đồng chí hỏi: nếu máy bay Đức xâm phạm vùng trời ta thì trong những trường hợp nào, bộ đội cao xạ có thể nổ súng.
Tướng Kiếc-pô-nô-xơ lệnh cho tham mưu trưởng trả lời như sau:
“Có thể nổ súng:
a) nếu có chỉ lệnh đặc biệt của Hội đồng quân sự quân khu;
b) khi đã tuyên bố lệnh động viên;
c) khi bắt đầu thực hiện kế hoạch phòng thủ biên giới, nếu trong đó không có lệnh cấm đặc biệt;
d) Hội đồng quân sự tập đoàn quân 12 đã biết rằng chúng ta không dùng cao xạ bắn máy bay Đức trong thời bình”.
Câu trả lời này ghi thêm một bằng chứng đáng tin cậy nữa là phía Liên Xô, bằng mọi biện pháp, đã cố tránh nổ ra cuộc xung đột vũ trang và không tạo cho bọn Hít-le có thể vin vào một cớ nhỏ nhất nào để vi phạm hiệp ước không tiến công lẫn nhau, mặc dù Liên Xô đã áp dụng những biện pháp ngày một kiên quyết để đề phòng trường hợp không thể tránh khỏi xung đột.
Cũng sáng hôm ấy, chúng tôi nhận được điện báo của Gh. C. Giu-cốp từ Mát-xcơ-va cho biết, bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng đã ra lệnh thành lập cơ quan chỉ đạo tác chiến của phương diện quân và đến ngày 22 tháng Sáu, cơ quan này sẽ chuyển về Tác-nô-pôn. Bức điện cũng ghi rõ phải giữ “tuyệt mật mệnh lệnh này và báo cho các cán bộ tham mưu quân khu biết rõ điều này”.
Chúng tôi đã suy nghĩ trước cả những vấn đề ấy. Chúng tôi tính, nếu chuyển toàn bộ cơ quan chỉ đạo tác chiến của phương diện quân bằng ô-tô thì không phải chỉ gặp khó khăn mà còn rất dễ bị phát hiện. Do đó, chúng tôi quyết định sử dụng cả đường sắt. Tư lệnh quân khu ra lệnh cho đoàn tàu khởi hành rời Ki-ép vào tối 20 tháng Sáu, còn bộ phận chủ yếu hành quân bằng ô-tô sé chuyển vào sáng ngày hôm sau.
– Còn bộ đội thì sao? – tôi hỏi tham mưu trưởng.
– Mới có lệnh riêng cho cơ quan chỉ đạo tác chiến của quân khu. Còn đồng chí cần nhanh chóng chuẩn bị toàn bộ các văn kiện về kế hoạch tác chiến của quân khu, kể cả kế hoạch phòng thủ biên giới quốc gia và chậm nhất là ngày 21 tháng Sáu phải gửi về Bộ Tổng tham mưu theo đường tàu hỏa và có bảo vệ chu đáo. Sau đó, đồng chí cùng anh em trong phòng đi ô-tô theo chúng tôi để chậm nhất là bảy giờ sáng ngày 22 tháng Sáu tới địa điểm ở Tác-nô-pôn.
Dĩ nhiên, tôi đã nói lên sự ngạc nhiên của mình là bộ tư lệnh đi đến sở chỉ huy mà không có phòng tác chiến thì nếu xảy ra điều gì sẽ không thể chỉ huy bộ đội, vì không có trong tay cả các sĩ quan tác chiến lẫn các nhân viên điện đài. Nhưng đề nghị của tôi là chỉ để lại vài ba sĩ quan với mình, còn những đồng chí khác sẽ do phó trưởng phòng dẫn đầu lên đường cùng với Hội đồng quân sự, không được Puốc-ca-ép tán thành, vì sáng 22 tháng Sáu, phòng tác chiến đã có mặt ở Tác-nô-pôn rồi, còn trước thời gian đó, chưa chắc đã cần đến.
– Mọi việc cứ theo như kế hoạch, - tướng Puốc-ca-ép khoát tay tỏ ý không nên mất thời giờ bàn luận nữa.
Tối 20 tháng Sáu, chúng tôi tiễn những người lên đường bằng tàu hỏa, và trưa hôm sau tiễn những người đi bằng ô-tô.
Sự bình tĩnh cao độ của bộ tư lệnh quân khu, tính thiết thực và chính xác của cơ quan chỉ đạo tác chiến của phương diện quân khi tổ chức và tập trung lên đường có ảnh hưởng tốt đến mọi người. Không ai tỏ vẻ lo âu đặc biệt. Một số đồng chí ở bộ phận hành chính – kinh tế còn nghĩ rằng đây chỉ là lên đường diễn tập theo kế hoạch, và chậm nhất đến thứ bảy sau, tất cả sẽ trở về Ki-ép.
Thứ bảy, chúng tôi đã gửi xong các văn kiện khẩn về Mát-xcơ-va. Mấy chiếc xe buýt và xe tải chạy đến cổng bộ tham mưu quân khu. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy nhanh chóng sắp xếp văn kiện, bản đồ, bàn ghế, máy chữ lên xe. Anh em vừa làm, vừa đùa tếu.
Một buổi chiều ấm áp. Hương thơm dịu mát phảng phất trong các công viên và vườn hoa rợp bóng. Người Ki-ép đi làm về. Đường phố nhộn nhịp. Không ai có thể nghĩ rằng chỉ còn mươi tiếng đồng hồ nữa thôi, cái khoảnh khắc bất hạnh kia sẽ ập tới, bất ngờ cắt đứt nhịp sống yên lành để rồi vang lên hai tiếng khủng khiếp “chiến tranh”.
Khi đoàn xe chúng tôi chạy qua những khu đông dân của thành phố tới đường rải nhựa đi Gi-tô-mia, trời hãy còn sáng. Ngồi trên chiếc xe con đi đầu đoàn xe, tôi lướt qua những trang báo mà ban ngày chưa kịp đọc và không thấy có tin gì đáng lo ngại.
Nhưng dù sao vẫn cảm thấy không yên. Có lẽ, bởi tôi và các đồng chí trợ lý biết được nhiều hơn những gì đăng trên báo.
Chưa đến Gi-tô-mia, chúng tôi đã nghe thấy tiếng còi gióng một của những chiếc xe đi sau. Tôi lệnh cho lái xe dẹp vào bên đường và dừng lại. Hóa ra, một số xe trục trặc phải nằm lại. Trong đêm, đoàn xe còn phải dừng lại mấy lần. Những trục trặc ngoài dự tính phá vỡ biểu đoàn hành quân. Có nguy cơ không đưa được đoàn xe đến Tác-nô-pôn trước 7 giờ sáng. Trong quân đội, ý thức chấp hành chính xác mệnh lệnh đã trở thành thói quen, nên không cho phép tôi được bó tay. Thêm vào đó, suốt đêm, tôi còn bị dày vò bởi ý nghĩ chiến tranh có thể xảy ra vào lúc rạng đông. Tôi hạ lệnh tăng tốc độ hành quân. Mờ sáng, chúng tôi mới đến gần Brô-đư – một thị trấn Ucra-i-na nhỏ, chìm trong bóng cây. Chúng tôi nghỉ lại mười phút.
Các phụ trách xe buýt và xe tải đón tôi ở cửa xe và báo cáo:
– Báo cáo đồng chí đại tá, mọi việc đều tốt đẹp.
Trở lại đầu hàng quân, tôi định phát tín hiệu “Xuất phát” thì bỗng nghe thấy tiếng còi rúc ở Brô-đư. Mọi người ngước mắt nhìn lên bầu trời.
Chúng tôi biết ở đây có sân bay tiêm kích và cường kích, Sao hôm nay, các chiến sĩ lại bắt đầu một ngày lao động sớm như thế…
Nhưng bỗng nghe thấy những tiếng nổ đanh. Mặt đấu rung lên. Một người nào đó kêu to:
– Nhìn kìa! Cháy rồi! Cháy rồi!
Từng cuộn khói bốc lên ở phía sau Brô-đư. Cặp mắt tinh tường của các chiến sĩ lái xe xác định: kho xăng dầu bị cháy. Ai nấy đứng sững trong im lặng lo âu. Một ý nghĩ cháy bỏng: “Chẳng lẽ chiến tranh rồi?!”.
Nỗi thắc mắc tan biến khi chúng tôi trông thấy những chiếc máy bay phơi rõ dấu thập ngoặc đen trên cánh. Ném bom xong, chúng quay lại quần đảo trên đầu chúng tôi. Ba máy bay ném bom tách khỏi đội hình và lao xuống. Mọi người chạy tản ra và nằm xuống hai bên vệ đường. Chỉ có mấy chiến sĩ lái xe kiên cường vẫn cặm cụi bên xe. Máy bay phát-xít hai lần là sát hàng quân bắn phá. Biết chỉ có hai người bị thương, tôi ra lệnh nhanh chóng băng bó cho anh em và tiếp tục lên đường.
Sự việc đã rõ ràng. Chiến tranh đã lao đến mảnh đất của chúng ta. Một ý nghĩ đau nhói nổi lên: chuyện gì đang xảy ra ở biên giới? Bởi vì ngay cả phần lớn các binh đoàn phòng thủ biên giới cũng đều rải ra ở khá xa tuyến biên giới, còn các quân đoàn thuộc thê đội hai đóng cách đường biên giới chừng 250 – 300 ki-lô-mét. Có ngăn chặn được quân thù không? Nếu không thì việc huy động các quân đoàn thuộc thê đội hai sẽ bị phá vỡ, và các đơn vị buộc phải lâm trận trong tình trạng hiện nay – còn thiếu nhiều sinh lực và phương tiện kỹ thuật.
Tôi chỉ có thể biết được tất cả những điều này khi đặt chân đến Tác-nô-pôn.
Chúng tôi vội tới đó, không chú ý đến số xe còn bị tụt lại.
Từ giờ phút ấy, con đường dài thử thách chiến tranh của tôi đã bắt đầu.