Rõ ràng, những đơn vị của phương diện quân bị những mũi thọc sâu của địch chia cắt, nên việc cố thủ tại tuyến sông Đni-ép-rơ ngày một thêm khó khăn. Như vậy, các đơn vị sẽ phải tiếp tục phòng ngự trong hoàn cảnh bị cô lập hẳn với những lực lượng khác của Hồng quân. Lúc gặp tôi, đại tá Da-khơ-va-ta-ép kể lại là đêm rạng ngày 11 tháng Chín, đồng chí cùng tướng Tu-pi-cốp tới gặp tư lệnh phương diện quân. Lúc đó, ở chỗ Kiếc-pô-nô-xơ có hai ủy viên Hội đồng quân sự - Buốc-mi-xten-cô và Rư-cốp. Tham mưu trưởng báo cáo tình hình. Kết luận của đồng chí là trong khi còn chưa muộn, phải rút bộ đội về tuyến sông Pxi-ôn, nơi đã chuẩn bị tuyến phòng ngự ở phía sau. Lập luận của Tu-pi-cốp rất xác đáng. Sau khi thảo luận tình hình mọi mặt, Hội đồng quân sự phương diện quân quyết định gửi Đại bản doanh bức điện với nội dung như sau:
“Tập đoàn xe tăng địch đã đột phá vào Rôm-nư, Grai-vô-rôn. Các tập đoàn quân 40 và 21 không thể tiêu diệt chúng. Cần phải điều ngay bộ đội từ khu vực cố thủ Ki-ép tới đường chuyển quân của địch và rút bộ đội phương diện quân về những tuyến đã báo cáo với các đồng chí (Những tuyến ở phía sau, đã được chuẩn bị trên sông Pxi-ôn.). Đề nghị phê chuẩn qua máy vô tuyến điện”.
Trong khi chờ Đại bản doanh trả lời, Kiếc-pô-nô-xơ và bộ tham mưu phương diện quân bắt tay vào việc phục hồi lại tuyến mặt trận đã bị đứt ở nhiều đoạn. Các tư lệnh tập đoàn quân 21 và 40 được lệnh đưa được càng nhiều lực lượng càng tốt vào các cụm xung kích và bằng những đòn đột kích hợp điểm vào Bu-khơ-ma-tsơ siết chặt sườn của các đơn vị. Tư lệnh các tập đoàn quân 21, 5 và 37 được lệnh bịt cửa mở trong các dải phòng ngự của mình. Bộ tư lệnh phương diện quân đặc biệt chú ý củng cố tình hình ở hướng Ô-xti-ô-rơ nhằm không cho địch vu hồi vào Ki-ép từ phía Đông – Bắc dọc theo tả ngạn sông Đni-ép-rơ. Sư đoàn bộ binh 147 của đại tá X. C. Pô-tê-khin ở khu vực cố thủ Ki-ép được điều tới Ô-xti-ô-rơ.
– Có thể điều thêm lực lượng nào đến đoạn này nữa? – Kiếc-pô-nô-xơ hỏi.
Tu-pi-cốp trả lời rằng đã để lại ở khu vực Ki-ép tiểu đoàn cơ giới thuộc sư đoàn của Bộ dân ủy nội vụ và hai đội du kích vừa mới thành lập để chiến đấu với bọn biệt kích địch. Kiếc-pô-nô-xơ hạ lệnh đưa cả những đơn vị trên vào chiến đấu. Nhưng điều đó cũng như muối bỏ bể.
– Như thế chẳng khác nào dùng xẻng để bịt lỗ rò ở đập Đni-ép-rơ, - Tu-pi-cốp đau xót nhận xét.
Khoảng hai giờ đêm, Đô-bư-kin, chủ nhiệm thông tin liên lạc phương diện quân báo cáo với Kiếc-pô-nô-xơ là có điện gọi của Mát-xcơ-va. Nguyên soái B. M. Sa-pô-sni-cốp lúc ấy lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu, cho biết: “Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao cho rằng cần tiếp tục chiến đấu tại các trận địa do những đơn vị của Phương diện quân Tây – Nam đang chiếm lĩnh theo điều lệnh đã quy định”. Tổng tham mưu trưởng nêu một loạt khuyến nghị nhằm diệt tan những cánh quân địch đã đột phá, nhưng lại không cho phép lấy ra một sư đoàn nào ở khu vực cố thủ Ki-ép.
Kiếc-pô-nô-xơ liên lạc với Bu-đi-ôn-nưi và đề nghị đồng chí trình bày với Tổng tham mưu trưởng rằng việc chậm rút bộ đội của phương diện quân chỉ một chút thôi cũng sẽ gây nên những hậu quả vô cùng tai hại. Mấy tiếng đồng hồ sau có cuộc nói chuyện giữa Bu-đi-ôn-nưi và Sa-pô-sni-cốp. Tổng tham mưu trưởng giữ nguyên ý kiến. Lúc ấy, Bu-đi-ôn-nưi gửi Đại bản doanh bức điện:
“Hội đồng quân sự Phương diện quân Tây – Nam cho rằng trong tình hiện hiện nay cần cho phép rút phương diện quân về tuyến sau. Nguyên soái Sa-pô-sni-cốp, Tổng tham mưu trưởng, thay mặt Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao trả lời đề nghị đó, đã ra chỉ thị lấy của tập đoàn quân 26 hai sư đoàn bộ binh và sử dụng họ để tiêu diệt địch từ khu vực Ba-khơ-ma-tsơ, Cô-nô-tốp đột phá tới. Đồng thời, đồng chí Sa-pô-sni-cốp còn chỉ ra rằng Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao cho việc rút những đơn vị thuộc Phương diện quân Tây – Nam về phía Đông là chưa đúng lúc. Về phía mình, tôi cho rằng lúc này đã hoàn toàn bộc lộ rõ ý đồ của địch là vu hồi và bao vây Phương diện quân Tây – Nam từ Nốp-gô-rốt – Xê-véc-xki về hướng Nam và từ Crê-men-tsúc về hướng Bắc. Để phá vỡ ý đồ trên, cần thành lập một cụm quân mạnh. Mà Phương diện quân Tây – Nam thì không thể làm được việc đó.
Nếu về phía mình, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao lúc này không có khả năng tập trung một cụm quân mạnh như thế, thì việc Phương diện quân Tây – Nam rút lui là hoàn toàn đúng lúc. Biện pháp quy định cho Hội đồng quân sự phương diện quân phải đưa ra phía trước hai sư đoàn của tập đoàn quân 26, chỉ là biện pháp để hỗ trợ. Hơn nữa, tập đoàn quân 26 sẽ rất suy yếu. Trên chính diện 150 ki-lô-mét chỉ còn ba sư đoàn bộ binh(X. M. Bu-đi-ôn-nưi không tính đến ba sư đoàn nữa đang được thành lập.). Việc chậm rút Phương diện quân Tây – Nam có thể dẫn đến tổn thất về quân số và một số lớn phương tiện vật chất. Cùng lắm, nếu việc rút quân không được xét lại, tôi đề nghị cho phép rút dù chỉ là bộ đội và số phương tiện kỹ thuật phong phú của khu vực cố thủ Ki-ép; những lực lượng và phương tiện này, tất nhiên, sẽ giúp Phương diện quân Tây – Nam chống lại việc bị bao vây”.
Xét theo lời đề nghị của Tu-pi-cốp, Da-khơ-va-ta-ép và căn cứ vào bản ghi những cuộc nói chuyện còn giữ lại được thì X. M. Bu-đi-ôn-nưi rất chú ý theo dõi sự phát triển những sự kiện ở phương diện quân chúng tôi. Đồng chí luôn luôn gọi Kiếc-pô-nô-xơ hoặc Tu-pi-cốp tới máy nói và hỏi về tình hình ở các khu vực Cô-tô-nốp và Rôm-nư. Bộ tư lệnh phương diện quân định kìm chân Gu-đê-ri-an cho tới khi các sư đoàn của Cô-xten-cô tiếp cận đến như thế nào, và đã làm những gì để đưa tập đoàn quân 5 thoát vây. Hôm ấy, giữa Bu-đi-ôn-nưi và Kiếc-pô-nô-xơ có cuộc nói chuyện sau đây:
– Đồng chí định tổ chức cung cấp cho bộ đội như htế nào, nếu địch cắt đường vận chuyển của phương diện quân? - tổng tư lệnh hỏi.
– Chỉ có thể vận chuyển bằng tuyến đường phía nam, - Kiếc-pô-nô-xơ đáp.
– Đồng chí không hiểu ý tôi. Tôi biết là tuyến đường phía Bắc đã bị cắt. Đồng chí sẽ làm gì nếu địch cắt cả tuyến đường phía Nam?
– Chỉ còn một cách – đường không.
– Máy bay không thể bảo đảm cho một khối lượng bộ đội lớn như thế được, - Bu-đi-ôn-nưi phản đối. – Ngay bây giờ phải hết sức tiết kiệm đạn dược và lương thực.
Máy ngừng rồi, Kiếc-pô-nô-xơ bảo Buốc-mi-xten-cô:
– Hết sức tiết kiệm – nói thì dễ lắm. Về lương thực thì còn được. Có thể rút khẩu phần đến mức tối thiểu, anh em chiến sĩ dễ thông cảm với ta. Nhưng làm sao có thể bắt tiết kiệm đạn khi mà trên toàn mặt trận, bọn phát-xít xông tới như những con sói điên đánh hơi thấy mồi?!
Thời gian còn lại trong ngày, chúng tôi bận túi bụi vào việc bịt vô vàn lỗ hổng trên tuyến mặt trận dài 800 ki-lô-mét và giải thoát những binh đoàn riêng lẻ của các tập đoàn quân 5 và 21 đang bị bao vây.
Tối ngày 11 tháng Chín, Mát-xcơ-va gọi Kiếc-pô-nô-xơ. Tư lệnh phương diện quân có Buốc-mi-xten-cô, Rư-cốp, Tu-pi-cốp và Da-khơ-va-ta-ép đi cùng vội vã tới phòng đàm thoại. Đứng bên máy lần này là đích thân Tổng tư lệnh tối cao.
Chào hỏi xong, Xta-lin tuyên bố: “Đề nghị của các đồng chí về việc rút về tuyến sông mà các đồng chí đã biết, theo tôi là nguy hiểm. Để chứng minh điều đó, Xta-lin dẫn chứng những thất bại khi bộ đội phương diện quân rút về phía sau sông Đni-ép-rơ. - “Có cái gì bảo đảm rằng hiện nay, điều đó sẽ không xảy ra một lần nữa? Đó là một. Hai là, trong tình hình hiện nay ở bờ Đông sông Đni-ép-rơ, việc rút quân do các đồng chí đề nghị có nghĩa là sẽ làm cho bộ đội ta bị hợp vây, vì địch sẽ tiến công vào các đồng chí không chỉ từ hướng Cô-tô-nốp, tức là từ phía Bắc, mà còn từ phía Nam, tức là từ hướng Crê-men-tsúc và cả từ phía Tây, bởi vì khi tra rút quân khỏi sông Đni-ép-rơ thì địch sẽ chiếm ngay bờ Đông sông Đni-ép-rơ và bắt đầu công kích. Nếu cánh quân địch ở Cô-tô-nốp nối liền được với cánh quân địch ở Crê-men-tsúc thì các đồng chí sẽ bị vây…”
Kiếc-pô-nô-xơ không rời mắt khỏi tấm băng đang từ từ kéo dài.
“Như các đồng chí thấy, các đồng chí đề nghị rút quân ngay mà lại không chuẩn bị trước tuyến vượt sông Pxi-ôn, đó là một, và hai là, các đồng chí không hiệp đồng với Phương diện quân Bri-an-xcơ công kích quyết liệt cụm quân địch ở Cô-tô-nốp, tôi nhắc lại, thiếu hai điều kiện đó, những đề nghị của các đồng chí về việc rút quân là nguy hiểm và có thể dẫn đến tai họa. Vậy có lối thoát nào không? Có thể như sau:
Một. Nhanh chóng bố trí lại lực lượng, dù chỉ là dựa vào lực lượng ở khu vực cố thủ Ki-ép và các đơn vị khác, và hiệp đồng với Ê-ri-ô-men-cô công kích quyết liệt vào cụm quân địch ở Cô-nô-tốp, tập trung ở khu vực đó chín phần mười không quân. Ê-ri-ô-men-cô đã nhận được những chỉ thị thích đáng rồi. Ngày hôm nay, chúng tôi sẽ ra một mệnh lệnh đặc biệt điều cụm không quân của Pê-tơ-rốp về Khác-cốp và chuyển thuộc nó dưới quyền chỉ huy của hướng Tây – Nam.
Hai. Tổ chức ngay tuyến phòng ngự ở sông Pxi-ôn hoặc nơi khác trên tuyến này, dành ra một cụm pháo lớn của phương diện quân cho mặt phía Bắc và phía Tây và điều năm – sáu sư đoàn về tuyến đó.
Ba. Sau khi đã thực hiện hai điểm trên, và chỉ sau khi đã thực hiện hai điểm trên, tức là sau khi đã tổ chức được một quả đấm để đối phó với cụm quân địch ở Cô-nô-tốp và sau khi đã làm tất cả những việc trên, sẽ bắt đầu sơ tán Ki-ép. Chuẩn bị chu đáo cho việc phá các cầu. Không để lại một phương tiện vượt sông nào ở Đni-ép-rơ, phải phá hủy chúng và sau khi sơ tán Ki-ép, sẽ bám trụ ở bờ Đông sông Đni-ép-rơ, không cho địch đột nhập vào bờ Đông.
Thôi, hãy chấm dứt việc tìm tuyến rút lui và phải tìm cách chống lại”.
Phòng đàm thoại in bặt. Với tính lô-gích gang thép của mình, Tổng tư lệnh tối cao có thể tước vũ khí của bất kỳ ai. Thậm chí Tu-pi-cốp cũng bối rối. Sau này, đồng chí nói với tôi là khi đọc băng điện, đồng chí nảy ra ý nghĩ: cần nhân đề nghị này mà trước tiên rút năm – sáu sư đoàn và phần lớn lực lượng pháo binh về tuyến sông Pxi-ôn. Chính đó sẽ là mở đầu cho việc rút bộ đội phương diện quân về tuyến mới. Vì, thực ra, Xta-lin không phản đối rút quân, mà chỉ yêu cầu bảo đảm tốt việc rút lui bằng tổ chức phòng ngự vững chắc trên dọc sông Pxi-ôn…
Nhưng tất cả đều sững người trước câu nói cuối cùng của Tổng tư lệnh tối cao: “Thôi, hãy chấm dứt việc tìm kiếm tuyến rút lui và phải tìm cách chống lại”.
Như Da-khơ-va-ta-ép kể lại, Kiếc-pô-nô-xơ tái mặt, nhẩm bật thành tiếng câu này hai lần. Đồng chí hỏi các ủy viên Hội đồng quân sự:
– Các đồng chí có ý kiến gì?
Rư-cốp im lặng, vò mái tóc rậm. Buốc-mi-xten-cô khẽ nhắc:
– Nếu không được rút quân thì chúng ta sẽ không đề nghị bỏ Đni-ép-rơ.
Thời gian cứ trôi qua, mà ở đầu dây kia, Xta-lin đang đang đợi.
Kiếc-pô-nô-xơ dứt khoát quay lại bảo nữ điện báo viên:
– Truyền đi!
Đồng chí nói chậm, như chắt lọc từng lời:
– Chúng tôi không có ý nghĩ rút quân trước khi nhận được yêu cầu phát biểu ý kiến rút quân về phía Đông và định rõ các tuyến sẽ đến chiếm lĩnh, mà chúng tôi chỉ yêu cầu xin tăng cường lực lượng dự bị cho Phương diện quân chúng tôi, vì trận tuyến của chúng tôi đã kéo dài đến hơn tám trăm ki-lô-mét…
Sau này, Da-khơ-va-ta-ép kể lại rằng khi nghe Kiếc-pô-nô-xơ nói, Tu-pi-cốp ôm đầu. Kiếc-pô-nô-xơ ngạc nhiên nhìn đồng chí, rồi lại tiếp tục nói với giọng khản đặc:
– Theo chỉ thị của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao nhận được đêm rạng ngày 11 tháng chín, chúng tôi rút của tập đoàn quân Cô-xten-cô hai sư đoàn bộ binh có kèm theo pháo binh và điều bằng đường xe lửa về hướng Cô-nô-tốp với nhiệm vụ phối hợp với các tập đoàn quân Pốt-la-xơ và Cu-dơ-nê-txốp nhằm diệt tan cụm quân cơ giới của địch đã đột nhập vào hướng Rôm-nư. Theo chúng tôi, hiện nay không thể lấy thêm quân của khu vực cố thủ Ki-ép, vì đã rút ở đây hai sư đoàn rưỡi cho hướng Tséc-ni-gốp rồi. Chỉ có thể lấy ở khu vực cố thủ Ki-ép một phần pháo binh. Chỉ thị của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao mà chúng tôi vừa nhận được sẽ được thực hiện ngay. Hết.
Bản thân Kiếc-pô-nô-xơ không nhận thấy là đồng chí bỗng nhiên đã từ bỏ toàn bộ những gì mình vừa đề nghị. Tất cả mọi người bên cạnh hiểu ngay điều đó. Và, tất nhiên, không thoát khỏi sự chú ý của Xta-lin. Máy lại gõ. Lời lẽ trên băng nặng như chì:
“Thứ nhất. Những đề nghị về rút quân của Phương diện quân Tây – Nam là xuất phát từ đồng chí và từ Bu-đi-ôn-nưi, tổng tư lệnh hướng Tây – Nam. Đây là những đoạn trích trong bức điện của Bu-đi-ôn-nưi ngày 11…” Tiếp theo là những câu trong bức điện của Bui-đi-ôn-nưi mà bạn đọc đã biết. Trong đó, dựa vào đề nghị của Hội đồng quân sự phương diện quân và với tính thẳng thắn, kiên quyết của mình, Bu-đi-ôn-nưi đã khẩn khoản đề nghị cho rút bộ đội Phương diện quân Tây – Nam.
Máy tạm ngừng, dường như người nói ở đầu dây bên kia muốn cho người đối thoại có thể tập trung suy nghĩ dù ít thời gian. Sau đó, dây băng lại chuyển:
“Đồng chí thấy đấy, Sa-pô-sni-cốp phản đối rút quân, còn tổng tư lệnh hướng Tây – Nam lại chủ trương rút, cũng như Phương diện quân Tây – Nam thì chủ trương rút quân ngay…” Thay cho kết luận là một mệnh lệnh phải tuyệt đối chấp hành: “… Nếu không được phép của Đại bản doanh thì không được bỏ Ki-ép và không được phá các cầu. Hết. Tạm biệt”.
Kiếc-pô-nô-xơ vừa lau trán đẫm mồ hôi, vừa trả lời:
– Chỉ thị của đồng chí, chúng tôi đã rõ. Xin hết. Tạm biệt.
Vung tay vẻ bực tức, đồng chí chạy ra khỏi phòng đàm thoại.
– Làm gì bây giờ? – Tu-pi-cốp hỏi Buốc-mi-xten-cô.
– Phải suy nghĩ, đồng chí ạ. Mệnh lệnh là mệnh lệnh.
– Giá cứ suy nghĩ mà ra được lực lượng thì hay quá. Còn khi lực lượng không có thì nghĩ mãi cũng chẳng được ích gì.
Hôm sau, chúng tôi được biết, Đại bản doanh đã cách chức tổng tư lệnh bộ đội hướng Tây – Nam của Bu-đi-ôn-nưi và chỉ định Nguyên soái Liên Xô X. C. Ti-mô-sen-cô thay thế.
Ngày 12 tháng Chín, tập đoàn quân 38 nhận được mệnh lệnh ngừng tiến công, nên những đại diện của bộ tư lệnh phương diện quân không cần ở đây nữa. Các tướng Pác-xê-gốp, Vôn-xki, đại tá Lô-đô-vôi – Sép-tsen-cô, tôi và những đồng chí cùng đi tập trung tại sở chỉ huy tập đoàn quân. Sau khi hội ý, chúng tôi quyết định đề nghị tổng tư lệnh hướng trả chúng tôi về bộ tham mưu phương diện quân. Chúng tôi liên lạc với thiếu tướng A. P. Pô-crốp-xki, tham mưu trưởng hướng. Đến khuya, chúng tôi được trả lời: tổng tư lệnh ra lệnh cho chúng tôi ở lại tại chỗ và tiếp tục giao cho việc chỉ huy bội đội tập đoàn quân 38. May là chúng tôi vẫn liên lạc được với bộ tham mưu phương diện quân. Khó khăn lắm tôi mới gọi được tướng Tu-pi-cốp tới máy. Máy làm việc tồi. Tuy nhiên, tôi vẫn kịp báo cáo tình hình công việc với thiếu tướng. Đồng chí hứa sẽ dùng đủ mọi cách. Tôi không biết thủ trưởng của tôi làm thế nào, nhưng sáng 13 tháng Chín, bộ tham mưu của tổng tư lệnh báo cho chúng tôi được phép trở về bộ tham mưu phương diện quân.
Lát sau, Vôn-xki và những sĩ quan cùng đi, tôi cùng thiếu tá Xáp-tsúc và thượng úy Bô-khô-rốp là sĩ quan tùy tùng của tôi lên xe nhằm về hướng Rô-sê-ti-lốp-ca, nơi có trạm liên lạc tiền phương của bộ tham mưu của tổng tư lệnh. Chúng tôi hy vọng được biết làm sao để trở về với đồng đội. Pác-xê-gốp và Lô-đô-vôi – Sép-tsen-cô phải nhập đoàn với chúng tôi sau một chút.
Dọc đường gặp nhiều phân đội lẻ tẻ, những đoàn vận tải bị tách khỏi các đơn vị, các cơ quan hậu cần. Như thường xảy ra khi rút lui, không ai biết rõ tình hình.
Gần Rê-sê-ti-lốp-ca, chúng tôi gặp đoàn vận tải của sư đoàn bộ binh 297. Qua một cán bộ chỉ huy, chúng tôi biết rằng các xe của cơ quan tham mưu tập đoàn quân 38 đã bắt đầu rời Rê-sê-ti-lốp-ca. Tôi rất ngạc nhiên: vì theo những tin tức chúng tôi nắm được, thì cơ quan tham mưu cùng với những sư đoàn bên sườn phải của tập đoàn quân đã bị các đơn vị của Clai-xtơ cắt rời. Tại sao nó lại có thể ở đây, bên tả ngạn sông Pxi-ôn được.
Tìm được trạm liên lạc ở Ra-sê-ti-lốp-ca khá vất vả. Tin tức nhận được làm chúng tôi buồn rầu: mọi con đường dẫn đến bộ tham mưu phương diện quân đều đã bị địch cắt. Các đồng chí đưa cho chúng tôi lệnh của tổng tư lệnh hướng ở lại Rê-sê-ti-lốp-ca cho đến khi có chỉ lệnh đặc biệt, chỉnh đốn lại những đơn vị vừa thoát vây về đây và tổ chức phòng ngự bằng những lực lượng đó. Chúng tôi bắt tay ngay vào thi hành nhiệm vụ. Tướng Vôn-xki tới khu vực tập trung của hai lữ đoàn xe tăng được điều từ sườn trái tập đoàn quân đến, còn tôi bắt đầu tìm kiếm cơ quan tham mưu tập đoàn quân 38. Anh em chỉ cho tôi một ngôi nhà nhỏ ở ngoại vi Rê-sê-ti-lốp-ca. Ở đó, tôi đã gặp thiếu tướng V. N. Xim-vô-lô-cốp, tham mưu trưởng tập đoàn quân 38. Trong những năm ba mươi, tôi cùng học với đồng chí ở Học viên mang tên M. V. Phrun-đê. Nhưng phải tạm thời gác tình bạn cũ lại. Tôi nghiêm khắc hỏi tại sao cơ quan tham mưu lại bị cắt đứt với các đơn vị của mình. Xim-vô-lô-cốp cho biết không chỉ có một mình cơ quan tham mưu thoát vây, mà còn có sư đoàn bộ binh 297 của đại tá G. A. A-pha-na-xi-ép và một bộ phận sư đoàn kỵ binh 37 của đại tá G. M. Rôi-ten-béc. Sau này mới biết, những binh đội còn lại của sư đoàn kỵ binh và sư đoàn bộ binh 97 do đại tá Ph. V. Man-txép chỉ huy, đã rút sang hữu ngạn sông Xu-la và chiếm lĩnh tuyến phòng ngự ở đấy. Ngày 13 tháng Chín, tư lệnh phương diện quân đặt các đơn vị dưới quyền của tư lệnh tập đoàn quân 26.
Thiếu tướng cho biết, khó khăn hất trong khi phá vây là vượt sông Pxi-ôn.
– Không có phương tiện vượt sông, mà bọn Đức đã chiếm hết các cầu. Còn chúng tôi thì cả một đoàn ô-tô và xe ngựa. Làm thế nào bây giờ? Chúng tôi quyết định công kích ban đêm để chiếm bến vượt sông, và rồi đã chiếm được. Bọn địch điên cuồng, nhưng chúng tôi vẫn giữ được cầu cho tới khi người chiến sĩ cuối cùng vượt qua. Sau đó, chúng tôi cho phá cầu.
Lúc này, cơ quan tham mưu tập đoàn quân đang tổ chức phòng ngự dọc sông Pxi-ôn, nhưng lực lượng quá mỏng. Xim-vô-lô-cốp chỉ có thể giải những phân đội cảnh giới nhỏ đến làng Vê-li-cai-a Bô-ga-tsơ-ca, còn ở xa hơn nữa thì tuyến mặt trận đã bị đứt. Như vậy, hướng đi Pôn-ta-va từ phía Tây – Bắc đã bị hở. Bộ tham mưu cả tổng tư lệnh hướng và tư lệnh tập đoàn quân 38 đang áp dụng mọi biện pháp nhằm lấp những lỗ hổng trên tuyến mặt trận.
Chúng tôi thảo luận xem nên bố trí bộ đội như thế nào cho tốt nhất. Sau đó, được phép của Nguyên soái. C. Ti-mô-sen-cô, tôi đến bộ tham mưu hướng ở gần Pôn-ta-va. Tại đây, tôi được đọc bản thông báo tác chiến cuối cùng. Thật là ảm đạm. Chỉ còn những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 37 ở khu vực Ki-ép và tập đoàn quân 2 đang phòng ngự dọc sông Đni-ép-rơ ở phía Nam và Đông – Nam thành phố còn giữ vững được các tuyến. Trong dải phòng ngự của các sư đoàn 21, 5 và các sư đoàn sườn phải thuộc tập đoàn quân 37, bộ đội ta phải từ từ rút lui trước sức ép của các lực lượng địch chiếm ưu thế hơn. Không còn trận tuyến liên tục nữa. Khoảng đứt quãng giữa tập đoàn quân và các quân đoàn ngày một rộng, và những binh đoàn địch lũ lượt kéo vào đó.
Các tập đoàn quân ở cánh Bắc phương diện quân ra sức kìm địch ở sông Ô-xti-ô-rơ. Những trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở vùng Nê-gin. Ở phía Tây thành phố này, giữa Cô-đa-rư và Cô-dê-lét, chính diện bị chọc thủng, và những binh đoàn thuộc tập đoàn quân 6 của Đức đã thọc sâu vào lỗ hồng đó. Ở khu vực Cô-bư-giơ-tsơ, chúng đã cắt đứt tuyến đường sắt nối Nê-gin với Ki-ép. Những binh đoàn ở sườn phải của tập đoàn quân 37 đánh lui những đợt công kích của các sư đoàn bộ binh địch đang tiến công dọc theo đường cái Cô-dê-lét – Ki-ép. Địch cố vòng qua những sườn bị hở của các tập đoàn quân 5 và 21 đã mấy lần rơi vào vòng vây. Trung tướng V. I. Cu-dơ-nê-txốp, tư lệnh tập đoàn quân 21, báo cáo là ba sư đoàn của đồng chí – 187, 219 và 117 – đã chiến đấu vất vả lắm mới thoát vây được. Các binh đoàn của ta bị tiêu hao trong những trận chiến đấu ác liệt. Về thực chất, bộ đội phương diện quân đã bị cắt rời. Các tập đoàn quân lâu không được bổ sung, nay bị mất đi những lực lượng còn lại. Thí dụ, tập đoàn quân 40 lúc này chỉ còn gần năm nghìn tay súng, một trăm pháo và mười xe tăng. Tình hình của tập đoàn quân 5 cũng không hơn gì. Ở các sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 31 của tập đoàn quân do tướng N. V. Ca-li-nin tiếp tục chỉ huy, chỉ còn không đầy hai nghìn rưởi tay súng. Nhưng không hiểu có điều kỳ diệu nào mà những binh đoàn đã bị tiêu hao như vậy lại có thể cố thủ được trên một khu vực dài gần bảy mươi ki-lô-mét.
Tôi được xem báo cáo của Kiếc-pô-nô-xơ gửi Bộ Tổng tham mưu và tổng tư lệnh hướng kết thúc bằng những câu như sau:
“Phương diện quân phải chiến đấu trong những điều kiện bị bao vây và các đường giao thông đã hoàn toàn bị cắt đứt. Tôi chuyển sở chỉ huy về Ki-ép, đó là địa điểm duy nhất để từ đó có thể chỉ huy bộ đội. Đề nghị chuẩn bị những biện pháp cần thiết nhằm cung cấp cho các tập đoàn quân của phương diện quân đạn dược bằng đường không”.
Tim tôi thắt lại vì càng có ít khả năng trở về với bộ tham mưu phương diện quân.
Sáng 16 tháng Chín, tôi được gọi lên gặp Tổng tư lệnh hướng. Trong phòng làm việc có X. C. Ti-mô-sen-cô và ủy viên Hội đồng quân sự hướng là N. X. Khơ-rút-sốp.
– Thế nào, vẫn định về với người mình chứ? – Nguyên soái hỏi.
– Vâng, đúng thế. Trong lúc khó khăn này, tôi có nhiệm vụ phải có mặt ở bộ tham mưu phương diện quân. Mọi đường đều đã bị cắt đứt, nên tôi xin phép được dùng máy bay.
Nhìn tôi với vẻ tán thành, tổng tư lệnh bắt đầu nói về tình hình trên hướng Ki-ép. Hình thái tác chiến của bội đội phương diện quân ngày một xấu. Hôm qua, địch chỉ cách bộ tham mưu phương diện quân khoảng hai mươi – ba mươi ki-lô-mét. Chỉ một chút nữa là việc chỉ huy bộ đội có thể bị tê liệt.
Chậm rãi xoa thái dương như thể làm dịu cơn đau, Nguyên soái nói:
– Bây giờ, chúng tôi làm hết khả năng để giúp phương diện quân: điều đến Rôm-nư và Lúp-nư toàn bộ lực lượng mà chúng tôi có thể lấy được, kể cả quân đoàn kỵ binh của Bê-lốp được tăng cường xe tăng và ba lữ đoàn xe tăng độc lập. Mấy ngày sau, những sư đoàn của Ru-xi-a-cốp và Lu-di-u-cốp(Sư đoàn bộ binh cận vệ 1 và sư đoàn bộ binh cơ giới cận vệ 1.) tới chỗ chúng tôi. Chúng tôi sẽ dùng những lực lượng đó đột phá để đón những đơn vị bị bao vây của phương diện quân. Chúng tôi hiểu rõ rằng không thể diệt hai tập đoàn quân xe tăng của phát-xít đã đột nhập, nhưng có thể tạo ra được những cửa mở mà nhờ đó, các đơn vị đang bị vây có thể thoát ra ngoài. Đó chính là mục đích những đòn đột kích của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng Tổng tư lệnh tối cao sẽ cho phép Phương diện quân Tây – Nam rút về sông Pxi-ôn. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định ngay bây giờ sẽ ra mệnh lệnh tổ chức thoát vây.
Tổng tư lệnh im bặt đi đi lại lại trong phòng khoảng một phút.
– Ngày hôm may, chúng tôi thử nói chuyện một lần nữa với Mát-xcơ-va xem. Tôi tin rằng chúng tôi sẽ thuyết phục được Đại bản doanh. Trong lúc chúng tôi nói chuyện thì Kiếc-pô-nô-xơ và bộ tham mưu cần biết lợi dụng tình hình địch chưa có tuyến hợp vây liên tục.
Tôi cho rằng sau những lời đó, Nguyên soái dường như trút bỏ được những ngờ vực cuối cùng. Khuôn mặt truyền cảm của đồng chí dịu đi, những nép nhăn sâu trên trán giãn ra. Đồng chí tiếp tục nói dần từng chữ:
– Đồng chí Ba-gra-mi-an, đồng chí báo cáo với tướng Kiếc-pô-nô-xơ: trong tình hình hiện nay, Hội đồng quân sự hướng Tây – Nam cho rằng đối với bộ đội Phương diện quân Tây – Nam, việc rút lui có tổ chức là một quyết tâm duy nhất hợp lý. Đồng chí chuyển cho tư lệnh phương diện quân mệnh lệnh miệng của tôi: sau khi bỏ khu vực cố thủ Ki-ép và được yểm hộ bằng những lực lượng nhỏ dọc sông Đni-ép-rơ, cần bắt đầu ngay rút những lực lượng chủ yếu về tuyến phòng ngự phía sau. Nhiệm vụ chính là cùng với sự chi viện của các lực lượng dự bị của chúng ta phải đánh tan địch đã tiến vào sau lưng bộ đội phương diện quân, sau đó chuyển sang phòng ngự dọc sông Pxi-ôn. Kiếc-pô-nô-xơ cần hoạt động tích cực đến mức cao nhất, đột kích quyết liệt hơn nữa trên các hướng ở Rôm-nư và Lúp-nư, không chờ chúng tôi giải vây.
Tôi thở dài nhẹ nhõm. Đã le lói tia hy vọng không phải là tất cả đã mất hết.
Sau khi ra chỉ thị về trình tự rút quân và tổ chức chỉ huy bộ đội trong điều kiện phá vây, tổng tư lệnh nói để chia tay:
– Phải thật khẩn trương lên, đồng chí Ba-gra-mi-an ạ. Đừng để Kiếc-pô-nô-xơ chậm trễ! Tướng Pha-la-lê-ép sẽ bảo đảm cho đồng chí đáp máy bay từ Pôn-ta-va tới khu vực Pi-ri-a-tin.
Không để mất thời gian, tôi tới ngay chỗ tư lệnh không quân của hướng. Ph. I-a. Pha-la-lê-ép cho biết, đồng chí đã dành cho tôi một máy bay ném bom có tốc độ cao với một tổ lái dày kinh nghiệm.
Mọi việc hình như đều trôi chảy. Nhưng có một điều làm tôi lo lắng: Hội đồng quân sự hướng Tây – Nam giao cho tôi quyền hành quan trọng như thế, mà không có văn bản. Thật ra còn phải tính đến chuyện máy bay có thể bị bắn rơi, và không nên để một tài liệu như thế lọt vào tay địch.
Do thời tiết xấu, nên hôm sau, chúng tôi mới có thể bay được. Anh em bố trí tôi ngồi ở trong tháp trong suốt của xạ thủ kiêm nhân viên điện đài. Ngồi đây có thể phóng tầm nhìn rộng ra xung quanh. Hai máy bay tiêm kích hộ tống chúng tôi. Vượt qua tuyến mặt trận thì chúng quay lại. Lúc ấy, chân trời bỗng xuất hiện những chấm đen. Chiến sĩ lái không rẽ ngoặt và cứ với tốc độ cao nhất điều khiển máy bay về phía Tây. Chúng tôi gặp may, thoát khỏi đội máy bay tiêm kích địch. Đã đến sân bay Grê-bi-ôn-ca là địa điểm hạ cánh quy định. Chúng tôi được tiếp đón không lấy gì làm niềm nở. Cao xạ bắn lên. Hỏa lực chỉ ngừng sau khi chúng tôi bắn một loạt pháo hiệu chứng tỏ “tôi là người mình”. Tổ lái hạ cánh an toàn. Chúng tôi bước ra khỏi buồng lái. Một người vội vã chạy về phía chúng tôi:
– Các anh làm gì vậy! – đồng chí kêu lên từ xa.
Chạy đến nơi, viên đại úy với phù hiệu màu xanh da trời cố nén thở.
– Các anh làm gì vậy?! Sân bay đã gài mìn rồi!
Chúng tôi chỉ có thể vui mừng vì việc gài mìn chưa tốt.
Đại úy là phi công Ác-tê-mi-ép, đại diện của bộ tư lệnh không quân phương diện quân tại sân bay Grê-bi-ôn-ca. Tôi đề nghị đồng chí cho xe đưa tới bộ tham mưu phương diện quân. Cán bộ và chiến sĩ vây quanh chúng tôi. Những khuôn mặt trẻ trung, dầu dãi gió sương lộ vẻ ngạc nhiên cao độ: một vị tướng từ đâu lại đến sân bay họ để làm gì? (Đây là một trong vô số những cuộc gặp gỡ ngoài mặt trận, và tất nhiên, tôi không nhớ tên một đồng chí nào trong số những người nói chuyện với tôi ở sân bay. Nhưng sau khi xuất bản cuốn sách “Thành phố chiến đấu trên sông Đni-ép-rơ” của tôi, thì trong số bạn đọc viết thư cho tôi, có một người được thưởng nhiều huân chương chiến đấu là thượng úy dự bị A. Ph. Mai-cốp. Trong thư, đồng chí có nhắc tới cuộc gặp gỡ đó).
Anh em xôn xao hỏi tôi:
– Thưa đồng chí thiếu tướng, có đúng là chúng ta đã bị bao vây không?
– Chúng ta làm gì bây giờ: rút lui hay chiến đấu?
Tôi cảm thấy anh em bị dằn vặt vì không rõ tình hình chứ không phải vì khiếp sợ. Mọi người vẫn bình tĩnh, sôi nổi trêu chọc nhau, nói đùa câu đạt, câu không, tóm lại, họ vẫn xử sự như một lớp trẻ lúc tập hợp đông người.
Tôi cố gắng trả lời ngắn gọn, giải thích rằng bộ tư lệnh tối cao ta biết rõ tình hình của phương diện quân và đang tập trung mọi biện pháp để chi viện cho chúng ta.
Lát sau, ô-tô tới. Tôi thân mật chia tay anh em.
Vất vả lắm, tôi mới tìm được bộ tham mưu phương diện quân đóng ở làng Véc-khô-i-a-rốp-ca, phía Bắc Pi-ri-a-rốp-tin. Tướng Tu-pi-cốp ôm chặt tôi:
– A! Thế là đứa con đi hoang của chúng ta đã về!
Nhìn khuôn mặt hốc hác, đôi mắt sâu hoắm, nhưng vẫn sinh động như xưa của đồng chí, tôi nghĩ rằng được kết bạn với con người thông minh và đôn hậu đó thật là hạnh phúc.
Tu-pi-cốp cho biết tai họa của đồng chí. Khi Đại bản doanh cấm rút quân, đồng chí quyết định gửi một báo cáo tỉ mỉ về tình hình của phương diện quân, trong đó có kết luận rằng không thể tiếp tục giữ nổi Ki-ép. Kiếc-pô-nô-xơ từ chối không ký bức điện đó. Nó được gửi về Mát-xcơ-va, nhưng chỉ có chữ ký của tham mưu trưởng phương diện quân. Hôm sau, có điện trả lời của Bộ tổng tham mưu. Tu-pi-cốp bị buộc là hoang mang, đánh giá các sự kiện không khách quan. Đồng chí vẫn còn buồn phiền nhiều về việc này. Khi tôi trình bày với đồng chí mệnh lệnh mới của tổng tư lệnh, Tu-pi-cốp tươi tỉnh hẳn lên:
– Như thế nghĩa là tôi đúng! – Và đồng chí giục: - Đến gặp tư lệnh ngay! Phải nhanh lên mới được. Nếu chúng ta lề mề thì vòng vây sẽ khép chặt, khó mà phá nổi.
Bộ tư lệnh phương diện quân đóng ở trong cánh rừng cách bộ tham mưu vài ki-lô-mét. Chúng tôi đi ô-tô tới đó. Dọc đường, Tu-pi-cốp kể cho tôi nghe tại sao không thể chuyển sở chỉ huy phương diện quân đến Ki-ép. Những binh đoàn địch lọt vào chỗ tiếp giáp giữa tập đoàn quân 5 và tập đoàn quân 37 ở đoạn Cô-bư-giơ-tsơ, đã cắt mất đường. Những phân đội tiền tiêu của trung đoàn thông tin liên lạc đã hy sinh, chúng tôi buộc phải chuyển sở chỉ huy tới đây, tới Pi-ri-a-tin.
Chúng tôi đi rất lâu. Dọc đường đầy ô-tô, đoàn xe vận tải, các đơn vị và cơ quan hậu cần.
Ở chỗ Kiếc-pô-nô-xơ, chúng tôi gặp Buốc-mi-sten-cô và Rư-cốp. Tôi báo cáo về mệnh lệnh của tổng tư lệnh hướng. Kiếc-pô-nô-xơ trầm ngâm suy nghĩ khá lâu.
– Đồng chí Kiếc-pô-nô-xơ, - Tu-pi-cốp không trầm tĩnh được nữa, - mệnh lệnh này rất phù hợp với tình hình, không việc gì phải do dự nữa. Đồng chí cho phép chuẩn bị chỉ lệnh gửi các đơn vị?
– Đồng chí có mang theo mệnh lệnh bằng văn bản về việc rút quân đấy chữ? – tư lệnh không trả lời, quay sang hỏi tôi.
– Không, Nguyên soái lệnh truyền đạt miệng.
Kiếc-pô-nô-xơ cau đôi mày rậm, đi đi lại lại trong phòng rồi nói:
– Tôi không thể làm gì khi chưa nhận được văn bản. Vấn đề rất quan trọng – Rồi đồng chí đập tay xuống bản: - Hết! Chúng ta dừng ở đây.
Yên lặng. Tu-pi-cốp! Đồng chí muốn nói điều gì đó, nhưng Kiếc-pô-nô-xơ ngắt lời đồng chí:
– Đồng chí Tu-pi-cốp! Đồng chí hãy chuẩn bị bức điện báo gửi Đại bản doanh. Đồng chí báo cáo về mệnh lệnh của tổng tư lệnh hướng và hỏi xem chúng ta phải làm gì.
Tối 17 tháng Chín, bức điện báo với nội dung sau đây được gửi về Mát-xcơ-va:
“Tổng tư lệnh Ti-mô-xen-cô thông qua phó tham mưu phương diện quân đã truyền đạt chỉ thị miệng: nhiệm vụ chủ yếu là rút các tập đoàn quân thuộc phương diện quân về sông Pxi-ôn, đồng thời đánh bại những cụm quân cơ động của địch ở các hướng Rôm-nư, Lúp-nư. Chỉ để lại một lực lượng tối thiểu để yểm hộ Đni-ép-rơ và Ki-ép.
Chỉ thị bằng văn bản của tổng tư lệnh hoàn toàn không có lệnh rút quân về sông Pxi-ôn và chỉ cho phép lấy của khu vực cố thủ Ki-ép một phần lực lượng. thật là mâu thuẫn. Chúng tôi phải làm gì? Tôi cho rằng việc rút bộ đội phương diện quân về sông Pxi-ôn là đúng. Đồng thời cần bỏ toàn bộ khu vực cố thủ Ki-ép, thành phố Ki-ép và sông Đni-ép-rơ. Đề nghị các đồng chí cho chỉ thị ngay”.
Vất vả truyền xong bức điện báo đó, tôi cùng tướng Tu-pi-cốp trầm ngâm suy nghĩ trước tấm bản đồ với những số liệu cuối cùng về tình hình. Đối với tôi, một cán bộ tác chiến, đã tích lũy được ít nhiều kinh nghiệm, tấm bản đồ nói lên nhiều điều. Các đơn vị chúng ta chiến đấu bên trong một hình bầu dục kéo dài từ Bắc xuống Nam. Không có tuyến mặt trận liên tục. Chỗ nào cũng thấy những lỗ trống, như những vết thương trên cơ thể con người, chứng minh là ở những khu vực đó, ta không có lực lượng nào để cản địch. Còn ở những nơi vẫn còn tuyến đỏ của quân ta thì sao? Những bản báo cáo chiến đấu cuối cùng cho biết: ở đó đang diễn ra những trận chiến đấu một mất một còn.
– Tôi không thể hiểu tại sao Đại bản doanh cứ khăng khăng như vậy, - Tu-pi-cốp thốt lên. – Song… - Đồng chí dừng bút chỉ lên bản đồ. – Thậm chí đến chúng ta cũng khó phán đoán những gì đang xảy ra ở nơi này, nơi khác. Qua bản đồ, ở dấy là cả một tập đoàn quân với đầy đủ các quân đoàn, sư đoàn – lực lượng thì nhiều! Trên thực tế, một số sư đoàn chỉ còn có phiên hiệu… Nhưng chung ta vẫn coi chúng là những sư đoàn và giao cho chúng những nhiệm vụ nhất định. Còn trước mắt Tổng tham mưu trưởng lại là tấm bản đồ mặt trận lớn hai nghìn ki-lô-mét, với những ký hiệu không chỉ có hàng chục sư đoàn, như ở chỗ chúng ta, mà là hàng trăm sư đoàn. Ở Mát-xcơ-va, việc xác định lực lượng thực sự ở các khu vực còn khó hơn nhiều. Có thể, Mát-xcơ-va biết hết, nhưng vì những lý do quan trọng nào đó mà Mát-xcơ-va yêu cầu phương diện quân chúng tôi thực hiện đều không thể thực hiện được…
Đúng, có những nguyên nhân rất quan trọng như vậy. Khi ấy, chúng tôi chỉ có thể phỏng đoán chứ không hình dung được tất cả tầm vóc của chúng. Nguyên nhân của những quyết định này là tình hình quân sự - chính trị chung của nước ta lúc đó. Chúng ta vẫn phải đơn phương đánh trả quân xâm lược. Lúc này, bọn Hít-le đã phong tỏa Lê-nin-grát. Chúng đã đến gần Mát-xcơ-va. Mà bộ tư lệnh tối cao của ta không còn lực lượng dự bị chiến dịch lớn sẵn sàng bước vào chiến đấu. Chúng ta phải giữ một bộ phận đáng kể bộ đội ở Cáp-ca-dơ – Thổ Nhĩ Kỳ có những hành động rất đáng ngờ, - ở Viễn Đông, nơi mà bọn quân phiệt Nhật chỉ chờ bật tín hiệu là chúng nhảy vào. Trong tình hình đó, Phương diện quân Tây – Nam phòng ngự kiên cường ở tuyến sông Đni-ép-rơ đã làm dịu được phần nào hình thái trên những hướng chiến lược khác của mặt trận Xô – Đức, nhất là ở hướng Mát-xcơ-va, thu hút được những lực lượng lớn của đich, trong đó có cả hai tập đoàn xe tăng Đức. Giam chân được hai tập đoàn xe tăng này ở hướng Tây – Nam trong một thời gian càng dài càng tốt là điều rất quan trọng.
Bầu không khí chính trị quốc tế phức tạp cũng có ảnh hưởng. Khối đồng minh các cường quốc chống phát-xít mới chỉ thành lập bước đầu. Có nước mới gần đây còn đẩy Hít-le chống Liên Xô, thì nay phải chiến đấu chống nước Đức phát-xít và ngày một tin tưởng rằng chỉ có Liên Xô mới là đồng minh đáng tin cậy trong cuộc đấu tranh này. Nhưng lúc này, toàn bộ sức mạnh của bộ máy quân sự phát-xít được huy động để chống Liên Xô. Liệu Liên Xô có đứng vững trước đòn đột kích khủng khiếp này không? Ở Mỹ, người ta còn đang tranh luận xem có nên giúp vũ khí cho nước Nga xô-viết không. Có những giới nhất định khẳng định rằng gửi vũ khí và phương tiện kỹ thuật sẽ không có ý nghĩa gì: đến mùa Đông, nước Nga sẽ sụp đổ và chiến tranh sẽ chấm dứt, nước Đức phát-xít sẽ chiến thắng.
Muốn tin chắc rằng vũ khí gửi cho Liên Xô sẽ không rơi vào tay bọn phát-xít, tháng Tám năm 1941, Ru-dơ-ven phái cố vấn thân cận nhất của ông là H. Hốp-kin tới thăm dò. Đại diện của tổng thống nghiên cứu tỉ mỉ tình hình trong nước và trên mặt trận Xô – Đức. Trước khi về Mỹ, trong buổi nói chuyện chia tay với I. V. Xta-lin, Hốp-kin đặt vấn đề dứt khoát: đến mùa đông năm 1941-1942, tuyến mặt trận sẽ tới đâu? Hốp-kin phải mang câu trả lời ấy về cho Ru-dơ-ven.
Xta-lin trả lời: đến cuối năm 1941, tuyến mặt trận sẽ dời về phía Tây Lê-nin-grát, Mát-xcơ-va và Ki-ép.
Hốp-kin đã mang câu trả lời đó về Mỹ.
Bắt đầu từ nửa cuối tháng Tám, bộ tư lệnh xô-viết áp dụng mọi biện pháp để chi viện cho những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép. Biện pháp chính là thành lập một phương diện quân mới, Phương diện quân Bri-an-xcơ, với nhiệm vụ: phải đánh bại những đơn vị của Gu-đê-ri-an, không cho chúng vòng xuống phía Nam, tiến vào sau lưng Phương diện quân Tây – Nam. Đại bản doanh không tiếc lực lượng dự bị cho việc này. Phương diện quân chúng tôi cũng được bổ sung phần nào.
Nhưng Hốp-kin lên đường về nước chưa được hai tuần – có lẽ chưa về đến Oa-sinh-tơn- thì bỗng nhiên, bộ tư lệnh Phương diện quân Tây – Nam lại đề nghị Đại bản doanh cho phép rút quân khỏi tuyến Đni-ép-rơ.
Dễ dàng hình dung được là tin Ki-ép thất thủ sẽ gây tiếng vang lớn như thế nào ở Mỹ, thậm chí trên toàn thế giới, và sự kiện đó sẽ làm cho Ru-dơ-ven bị yếu thế trong cuộc tranh cãi với những người phản đối giúp đỡ Liên Xô về chính trị và vật chất.
Hội đồng quốc phòng Nhà nước hiểu rõ, khối đồng minh chống Hít-le cần những nước châu Âu với sự tham gia của Mỹ sẽ được thành lập, phụ thuộc nhiều vào hoạt động có kết quả của Hồng quân trong thời kỳ chiến tranh này.
Chính vị vậy, Đại bản doanh yêu cầu giữ vững Ki-ép bằng bất kỳ giá nào. Hơn nữa, Đại bản doanh lại cho rằng chúng tôi có đủ lực lượng, và với những lực lượng đó, dù có bị vây cũng không đáng sợ: có thể chọc thủng vòng vây của địch được.
Chính trong những ngày ấy, Ủy ban trung ương Đảng cộng sản và Chính phủ U-cra-i-na ra hiệu triệu nêu rõ toàn bộ sự thật về những thử thách nặng nề đặt ra trước nhân dân U-cra-i-na và khẩn thiết kêu gọi chiến đấu không khoan nhượng chống bọn phát-xít xâm lược:
“Bọn phát-xít xảo quyệt tiến công vào đất nước ta, tạm thời chiếm được một vài vùng thuộc U-cra-i-a yêu dấu của chúng ta. Mảnh đất đó đang rên siết dưới gót giầy của bọn phát-xít hung ác. Bọn dã thú Hít-le định ăn mừng trong cuộc tắm máu. Không ngày nào chúng không gây ra những tội ác tày trời ở khắp nơi trong vùng tạm bị chiếm, gieo nên cảnh dã man khủng khiếp chưa từng có đối với loài người.
… Tại những làng mạc và thành phố bị chúng chiếm đóng, bộ chỉ huy phát-xít ra những thông cáo trong dân chúng đe dọa sẽ xử bắn và trừng phạt nặng nề, nhằm buộc mọi người phải chấp hành mệnh lệnh của chúng. Các đồng chí, chúng muốn bắt các đồng chí tự tay rèn xích nô lệ đẫm máu cho bản thân và cho con cháu mình.
Nhân dân Liên Xô vĩ đại chúng đấu tranh cho tự do không phải để bây giờ lại trở thành nô lệ cho bọn phát-xít tàn bạo.
Mỗi người dân U-cra-i-na, mỗi công dân nước ta thà chết, chứ quyết không chịu sống trong cảnh tôi đòi nhục nhã.
Các đồng chí! Không chấp hành bất cứ một mệnh lệnh nào của bộ chỉ huy phát-xít.
… Phá hoại ngầm, làm hỏng tất cả và bấy kỳ một việc gì là nghĩa vụ thiêng liên của mỗi người con trai và con gái của nhân dân chúng ta. Không thực hiện chế độ lao dịch do bọn phát-xít đề ra! Bàng mọi lực lượng, mọi phương tiện, hãy phá hoại mọi tài sản, vũ khí, trang bị và đạn dược của quân Đức! Hãy nhớ rằng, không có thông tin liên lạc thì bầy lũ phát-xít không thể chiến đấu được. Hãy phá hủy các công trình và phương tiện thông tin liên lạc, dây điện thoại, điện tín và đài phát thanh! Hãy nổ cầu, phá đường. Không để lại cho bọn phát-xít bất cứ một vật liệu nào, không thực hiện mệnh lệnh sửa chữa đường sá. Hãy phá hủy các tuyến đường sắt.
Hỡi bà con nông dân! Bọn kẻ cướp phát-xít muốn dùng sức mạnh bắt nông dân ta gặt hái và đưa toàn bộ số lúa mì về Đức. Hãy không tuân theo lệnh của bọn phát-xít. Chỉ đập đủ số lúa mì cho gia đình. Không cho địch một mẩu bánh, một miếng thịt. Hãy để cho bọn cướp phát-xít dám đặt chân lên mảnh đất của chúng ta phải mòn mỏi vì chết đói.
… Toàn thể nhân dân U-cra-i-na, tất cả các dân tộc ở Liên Xô đã đứng lên chiến đấu chống chủ nghĩa phát-xít. Hàng nghìn du kích đỏ - những công nhân và nông dân – đang sát cánh cùng Hồng quân chiến đấu chống bọn lang sói Hít-le. Hãy gia nhập du kích, thẳng tay trừng trị bọn phát-xít.
Hồng quân tập kích địch ngày một mạnh, kế hoạch chiến thắng Liên Xô vĩ đại trong chớp nhoáng của bọn phát-xít đã sụp đổ. Bọn phát-xít đã phải đào mồ chôn những sư đoàn tinh nhuệ nhất của chúng trên đất nước ta. Hít-le đã định ra hết thời hạn này đến thời hạn khác để chiếm Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát và Ki-ép, nhưng cho đến hôm nay, lá Cờ đỏ của nhân dân Liên Xô vẫn phấp phới trên những thành phố đó.
Giờ chiến thắng bọn kẻ cướp Hít-le sắp tới. Giáng cho địch những đòn mạnh mẽ hơn nữa!
…. Không ai có thể đứng ngoài cuộc. Mỗi người hãy làm những gì có thể làm tùy theo sức và khả năng. Mỗi người hãy góp phần mình vào chiến thắng chủ nghĩa phát-xít.
Sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa, thắng lợi thuộc về chúng ta, quân thù sẽ bị đánh tan. Hãy tiêu diệt hết lang sói Hít-le uống máu người! Nước U-cra-i-na xô-viết tự do muốn năm!”.
Nhân dân U-cra-i-na anh hùng nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi thiết tha của Đảng cộng sản. Với lòng căm thù dâng cao hơn nữa, nhân dân đã giáng cái vồ chiến tranh du kích lên người bọn phát-xít. Đất đai thực sự bốc lửa dưới chân bọn chúng. Thời gian đó, ở sau lưng địch đã có tới 583 đội du kích và hơn 1.700 nhóm biệt động và nhóm phá hoại. Hàng nghìn, hàng nghìn chiến sĩ báo thù mới của nhân dân gia nhập cuộc đấu tranh thiêng liêng chống quân thù. Những người con ưu tú của Đảng đi hàng đầu trong đội ngũ những người anh hùng ấy.
Nhưng kẻ địch còn rất mạnh. Tại Phương diện quân Tây – Nam chúng tôi, chúng có đủ mọi lợi thế. Tôi và tham mưu trưởng phương diện quân lại một lần nữa suy nghĩ trước tấm bản đồ, tính toán khả năng của chúng tôi và đi đến kết luận: nếu sắp tới không có lệnh rút quân thì các đơn vị sẽ lâm vào tình thế tuyệt vọng.
Cuối cùng, đêm rạng ngày 18 tháng Chín, Mát-xcơ-va trả lời bức điện của chúng tôi. Tổng tham mưu trưởng thông báo tóm tắt: Đại bản doanh cho phép rút bỏ khu vực cố thủ Ki-ép và điều tập đoàn quân 37 sang tả ngạn sông Đni-ép-rơ.
Thông báo không nói một lời nào về việc rút những lực lượng chủ yếu của phương diện quân về tuyến sau. Nhưng ở đây, bản thân lô-gích của những sự kiện đã nói lên giải pháp. Nếu bỏ Ki-ép và khu vực cố thủ Ki-ép với những công trình phòng ngự mạnh, thì không thể hy vọng bộ đội ta sẽ cố thủ được ở những tuyến chưa được trang bị ở phía Đông thành phố. Ngay Buốc-mi-xten-cô, vốn trước đây không hề nghĩ đến chuyện bỏ Ki-ép, cũng phải phát biểu ý kiến tại cuộc họp ở chỗ tư lệnh phương diện quân:
– Tôi nghĩ rằng trong tình hình này, ta không còn gì khác hơn là chấp hành lệnh của tổng tư lệnh.
Sau khi có lệnh sơ tán Ki-ép, bộ tư lệnh phương diện quân chỉ còn quan tâm làm thế nào để cứu được càng nhiều càng tốt những lực lượng đang nằm trong vòng vây khỏi bị đánh tan. Lần này, tướng Kiếc-pô-nô-xơ không do dự. Đồng chí yêu cầu mang ngay tấm bản đồ ghi những số liệu mới nhất về tình hình các đơn vị. Bản đồ có nhiều “điểm trắng”, vì trong hai ngày gần đây, chúng tôi không nhận được báo cáo về nhiều khu vực. Tấm bản đồ trải trước mặt Kiếc-pô-nô-xơ, chỉ rõ tập đoàn quân 40 đang chiến đấu ở nơi nào đó giữa Pu-ti-xlơ và Rôm-nư, hai bên sườn đều bị hở và địch đang vòng qua. Tập đoàn quân 21 đang đánh lui những đợt công kích của địch ở vùng Pri-lu-ki. Giữa hai tập đoàn quân này là một cửa mở rộng 80 ki-lô-mét đang bị quân của Gu-đê-ri-an lấn vào. Bên trái tập đoàn quân 21, về phía Tây – Bắc Pi-ri-a-tin 25 – 35 ki-lô-mét, những đơn vị đã bị tiêu hao nặng của tập đoàn quân 5 vẫn còn đang cố thủ. Tập đoàn quân 37 đang giữ vững Ki-ép. Giữa tập đoàn quân 37 và những đơn vị còn lại của phương diện quân là những lực lượng lớn của tập đoàn 6 Đức mà cánh quân chủ yếu của chúng đã tập trung tại khu vực I-a-gô-tin. Bên sườn trái của mình, ở giữa hai con sông Đni-ép-rơ và Xu-la, tập đoàn quân 26 được những lực lượng nhỏ yểm hộ từ phía Lúp-na, đang đánh lại những đợt công kích của các binh đoàn thuộc tập đoàn quân dã chiến 17 Đức và cụm xe tăng 1 của Clai-xtơ. Địch phát triển tiến công cả từ phía Tây lẫn phía Đông. Khu vực Pi-ri-a-tin, nơi bộ tham mưu phương diện quân đóng, chỉ được những binh đội của sư đoàn bộ binh 289 bảo vệ.
Rốt cuộc, tất cả những điều nói trên chứng minh rằng việc rút các tập đoàn quân của ta về tuyến phòng ngự sông Pxi-ôn là cực kỳ khó khăn. Nhưng không có lối thoát nào khác.
Chưa bao giờ tướng Kiếc-pô-nô-xơ phải giải quyết nhiệm vụ tác chiến trong tình hình phức tạp như lúc này. Song, khi hạ quyết tâm đột phá, tư lệnh và tất cả chúng tôi ở bộ tham mưu phương diện quân đặt hy vọng vào ý chí kiên định, dũng cảm đã được thử thách trong chiến đấu của các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy của ta.
Sau khi hội ý với Tu-pi-cốp, Buốc-mi-xten-cô và Rư-cốp, tư lệnh ra mệnh lệnh giao cho các tập đoàn quân những nhiệm vụ sau: tập đoàn quân 21 – sáng 18 tháng chín, tập trung tại tuyến Bra-ghin-txư, Gơ-nê-đin-txư (ở phía Đông – Nam Pri-lu-ki) và dùng những lực lượng chủ yếu đột kích vào Rôm-nư, đón quân đoàn kỵ binh 2; tập đoàn quân 5 – dùng một phần lực lượng yểm hộ mặt phía Tây cho tập đoàn quân 21 rút lui, những lực lượng còn lại đột kích vào Lô-khơ-vi-txa; tập đoàn quân 26 – sau khi tổ chức một lực lượng xung kích gồm hai sư đoàn, sẽ tiến công vào Lúp-nư; tập đoàn quân 37 – rút bộ đội ra khỏi khu vực cố thủ Ki-ép sang tả ngạn sông Đni-ép-rơ; lập ra một cụm xung kích và đột phá tới Pi-ri-a-tin và xa hơn nữa về phía Đông, hợp thành đội hậu vệ của phương diện quân; các tập đoàn quân 40 và 38 – đột kích từ phía Đông đón những lực lượng chủ yếu của phương diện quân về hướng Rôm-nư và Lúp-nư.
Tướng Kiếc-pô-nô-xơ phác thảo kế hoạch rút quân trên bản đồ và lệnh cho tôi ghi những thay đổi cần thiết vào chỉ lệnh chiến đấu gửi các tập đoàn quân do bộ tham mưu đã chuẩn bị từ trước. Nhưng gửi được những văn kiện đó xuống tới các đơn vị cũng không phải chuyện dễ. Vất vả lắm, chúng tôi cũng chỉ mới chuyển được các văn kiện trên tới tư lệnh các tập đoàn quân 5, 26 và 40. Còn bộ tham mưu các tập đoàn quân 21 và 37 thì thậm chí dùng vô tuyến điện cũng không liên lạc được. Chúng tôi cử hai sĩ quan cấp tá đi xe về Ki-ép. Nhưng họ không tới được Ki-ép, và có lẽ đã hy sinh trên đường. Mãi sau, thông qua bộ tham mưu của tổng tư lệnh, chúng tôi mới thông báo được cho tập đoàn quân 37 là phải phá vây rút về phía Đông.
Đại tá Da-khơ-va-ta-ép, phó phòng của tôi, được cử tới tập đoàn quân 21. Đồng chí phải trao mệnh lệnh cho trung tướng V. I. Cu-dơ-nê-txốp và rút lui cùng với cơ quan tham mưu của trung tướng.
Rất may cho chúng tôi là hầu như toàn bộ không quân của phương diện quân và bộ phận chủ yếu của hậu cần phương diện quân đã kịp thời chuyển căn cứ sang bên kia sông Pxi-ôn và trong lúc khó khăn này, chúng tôi không phải lo tổ chức cho họ thoát khỏi vòng vây.
Như vậy, đêm rạng ngày 18 tháng Chín, hầu như tất cả các tập đoàn quân đều nắm được trình tự rút quân. Tất nhiên, vì buộc phải xác định trong tình hình rất phức tạp và không rõ ràng, nên quyết tâm đó khó mà hoàn hảo được.