Nguyên soái Ti-mô-sen-cô ngày càng lo ngại về hình thái ở cánh phải phương diện quân. Thông tin liên lạc với các đơn vị bạn đóng ở phía Bắc chúng tôi bị đứt. Tướng Pô-crốp-xki giao cho tôi bắt liên lạc ngay với Bộ Tổng tham mưu và cố nhận được những tin tức cần thiết ở đó. Tối 6 tháng Mười, tôi gọi điện cho tướng M. N. Sa-rô-khin, phó tổng cục trưởng tác chiến. Nhưng đồng chí cho biết ngay cả Bộ Tổng tham mưu cũng không có mấy tin tức về Phương diện quân Bri-an-xcơ. Chỉ biết được một điều là địch đã tới cửa ngõ Ô-ri-ôn.
Nguy cơ cánh phải Phương diện quân Tây – Nam bị địch vu hồi sâu buộc Nguyên soái Ti-mô-sen-cô phải đề nghị Đại bản doanh cho phép rút các tập đoàn quân 40 và 21 của chúng tôi về tuyến ở các thành phố Xút-gia, Xu-man, A-khơ-tư-rơ-ca, Cô-ten-va, Cô-lon-ta-ép.
Trước khi phê chuẩn việc rút quân, Đại bản doanh cố gắng tập dụng hình thái có lợi của tập đoàn quân 40 so với bọn địch đang đuổi theo bộ đội của Phương diện quân Bri-an-xcơ. Nguyên soái Sa-pô-sni-cốp đề nghị X. C. Ti-mô-sen-cô dùng lực lượng của tập đoàn quân này đột kích lên phía Bắc. Nhưng sau khi cân nhắc tình hình, Ti-mô-sen-cô cho biết là không thể thực hiện được điều đó, vì tập đoàn quân 40 vất vả lắm mới kìm được cuộc tiến công của địch từ phía Tây.
Uy tín của tư lệnh rất có ý nghĩa. Đại bản doanh đồng ý ngay với lý lẽ của Nguyên soái Ti-mô-sen-cô. Tập đoàn quân 40 và 21 ở sườn phải của chúng tôi được lệnh rút lui. Theo lệnh hướng dẫn của tư lệnh phương diện quân, các tập đoàn quân này phải cơ động bằng ba đêm chuyển quân. Trong lúc đó, tập đoàn quân 38 và tập đoàn quân 6(Theo quyết định của Đại bản doanh, tập đoàn quân 6 được chuyển từ Phương diện quân Nam sang cho chúng tôi.) được lệnh phải giữ vững những tuyến đã chiếm lĩnh.
Địch thấy bộ đội ta rút lui, liền đẩy mạnh những đợt công kích. Chúng đột kích chủ yếu vào chỗ tiếp giáp giữa các tập đoàn quân. Sư đoàn bộ binh 227 thuộc tập đoàn quân 40 lâm vào tình thế nguy nạn. Thoạt đầu, chính sư đoàn đã đột kích mạnh các đơn vị địch vừa thọc sâu. Các trung đoàn trưởng hy vọng bọn phát-xít, sau khi bị tổn thất nặng, không dám tiến công, nên như người ta thường nói, họ đã buông lỏng dây cương. Song, sự tự mãn không bao giờ đem lại những điều tốt lành. Đêm rạng ngày 10 tháng Mười, bọn phát-xít bất thần giáng đòn đột kích mạnh vào các tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh 777 đang nhởn nhơ rút lui. Trung đoàn trưởng không thể chỉ huy bộ đội thông suốt. Các tiểu đoàn bị công kích tuy đánh trả rất kiên cường, nhưng lẻ tẻ rời rạc.
Tinh thần dũng cảm và mưu trí của các chiến sĩ pháo binh trung đoàn pháo 595 đã cứu vãn sư đoàn. Họ nhanh chóng triển khai pháo và dội bão lửa vào bọn Hít-le đột nhập tới, khiến địch kinh hoàng. Việc đó giúp cho sư đoàn trưởng chấn chỉnh các binh đội và rút lui có tổ chức.
Diễn biến chiến đấu ở tập đoàn quân 21 bớt gay go hơn. Khi địch đột kích vào sư đoàn bộ binh cận vệ 1, tư lệnh tập đoàn quân đã cho lữ đoàn xe tăng 1 phản kích quyết liệt và nhanh chóng điều động tới đây những đơn vị thuộc sư đoàn bộ binh 297, đã kìm được địch và bảo đảm cho bộ đội rút lui có tổ chức về tuyến đã chỉ định.
Địch tiếp tục công kích ở các dải phòng ngự của các tập đoàn quân khác thuộc phương diện quân. Các đơn vị của tập đoàn quân 38 do thiếu tướng V. V. Txu-ga-nốp chỉ huy lúc này, đã chiến đấu quyết liệt ở phía Tây – Nam Bô-gô-đu-khốp.
Chúng tôi ngày thêm lo lắng cho cánh trái của mình. Tư lệnh tập đoàn quân 6 là thiếu tướng R. I-a. Ma-li-nốp-xki đang chiến đấu trong vòng vây của địch. Xe tăng và cơ giới của Clai-xtơ đã tới sát các cửa ngõ vào Ta-gan-rốc. Có nguy cơ thực tế chúng sẽ đột nhập Rô-xtốp trên sông Đôn. Vì vậy, Đại bản doanh bắt đầu gấp rút thành lập tập đoàn quân độc lập 56 lấy ở quân khu Bắc Cáp-ca-dơ và giao cho nó nhiệm vụ bằng bất kỳ giá nào cũng phải giữ được Rô-xtốp, đóng chặt cánh cửa vào Cáp-ca-dơ.
Còn chúng tôi buộc phải rút tập đoàn quân của Ma-li-nốp-xki.
Một lần nữa, bộ đội phương diện quân đã mệt mỏi vì những trận chiến đấu căng thẳng và ít được bổ sung, nay lại trải thành một vòng cung lớn, hai sườn quặt về phía Đông. Nhưng những ngày này, số phận của Mát-xcơ-va còn làm cho chúng tôi lo lắng hơn nhiều so với tình thế của phương diện quân chúng tôi. Bọn Hít-le đã xông tới cửa ngõ phía xa của thủ đô. Tất cả chúng tôi đều chỉ có một ý nghĩ phải giữ vững, thu hút lực lượng địch về phía mình càng nhiều càng tốt và như vậy là chi viện cho những người đang bảo vệ thủ đô. Chúng tôi thiếu người, thiếu vũ khí, đạn dược. Ai cũng hiểu rằng hiện nay, ta cần tập trung lực lượng và phương tiện chủ yếu ở gần Mát-xcơ-va, vì vậy, chúng tôi không có ý nài xin. Ngày 15 tháng Mười, Hội đồng quân sự phương diện quân hạ quyết tâm về việc thu nhặt vũ khí chiến lợi phẩm và tập trung phân phối cho các tập đoàn quân, mở những khóa đào tạo huấn luyện viên sử dụng vũ khí đó. Sau này, biện pháp ấy đã có tác dụng không nhỏ cho đến khi nền công nghiệp của chúng ta sơ tán sang phía Đông, triển khai ở hậu phương xa xội đó và bảo đảm được toàn bộ nhu cầu vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Vì không đủ pháo chống tăng nên chúng tôi đã xem xét vấn đề mở rộng đến mức tối đa việc sản xuất các chai cháy.
Cuộc họp của Hội đồng quân sự có mặt một đồng chí cấp tướng tôi chưa quen biết. Tôi hỏi Pác-xê-gốp đó là ai.
– Đồng chí ấy ở Mát-xcơ-va đến, họ Bô-din.
Tôi nhớ ra: Bô-đin trước là tham mưu trưởng tập đoàn quân 9. Đồng chí được dư luận ca ngợi nhiều điều tốt đẹp – thông minh, am hiểu công việc, giàu nghị lực. Cuối cuộc họp, Nguyên soái Ti-mô-sen-cô giới thiệu đồng chí P. I. Bô-đin làm tham mưu trưởng mới của phương diện quân.
Nửa giờ sau, tôi đã báo cáo với Bô-đin tình hình ngoài mặt trận. Đồng chí là người đối thoại lý tưởng, vừa lắng nghe, không hề ngắt lời, vừa nhìn người nói bằng đôi mắt xanh mở rộng dường như pha chút ngạc nhiên. Đợi lúc thuận tiện, đồng chí mới hỏi lại, đề nghị làm sáng tỏ một chi tiết nào đó và đưa ra ý kiến nhận xét của mình. Bản thân Bô-đin bao giờ cũng nói năng điềm đạm, giọng nhỏ nhẻ, hơi kéo dài các từ. Đồng chí diễn đạt ý nghĩ của mình một cách ngắn gọn, rõ ràng. Tôi rất thích đồng chí ở tính chất phác, linh hoạt, nhanh chóng nắm bắt bản chất vấn đề.
Tìm hiểu tình hình xong, Bô-đin đề nghị giới thiệu đồng chí với anh em. Chúng tôi hầu như đi khắp các phòng, đồng chí chuyện trò với anh em, quan tâm đến tâm trạng và nhu cầu của mỗi người. Ngay hôm đó, đồng chí mời các cán bộ lãnh đạo bộ tham mưu tới gặp và lái câu chuyện sang việc giữ gìn bí mật công tác chỉ đạo tác chiến.
Đồng chí nói với Đ. M. Đô-bư-kin là người lại lãnh đạo cục thông tin liên lạc của phương diện quân:
– Về phần đồng chí, tôi yêu cầu kiểm tra hết sức nghiêm ngặt việc này.
Đô-bư-kin trả lời rằng các cán bộ thông tin liên lạc bao giờ cũng coi trọng việc này. Bô-đin mỉm cười:
– Nhưng các đồng chí cũng đã xem bức điện này. – Đồng chí rút bức điện trong cặp giấy và đọc: “Xô-viết xã mới được tổ chức ở Bô-ri-xốp-ca đã bị ném bom. Không có phương tiện phòng không. Đề nghị cho một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy”.. – Tham mưu trưởng nhìn Đô-bư-kin vẻ trách cứ. – Không nên coi địch là kẻ ngu ngốc. Bất kỳ tên binh nhất của Đức cũng đoàn được là tác giả bức điện muốn nói đến cái “Xô-viết xã” nào.
Mọi người lúng túng im lặng: ai cũng thấy mình có những nhược điểm như vậy. Chúng ta chưa được học tập tốt về công tác giữ bí mật chỉ đạo tác chiến. Trong thời bình, thỉnh thoảng chúng ta có tiến hành một số buổi học đặc biệt, coi là được. Còn khi diễn tập công tác tham mưu thì toàn bộ thông tin đều nói công khai bằng lời. Ai cũng nghĩ: “Được thôi, còn trong chiến tranh, mọi việc sẽ khác”, mà quên mất rằng công việc này cũng đòi hỏi phải có tri thức, kỹ năng. Và giờ dây đã xảy ra chuyện một đồng chí nào đó trong báo cáo đã gọi thay cho người là “bút chì”, xe tăng là “hộp” và tin tưởng một cách ngây thờ rằng địch không đoán ra được.
Cứ vào khoảng quá bảy giờ tối, tôi lại tới chỗ Bô-đin để lấy chữ ký cho bản thông cáo tác chiến định kỳ. Đồng chí sửa lại tỉ mỉ, khen ngợi những người viết và tế nhị đề cập tới những chỗ còn chưa đạt. Về sau, tôi thấy rõ là Bô-đin biết cách để cho bất kỳ nhận xét nào của đồng chí, dù có tác dụng rất ít, cũng được nhắc lại hai lần.
Một giờ sau, tham mưu trưởng gọi tôi lên và ra lệnh:
– Đồng chí bắt tay ngay vào việc chuẩn bị dự thảo mệnh lệnh rút lui chung cho các tập đoàn quân.
Đồng chí trao văn kiện cho tôi. Đưa mắt lướt qua, tôi lặng người đi:
“… Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao ra lệnh: Từ ngày 17 tháng Mười, Phương diện quân Tây – Nam bắt đầu rút về tuyến Ca-xtô-rơ-nai-a, Xta-rưi Ô-xcôn, Nô-vưi Ô-xcôn, Va-lu-ki, Cu-pi-an-xcơ, Cra-xnưi Li-man; phải hoàn thành trước ngày 30 tháng Mười…”.
Điều đó có nghĩa là bộ đội phương diện quân chúng tôi không chỉ rút từ 80 đến 200 ki-lô-mét, mà còn phải bỏ lại Khác-cốp, Bê-lơ-gô-rốt, vùng công nghiệp Đôn-bát.
Tôi không thể trấn tĩnh được nữa. Điều gì đã buộc Đại bản doanh phải hạ một quyết tâm cực kỳ khó khăn như vậy? Vì tôi không thể quên là mới một tháng trước đây, khi phương diện quân chúng tôi lâm vào tình thế còn bế tắc hơn, như chúng tôi nghĩ, thì Đại bản doanh đã kiên quyết không cho phép rút lui một khoảng cách gần như thế. Vậy mà hiện nay khi bộ tư lệnh phương diện quân không đề nghị điều đó, khi tình thế của phương diện quân còn vững vàng hơn nhiều so với hồi giữa tháng Chín, thì lại có mệnh lệnh rút lui. Tôi không kìm được mình và nói lên nỗi ngạc nhiên ấy với Bô-đin. Đồng chí vừa đi đi lại lại trong phòng, vừa trầm ngâm nói:
– Chắc bản thân đồng chí cũng biết rõ điều này: nếu đứng trong chiến hào quan sát trận đánh thì thấy một đằng, còn nếu đứng trên điểm cao – tầm nhìn được mở rộng, thì sẽ nhận ra điều mà trước kia mình không hề nghĩ tới. Điểm quan sát càng cao thì tầm nhìn càng rộng. Vấn đề là ở chỗ đó. Tôi và các đồng chí còn chưa biết nhiều điều. Song, Mát-xcơ-va không chỉ thấy có phương diện quân chúng ta. Cấp trên còn tính là Clai-xtơ đang đột nhập tới Ta-gan-rốc, uy hiếp Rô-xtốp, quân thù đã ở sát Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát. Nếu như hồi tháng Chín, trên phần lớn các hướng chiến lược còn tương đối yên tĩnh và Đại bản doanh còn dám chiến đấu giữ Đni-ép-rơ và Ki-ép bằng cách lấy bớt lự lượng dự bị của các phương diện quân khác, thì hiện nay, khi kẻ thù đã ở cửa ngõ Mát-xcơ-va và bên cổng Cáp-ca-dơ, Đại bản doanh không những không thể chi viện cho chúng ta, mà sẽ còn yêu cầu chúng ta chuyển cho Đại bản doanh một phần lực lượng của mình. Trong khi đó, phương diện quân chúng lại trải ra trên một vòng cung lớn, nên chặn địch ngày một thêm khó khăn. Nếu bọn phát-xít lại chuyển xe tăng của Gu-đê-ri-an và Clai-xtơ vào sau lưng phương diện quân của chúng ta thì tình hình sẽ ra sao? Chúng ta sẽ không còn lực lượng để chỉnh đốn lại tình hình. Chính vì vậy, bây giờ Mát-xcơ-va không thể mạo hiểm và phải cho bộ đội ta rút.
Chúng tôi đứng bên tấm bản đồ lớn khá lâu, đánh dấu những tuyến giữa, các hướng và các dải rút lui của các tập đoàn quân. Xong rồi Bô-đin nhận xét:
– Đồng chí thấy không, hình thái chiến dịch – chiến lược của ta sẽ thuận lợi hơn nhiều: chúng ta sẽ có khả năng rút một lực lượng lớn làm lực lượng dự bị, sẽ khôi phục được liên lạc chặt chẽ với các phương diện quân bạn, chúng ta có thể chi viện nhiều hơn cho các đơn vị đang chiến đấu ở cửa ngõ Mát-xcơ-va, vì khi rút sang phía Đông, tuyến phòng ngự của ta được chuyển lên phía Bắc khá nhiều.
Bô-đin cho biết, từ ngày mai, bộ đội Phương diện quân Nam lại thuộc quyền Nguyên soái Ti-mô-sen-cô. Hiện nay, bộ tham mưu phương diện quân chúng ta đồng thời làm cả nhiệm vụ của bộ tham mưu bộ đội toàn hướng Tây – Nam. Chúng tội buộc phải nghĩ đến cả phương diện quân bạn – Phương diện quân Nam.
Kể từ nay đến lúc bắt đầu rút quân chỉ còn gần một ngày rưỡi. Trong thời gian ngắn ngủi đó, cần phải tiến hành toàn bộ việc tổ chức cơ động phức tạp cho một đội quân lớn như thế. Tôi đã nói rằng ai cho việc rút lui là một vấn đề đơn giàn thì quả là sai lầm. Nếu việc cơ động này không được tính toán thích đáng thì bộ đội còn chịu tổn thất nặng nề hơn là khi tiến công mà tổ chức kém. Cảnh hoang mang, hỗn loạn rất dễ xảy ra cũng chính vào lúc rút lui, nếu không có thái độ nghiêm túc đối với việc tổ chức và bảo đảm rút quân. Do đó, đối với việc tất cả các cán bộ phụ trách của bộ tham mưu và các cục của phương diện quân từ khi nhận được mệnh lệnh rút lui, không còn biết gì đến ngày và đêm nữa. Công việc đòi hỏi phải cố gắng hết sức.
22 giờ ngày 15 tháng Mười, Hội đồng quân sự phương diện quân họp. Tất cả các tư lệnh tập đoàn quân, chủ nhiệm các binh chủng và ngành cũng như cấp trưởng một số phòng chủ yếu của bộ tham mưu phương diện quân đều có mặt. Tướng Bô-đin đọc lệnh hướng dẫn của Đại bản doanh, đánh giá ngắn gọn tình hình chiến dịch – chiến lược, và sau khi đặc biệt lưu ý tới tình hình của các đơn vị bạn, đồng chí nêu lên một vài đề nghị.
Nguyên soái Ti-mô-sen-cô trình bày quyết định của mình ngắn gọn và rõ ràng như thường lệ. Đồng chí nêu những tuyến trung gian chủ yếu mà bộ đội phương diện quân phải trụ vững trong suốt thời hạn đã được quy định nghiêm ngặt. Tuyến đầu tiên mà các tập đoàn quân phải tới vào lúc rạng sáng ngày 23 tháng Mười, chạy qua các thành phố Bê-lơ-gô-rốt, Dơ-mi-ép, Ba-lác-lây-a và Bác-ven-cô-vô. Các quân đoàn kỵ binh 2, 5 và một lữ đoàn xe tăng sẽ làm lực lượng dự bị cơ động của phương diện quân trong thời kỳ rút lui. Những đơn vị này cũng nhận được chỉ thị về các hướng rút lui và khu vực tập trung. Bộ tham mưu phương diện quân ở lại Khác-cốp đến 10 giờ ngày 18 tháng Mười, tiếp đó di chuyển tới thành phố Va-lui-ki sau khi đã để lại hai sở chỉ huy bổ trợ ở Ô-bôi-an và Tsu-gu-ép.
Ti-mô-sen-cô nêu lên rằng do tuyến mặt trận thu hẹp lại, nên đến cuối tháng Mười, chúng tôi phải lấy về lực lượng dự bị ít nhất là sáu sư đoàn bộ binh và hai quân đoàn kỵ binh. Ngoài ra, ở Khác-cốp đang gấp rút hoàn tất việc thành lập sư đoàn bộ binh 216, làm nòng cốt của các đơn vị bảo vệ thành phố. Thêm vào đó, hai sư đoàn bộ binh (62-253) và hai trung đoàn kỵ binh dự bị cũng đang được xây dựng, còn quân đoàn đổ bộ đường không 3 sẽ chuyển thành sư đoàn bộ binh 87.
Nhận xong mọi chỉ thị, chúng tôi bắt tay lập kế hoạch rút lui và chuẩn bị cho bộ đội một cuộc chuyển quân mới. tôi giao cho các đồng chí phó trưởng phòng của mình lập biểu đồ điều động bộ đội theo suốt tuyến chiều sâu, còn tôi bắt tay chuẩn bị thảo lệnh hướng dẫn về việc rút lui của phương diện quân. Mười hai giờ đêm, tôi đánh máy dự thảo văn kiện rồi trình lên tham mưu trưởng; một giờ sáng, lệnh hướng dẫn được ký và chuyển ngay tới các tập đoàn quân bằng điện báo. Đến sáng, một nhóm sĩ quan trong bộ máy phương diện quân đáp máy bay về các đơn vị. Trước đó, Bô-đin mời anh em tới gặp đồng chí, ra chỉ thị cụ thể và đặc biệt yêu cầu các sĩ quan chú ý giữ bí mật việc chỉ đạo tác chiến.
Chúng tôi cũng chú ý theo dõi những sự kiện cả ở dải Phương diện quân Nam thuộc hướng chúng tôi. Trưa ngày 16 tháng Mười, một tin đầy lo âu từ đó bay tới: tập đoàn quân xe tăng của Clai-xtơ đã vượt sông Mi-út và đang tiến mạnh về Rô-xtốp. Nguyên soái Ti-mô-sen-cô yêu cầu tướng Tsê-rê-vi-tsen-cô, tư lệnh Phương diện quân Nam, áp dụng mọi biện pháp để kìm bọn Hít-le, và cho biết sẽ chuyển tới cho đồng chí một lữ đoàn xe tăng của Phương diện quân Tây – Nam.
– Sắp đến giờ bộ tham mưu chúng tôi rời sang khu vực mới. Hội đồng quân sự và một bộ phận bộ máy chỉ đạo tác chiến của phương diện quân thoạt đầu sẽ chuyển đến Tsu-gu-ép, còn những bộ phận khác sẽ đến ngày Va-lui-ki.
Tôi phải đến Tsu-gu-ép trước đoàn quân chính một chút, để nhận trách nhiệm chỉ đạo tác chiến và đón bộ tư lệnh phương diện quân. Sáng sớm ngày 18 tháng Mười, tôi vội vã ra xe riêng, trong xe đã có Xa-ra-cu-txa và Đô-rô-khốp là những sĩ quan cùng phòng chờ sẵn.
Qua đường phố Khác-cốp, tôi lặng người nhìn những tòa nhà đẹp đẽ, những xí nghiệp công nghiệp nổi tiếng toàn thế giới chìm trong vắng lặng dường như không còn sự sống. Ống khói ngừng nhả khói, sau cánh cổng nhà máy là sự im lặng như tờ đáng sợ. Các tổ chức đảng và xô-viết của thành phố đã hoạt động rất giỏi: những gì có thể tháo rỡ đều được chuyển đi.
Lần đầu tiên tôi thấy một thành phố công nghiệp rất lớn của ta sắp lâm vào cảnh tuyệt vọng. Tôi biết chính xác cái ngày mà xe tăng của bọn phát-xít sẽ gầm rú trên đường phố Khác-cốp. Điều đó sẽ phải xảy ra vào ngày 25 tháng Mười. Thật không thể chịu nổi khi nghĩ tới việc này.
Và tôi dễ dàng hình dung thấy Tổng tư lệnh tối cao đã phải trải qua bao do dự, bao giờ phút khó khăn trước khi ra mệnh lệnh bỏ Đôn-bát và những thành phố như Khác-cốp, Bê-lơ-gô-rốt.
Cũng không có gì đáng ngạc nhiên là tổng tư lệnh X. C. Ti-mô-sen-cô của chúng tôi bây giờ nom buồn rũ. Đồng chí rất đau lòng phải rời bỏ một vùng kinh tế rất quan trọng của đất nước, mặc dù đồng chí đã ý thức rõ về biện pháp cần thiết đó.
… Thế là xe chúng tôi đã đi qua ngoại vi Đông – Nam Khác-cốp và lăn bánh trên con đường cái ngoằn nghèo như rắn lượn chạy dài vô tận về hướng Tsu-gu-rép. Trên đường chen chúc từng đoàn xe chở bộ đội và hàng quân sự. Đồng chí lái xe Xtác-gin-xki của chúng tôi, tuy lái giỏi, nhưng vẫn phải cho xe chạy với tốc độ của người đi bộ.
Chúng tôi tới Tsu-gu-rép lúc gần 9 giờ sáng, cố gắng bắt liên lạc ngay với các cơ quan tham mưu của tập đoàn quân. Nhưng làm được việc này đâu phải dễ. Liên lạc được nhanh với các tập đoàn quân 6 và 40 đóng ở bên sườn, nhưng phải hai tiếng sau mới bắt được bằng vô tuyến điện với cơ quan tham mưu các tập đoàn quân 21 và 38 đóng ở giữa. Cuộc rút lui được tiến hành trong những điều kiện khó khăn, bọn Hít-le tung ra những lực lượng rất lớn hòng đột kích vào những chỗ tiếp giáp. Nhưng mọi đợt công kích của địch đều bị đánh lui có kết quả.
Hội đồng quân sự tới sau chúng tôi một lúc. Nghe tôi báo cáo xong, X. C. Ti-mô-sen-cô ra một loạt chỉ lệnh giải thích cho các tập đoàn quân. Đến tối, sau khi để lại ở Tsu-gu-rép một nhóm sĩ quan chỉ huy do tướng Cô-xten-cô, phó tổng tư lệnh của đồng chí, lãnh đạo. Nguyên soái đáp máy bay về sở chỉ huy chính ở Va-lui-ki. Chúng tôi cùng đi với đồng chí.
Sở chỉ huy mới đã được triển khai đầy đủ. Thông tin liên lạc tương đối thông suốt. Nguyên soái Ti-mô-sen-cô hầu như không rời khỏi máy, thường xuyên nói chuyện với các tư lệnh tập đoàn quân. Biết việc rút các tập đoàn quân của Phương diện quân Tây – Nam không có gì rắc rối lắm, Nguyên soái gọi thượng tướng Tsê-rê-vi-tsen-cô, tư lệnh Phương diện quân Nam, và trung tướng Rê-mê-đốp, tư lệnh tập đoàn quân độc lập 56, cùng hành động phối hợp với Phương diện quân Nam, tới máy nói. Tsê-rê-vi-sen-cô báo cáo là các tập đoàn quân 12 và 18 rút lui theo đúng kế hoạch, không có gì trắc trở. Tình hình ở cánh Nam phương diện quân xấu hơn. Ngày 17 tháng Mười, các đơn vị của Clai-xtơ đã đột nhập ở dải của tập đoàn quân 9 và chiếm Ta-gan-rốc. Sư đoàn bộ binh 136 thuộc tập đoàn quân 18 được gấp rút điều tới đó.
Nguyên soái Ti-mô-sen-cô báo trước cho tư lệnh phương diện quân là việc Ta-gan-rốc thất thủ đã gây ra nguy cơ địch sẽ tiến vào sau lưng bộ đội ta. Để tránh điều đó, đồng chí ra lệnh tăng cường ngay các phương tiện phòng ngự chống tăng của tập đoàn quân 9, chấn chỉnh sự hiệp đồng của nó với tập đoàn quân độc lập 56 đang bảo vệ Rô-xtốp. Nguyên soái hứa sẽ chi viện cho tập đoàn quân 9 một lữ đoàn xe tăng lấy ở Phương diện quân Tây – Nam.
Địch đang tiến mạnh tới Rô-xtốp. Nguyên soái Ti-mô-sen-cô yêu cầu chúng tôi báo cáo tỉ mỉ lực lượng bảo vệ thành phố. Chúng tôi nhanh chóng thu thập tin tức. Tập đoàn quân độc lập 56 đang xây dựng nhờ các đơn vị của quân khu Bắc Cáp-ca-dơ. Trước ngày 17 tháng Mười, hai sư đoàn bộ binh và một sư đoàn kỵ binh của tập đoàn quân đã kịp chiếm lĩnh tuyến phòng ngự ở sau lưng tập đoàn quân 9, trên tuyến những điểm dân cư Ghê-nê-ran-xcôi-e, Xi-ni-áp-ca – cách Rô-xtốp 25 ki-lô-mét về phía Tây.
Trực thuộc bộ đội bảo vệ thành phố có trường pháo binh Rô-xtốp, các lớp huấn luyện cán bộ công tác đảng và công tác chính trị của khu, trường quân chính, trung đoàn hộ tống 230, trung đoàn bộ binh cơ giới 33, trung đoàn cộng sản Rô-xtốp và trung đoàn dân quân – tất cả gồm 6.392 người. Ở ngoại vi thành phố, thuộc quyền tư lệnh tập đoàn quân có sư đoàn kỵ binh 64, tiểu đoàn tàu bọc thép, trường hải quân Xê-va-xtô-pôn và một đội tàu hỏa của hải đoàn A-dốp. Không có xe tăng.
Những lực lượng này hoàn toàn không đủ để ngăn chặn tập đoàn quân xe tăng của Clai-xtơ nếu chúng đột nhập tơi Rô-xtốp trên sông Đôn. Thêm vào đó, việc bảo vệ thành phố được tổ chức quá chậm. Công tác xây dựng các công sự kéo dài vì không đủ nhân công.
Đại bản doanh biết rõ những mặt yếu của hệ thống phòng ngự trên hướng Rô-xtốp. Theo mệnh lệnh của Đại bản doanh, ba sư đoàn bộ binh, một sư đoàn kỵ binh và các đơn vị của hai trường quân sự ở Cra-xnô-đa được điều tới tăng cường cho tập đoàn quân của trung tướng Ph. N. Rê-mê-đốp. Theo yêu cầu của Đại bản doanh, đến cuối tháng Mười, việc xây dựng cá công trình phòng ngự ở các cửa ngõ tới Rô-xtốp cũng như ở nội thành đã được đẩy mạnh, nhân dân địa phương đã góp phần tích cực vào công việc này.
… Nếu như ở dải Phương diện quân Nam, địch vẫn giữ được thế chủ động, và chúng ta chỉ có thể hy vọng ổn định được tình hình, thì ở Phương diện quân Tây – Nam, vào nửa cuối tháng Mười, chúng ta đã có khả năng kiểm tra chặt chặt chẽ và chỉ đạo tiến trình các sự kiện. Thâm chí Nguyên soái Ti-mo-sen-cô, vốn là người không chịu được tính dễ dãi và sự tự mãn, thì tối 20 tháng Mười cũng phải hài lòng với báo cáo của Bô-đin. Bộ đội rút lui theo đúng kế hoạch, bất chất mọi sự cản phá điên cuồng của địch. Bô-đin nhấn mạnh rằng hiện giờ đã thấy rõ ý đồ của bộ chỉ huy phát-xít là nhằm chia cắt bộ đội Phương diện quân Tây – Nam trên ba hướng: từ Xu-mư tới Bê-lơ-gô-rốt, từ Bô-gô-đu-khốp tới Khác-cốp, và từ Lô-dô-va-i-a tới Bác-ven-cô-vô. Nhưng mọi kế hoạch của chúng đều bị bẻ gẫy trước tinh thần kiên định của các binh đoàn xô-viết.
Việc rút lui được tiến hành không đồng đều. Tập đoàn quân 40 ở sườn phải cách các đơn vị khác ở phía Tây đến mấy chục ki-lô-mét. Làm như vậy là có chủ định vì những binh đoàn ở cánh trái của Phương diện quân Bri-an-xcơ bạn bị tụ lại. Do đó, Đại bản doanh yêu cầu chúng tôi trì hoãn việc rút tập đoàn quân 40 cho đến khi những binh đoàn ở sườn trái của Phương diện quân Bri-an-xcơ tới cùng một tuyến. Và thế là tập đoàn quân 40 phải dừng lại và giữ vững tuyến đó.
Nguyên soái Ti-mô-sen-cô chỉ không hài lòng ở chỗ việc rút quân được tiến hành theo một tuyến: phần lớn các tập đoàn quân của phương diện quân đều bố trí lực lượng và phương tiện thành một thê đội, không bố trí sít sao trên các hướng chủ yếu, không rút ra những lực lượng dự bị mạnh. Nhìn bản đồ, đồng chí hỏi:
– Tại sao Gô-rơ-đốp rải toàn bộ các sư đoàn của mình trên chính diện? Cho tôi liên lạc ngay với đồng chí ấy.
Mấy phút sau, đồng chí đã nói qua máy điện thoại:
– Chào đồng chí Gô-rơ-đốp! Tôi có cảm tưởng là các sư đoàn của đồng chí đang phân tán ở mọi ngả… Như vậy không những chỉ gây khó khăn cho việc chỉ đạo tác chiến, mà còn làm cho tập đoàn quân bị động. Còn chúng ta phải cố gắng gây tổn thất tối đa cho địch ngay cả khi mình đang rút lui.
– Thưa đồng chí tổng tư lệnh, - Gô-rư-đốp thanh minh, - địch lúc nào cũng cố tìm cách đi vòng qua các sư đoàn chúng tôi, thọc vào chỗ tiếp giáp giữa các sư đoàn, nên phải rải quân ra như vậy.
– Nhưng đồng chí không tính rằng kéo dài các đơn vị ra như sợi chỉ thì có khác gì nấp sau tấm kính để tránh đá ném tới. Vì ở bất cứ điểm nào địch cũng có thể dễ dàng cắt đứt sợi chỉ đó và dạo chơi sau lưng ta. Mà đồng chí lại không có đủ lực lượng dự bị để ngăn chặn. Tình hình sẽ khác hẳn nếu đồng chí không phân tán lực lượng của mình, mà biết tạo nên những quả đấm mạnh. Khi ấy có thể choảng địch nên thân nếu chúng cố lọt vào vị trí các đơn vị của đồng chí.
Tôi thấy cần nói rằng Nguyên soái Ti-mô-sen-cô không ngừng quan tâm tới việc tổ chức lực lượng dự bị khá mạnh của phương diện quân, cố gắng bố trí chúng ở chỗ địch có thể đột kích. Điều đó không những cho phép ta kịp thời đối phó với các cuộc tiến công của địch, mà còn bảo toàn được lực lượng ta. Khi nằm trong lực lượng dự bị, các sư đoàn và quân đoàn còn kịp được bổ sung quân số và trang bị, được nghỉ ngơi đôi chút để có thể lại bước vào chiến đấu với sức lực dồi dào.
– Tôi đề nghị, - tư lệnh tập đoàn quân nói, - cho phép tập đoàn quân không bị dừng lại ở tuyến giữa nữa. Như vậy, chúng tôi sẽ tranh thủ được giời gian và tránh xa địch, để có thể tổ chức phòng ngự tốt hơn ở tuyến sau.
– Không được, - câu rả lời tiếp theo ngay, - nhất định phải dừng lại ở tuyến giữa. Nếu không, đồng chí sẽ gây nguy hại cho tập đoàn quân của Pốt-la-xơ, vì tập đoàn quân này đang phải chờ cho Phương diện quân Bri-an-xcơ rút xong.
Nghe cuộc đàm thoại, tôi không khỏi so sánh hình thái ngày nay của chúng ta với những sự kiện hồi mùa hè.
Bộ chỉ huy phát-xít tập trung mọi cố gắng để chia cắt chính diện các đơn vị của chúng ta đang rút lui, bằng chiến thuật gọng kìm mà chúng hằng ưa thích để cắt rời và nghiền nát từng đơn vị một. nhưng những gì mà có lúc kẻ địch đã thành công trong những tuần đầu chiến tranh thì ngày nay, chúng không thể đạt được. Bài học cay đắng không phải là vô ích. Chúng ta đã tích lũy được kinh nghiêm. Hạt nhân của hầu hết các binh đoàn chúng ta ngày nay là những chiến sĩ và cán bộ đã dày dạn trong lửa đạn. Nghệ thuật quân sự của cán bộ chỉ huy các cấp, trước hết là ở khâu chiến dịch, được nâng cao rõ rệt. Bộ tư lệnh chúng ta bắt đầu cơ động lực lượng dự bị tốt hơn. Mặc dù điều kiện bảo đảm vật chất cho bộ đội có giảm sút, Đảng và Chính phủ đã biết sử dụng với hiệu quả tối đa mọi nguồn dự trữ để duy trì khả năng chiến đấu cho quân đội.
Tôi không muốn để bạn đọc tin rằng việc rút bộ đội của chúng ta được hoàn toàn trôi chảy, vì cả một đạo quân to lớn đã vượt chặng đường dài biết bao trước sức ép không ngừng của các đạo quân phát-xít! Dù sao những gì chúng ta thấy được hồi tháng Mười năm 1941, cũng không thể so sánh với những điều mà chúng ta đã chứng kiến khi bộ đội ta phải rút lui từ biên giới về sông Đni-ép-rơ. Lúc ấy, chúng ta chỉ lo cứu các trung đoàn và sư đoàn đang bị bao vây, đang cố gắng hết sức để thoát khỏi những gọng kìm tiếp theo. Giờ đây, sự kiện ấy không còn nữa. Các tập đoàn quân rút lui có sự hiệp đồng chặt chẽ với nhau. Và nếu một tập đoàn quân lâm vào tình thế khó khăn thì các tập đoàn quân bạn sẽ giảm bớt tốc độ lui quân và tới chi viện ngay. Cũng có trường hợp bọn phát-xít đột nhập được vào một số hướng, nhưng số phận của chúng cũng mau chóng được kết thúc tại đây.
Điều đó đã xảy ra vào ngày 21 tháng Mười. Tập đoàn quân 38 báo cáo là hai cánh quân lớn của địch trong khi cố đánh bọc sườn Khác-cốp từ hai phía, đã thọc qua các đội hậu vệ của ta rồi chiếm Đéc-ga-tsi và Mê-rê-pha là hai thành phố bảo vệ cửa ngõ tới Khác-cốp. Tổng tư lệnh điều ngay tới đó một lực lượng không quân đáng kể của phương diện quân, lệnh cho tư lệnh tập đoàn quân phải đánh bật địch ra khỏi những điểm đã bị chiếm. Và bộ đội tập đoàn quân 38 đã hoàn thành nhiệm vụ. Các đơn vị đã công kích quyết liệt và giải phóng cả hai thành phố. Các chiến sĩ dùng súng phun lửa diệt bọn Hít-le nấp trong các tòa nhà bằng đá. Sự kiện này làm tiêu tan ý chí của bọn phát-xít, chúng không còn dám mở tiếp những gọng kìm vào Khác-cốp nữa.
Trong những ngày này, chúng ta lại thêm tin vào quy tắc mà Xu-vô-rốp đã nêu lên là mỗi chiến sĩ đều phải biết cách cơ động cho mình. Vì vội vã, hoặc vì muốn giữ bí mật mà một số phân đội đã không cho chiến sĩ và cả cán bộ chỉ huy hiểu rõ ý nghĩa của việc rút lui sắp tới, nên một số người còn có ý kiến: nếu ta rút lui có nghĩa là địch đã ở sau lưng ta. Cho nên, đôi khi những người quá lanh lẹn bị giữ lại ở nơi khá xa các sư đoàn của mình.
Hội đồng quân sự thảo luận ngay vấn đề này. Cục trưởng chính trị của phương diện quân là chính ủy lữ đoàn X. Ph. Ga-lát-giép công nhận rằng cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị đã phạm sai lầm nghiêm trọng vì không giải thích cho chiến sĩ hiểu rõ thực chất của việc cơ động sắp tới. Hội đồng quân sự đã gửi xuống các đơn vị một lệnh hướng dẫn thích đáng. Từng tổ cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị trong bộ máy lãnh đạo của phương diện quân đi xuống các đơn vị. Các đồng chí được giao nhiệm vụ không những giúp tổ chức việc giải thích, mà còn áp dụng một vài biện pháp thực tế là để chấn chỉnh việc rút lui, như tập trung máy kéo và xe kéo trên đường chuyển quân nhằm tránh tắc đường, thu xếp việc điều chỉnh giao thông, yêu cầu nhân dân địa phương giúp đỡ sửa chữa đường sá.
Tổ chức đảng ở tất cả các đơn vị đều nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Hội đồng quân sự phương diện quân. Các phân đội đều tổ chức cho chiến sĩ mạn đàm, nên qua đó đã nâng cao thêm tính tổ chức và tinh thần kỷ luật của các đơn vị.
Đến ngày 22 tháng Mười, các binh đoàn thuộc Phương diện quân Tây – Nam đã bắt đầu tập trung ở tuyến trung gian theo dọc sông Xây-mơ, đầu nguồn sông Bắc Đô-ne-txơ, các thành phố Bê-lơ-gô-rốt, Khác-cốp, Xla-vi-an-xcơ.
Tất cả chúng tôi đều lo lắng cho Khác-cốp. Vì chỉ có một sư đoàn bộ binh và một lữ đoàn thuộc Bộ dân ủy nội vụ được điều tới bảo vệ một thành phố lớn như vậy. Nhưng các sự kiện đã cho thấy rằng quyết tâm của tổng tư lệnh rất đúng. Đồng chí cho rằng sau đòn đánh trả kịch liệt âm mưu vu hồi thành phố, bọn Hít-le sẽ buộc phải công kích vỗ mặt. Và những trận công kích đó có thể bị một đơn vị bảo vệ không lớn lắm bẻ gẫy, nếu nó biết sử dụng tốt những công trình phòng ngự được xây dựng trên các cửa ngõ và bên trong thành phố.
Bộ đội ta chưa kịp củng cố xong ở tuyến một thì đã lại nổ ra những trận chiến đấu ác liệt tại nhiều khu vực của mặt trận. Để tránh những tổn thất vô lý, Nguyên soái Ti-mô-sen-cô định tiếp tục rút các tập đoàn quân về tuyến trung gian theo định kỳ. Nhưng các đại diện bộ tư lệnh phương diện quân báo cáo rằng mọi con đường về Bê-lơ-gô-rốt và Khác-cốp sang phía Đông đều đầy ắp các đơn vị và cơ quan hậu cần. Đường sá về mùa thu lại lầy lội nên ô-tô đi chậm hơn rùa. Tổng tư lệnh buộc phải ra mệnh lệnh giữ vững tuyến đã chiếm lĩnh cho đến ngày 25 tháng Mười. Đồng thời, bộ tham mưu phương diện quân và cơ quan tham mưu các tập đoàn quân đang bị mắc kẹt trên đường. Bấy giờ, ta đã quyết định là tùy theo khả năng, sẽ thay ô-tô bằng các xe do súc vật kéo được động viên ở các nông trang và cơ quan, đưa các xe vận tải không sử dụng nữa về phía sau, và trên cơ sở đó sẽ xây dựng các tiểu đoàn ô-tô dự bị.
Biết công tác giải phóng mặt đường đã được tích cực tiến hành, ngày 23 tháng Mười, Nguyên soái Ti-mô-sen-cô ra lệnh chuẩn bị gửi cho các tập đoàn quân lệnh hướng dẫn tổ chức rút về tuyến phòng ngự mới do Đại bản doanh quy định là Ca-xtoóc-nôi-e, Xta-rưi Ô-xcôn, Cra-xnưi Li-man. 13 giờ, tôi mang dự thảo lệnh hướng dẫn trình tổng tư lệnh. Đồng chí ký tên và chỉ sửa lại một điều: bắt đầu rút quân không phải vào đêm rạng ngày 26 tháng Mười, mà sớm hơn một ngày. “Bộ đội không việc gì phải chịu những tổn thất vô ích”, - đồng chí giải thích nguyên nhân phải đổi lại ngày. Theo ý của Nguyên soái, việc tập trung bộ đội ở tuyến mới phải kết thúc trước ngày 2 tháng Mười một.
Nhìn bản đồ, Ti-mô-sne-cô nói:
– Tôi rất lo không biết những trận chiến đấu đang diễn ra ở nơi nào tại Khác-cốp: ở ngoại vi hay ngay trong nội thành. Tôi đã báo cho Txư-ga-nốp là đồng chí ấy không thể rời Khác-cốp trước thời hạn đã định và khi chưa phá hủy được hết những công trình quan trọng về mặt quân sự. Bộ tham mưu phương diện quân phải theo dõi để thực hiện tốt việc này.
Khi tôi tới báo cáo với Bô-đin về chỉ lệnh mới của tổng tư lệnh thì lúc này có mặt Ga-lát-giép, Cục trưởng cục chính trị phương diện quân sôi nổi nói:
– Không được, đồng chí Bô-đin ạ, không thể tiếp tục như thế được! Phải đưa ngay vấn đề này ra Hội đồng quân sự.
– Vẫn không kịp, đồng chí Ga-lát-giép, Bô-đin trả lời. – Bây giờ không phải lúc bàn về khen thưởng. Hơn nữa, mọi người chúng ta chiến đấu không phải vì những chiếc huân chương.
Đôi mắt nâu sinh động của Ga-lát-giép thoáng vẻ bực bội.
– Cá cậu cũng lặp đi lặp lại: bây giờ không có thời gian để làm những điều vặt vãnh, phải nhanh chóng giải phóng mặt đường và tránh cho bộ đội khỏi bị địch tập kích… Thế ai sẽ giải quyết việc này? Ai hy sinh thân mình kìm chân địch? Những con người, những chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tuyệt vời của chúng ta. Còn ta thì lại bỏ lỡ dịp tặng thưởng công lao của anh em, bỏ lỡ cơ hội tiếp thêm sức mạnh mới cho anh em.
– Tôi hiểu tất cả những điều đó…
– Nếu hiểu, sao cậu không ủng hộ mình? Hiện giờ, mọi việc ở chỗ ta ra sao? Chiến tranh đã gần bốn tháng rồi, anh em ta chiến đấu vô cùng dũng cảm. Họ không có lỗi gì nếu đôi khi tình hình không có lợi cho ta và ta buộc phải rút lui. Tôi đồng ý lúc này có thể chưa cần vội khen thưởng các cán bộ cao cấp, nhưng nhất định phải khen thưởng chiến sĩ và cán bộ khâu chiến thuật, cần để anh em thấy được nhân dân và bộ tư lệnh biết rõ và đánh giá đúng công lao của anh em. Hiện giờ, việc này làm chưa tốt. Cậu có biết, cho đến nay, ở phương diện quân ta có bao nhiêu người được khen thưởng trong suốt thời gian chiến đấu vừa qua không? Tất cả chỉ có 399 người! Trong khi có hàng nghìn, hàng vạn người xuất sắc. Vì thế, mình vẫn đề nghị thảo luận vấn đề này ở Hội đồng quân sự. Có lẽ đã đến lúc đề nghị Chính phủ trao cho tư lệnh quyền nhân danh Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô tặng huy chương và huân chương cho những người xuất sắc trong chiến đấu.
– Thôi được, Bô-đỉn rút lui, - ngay hôm nay, tôi sẽ nói với tổng tư lệnh về việc này và tôi nghĩ rằng đồng chí ấy sẽ ủng hộ chúng ta.
– Đây là chuyện khác! Ga-lát-giép mỉm cười thoải mái và ra về sau khi gật đầu chào chúng tôi.
– Thật là một con người kiên trì! – Bô-đin nói. – Đã bắt tay vào việc là dứt khoát phải đạt bằng được kết quả.
Tôi báo cáo với tham mưu trưởng về những chỉ thị của Nguyên soái Ti-mô-sen-cô và những đề nghị của tôi nhằm thực hiện những chỉ thị ấy. Chúng tôi thỏa thuận với nhau là ngay hôm nay sẽ phái một số sĩ quan tham mưu tới Khác-cốp để giúp đỡ tại chỗ cho bộ tư lệnh bộ đội bảo vệ thành phố.
Anh em đáp máy bay tới Khác-cốp. Thành phố ẩn trong màn khói bom đạn địch bắn phá dã man vào những khu nhà ở.
Tướng I. I. Mác-san-cốp, tư lệnh bộ đội bảo vệ cho biết, các đơn vị cầm cự rất dũng cảm, mặc dù đa số anh em là những chiến sĩ chưa được thử thách, trang bị chỉ có súng trường và lựu đạn. Thiếu phương tiện vận chuyển, phải chở đạn ra trận địa bằng tàu điện. Những người dân Khác-cốp hết lòng giúp đỡ anh em bộ đội. Nhân dân đã thành lập một trung đoàn dân quân, gồm trên một nghìn người. Số người tình nguyện đông gấp mấy lần, nhưng không đủ vũ khí.
Bộ đội bảo vệ với quân số ít ỏi lúc này vẫn cầm cự có kết quả với ba sư đoàn Đức. Ở đây, địch có hơn ba chục xe tăng, còn những chiến sĩ bảo vệ thành phố chỉ có 14 xe tăng hạng nhẹ loại cũ, anh em công nhân nhà máy chế tạo máy kéo giữ lại số xe tăng này trên đường đi vào lò luyện thép, và tự khôi phục những chiếc xe đã được ghi vào danh mục sắt vụn ấy.
Ngày hôm trước, một toán phát-xít lọt được vào thành phố. Bộ đội ta đã phản kích quyết liệt, buộc chúng phải tháo chạy. Nhiều tên Hít-le đã được diễu qua thành phố, nhưng không phải với tư cách kẻ chiến thắng, mà là những tên tù binh.
Khi các phái viên của chúng tôi thông báo cho thiếu tướng biết là theo lệnh của bộ tư lệnh phương diện quân, những chiến sĩ bảo vệ Khác-cốp phải rời thành phố trong đêm rạng ngày 25 tháng Mười thì đồng chí quả quyết cam đoan:
– Chúng tôi sẽ giữ vững, nhất định sẽ giữ vững!
Những đại diện của phương diện quân thấy cơ quan tham mưu bộ đội bảo vệ thành phố và bộ tư lệnh tập đoàn quân 38 đôi khi hành động thiếu sự phối hợp cần thiết. Ví dụ, sư đoàn bộ binh 216 nhân mệnh lệnh vừa của cơ quan tham mưu bảo vệ thành phố, vừa của bộ tham mưu tập đoàn quân. Việc trực thuộc kép như vậy làm rối việc. Cụ thể là chính vì thế mà hôm nay, sư đoàn bộ binh 216 đã để địch lọt vào phố Xvéc-đlốp. Sư đoàn trưởng có một tiểu đoàn dự bị, đồng chí tung ra phản kích nhưng không có kết quả. Hiện giờ, sư đoàn trưởng đề nghị cho phép rút các đơn vị sang bên kia sông Lô-pan. Theo ý kiến Mác-san-cốp thì không nên làm như vậy.
Những đại diện của chúng tôi tới chỗ tư lệnh tập đoàn quân. Chỉ huy tập đoàn quân 38 thay tướng Phê-cơ-len-cô là thiếu tướng Txư-ga-nốp. Tôi còn nhớ, có người ngạc nhiên vì sao X. C. Ti-mô-sen-cô lại để Txư-ga-nốp làm tư lệnh một tập đoàn quân có nhiệm vụ yểm hộ một hướng rất quan trọng. Vấn đề ở chỗ trước kia, thiếu tướng chưa từng chỉ huy những binh đoàn lớn. Trong những năm 1935-1937, đồn chí là phó hiệu trưởng Trường bộ tinh Tam-bốp và sau đó làm việc tại Học viện kinh tế quân sự. Tháng Bảy năm 1941, đồng chí được điều từ học viện ra mặt trận, thuộc quyền Tổng tư lệnh hướng Tây – Nam. Đồng chí được phân công phù hợp với kinh nghiệm của mình, làm phó tham mưu trưởng hướng phụ trách hậu cần. Nhưng Nguyên soái Ti-mô-sen-cô nhanh chóng nhận thấy ở nhà kinh tế có tài năng của một cán bộ chỉ huy lớn, và khi có điều kiện, đã mạnh dạn để đồng chí lãnh đạo tập đoàn quân. Tổng tư lệnh hoàn toàn đúng. Txư-ga-nốp đã trở thành một cán bộ chỉ huy tốt.
Thiếu tướng cam đoan sẽ làm tất cả để chấp hành mệnh lệnh và công nhận là quả thực phải có sự hiệp đồng chặt chẽ hơn nữa với bộ tham mưu bộ đội bảo vệ thành phố. Đồng chí hứa áp dụng mọi biện pháp cần thiết về việc này.
– Chúng tôi đang chấn chỉnh lại tình hình. Sư đoàn trưởng sư đoàn 216 đêm nay không những đã bỏ các khu phố ở phía Tây sông Lô-pan khi chưa được phép, mà còn, điều làm cho tôi đau lòng hơn cả là đã rời khỏi Khác-cốp cùng với cơ quan tham mưu. Khi sư đoàn rút sang bên kia sông, bọn phát-xít đã chiếm được một chiếc cầu còn nguyên vẹn… Lẽ ra, các đơn vị của ta không được cho địch sử dụng chiếc cầu đó để vượt sang bờ phía Đông, nhưng tình hình vẫn còn căng thẳng. Tôi đã điều lữ đoàn trưởng Giơ-ma-tsen-cô tới đó. Con người gang thép này sẽ không rời Khác-cốp khi chưa có lệnh.
Đại diện phương diện quân báo cáo với tư lệnh tập đoàn quân rằng tổng tư lệnh đặc biệt nhấn mạnh vấn đề không được để bất cứ một công trình quan trọng nào về mặt quân sự lọt vào tay bọn phát-xít mà còn nguyên vẹn. Thiếu tướng buồn bã dang tay:
– Địch đã chiếm được một công trình còn nguyên vẹn, nhưng ta đã kịp phá hủy những công trình khác. Chúng tôi hy vọng sẽ phá được cả chiếc cầu đã bị bọn Đức chiếm: lúc này, chúng tôi đã tập trung đầy đủ hỏa lực cùng một bộ phận pháo binh đáng kể, đã ném các máy bay cường kích và phái một tổ chiến sĩ biệt động phá nổ tới đó.
Câu chuyện giữa đại diện phương diện quân và tư lệnh tập đoàn quân luôn luôn bị tiếng chuông điện thoại cắt ngang. Tướng Txư-ga-nốp cầm ống nói, kiên nhẫn lắng nghe. Ra các mệnh lệnh mà không hề cao giọng. Đồng chí nói chuyện bình tĩnh bằng điện thoại cả với sư đoàn trưởng 216, hỏi về nguyên nhân rút các đơn vị về tuyến mới khi chưa được phép. Sư đoàn trưởng cố thuyết phục tư lệnh tập đoàn quân rằng nếu đồng chí không làm như vậy, thì sư đoàn sẽ bị cắt rời và xóa sổ rồi.
– Tôi đánh giá cao những chỉ huy có tính chủ động, - Txư-ga-nốp điềm tĩnh trả lời bằng giọng khàn khàn, - và có thể là đồng chí đúng khi cho sư đoàn rút lui. Chúng tôi sẽ xem xét lại vấn đề này. Nhưng việc đồng chí cùng cơ quan tham mưu bỏ Khác-cốp và rời về chỗ hầu như gần cơ quan tham mưu tập đoàn quân, bỏ mặc các trung đoàn… Đúng, đúng là bỏ mặc… Chính đồng chí kêu với tôi là rất thiếu phương tiện thông tin liên lạc, vậy trong những trường hợp như thế mà tách khỏi các đơn vị xa hơn nữa thì có lợi hay sao?... Thế thì – giọng tư lệnh tập đoàn quân đượm vẻ quở trách nghiêm khắc, - không thể tha thứ cho đồng chí về việc này được. Tôi không muốn làm mếch lòng đồng chí, nhưng nếu hành động như vậy thì tôi sẽ bị buộc tội hèn nhát là điều chính đáng. Đồng chí thấy đấy, sau sự việc này, tôi không thể đồng chí tiếp tục chỉ huy sư đoàn được. Tóm lại, đồng chí trao ngay quyền chỉ huy cho Giơ-ma-tsen-cô rồi đến gặp tôi.
Tôi lắng nghe và suy nghĩ. Rõ ràng, Txư-ga-nốp nổi bật ở tính đòi hỏi cao, biết làm cho cấp dưới phục tùng mình không chỉ bằng quyền hành được trao, mà còn bằng cả cái lô-gích rất chặt chẽ.
Tư lệnh tập đoàn quân Txư-ga-nốp đã giữ lời hứa. Các binh đoàn của đông chí chiến đấu kiên cường bảo vệ Khác-cốp. Trong năm ngày chiến đấu ác liệt trên đường phố, những sư đoàn phát-xít tiến công đã bị thiệt hại một nửa (Những phóng viên độc mồm, độc miệng đã gọi thật xác đáng những trận chiến đấu này là sự “chích máu ở Khác-cốp”). Bộ đội bảo vệ Khác-cốp đã hoàn thành nghĩa vụ của mình: các đơn vị đã kìm chân một lực lượng địch mạnh hơn trong suốt thời gian đúng như yêu cầu của bộ tư lệnh.
Tối 26 tháng Mười, khi tôi báo cáo với Nguyên soái về những hành động của tướng Txư-ga-nốp, đồng chí hài lòng gật đầu:
– Dù sao, chúng ta cũng đã chơi nước thượng với con cáo già Rây-khơ-nao(Tướng Phôn Rây-khơ-nao là tư lệnh tập đoàn quân 6 của Đức mà các sư đoàn của nó đã tiến công trên hướng Khác-cốp.): không những không cho hắn giăng bẫy bộ đội ta ở Khác-cốp, mà còn cho hắn ta một đòn khi hắn liều mạng lao tới cứ điểm Khác-cốp!...
Tổng tư lệnh cúi xuống bản đồ:
– Vậy thế thì bây giừ, tôi sẽ bắt đầu rút quân về tuyến một theo tuần tự chặt chẽ như trên. Toàn bộ bộ tham mưu phải theo dõi việc thực hiện xít xao kế hoạch. Đồng chí Ba-gra-mi-an ạ, việc này liên quan trước hết đến đồng chí đấy!
… Suốt đêm, các phái viên – những sĩ quan được cắm ở các tập đoàn quân và trực tiếp kiểm tra các hoạt động của họ, đã theo dõi tỉ mỉ việc bộ đội bắt đầu rút về tuyến mới. Mọi việc đều thuận lợi: bọn trinh sát của phát-xít không phát hiện được, và đến tảng sáng, khi các sư đoàn phát-xít lại công kích, thì lực lượng chủ yếu các các tập đoàn quân ta đã ở ngoài tầm pháo của địch. Bộ chỉ huy phát-xít không còn hy vọng cơ động để đánh vu hồi được nữa. Các tập đoàn quân vận động ngày càng có kế hoạch và bình tĩnh hơn. Rõ rặng chống trả quyết liệt bọn phát-xít ở tuyến trước đã làm nguội bớt cuồng vọng tiến công của chúng nhiều.
Sáng sớm 27 tháng Mười, sau khi nắm chắc là toàn bộ lực lượng dự bị của phương diện quân đã tập trung ở các khu vực đã định (quân đoàn kỵ binh 2 ở gần thành phố Cô-rô-tsa, quân đoàn kỵ binh 5 ở gần Vôn-tsan-xcơ và sư đoàn bộ binh 253 ở gần Xva-tô-vô), tôi rời trạm thông tin liên lạc, nơi đã làm việc gần hết đêm. Ở sân bộ tham mưu, tôi gặp những người quần áo tả tơi, râu ria lâu không cạo. Có lẽ là du kích – họ thường ghé thăm chúng tôi. Nhưng những khuôn mặt trông quen quen. Tôi nhìn kỹ và không thể tin vào mắt mình nữa:
– Ma-gi-rin! A-lếch-xây-ép!
– Đúng họ đấy.
– Các đồng chí ở đâu về thế?
– Vừa từ địa ngục về thẳng đây, Ma-gi-rin cười.
Sư đoàn trưởng sư đoàn 4 của Bộ dân ủy nội vụ, vừa trải qua một chặng đường dài ở sau lưng địch, kể lại những sự rủi ro của binh đoàn đồng chí mà bạn đọc đã biết, là đơn vị cuối cùng rời khỏi Ki-ép. Còn tướng I. I. A-lếch-xây-ép cho tôi biết số phận của chi đội đã cản đường các sư đoàn của Clai-xtơ ở khu vực thành phố Lúp-nư.
Ngày 10 tháng Chín, A-lếch-xây-ép nguyên là quân đoàn trưởng quân đoàn bộ binh 6 từ quân y viện trở về bô tham mưu của đồng chí. Nhưng thiếu tướng A. I. Lô-pa-tin đã đảm nhiệm cương vị của đồng chí. A-lếch-xây-ép tới gặp tư lệnh tập đoàn quân Cô-xten-cô. Tư lệnh yêu cầu đồng chí gấp rút tổ chức một chi đội độc lập, gồm đoàn biên phòng 94, trung đoàn 6 Bộ dân ủy nội vụ và một trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ phòng ngự dọc sông Xu-la ở khu vực thành phố Lúp-nư. Thiếu tướng cho rằng chỉ có những đơn vị tiền tiêu mỏng yếu của địch đột phá tới đây, nên quyết định công kích trước. Nhưng trước chi đội không lớn lắm của đồng chí lại là những lực lượng lớn thuộc tập đoàn quân xe tăng của Clai-xtơ. Tất nhiên, địch đã bẻ gãy cuộc công kích, rồi cho xe tăng xông lên. Chi đội của A-lếch-xây-ép không có một khẩu súng chống tăng nào. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy chiến đấu quyết liệt. Bọn phát-xít bao vây họ. Anh em giữ vững trận địa cho đến khi hết đạn. Cuối tháng Chín, chi đội vòng ra phá vây lần cuối cùng. Anh em chịu tổn thất nhiều, nhưng đã thoát khỏi cái bẫy của địch.
– Còn bây giờ, chúng tôi đợi trên quyết định số phận của mình, - Ma-gi-rin nói.
– Chúng tôi chỉ mong sớm được trở về đơn vị, - A-lếch-xây-ép thở dài.
Chúc các đồng chí mọi sự như ý và tôi đi nghỉ. Lần đầu tiên trong mười ngày gần đây, tôi mới được ngủ đẫy mắt và cảm thấy khoan khoái ngay. Mặt trận yên lặng chưa từng thấy: các tập đoàn quân đều báo cáo về là hoàn toàn bình yên. Bộ tham mưu chúng tôi yên lòng trở lại, giống như tổ ong sau một ngày lao động miệt mài. Cán bộ tham mưu, khi nói chuyện với các đơn vị, không còn gào thét như trước: hiếm thấy nhân viên thông tin lên lạc chạy đi chạy lại tất bật.
Tình hình khác thường này khiến chúng tôi lo ngại. Và chúng tôi rất ngạc nhiên khi đại tá Ca-min-xki, trinh sát viên có mặt ở khắp nơi của chúng tôi, cho biết là đã hai ngày nay, tập đoàn quân 21 và 38 để “xổng mất” địch – không chạm trán với chúng. Điều đó có nghĩa là bộ đội phương diện quân chúng tôi đã bỏ địch khá xa.
Chúng tôi có nên lợi dụng tình hình này không? Vì phần lớn nguyên nhân rút bộ đội phương diện quân của chúng ta là do các tập đoàn quân phát-xít đã đột phá trên các hướng Mát-xcơ-va và Rô-xtốp, và từ đó, có nguy cơ chúng sẽ đánh vu hồi vào hai bên sườn của chúng tôi như đã xảy ra ở phía Đông Ki-ép. Nhưng lúc này, chúng tôi mới nhận được tin từ Mát-xcơ-va là cuộc tổng tiến công của quân Đức vào thủ đô đang yếu di, và trên thực tế, địch đã bị chặn lại cách Mát-xcơ-va một trăm ki-lô-mét. Ở gần Rô-xtốp, tình hình cũng dần dần ổn định. Như vậy, chúng tôi có thể bám trụ ở chỗ cách khá xa về phía Tây so với tuyến Đại bản doanh đã chỉ định và, do đó, cải thiện hình thái chiến dịch - chiến lược chung của bộ đội. Cụ thể là, nếu sử dụng được tuyến đường sắt quan trọng Ca-xtoóc-nôi-e – Li-xi-tsan-xcơ thì chúng tôi sẽ có khả năng cơ động rộng rãi lực lượng giữa Phương diện quân Tây – Nam và Phương diện quân Nam.
Sau khi cân nhắc tỉ mỉ những kết luận của mình, tôi trao đổi ý kiến với tham mưu trưởng. Đồng chí mìm cười, nhìn tôi:
– Đồng chí biết không, tôi cũng suy nghĩ về điều này. Nếu chúng ta có thể nghỉ ngơi được chút nào, thì phải tận dụng việc đó để bám trụ ở tuyến đã đến hiện nay. – Lại gần bản đồ, Bô-đin chỉ bằng bút chì: - Vào khoảng chỗ này… Ta sẽ chiếm lĩnh tuyến đó và củng cố để phòng ngự lâu dài vững chắc. Đồng chí hãy chuẩn bị bản thông báo tình hình cho Hội đồng quân sự, hoàn chỉnh văn kiện này bằng những điều tính toán chiến thuật – chiến dịch cần thiết.
Được đại tá Da-khơ-va-ta-ép và hai sĩ quan trong phòng giúp đỡ, ngay hôm ấy, tôi làm xong việc này. Bô-đin mang tài liệu được chuẩn bị tới gặp tổng tư lệnh. Khoảng hơn mười một giờ đêm, đồng chí mới trở về và bảo tôi:
– Không thuyết phục được Nguyên soái, vì chính đồng chí cũng định trình bày điều đó với Đại bản danh. Khi nào được Mát-xcơ-va đồng ý, ta sẽ phát lệnh ngay. Phải thảo ngay những chỉ thị cho các tập đoàn quân.
Tiếng chuông điện thoại ngắt đứt câu chuyện của chúng tôi. Chủ nhiệm thông tin liên lạc phương diện quân báo cáo là trung tướng A. M. Va-xi-lép-xki đề nghị tổng tư lệnh tới nói chuyện qua dây nói trực tiếp. Lúc bấy giờ, Va-xi-lép-xki là phó Tổng tham mưu trưởng. Cuộc nói chuyện chắc là rất quan trọng, nhưng tổng tư lệnh không thể đến phòng đàm thoại: đồng chí bị sốt cao và nằm trong toa xa-lông của mình ở nhà ga. Bô-đin và tôi vội tới máy liên lạc trực tiếp.
Tham mưu trưởng đọc cho điện báo viên:
– Thiếu tướng Bô-đin đang đứng bên máy.
“Chào đồng chí Bô-đin, - trên băng xuất hiện dòng chữ. – Mát-xcơ-va rất cần chi viện về kỵ binh. Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao hỏi Hội đồng quân sự phương diện quân: Hội đồng có thể điều về Mát-xcơ-va quân đoàn kỵ binh 2 gồm các sư đoàn kỵ binh 5 và 9 được không? Tôi yêu cầu cho biết ý kiến của Hội đồng quân sự để báo cáo lên Đại bản doanh. Tôi đang ở Đại bản doanh. Đợi các đồng chí trả lời tại đây”.
– Truyền di, Bô-đin nói ngay với tôi, - tôi đề nghị đợi khoảng mười lăm phút. Tôi nghĩ rằng sẽ có câu trả lời đồng ý, nhưng chuyển bộ đội mà thiếu tàu thì rất khó khăn.
Và đích thân đồng chí chạy tới gặp Tổng tư lệnh.
“Được, cảm ơn các đồng chí, - câu trả lời có ngay. – Chúng tôi chịu trách nhiệm về tàu xe. Các đồng chí cho biết Nguyên soái ra sao: chúng tôi nghe tin đồng chí bị ốm”.
Tôi trả lời Nguyên soái bị sốt cao, nhưng tôi chưa rõ căn bệnh.
Tham mưu trưởng đi ra ga và trở về mất nửa tiếng. Vừa chạy vào phòng đàm thoại, Bô-din đã đọc ngay:
– Đồng chi Va-xi-lép-xki vẫn đang ở bên máy phải không? – Được biết đúng như thế, đồng chí tiếp tục: - Thưa đồng chí Va-xi-lép-xki, tôi đã báo cáo Nguyên soái và được trả lời như sau: “Quân đoàn kỵ binh 2 trong vòng mười bảy ngày qua đã chiến đấu liên tục, cần được bổ sung quân số chiến đấu”. Xuất phát từ tình hình chung, tổng tư lệnh cho rằng không thể chuyển thuộc quân đoàn cho Đại bản doanh. Hết.
Va-xi-lép-xki cho biết đồng chí sẽ báo cáo với Tổng tư lệnh tối cao Xta-lin và lại hỏi Ti-mô-sen-cô bị bệnh ra sao. Bô-đin trả lời Nguyên soái bị viêm họng, và bác sĩ cấm đồng chí tuyệt đối không được ra ngoài trời.
Khoảng hai mươi phút sau, máy điện báo lại bắt đầu làm việc. Va-xi-lép-xki hỏi Bô-đin có ở bên máy không. Biết tham mưu trưởng vẫn ở bên máy, đồng chí truyền đi:
“Tôi đề nghị báo cáo ngay với đồng chí Nguyên soái bức thư ngắn sau đây của đồng chí Xta-lin: “Chuyển cho Nguyên soái rằng tôi rất mong đồng chí đồng ý với đề nghị của Đai bản doanh là chuyển quân đoàn kỵ binh 2 thuộc quyền Đại bản doanh. Tôi biết rằng điều đó sẽ là một sự hy sinh lớn đối với Phương diện quân Tây – Nam, nhưng tôi yêu cầu chấp nhận sự hy sinh đó”.
Bô-đin liếc nhìn đồng hồ. Mười hai giờ mười lăm phút.
– Rõ, - đồng chí đọc, - đích thân tôi sẽ đi báo cáo rồi sẽ trả lời ngay.
Nghe hỏi sẽ phải chờ bao lâu, Bô-đin trả lời mất ít nhất một tiếng, nhưng đồng chí cố gắng bớt đi được khoảng hai mươi lăm phút để truyền câu trả lời của tổng tư lệnh tới trạm thông tin liên lạc bằng điện thoại.
Viện lẽ Xta-lin đang chờ trả lời, Va-xi-lép-xki đề nghị Bô-đin nói chuyện với tổng tư lệnh bằng điện thoại. Tham mưu trưởng do dự một lát; đồng chí không thích nhờ đường dây của thành phố, nhưng lần này miễn cưỡng đồng ý.
– Được thôi. Tôi đến máy điện thoại ngay bây giờ.
Khoảng mười phút sau, đồng chí đọc cho điện báo viên:
– Báo cáo ý kiến trả lời của Nguyên soái: “Vì lợi ích chung, tôi không tiếc chuyển quân đoàn kỵ binh 2. Song tôi thấy có nhiệm vụ phải báo trước rằng nó đang ở vào tình trạng cần được bổ sung trong hai tuần lễ, và việc chuyển nó trong tình trạng như vậy vừa làm yếu Phương diện quân Tây – Nam, vừa không đem lại điều gì bổ ích ở gần Mát-xcơ-va. Nếu các đồng chí vẫn cần quân đoàn kỵ binh 2 trong tình trạng như tôi đã nói, thì tôi sẽ chuyển giao ngay khi được cấp tàu”.
Tôi rõ là tổng tư lệnh còn le lói niềm hy vọng: Đại bản doanh sẽ không lấy quân đoàn nữa, khi biết được tình trạng hiện nay của nó.
Va-xi-lép-xki cho biết là sau khi báo cáo với Xta-lin, đồng chí lại mời Bô-đin tới máy. Và chúng tôi lại chờ đợi khổ sở gần nửa giờ. Cuối cùng, máy lại gõ.
“Đề nghị nhận và báo cáo với tổng tư lệnh ý kiến trả lời của đồng chí Xta-lin, - Va-xi-lép-xki truyền, - Đồng chí Ti-mô-sen-cô! Tàu sẽ được cấp. Đồng chí hãy ra lệnh đưa quân đoàn lên tàu. Quân đoàn sẽ được bổ sung ở Mát-xcơ-va”.
Sau này, chúng tôi thấy đó là một quyết định sáng suốt. Quân đoàn của Bê-lốp giữ vai trò quan trọng trong việc diệt tan các sư đoàn của Gu-đê-ri-an từ phía Nam đã tiến mạnh lên Mát-xcơ-va.
Tôi thuật lại tỉ mỉ sự kiện này không phải chỉ nhằm đơn thuần gợi lại sự việc mà mọi người đã rõ. Biết rõ quyền hành rất lớn và tính hách dịch thật đặc biệt của Xta-lin, tôi rất đỗi ngạc nhiên về phong cách lãnh đạo của đồng chí. Đồng chí có thể ra lệnh ngắn gọn: “Chuyển giao ngay quân đoàn” – và chấm hết. Nhưng Xta-lin rất tế nhị và kiên nhẫn đề người chấp hành tự kết luận về sự cần thiết của việc này. Về sau, khi tôi giữ chức vụ tư lệnh phương diện quân, tôi cũng thường được nói chuyện với Tổng tư lệnh tối cao, và tôi tin chắc rằng đồng chí biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Nếu người chấp hành vẫn giữ ý kiến của mình và đưa ra những lý lẽ xác đáng, biện hộ cho quan điểm của mình thì hầu như bao giờ Xta-lin cũng nhượng bộ.
Sau khi biết quân đoàn của Bê-lốp vẫn phải đến khu vực Xéc-pu-khốp, tổng tư lệnh giao cho Bô-đin đề nghị Va-xi-lép-xki báo cáo lên Đại bản doanh ý kiến của Hội đồng quân sự về việc ngừng rút các tập đoàn quân của chúng tôi.
Sáng 28 tháng Mười, chúng tôi được trả lời. Đại bản doanh phê chuẩn đề nghị của bộ tư lệnh Phương diện quân Tây – Nam. Vào lúc 12 giờ trưa, Ti-mô-sen-cô ký lệnh hướng dẫn do chúng tôi dự thảo sẵn, thông báo phương diện quân ngừng rút quân và chuyển sang phòng ngự vững chắc trên tuyến các thành phố Tim, Ba-la-clây-ca, I-di-um và xa nữa dọc theo sông Bắc Đô-ne-txơ cho đến thành phố I-am-pôn. Mỗi tập đoàn quân được chỉ định một dải phòng ngự.
Giữa tuyến mà bộ đội phương diện quân dừng lại khi ký lệnh hướng dẫn và tuyến phòng ngự mới là một dải địa hình khá rộng. Ti-mô-sen-cô quyết tâm không cho địch chiếm dải này và sử dụng nó như một khu vực nhằm yểm hộ cho việc chuẩn bị phòng ngự trên tuyến chủ yếu.
Một bước ngoặt mới trong cuộc sống của bộ đội phương diện quân chúng tôi đã bắt đầu như thế. Bộ chỉ huy tối cao phát-xít phải chua xót công nhận rằng đã gia hạn một tháng rưỡi cuộc tiến công vào Mát-xcơ-va vẫn không đạt được mục đích. Sau khi giữ được hình thái chiến dịch – chiến lược ổn định hơn, bộ đội phương diện quân lại chuyển sang những hành động quân sự tích cực. Những đòn đột kích mạnh mẽ của bộ đội sẽ cho địch thấy là Phương diện quân Tây – Nam hồi sinh vẫn là một lực lượng đáng sợ như trước.