Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc Tổng Công Kích
Cuộc Tổng Công Kích

❊ ❊ ❊

Quân địch không bám sát được những sư đoàn buộc phải rút lui thuộc quân đoàn bộ binh 64, để đột phá tới Ki-ép. Ngay khi đó, chúng kéo pháo hạng nặng, tập trung trên một chính diện hẹp cụm xung kích của tướng Ốp-xtơ-phen-đe gồm trên bốn sư đoàn được tăng cường khá nhiều xe tăng và đến ngày 4 tháng Tám lại tiến công khu vực cố thủ Ki-ép từ phía Tây – Nam và Nam. Tướng Rây-khơ-nao tung ra một tập đoàn máy bay ném bom khá mạnh để tăng viện cho các đơn vị bộ binh. Y ra lệnh bắt đầu công kích cả ở những đoạn phòng ngự khác của Ki-ép để chi viện cho cụm xung kích của Ốp-xtơ-phen-đe.

Bọn Hít-e chuẩn bị chu đáo cho trận tổng công kích. Bộ chỉ huy phát-xít bằng mọi giá chỉ cốt chiếm cho được thủ đô U-cra-i-na. Ngày cũng như đêm, không lúc nào im tiếng đại bác. Những trận tập kích lớn bằng không quân nối tiếp nhau. Địch vung vãi bom đạn. Sau này, qua các tài liệu của bọn Đức, chúng tôi biết rằng để tổng công kích Ki-ép, chúng đã chuẩn bị ở Rô-vơ-nô hơn bốn nghìn tấn đạn dược, phần lớn là đạn xuyên bê tông.

Địch công kích quyết liệt nhất trên chính diện I-u-rốp-ca, Mơ-rư-ghi, chống các binh đội của sư đoàn bô binh 175 và 147, đơn vị hỗn hợp của tướng Ph. N. Ma-tư-kin và trận địa tiểu đoàn súng máy độc lập của đại úy I. E. Ki-pô-ren-cô. Sau khi đột nhập tuyến phòng ngự của ta ở chỗ tiếp giáp của các sư đoàn bộ binh, bọn phát-xít đã bao vây một vài hỏa điểm kiên cố nhưng các chiến sĩ ở đó vẫn tiếp tục chiến đấu kiên cường. Sư đoàn bộ binh 147 nằm trên hướng đột phá chủ yếu của địch gặp rất nhiều khó khăn. Để chi viện cho các chiến sĩ trung đoàn bộ binh 600 đóng ở bên sườn phải đã kiệt sức rong trận chiến đấu không cân sức, chỉ huy trưởng khu vực cố thủ đã phải tung ra lực lượng dự bị của mình là trung đoàn xe tăng 132 (gần một nghìn chiến sĩ không có xe tăng). Địch bị chặn lại. Nhưng đến trưa, thiếu tướng A. A. Mác-ti-a-nốp, tham mưu trưởng khu vực cố thủ (nguyên làm tham mưu trưởng quân đoàn cơ giới 4, thay trung tá Ê-pi-pha-nốp từ ngày 19 tháng Bảy), báo cáo lên tướng Tu-pi-cốp là lần này, địch đưa vào tiến công những lực lượng mới để đối phó với trung đoàn 640 ở sườn trái thuộc sư đoàn bộ binh 147 và đơn vị hỗn hợp của tướng Ma-tư-kin. Tư lệnh phương diện quân lệnh điều động lữ đoàn đổ bộ đường không 2 của trung tá C. Ph. Stai-nơ thuộc lực lượng dự bị để chi viện cho những đơn vị của Ma-tư-kin đang ở trong tình thế rất nguy kịch. Những trận chiến đấu thường kết húc bằng đánh giáp lá cà. Những đơn vị địch tiến công dọc hữu ngạn sông Đni-ép-rơ đã bị chặn lại. Nhưng ở phía Tây, địch vẫn chiếm được Vê-ta Pốt-stô-vai-a, Tsa-ba-nư. Trận đánh quyết liệt bắt đầu ở ngoại vi Le-xơ-ni-ki, Khô-típ, Gát-nôi-e và I-u-rốp-ca.

Chỉ huy trưởng khu vực cố thủ ra lệnh phải đánh bật ngay những đơn vị phát-xít đã đột nhập. Các sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 147 và 175 là X. C. Pô-tê-khin và X. M. Giô-vát-xki đã đi khắp các trung đoàn trong tầm hỏa lực pháo binh địch và tổ chức những cụm xung kích để phản kích. Hầu hết các cán bộ chính trị đều có mặt ở tiền duyên. Trưởng phòng chính trị sư đoàn bộ binh 175 chính ủy tiểu đoàn K. V. Sta-nép, có chính ủy trẻ tuổi của trung đoàn bộ binh 632 Gh. P. Pi-ra-tô-rốp đi cùng, đã đến các tiểu đoàn giải thích cho các chiến sĩ bộ binh, pháo binh và công binh hiểu rõ phải nhanh chóng đến chi viện cho anh em bị vây ở các hỏa điểm kiên cố.

Đến tối, trung đoàn bộ binh 632 thuộc sư đoàn của Giô-vát-xki, các trung đoàn bộ binh 600 và 640 thuộc sư đoàn của Pô-tê-kin bước vào phản kích quyết liệt. Khi vấp phải hỏa lực mạnh của địch, vận động bị chậm lại, cán bộ chỉ huy và chính ủy trung đoàn đã tiến lên phái trước, nêu gương cho anh em cấp dưới. Các chiến sĩ pháo binh dùng tay kéo pháo theo sát bộ binh. Họ ngắm bắn trực tiếp vào các hỏa điểm của địch. Trong báo cáo có nêu bật thành tích khẩu đội của thượng úy X. I. Rét-cô, một người kiên quyết và mưu trí. Khẩu đội của đồng chí luôn luôn có mặt ở những nơi cần thiết nhất và bắn trăm phát trăm trúng.

 Trung đoàn trưởng pháo hạng nhẹ 630 thuộc sư đoàn bộ binh 175 là thiếu tá I. X. Bu-lây-cô cùng các chiến sĩ thông tin liên lạc của mình đi trên hàng đầu những người phản kích, vừa tiến quân vừa hướng dẫn hành động cho các chiến sĩ pháo binh. Bên cạnh đồng chí là chính ủy cơ quan tham mưu sư đoàn A. A. Tơ-rê-ti-a-cốp, một người chín chắn, điềm tĩnh. Các đồng chí đánh hăng đến mức không nhận ra mình đã bị tách khỏi đồng đội. Họ thoát vây được thật là kỳ lạ.

Các cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị, thậm chí cả nhiều cán bộ cấp cao, đều nhất định muốn đi đầu trong những trận công kích đã trở thành một hiện tượng thông thường. Họ bị phê bình rất đúng là hành động như thế sẽ làm cho đội ngũ cán bộ chỉ huy bị tổn thất không cần thiết. Song hành động đó quả không phải là bốc đồng vô nghĩa, mà do tình hình khó khăn và ý thức trách nhiệm đã buộc họ phải làm như vậy.

Chính ủy sư đoàn bộ binh 147 Ph. A. Ba-ben-cô đã để lại trong tâm trí của toàn thể anh em đúng là một con người dũng cảm như vậy. Mình đầy bụi, trên mặt còn lỗ chỗ mảnh lựu đạn, chiếc mũ sắt luôn luôn trên đầu và khẩu tiểu liên trong tay, bao giờ đồng chí cũng có mặt ở nơi nước sôi lửa bỏng. Mọi người đều biết cứ đến những chỗ gay go nhất là có thể tìm thấy chính ủy. Pô-tê-khin, một đại tá giàu kinh nghiệm và điềm tĩnh hơn, đã cố gắng kìm bớt người chính ủy trẻ tuổi, sôi nổi này, nhưng rồi bàn thân đồng chí đôi khi cũng bị lôi cuốn vào trận chiến đấu sôi sục (Ba-ben-cô gặp rất nhiều khó khăn. Khi phá vây hồi tháng Chín, đồng chí bị thương nặng. Bà con nông trang tìm thấy Ba-ben-cô lúc đồng chí hầu như đã tắt thở và chút nữa thì định chôn cất vào nấm mồ chung. Họ phải vất vả lắm mới chữa chạy được cho chính ủy. Trên đường về với đồng đội, đồng chí bị bọn phát-xít bắt, rồi trốn thoát, nhưng không đủ sức xuyên qua mặt trận. Đồng chí tới được Da-pô-rô-giê là nơi trước chiến tranh, theo lệnh động viên của Ủy ban trung ương Đảng cộng sản (bôn-sê-vích) U-cra-na, đồng chí được cử vào Hồng quân. Tại đây, bà con đã giúp đỡ đồng chí hồi phục sức khỏe để trở về với đồng đội).

Đòn phản kích quyết liệt của các đơn vị của Pô-tê-khin và Giô-vát-xki đã đẩy lùi được địch ở một số đoạn. Các trận đánh đều ác liệt nên không tránh khỏi bị thiệt hại. Để bù lại những tổn thất, tổ chức đảng thành phố đã cử về các sư đoàn nhiều đảng viên cộng sản với tư cách là chính trị viên. Cán bộ Ủy ban trung ương Đảng cộng sản (bôn-sê-vích) U-cra-i-na là I. V. Bê-lô-út được chỉ định làm trưởng phòng chính trị khu vực cố thủ Ki-ép.

Các chiến sĩ lái thuộc sư đoàn máy bay ném bom 19 và 62, các sư đoàn máy bay tiêm kích 16 và 36 đã chi viện đắc lực cho các đơn vị bộ binh. Dân quân Ki-ép cũng tham gia chiến đấu. Đêm rạng ngày 4 tháng Tám, hai đoàn tàu bọc sắt của dân quân đã tập kích bất ngờ vào nhà ga Bô-i-a-rơ-ca, diệt được một đoàn tàu chở bộ binh phát-xít và phá hủy một kho đạn.

Hầu như trong các báo cáo gửi về bộ tham mưu phương diện quân đều nhắc tới các chiến sĩ pháo binh. Cá phân đội trưởng bộ binh và súng máy phòng ngự ở khu vực làng Tsa-ba-nư và Khô-típ đã chân thành cám ơn các chiến sĩ pháo binh trung đoàn lựu pháo 344 do thiếu tá Cát-lai chỉ huy. Chiến sĩ đại đội pháo chống tăng được đánh giá cao nhất. Trong báo cáo có nói về thiếu úy Ph. Pê-rê-véc-tai-lô, trung đội trưởng tiểu đoàn pháo chống tăng độc lập thuộc sư đoàn bộ binh 175. Đồng chí và đồng đội trong khi đánh lui đợt công kích của xe tăng địch, đã không rời trận địa ngay khi có nguy cơ bị bao vây.

Những khẩu đội pháo chống tăng thuộc tiểu đoàn pháo chống tăng độc lập 231 của sư đoàn Pô-tê-khin đã chiến đấu rất dũng cảm. Hai khẩu pháo của trung đội do trung úy M. I. Vi-nô-gra-đốp chỉ huy, đánh lui những đợt công kích của địch ở địa đoạn thuộc trung đoàn bộ binh 600. Khi các đại đội bộ binh bị đẩy lui, thì hai khẩu pháo này đã bắn chặn đường quân địch. Ba lần bọn phát-xít xông tới hòng cướp pháo, song cả ba lần, anh em pháo binh đều đánh lui địch bằng những phát đạn chính xác. Sau khi bị diệt gần 40 tên, địch đành vòng sang hai bên sườn. Đến lúc này, mọi người mới chịu rời trận địa và trở về với đồng đội.

Các chiến sĩ ở một trung đội khác cũng thuộc đại đội này, đã chiến đấu đến cùng ở bên trái Vi-nô-gra-đốp. Ở đây, xe tăng địch bất chấp mọi trở ngại. Chiến sĩ I. T. A-pha-na-xi-ép đã ngắm bắn thẳng, hạ ba xe địch. Xe tăng địch bắt đầu chuyển hướng bắn vào khẩu pháo từ xa. Các pháo thủ lần lượt hy sinh.

Lại một đợt công kích mới. Khẩu đội trưởng T. M. Tơ-rô-i-an bị thương và chỉ còn lại một mình. Đồng chí lau hai mắt đầm đìa máu và tự mình lấy đường ngắm. Nhưng máy ngắm bị vỡ. Tơ-rô-i-an mở kháo nòng và ngắm qua nòng pháo. Đồng chí nhanh chóng nạp đạn và kéo dây. Xe tăng địch khựng lại, bốc cháy Thu hết sức tàn, Tơ-rô-i-an lại bò tới khẩu pháo. Đồng chí còn kịp bắn ba phát nữa và diệt thêm ba xe tăng địch.

Nhằm tạo điều kiện cho những đơn vị rút lui bám chắc được tuyến mới, những chiếc xe bọc thép hạng nhẹ của tiểu đoàn trinh sát thuộc sư đoàn Pô-tê-khin lao tới đón đánh địch. Trung úy I. V. Sơ-mư-ga-rép, đại đội trưởng xe bọc thép, dẫn đầu đoàn xe. Dùng hỏa lực súng máy, xe bọc thép đánh bật được bọn lính tiểu liên của quân phát-xít. Nhưng giữa lúc ấy, xe tăng địch xuất hiện. Sau khi ra lệnh cho đại đội rút lui, Sơ-mư-ga-rép cùng hai xe bọc thép (chiếc thứ hai do X. N. Sư-ma-rép lái) lao vào trận đánh. Cả hai tổ lái đều hy sinh, nhưng đã kìm chân được xe tăng địch.

Ngay từ ngày đầu tiên quân địch công kích, công việc ở bộ tham mưu phương diện quân ngày một thêm căng thẳng. Thật đáng ngạc nhiên là mọi người vẫn đứng vững. Liên lạc với các đơn vị thường bị đứt. Tướng Đ. M. Đô-bư-kin, chủ nhiệm thông tin liên lạc phương diện quân, vất vả lắm mới khôi phục được những đường dây bị hỏng. Nơi nào không thể liên lạc bằng kênh được thì việc tiếp xúc với các đơn vị được tiến hành thông qua những sĩ quan đặc biệt. Các đồng chí đã quên mình băng qua làn bom đạn địch để mang mệnh lệnh tới các binh đội, binh đoàn và nhận báo cáo trở về bộ tham mưu phương diện quân. Nhờ vậy, bộ tư lệnh có điều kiện kịp thời xử lý trước những thay đổi trong các tình huống chiến đấu.

Những đợt công kích của bọn phát-xít ở gần Ki-ép hết sức quyết liệt. Một tên sĩ quan địch bị ta bắt, thuộc sư đoàn bộ binh 95 Đức, đã trả lời câu hỏi tại sao chúng bất chấp mọi thất bại như sau: “Hít-le lệnh cho chúng tôi trong những ngày sắp tới phải mở được cánh cửa Ki-ép. Và chúng tôi sẽ mở được bằng bất kỳ giá nào!”.

Tôi không biết Hít-le có ra một mệnh lệnh như thế cho những tên ác ôn thuộc cụm quân của tướng Ốp-xtơ-phen-đe không, nhưng việc hắn cho trận đánh triển khai ở hướng Ki-ép có một ý nghĩa lớn đã được xác nhận bằng sự kiện là chính Hít-le đã tới U-cra-i-na trong những ngày này và từng họp với bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam”. Bọn tướng lĩnh phát-xít cố sống cố chết làm vui lòng thủ lĩnh của chúng. Tù binh Đức khẳng định rằng ngày 8 tháng Tám đã được ấn định là ngày duyệt binh ở Ki-ép và đích thân Hít-le sẽ có mặt.

Mường trượng trước rằng cuộc duyệt binh đó sẽ được tổ chức ở Crê-tsa-tích nên tướng Ốp-xtơ-phen-đe, có trong tay các quân đoàn bộ binh 29 và 55, đã xua quân của y công kích hết trận này đến trận khác dọc theo đường cái Va-xin-cốp – Ki-ép.

Nguyên soái X. M. Bu-đi-ôn-nưi đến sở chỉ huy Phương diện quân Tây – Nam đã không hài lòng về tiến trình chiến đấu ở Ki-ép. Nghe xong báo cáo của tướng Kiếc-pô-nô-xơ, đồng chí nỏi giận thốt lên:

– Các đồng chí thân mến, không phải chỉ có chống đỡ, mà phải đánh bại quân địch!

Kiếc-pô-nô-xơ trình bày bằng bộ đội khu vực cố thủ Ki-ép không ngừng phản kích địch. Hôm nay, lữ đoàn đổ bộ đường không 2 và một tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 3 lấy trong số lực lượng dự bị đã được đưa vào chiến đấu. Dân quân Ki-ép và hai đoàn tàu bọc thép của họ cũng xung trận.

– Đừng chia thành những mũi nhỏ, - Bu-đi-ôn-nưi tiếp tục nói. – Hãy mở những đòn đột kích bằng những quả đấm mạnh.

Nguyên soái hỏi sao không đưa sư đoàn bộ binh 206 và quân đoàn đổ bộ đường không 3 vào chiến đấu.

Tư lệnh phương diện quân giải thích rằng đồng chí giữ sư đoàn lại vì tình hình đang căng thẳng tột độ, mà sư đoàn này hiện là lực lượng dự bị duy nhất ở Ki-ép. Những binh đội thuộc quân đoàn đổ bộ đường không thì mới bắt đầu đến.

Sau khi được cam đoan là ngày hôm sau sẽ có những đòn đột kích mạnh, X. M. Bu-đi-ôn-nưi đáp máy bay về sở chỉ huy của mình.

Hôm sau, lữ đoàn 6 thuộc quân đoàn đổ bộ đường không 3 đã tiếp cận, tướng Kiếc-pô-nô-xơ quyết định đưa sư đoàn bộ binh 206 cùng với lữ đoàn vào chiến đấu. Các đơn vị có nhiệm vụ chi viện cho bộ đội khu vực cố thủ Ki-ép chặn địch và sau đó sẽ tổ chức phản đột kích quyết liệt, tiêu diệt cụm quân xung kích của địch.

Sư đoàn bộ binh 206 do đại tá X. I. Goóc-scốp, đảng viên từ năm 1920, lãnh đạo. Sau khi tốt nghiệp trường kỵ binh năm 1922, đồng chí công tác chủ yếu ở các cơ quan chỉ đạo tác chiến. Khi nổ ra chiến tranh, đồng chí là trưởng phòng cán bộ quân khu Ô-đét-xa. Nhưng ngay từ những ngày đầu chiến tranh, đồng chí luôn luôn đề nghị cấp trên điều động mình về đơn vị và trở thành sư đoàn trưởng như thế đó. Đồng chí đã trải qua nhiều thử thách nặng nề. Sư đoàn 206 của đồng chí thuộc quân đoàn bộ binh 7, rơi vào vòng vây. Vất vả lắm, Goóc-scốp mới chứng tỏ mình không thua kém những sư đoàn trưởng khác, có nhiều kinh nghiệm hơn ở trình độ tổ chức, nghị lực và nghệ thuật động viên mọi người.

Chúng tôi đặt nhiều hy vọng cả vào đại tá V. G. Giô-lu-đép, lữ đoàn trưởng lữ đoàn đỏ bộ đường không 6. Người sĩ quan 35 tuổi, vóc dáng cân đối như thanh niên, sôi nổi, hiếu động, có nhiều kinh nghiệm trong công tác quân sự (đồng chí phục vụ trong quân đội từ năm 15 tuổi), đã tham gia chiến đấu khi xảy ra xung đột ở tuyến đường sắt Viễn Đông – Trung Quốc. Đồng chí đã chỉ huy chi đội, rồi trung đoàn đổ bộ đường không từ năm 1934. Sau đó, đồng chí làm sư đoàn trưởng bộ binh một thời gian và trước khi xảy ra chiến tranh lại trở về bộ đội đổ bộ đường không.

Goóc-scốp và Giô-lu-đép đã kịp thời đưa các binh đoàn của mình tới địa đoạn chiến đấu. Rạng sáng ngày 7 tháng Tám, các đơn vị cùng các binh đội thuộc các sư đoàn bộ binh 147, 175 và lữ đoàn đổ bộ đường không 2 được pháo binh và không quân yểm hộ, đã phản đột kích vào cụm quân địch. Địch bắn pháo mãnh liệt vào bộ đội ta. Máy bay ném bom địch lọt qua số máy bay tiêm kích ít ỏi của ta, trút bom vào các đơn vị phản kích. Toàn bộ khu vực cố thủ cũng bị dội bom ác liệt. Tiếng nổ không ngớt vang vọng tới thanh phố, khói bụi của bom đạn che lấp cả mặt trời.

Chúng ta bị tổn thất. Trong số những người bị thương nặng hôm ấy có chủ nhiệm pháo binh tập đoàn quân 37(Tập đoàn quân 37 được thành lập trong quá trình chiến đấu bảo vệ thủ đô U-cra-i-na trên cơ sở các đơn vị của khu vực cố thủ Ki-ép.) là tướng C. X. Xtê-pa-nốp, tham mưu trưởng của đồng chí là đại tá Va-xi-li-áp, chính ủy khu vực cố thủ Ki-ép là Ép-đô-ki-mốp và đại tá Pô-tê-khin. Nhưng không một ai chịu rời trận địa. Tơ-rê-ti-a-cốp, chính ủy cơ quan tham mưu sư đoàn, tạm thời thay chính ủy trung đoàn bộ binh 728 đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép kiên cường tiến về phía trước, trên con đường rải đầy xác địch.

Quả là một con đường thật khủng khiếp, nhưng mọi người vẫn xông lên với khát vọng cháy bỏng đánh bật quân thù ra khỏi thành phố.

Một lần nữa, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy của đại tá X. M. Giô-vát-xki, nhất là các chiến sĩ trung đoàn bộ binh 632, lại nổi tiếng vì lòng dũng cảm. Trung đoàn do đại tá A. C. Dơ-vai-gơ-dơ-ne, người Lát-vi-a, chỉ huy. Một tiểu đoàn của trung đoàn bị địch đẩy lui. Giữa lúc đó, Dơ-vai-gơ-dơ-ne và chính ủy trung đoàn G. P. Pi-ra-tô-rốp xuất hiện trên con đường rừng. Họ im lặng đi ngang qua những chiến sĩ đã mệt mỏi, tiến về phía bìa rừng vẫn còn vọng lại tiếng súng máy và súng trường. Chính ủy ngoái lại nói gọn:

– Đồng đội của các đồng chí vẫn còn ở đấy!

Câu nói của chính ủy nhanh chóng truyền đi khắp các phân đội trong tiểu đoàn, và các chiến sĩ như quên hết mệt nhọc. Mọi người giương súng lao theo người chỉ huy và chính ủy.

Súng nổ ngày càng dữ, đạn gõ vào thân cây. Các chiến sĩ nhanh chóng bứt lên trước chỉ huy và chính ủy, vừa hô vang vừa xông vào đánh giáp lá cà. Chính ủy cướp được khẩu súng trường của một tên phát-xít. Mấy tên Hít-le ngã gục trước lưỡi lê của đồng chí. Nhưng rồi chính ủy cũng ngã xuống. Anh em thận trọng nâng đồng chí dậy. Trận đánh ngày càng khốc liệt. Địch bị đẩy lui. Tiểu đoàn bạn được giải vây.

Các báo cáo có nhắc đến tên chiến sĩ trinh sát N. Cu-mu-cốp, trung úy pháo binh N. P. Tu-rơ, thượng úy tiểu đoàn I. A. Bê-đu-xen-cô, các chiến sĩ súng máy I. M. Láp-ti-ép và I. G. A-véc-sin, các chiến sĩ bộ binh I. V. Giu-xê-vích, I. I. Xi-lét-xki, X. I. Tséc-nốp, tiểu đội trưởng E. M. Ma-xi-úc và những chiến sĩ xuất sắc của các trung đoàn trong chiến đấu.

Làm sao có thể nêu hết tên tuổi của những người anh hùng trong các trận chiến đấu đó. Con số đó lên đến hàng nghìn, hàng nghìn…

Địch không chịu nổi những đợt phản kích của ta. Các đơn vị của chúng bắt đầu từ từ rút về phía sau; ở một vài đoạn, bọn Hít-le còn phải tháo chạy. Bộ chỉ huy phát-xít vội vã ném một sư đoàn bộ binh còn chưa bị sứt mẻ vào tham chiến, đẩy lui được các đơn vị của ta ở một số nơi. Nhưng chẳng được bao lâu. Đến chiều, bộ đội xô-viết đã khôi phục lại những đợt phản kích. Trận đánh ác liệt nổ ra chưa từng thấy, Ta và địch giành giật nhau từng điểm dân cư. Tin Hít-le định đến ngày 8 tháng Tám sẽ duyệt binh ở Crê-tsa-tích lan truyền tới những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép, càng làm cho họ thêm phẫn nộ.

– Chúng ta sẽ tổ chức “duyệt binh” cho bọn phát-xít đê tiện! – các chiến sĩ căm phẫn thét vang và tiếp tục xông lên phản kích.

Chiến đấu đến cùng! – đã trở thành lời thề của các chiến sĩ bảo vệ Ki-ép. Tôi còn nhớ ở địa đoạn của tiểu đoàn thuộc lữ đoàn đổ bộ đường không 3 là tiểu đoàn được điều tới đoạn địch đột phá, anh em pháo binh do thiếu úy Cu-tse-rốp chỉ huy đã năm lần đẩy lui các đợt công kích của bọn Hít-le. Mất hy vọng đánh chiếm khẩu đội bằng đòn đột kích vỗ mặt, bọn phát-xít chuyển sang đánh vu hồi. Các chiến sĩ đổ bộ, bùn ngập tới gối, kéo pháo đến vị trí mới và lại dội lửa vào địch. Tại một đoạn khác cũng ở tiểu đoàn đổ bộ đường không này, có bảy chiến sĩ do trung sĩ Đan-tsúc chỉ huy đã phải đối phó với sáu xe tăng địch có bọn lính tiểu liên theo sau. Các đồng chí bắn tập trung vào bọn này và buộc chúng phải nằm chúi xuống. Hai chiếc xe tăng đi đầu vừa leo tới bờ chiến hào thì lập tức được đón nhận ngay những chai cháy và lưu đạn chùm. Cả hai xe tăng địch bốc cháy, những chiếc còn lại phải tháo chạy. Cảnh tượng đó diễn đi diễn lại vài lần. Những chiếc xe tăng lui tới khoảng cách an toàn và dội hỏa lực súng máy và đại bác vào các chiến sĩ ta. Anh em không vội bắn trả. Nhưng khi bọn lính tiểu liên địch vừa nhồm dậy thì những phát đạn chính xác từ chiến hào lại bắn ra tới tấp. Bọn địch bỏ chạy. Không có lính tiểu liên thì xe tăng cũng không dám xông lên công kích.

Bọn phát-xít chiếm được Nô-vô-xe-li-txư. Đại đội của đại úy I-lin thuộc trung đoàn bộ binh 600 của sư đoàn bộ binh 147 đã bí mật đi vòng qua làng tập kích vào sau lưng quân địch, buộc chúng phải đánh giáp lá cà. Dù bộ binh địch đông gấp ba lần nhưng chúng cũng không sao chống đỡ nổi và trong cơn hốt hoảng bỏ chạy đến nơi pháo binh có thể yểm hộ được đã để lại hàng chục xác chết trên trận địa. Lúc ấy, một tổ chiến sĩ ta do chính trị viên N. Coóc-nép, bí thư đoàn thanh niên cộng sản của sư đoàn chỉ huy, đã đột nhập vào sau lưng trung đoàn địch và công kích các đại đội pháo của chúng.

Tại một trong những địa đoạn của phân đội thuộc trung đoàn 600, trước sức ép mãnh liệt của các lực lượng địch manh hơn, có lúc ta đã phải rút lui. Chính ủy tiểu đoàn P. A. Ba-ben-cô lao tới đó.

– Các đồng chí! Đi đâu thế?! – Ba-ben-cô thét lên và chỉ tay về phía thành phố: - Đây là Ki-ép! Chúng ta quyết không cho bọn phát-xít vào thành phố! Tiến lên! Theo tôi!

Và bọn Hít-le đã bị đánh bật ra trước cuộc phản kích mãnh liệt.

Trung đoàn pháo hạng nhẹ 379 của sư đoàn nói trên, do thiếu tá Gh. M. Bô-lô-ba-nốp chỉ huy, đã làm cho địch phát điên phát khùng. Các pháo thủ của trung đoàn không chỉ nổi tiếng và tài bắn chính xác, mà còn do óc táo bạo tuyệt vời. Họ thường bí mật cho pháo phục kích, rất bất ngờ bắn thẳng vào bọn phát-xít đang xông lên công kích.

Địch rải truyền đơn xuống trận địa sư đoàn, yêu cầu các chiến sĩ bảo vệ Ki-ép hạ vũ khí. Nhưng có một tờ truyền đơn lại kết thúc bằng câu: “Các pháo thủ của Bô-lô-ba-nốp không cần phải đầu hàng: chúng tao sẽ treo cổ chúng mày!”.

– Chúng ta làm tình làm tội chúng đủ điên rồi! – một người vui vẻ đọc những tờ truyền đơn của bọn phát-xít.

Tại địa đoạn của sư đoàn bộ binh 206 đang đánh lại các đợt công kích của địch ở phía Bắc Gát-nôi-e, tất cả các phân đội đều chiến đấu kiên cường, nhưng nổi bật hơn cả là tiểu đoàn bội binh của đại úy Đ. A. Tơ-ca-tsen-cô. Tiểu đoàn chỉ có vẻn vẹn 80 người và hai khẩu đại bác trang bị cho trung đoàn, nhưng trước trận địa của tiểu đoàn đã ngập xác mấy đại đội phát-xít. Còn một trung đội bộ binh thuộc đại đội của thiếu úy A. C. Cri-vô-xpít-xki đột nhập được vào vào đội hình quân địch và tập kích bất ngờ vào một xóm nhỏ có một đại đội phát-xít. Trong trận đánh ác liệt, các chiến sĩ ta đã tiêu diệt hoàn toàn số quân địch đóng ở đó.

Thiếu úy A. M. Phê-đô-rắc, trung độ trưởng pháo binh thuộc trung đoàn bộ binh 737 cũng của sư đoàn này, đặt pháo ở thế bắn thẳng, rồi nã vào bọn phát-xít đang xông lên tiến công. Khi một khẩu đội bị loại khỏi vòng chiến, bản thân trung đội trưởng đã đứng sau khẩu pháo và bắn cho đến khi bị hy sinh vì đạn cối của địch.

Những hỏa điểm kiên cố thuộc tiểu đoàn súng máy độc lập của đại úy Ki-pô-ren-cô đã chiến đấu đặc biệt dũng cảm. Các chiến sĩ không rời vị trí của họ ngay cả khi các phân đội bộ binh buộc phải rút lui. Đó là những hỏa điểm kiên cố ở gần Ta-ra-xốp-ca và I-u-rốp-ca của phân đội do thiếu úy X. T. Nê-rây chỉ huy. Các chiến sĩ bán súng máy anh dũng ngã xuống, nhưng những người còn sống vẫn cố thủ đến cùng.

Những người góp phần vào thiên anh hùng ca Ki-ép nhớ mãi chiến công bất diệt của các chiến sĩ hỏa điểm kiên cố 205. Tôi mong ước mọi người đều biết tới họ. Anh em gồm mười sáu người: trung úy M. P. Vê-tơ-rốp, chỉ huy hỏa điểm, trung úy Mu-dư-tsen-cô, chiến sĩ làm công tác chính trị Rư-ba-cốp, các chiến sĩ An-đri-en-cô, Vô-cô-tơ-rúp, Grô-bô-vôi, Cơ-vác-tích, Clô-tsơ-cô, Mê-lê-sơ-cô, Nê-tun-xki, Rô-man-tsúc, Ô-xát-tsi, Ô-pa-na-xen-cô, Xô-rô-ca, I-a-rô-sen-cô và I-a-rô-sép-xki – mười bốn chiến sĩ người U-cra-i-na và hai người Nga.

Đáp lại nhiều lần yêu cầu đầu hàng “trong danh dự” của bọn Hít-le, họ chỉ có một câu trả lời: bắn! Pháo địch bắn thẳng, lương ăn, nước uống thiếu cũng không khuất phục nổi tinh thần các chiến sĩ dũng cảm. Vậy mà tình hình của các chiến sĩ bị cô lập khỏi đồng đội lúc này thật tuyệt vọng.

Đến ngày bị bao vây thứ sáu, nỗi gian khổ vất vả dường như đã lên tới cùng cực: nước uống cạn, đạn hết. Chỉ còn lựu đạn. Nhưng không ai có ý định đầu hàng. Rư-ba-cốp, chiến sĩ làm công tác chính trị đã đứng tuổi, treo lên bức tường sáng nhất của hỏa điểm tờ báo tường do anh em cùng viết. Có thể những bài viết không được trau chuốt lắm, nhưng mỗi lời, kể cả đầu đề viết đậm bằng chữ to: “Quyết không để hỏa điểm rơi vào tay quân thù!”, đều vang lên như một lời kêu gọi đầy nhiệt huyết.

Đêm rạng ngày 9 hoặc 10 tháng Tám, tôi nhớ không chính xác, một số chiến sĩ dũng cảm thuộc sư đoàn bộ binh 175 vừa chiến đấu vừa đột phá tới hỏa điểm kiên cố bị bao vây, mang đến cho anh em thức ăn, nước uống, đạn dược và mệnh lệnh cho phép rời trận địa. Song, toàn thể chiến sĩ, kể cả thương binh, đều kiên quyết không rời pháo đài nhỏ bé của mình. Trung úy Vê-tơ-rốp thay mặt toàn thể anh em tuyên bố: “Chúng tôi đã thề quyết không để hỏa điểm rơi vào tay địch và chúng tôi sẽ không vi phạm lời thề”.

Một lần nữa, các đồng chí đã trụ vững mấy ngày đêm liền trước hảo lực địch. Mãi đến ngày 15 tháng Tám, các binh đội của sư đoàn bộ binh 175 do đại tá X. M. Glô-vát-xki chỉ huy, mới đến dược hỏa điểm, và các chiến sĩ chiến đấu ở đó lại đứng trong đội ngũ thống nhất của những người bảo vệ Ki-ép.

Một thời gian dài, tôi không được biết gì về số phận những người anh hùng ấy. Mọi người đều cho rằng anh em đã hy sinh trong những trận chiến đấu tiếp theo. Nhưng gần đây, khi tôi sắp viết xong cuốn sách thì được tin hai đồng chí thuộc hỏa điểm anh hùng này vẫn còn sống. Nguyên hạ sĩ quan I. P. Mu-dư-tsen-cô lúc đó làm việc ở nông trang Lê-mê-sơ-cốp-ca, huyện I-a-gô-tin, tỉnh Ki-ép; còn A. I. Cơ-vác-tích làm việc ở một nhà máy ở Min-xcơ.

Một trong những người nổi tiếng tham gia những sự kiện đó nay vẫn còn khỏe mạnh là I. E. Ki-pô-ren-cô – nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn súng máy độc lập 28, trong đó có hỏa điểm kiên cố số 205.

Khi những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép đánh trả các cuộc tiến công của địch, thì trong đội hình chiến đấu của các tiểu đoàn có mặt không những các cán bộ chính trị của các binh đội và binh đoàn, mà cả của phòng chính trị của tập đoàn quân 37 vừa mới xây dựng. Trên hướng đột kích chủ yếu của địch, ở những đoạn nguy hiểm nhất của các binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 147, luôn luôn có mặt các cán bộ phòng chính trị tập đoàn quân – chính ủy tiểu đoàn C. M. Cu-dơ-nê-txốp đã 50 tuổi và chính trị viên trưởng A. Gh. Bô-lô-tốp. Sư đoàn bộ binh 206 có chính trị viên trưởng I. Đ. Xlưn-cô, còn lữ đoàn đổ bộ đường không 6 có chính ủy tiểu đoàn bậc trưởng X. Ê. Den-đích và bí thư đoàn thanh niên cộng sản của phương diện quân chúng tôi là chính ủy tiểu đoàn Kh. Tséc-kê-xốp. Cán bộ chính trị của tập đoàn quân và phương diện quân đã cổ vũ chiến sĩ bằng cả lời nói và sự gương mẫu của bản thân. Khi một tiểu đoàn bị đẩy lui (Xlưn-cô có lúc đã đến trận địa của tiểu đoàn) thì chính trị viên trưởng đã cùng với chỉ huy đơn vị lãnh đạo phản kích, và bọn phát-xít bị đánh bại. Những phân đội địch đột nhập được vào phía sau lữ đoàn đổ bộ đường không 6 đã bị các phân đội hậu cần (trong đó có cả trung đội quân nhạc) do chính ủy tiểu đoàn bậc trưởng Den-đích tập hợp và dẫn đầu tiến lên phản kích quyết liệt.

Báo chí của phương diện quân, tập đoàn quân và sư đoàn, các cán bộ tuyên truyền ở các đơn vị trong phương diện quân đều viết và nói về chiến công của các chiến sĩ bảo vệ Ki-ép. Những tin đó dã cổ vũ các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tăng thêm sức mạnh tiến công địch. Khí thế của những binh đoàn thuộc tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27 chiến đấu ở cửa ngõ phía Tây – Bắc thành phố ngày một cao. Các đơn vị đã đột kích mạnh, không cho tập đoàn quân 6 Đức tiến tới sông Đni-ép-rơ.

Tên Phi-líp-pi mà bạn đọc dã biết, buộc phải nói về tập đoàn quân 37 phòng ngự Ki-ép và tập đoàn quân 5 vẫn yểm hộ cửa ngõ Tây – Bắc Ki-ép hồi đầu tháng Tám như sau: “Cả hai tập đoàn quân này đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”. Tướng Han-đe ngày 8 tháng Tám đã phải nhận xét trong nhật ký của y: “Đối phương đặt chúng ta vào một tình thế bất lợi” (y viết về những đơn vị Đức ở phía Tây – Bắc Ki-ép). Phải nói rằng sự kiên cường của những binh đoàn thuộc tập đoàn quân 5 vẫn tiếp tục đặt các đơn vị phát-xít vào “tình thế bất lợi” như thế cho tới hạ tuần tháng Tám, tức là cho tới khi Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao lẹnh cho bộ tư lệnh Phương diện quân Tây- Nam rút tập đoàn quân đó sang bên kia sông Đni-ép-rơ vì lúc đó những đơn vị địch thuộc cụm các tập đoàn quân “Trung tâm” đã thọc sâu trên hướng Gô-men.

Các binh đoàn thuộc tập đoàn quân 26 kiên trì không cho các đơn vị thuộc cụm của tướng Svét-le tiến ra các chỗ vượt sông Đni-ép-rơ ở phía Nam Ki-ép, cũng khiến cho bộ chỉ huy phát-xít rất đau đầu.

Nhằm chi viện cho bộ đội tập đoàn quân 6 và 12 đang lâm vào tình thế hiểm nghèo ở khu vực U-man, Nguyên soái X. M. Bu-đi-ôn-nưi lệnh cho bộ tư lệnh phương diện quân đồng thời với việc đánh lui các cuộc tiến công của địch vào Ki-ép, phải chuẩn bị và tiến hành đòn đột kích mới bằng các lực lượng của tập đoàn quân 26 trên hướng Bô-gu-xláp, Dơ-vê-ni-gô-rôt-sca. Riếc rằng có rất ít khả năng để thực hiện nhiệm vụ đó, tuy nhiên, hành động kiên quyết của bộ đội ta ở khu vực này trong những ngày ấy cũng đã làm cho bộ chỉ huy tối cao phát-xít phải lo lắng. Chính tướng Han-de, tổng tham mưu trưởng lục quân Đức, cũng phải nói lên điều đó qua nhật ký của y ghi ngày 8 tháng Tám:”Cần lưu ý tới sự táo bạo của đối phương khi họ thực hành chiến dịch đột phá. Chỗ bị đối phương đột phá (ý nói chỗ đột phá của tập đoàn quân 26 tới Bê-gu-xláp ngày 7 tháng Tám. – TG.) không chỉ nói lên sự dũng cảm và táo bạo của đối phương, mà còn gây ra nhiều bất lợi cho quân ta”.

Như vậy, bộ đội xô-viết chiến đấu trên hướng Ki-ép đã kìm được chân địch ở khắp nơi và tiêu hao chúng trong những trận đánh ác liệt. Bộ chỉ huy Hít-le không thể cảm chịu những điều đó. Sáng 8 tháng Tám, địch lại công kích trên dọc đường cái Va-xin-cốp – Ki-ép, tung thêm những lực lượng mới. Chính ở nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt nhất, trong đó có nhiều xe tăng địch tham gia. Anh em pháo thủ, các tiểu đoàn pháo chống tăng phải gánh chịu phần lớn sức ép nặng nề của các xe tăng địch. Tiết kiệm đạn, anh em để xe tăng địch vào cách 400 – 500 mét mới nổ súng. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tiểu đoàn chống tăng độc lập 231 đã đẩy lui nhiều đợt công kích của xe tăng địch. Chúng bị thiệt hại nặng, nhưng các pháo thủ của ta cũng lần lượt ngã xuống. Một số khẩu đội chỉ còn lại một người và cũng đã bị thương. Như trong cả thời gian dài ấy, trung sĩ A. I. I-va-scốp, khẩu đội trưởng đại đội 2, đã làm thay cả khẩu đội, cho tới khi hai chân bị bắn gẫy hẳn.

Trận đánh căng thẳng từng giờ. Những trung đoàn đã kiệt sức và bị tiêu hao thuộc sư đoàn bộ binh 147 bắt đầu phải rút lui trước những mũi tiến công của địch ở một số khu vực. Sư đoàn trưởng Pô-tê-khin đề nghị bộ tư lệnh tập đoàn quân chi viện. Lữ đoàn đổ bộ đường không 212 do đại tá I. I. Da-tê-va-khin chỉ huy được điều tới đây. Khi Da-tê-va-khin cùng tiểu đoàn tiền tiêu của lữ đoàn đồng chí tới nơi, thì bộ binh của Pô-tê-khin đã bị đẩy lui về phía sau trận địa hỏa lực của pháo binh.

Các chiến sĩ trung đoàn lựu pháo 344 và trung đoàn pháo hạng nhẹ 379 đã chiến đấu cá nhân để cứu anh em bộ binh. Pháo địch tới tấp dội xuống trận địa, nhưng anh em vẫn nhả đạn liên tục vào hàng ngũ địch đã đột phá, buộc chúng phải nằm rạp xuống. Một sĩ quan của phòng tác chiến chúng tôi từ đơn vị trở về đã thuật lại là trong lúc trận đánh diễn ra hết sức khẩn trương, anh em pháo thủ rất ngạc nhiên khi thấy một đại tá đeo phù hiệu không quân hiên ngang đi lại trên trận địa của họ. Đó chính là Da-tê-va-khin. Sau khi đề nghị pháo binh tăng cường bắn mạnh hơn nữa, đại tá triển khai các tiểu đoàn của mình. Đứng trong chiến hào, đồng chí chăm chú quan sát qua làn khói đạn và mìn dày đặc chỗ hàng nghìn quân địch nằm xuống. Da-tê-va-khin chú ý đến mức không nhận thấy những mảnh đạn đại bác và súng trường đang rạch xé không khí ngay trên đầu mình.

– Đồng chí đại tá, - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 đứng ngay bên cạnh không kìm được, - không nên như vậy…

– Cậu nói gì? – Da-tê-va-khin không nghe rõ, hỏi lại.

– Nguy cho đồng chí mất…

– Xu-vô-vốp đã nói: đạn là đồ ngốc. Không phải viên nào cũng rơi trúng vào trán đâu…

Máy bay cường kích ta bay thấp, ném bom và nhả đạn súng máy xuống bọn phát-xít. Da-tê-va-khin chụp mũ sắt và ra hiệu cho tham mưu trưởng của đồng chí đứng liền bên:

– Pháo hiệu!

Ba phát pháo hiệu bay lên. Chỉ huy lữ đoàn đổ bộ đường không nhảy ra khỏi chiến hào. Không ngoái nhìn lại, đồng chí xốc tiểu liên lao lên. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy mang phù hiệu màu xanh da trời bất ngờ xông lên. Họ vượt lên trước, cố lấy thân mình che đạn cho đại tá. Cuộc công kích mau lẹ đến mức bọn phát-xít Đức không kịp bắn lại. Các chiến sĩ đổ bộ giương lê. Bọn Hít-le bỏ hạy. Quân ta truy kích địch. Nhưng giữa lúc đó, súng máy và tiểu liên địch ở tuyến hào sau bắn vào bộ đội ta. Các tiểu đoàn của Da-tê-va-khin nằm xuống. Cho mọi người nghỉ một lát lấy sức, đại tá lại động viên anh em tiến lên. Và bộ đội lại tiếp tục đuổi theo địch.

Khắp dải chiến đấu đã diễn ra như vậy. Cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị luôn luôn động viên anh em xông lên phản kích. Và chúng tôi lại mất thêm nhiều bạn chiến đấu. Đại tá A. Ph. Cô-xê-ni-úc, tham mưu trưởng quân đoàn đổ bộ đường không 3, một người thông minh và dễ mến, đã hy sinh anh dũng.

Tôi có dịp quen biết đồng chí ngay từ trước chiến tranh. Chúng tôi thường gặp và nói chuyện với nhau qua dây nói trong thời gian chiến đấu gần Ki-ép. Những ai chỉ một lần tiếp xúc với con người vui vẻ và tốt bụng này đều quý mến đồng chí. Thế mà nay đồng chí không còn nữa.

Chính ủy tiểu đoàn thuộc lữ đoàn đổ bộ đường không 2. Đ. I. Cli-mốp đã hy sinh như một người anh hùng.

Lúc trận phản kích gần Vê-ta Li-tốp-xcai-a đến độ quyết liệt nhất thì thiếu tướng Ma-tư-kin, chỉ huy đơn vị hỗn hợp lừng danh, bị thương. Anh em khiêng thiếu tướng từ trận địa về trạm quân y. Được tin người chỉ huy kính mến của mình bị thương, các chiến sĩ đã xông lên phản kích địch với khí thế mãnh liệt gấp bội.

Địch đột phá tới Mư-sê-lốp-ca, Xốp-ki, vùng phụ cận của thành phố Ki-ép, chiếm đóng Gô-lô-xê-ép và trường đại học nông nghiệp, tiến tới điểm cao khống chế phía Nam thành phố. Tin này làm Đại bản doanh lo lắng. Xta-lin gọi tư lệnh phương diện quân tới dây nói trực tiếp. Tôi có mặt lúc ấy. Kiếc-pô-nô-xơ đọc băng điện, chau mày càng dữ. Tiếng máy gõ đều:

“Chúng tôi được tin là phương diện quân định giao Ki-ép cho địch một cách dễ dàng, lấy cớ vì thiếu những đơn vị có khả năng bảo vệ Ki-ép. Có đúng như vậy không?”.

Kiếc-pô-nô-xơ sững sờ nhún vai, điện trả lời:

“Người ta đã báo cáo không đúng với đồng chí. Chúng tôi sẽ giữ vững Ki-ép. Song, chúng tôi không có lực lượng dự bị trên hướng này”.

Tổng tư lệnh tối cao khuyên nên rút lực lượng dự bị lấy trong tập đoàn quân của tướng Cô-xten-cô (Khốn thay cho tập đoàn quân 26! Còn một thời gian dài, gần như một tháng nữa, Đại bản doanh sẽ trông mong vào những sư đoàn với quân số ít ỏi như một lực lượng dự bị vô cùng tận!).

Có lẽ, tin rằng tư lệnh phương diện quân đã nhận thức được sâu sắc mọi ý nghĩa của việc giữ vững Ki-ép đối với kết quả của trận hội chiến bảo vệ miền Tả ngạn U-cra-i-na, Xta-lin dịu giọng kết thúc câu chuyện: “Hội đồng quốc phòng và Đại bản doanh tha thiết đề nghị các đồng chí áp dụng tất cả mọi biện pháo có thể để bảo vệ Ki-ép”.

Cảm động trước cuộc nói chuyện này, Kiếc-pô-nô-xơ quyết tâm bằng bất kỳ giá nào cũng phải đánh bật địch ngay ra khỏi Ki-ép. Rất may lúc này, lữ đoàn đổ bộ đường không do Anh hùng Liên Xô A. I. Rô-đim-txép chỉ huy kịp đến tăng cường cho chúng tôi.

Ngay từ trước chiến tranh, tên tuổi đại tá A. I. Rô-đim-txép đã được nhiều người trong giới quân nhân biết đến. Đồng chí đã chiến đấu dũng cảm ở Tây Ban Nha, có nhiều kinh nghiệm (Sau này, Rô-đim-txép còn nổi tiếng nhiều lần trong những trận đánh lớn, trở thành một vị tướng, hai lần Anh hùng Liên Xô).

Tư lệnh phương diện quân lệnh đưa lữ đoàn của Rô-đim-txép vào chiến đấu trong hành tiến ở đoạn địch đột phá. Hôm sau, chiến sĩ đổ bộ phối hợp với những binh đội thuộc các sư đoàn bộ binh đã phản kích rất quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của người chỉ huy dũng cảm và tài năng, lữ đoàn đã thu được ngay kết quả đáng kể.

Ở vùng Xốp-ki, hai đại đội pháo do chủ nhiệm pháo binh khu vực cố thủ Ki-ép là thiếu tá P. A. Xéc-đi-úc, con người vẫn giữ được bình tĩnh trong những tình huống nguy hiểm nhất, lấy ở một khu vực khác, trực tiếp hướng dẫn tới đây đã chi viện đắc lực cho những đơn vị phản kích. Anh em pháo thủ ngụy trang pháo thật chu đáo, bắn thẳng vào bọn địch đang đột phá, buộc chúng phải rút lui.

Cuối ngày 9 tháng Tám, trận đánh bảo vệ Ki-ép lên đến cực điểm. Tuy vẫn điên cuồng, nhưng kẻ địch đã cảm thấy sa sút tinh thần, mất tin tưởng vào sức mạnh của chúng. Chỉ một việc này cũng chứng minh cho điều đó là binh lính địch thường uống say mềm trước khi công kích.

Theo lời kêu gọi của tổ chức đảng thành phố, hàng ngàn, hàng ngàn người dân Ki-ép được bổ sung vào đội ngũ quân nhân. Các đội dân quân của các quận Mát-xcơ-va, đường sắt, Tháng Mười và các quận khác đều tham gia chiến đấu. Mọi tổ chức trong thành phố không ngừng quan tâm bảo đảm mọi nhu cầu cần thiết cho bộ đội.

Ngày càng có nhiều lực lượng được điều tới chiến đấu ở các cửa ngõ vào Ki-ép, và chúng tôi đã hợp nhất các đơn vị bảo vệ thành phố thành một tập đoàn quân mới – tập đoàn quân 37. Điều này không phải không có khó khăn. Việc tổ chức lại cơ quan tham mưu khu vực cố thủ Ki-ép thành cơ quan tham mưu tập đoàn quân mới bắt đầu trong quá trình chiến đấu, được tiến hành không trôi chảy lắm nên không thể không ảnh hưởng tới việc chỉ huy bộ đội. Tối 9 tháng Tám, tướng Tu-pi-cốp, sau khi nghe tôi báo cáo tổng kết về hoạt động chiến đấu trong ngày, đã lệnh cho tôi tới Ki-ép để giúp cơ quan tham mưu tập đoàn quân mới.

Tôi liên tưởng ngay. Cơ quan tham mưu tập đoàn quân làm việc căng thẳng. Những sĩ quan mà tôi gặp lộ vẻ lo âu. Tư lệnh mới của tập đoàn quân đi vắng. Tôi tới trình diện tướng A. A. Mác-ti-a-nốp, tham mưu trưởng tập đoàn quân mới.

Tôi còn nhớ, A. A. Mác-ti-a-nốp từ năm 1934, khi mình đang theo học ở Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-dê, còn đồng chí là giáo viên, rất được anh em ca ngợi. Mác-ti-a-nốp phục vụ trong Hồng quân từ ngày đầu thành lập. Nguyên là một chiến sĩ kỵ binh, tôi rất kính nể đồng chí, bởi đồng chí cũng là chiến sĩ kỵ binh đã nhiều năm lãnh đạo cơ quan tham mưu các binh đội và binh đoàn kỵ binh. Năm 1937, đồng chí lãnh đạo cơ quan tham mưu quân đoàn kỵ binh trước chiến tranh phụ trách cơ quan tham mưu quân đoàn cơ giới 4, và từ giữa tháng Bảy năm 1941, đồng chí lãnh đạo có kết quả cơ quan tham mưu khu vực cố thủ Ki-ép.

Nói về mục đích chuyến đi công tác, tôi đề nghị tướng Mác-ti-a-nốp giới thiệu cho biết tình hình các đơn vị cho đến cuối ngày.

Mác-ti-a-nốp làm cho tôi vui mừng: địch bị đánh bật ra khỏi khu rừng Gô-lô-xê-ép và trường đại học nông nghiệp. Hiện nay, quân địch không thể hiệu chỉnh pháo binh để từ đó bắn vào Ki-ép được.

Khuôn mặt tươi dần lên, tham mưu trưởng bắt đầu kể cho tôi nghe tiến trình các trận đánh, những biện pháp của bộ tư lệnh tập đoàn quân nhằm đẩy lui cuộc tiến công của địch. Tình hình các cửa ngõ phía Tây – Nam thành phố rất căng thẳng như trước. Địch còn nhiều lực lượng, chúng đang công kích quyết liệt.

Mác-ti-a-nốp hào hứng nhận xét về lữ đoàn đổ bộ đường không của đại tá Rô-đim-txép. Các tiểu đoàn trong lữ đoàn phối hợp với những binh đội khác chiến đấu ở khu vực này đã phản kích đánh bật địch ra khỏi khu rừng Gô-lô-xê-ép.

– Anh em dân quân làm chúng tôi rất đỗi kinh ngạc, - thiếu tướng nói. – Anh em được huấn luyện ít, chưa có kinh nghiệm, nhưng chiến đấu rất anh dũng. Đại đội dân quân quận Mát-xcơ-va của Cu-dơ-nê-txốp không lùi bước ngay cả khi có nguy cơ bị hợp vây. Những khẩu đội súng máy bị thiệt hại nặng, song vẫn nhả đạn đến cùng. Dân quân Nhà máy mang tên Đgiéc-gin-xki và Nhà máy mang tên Các Mác dưới sự chỉ huy của các giám đốc N. N. Xlô-bốt-xcôi và M. G. A-va-xa-phi-an đã nêu cao khí phách dũng cảm và ngoan cường. A-va-xa-phi-an bị thương mấy lần, nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Tôi kể rằng tư lệnh phương diện quân rất lo lắng vì các lữ đoàn quân đổ bộ bị tổn thất lớn. Mác-ti-a-nốp thở dài:

– Đúng, các chiến sĩ đổ bộ chiến đấu quên mình, và cán bộ chỉ huy đã nêu gương ở khắp nơi. Vì vậy, các lữ đoàn đã chịu nhiều tổn thất, mà điều đau xót nhất là đã mất đi nhiều cán bộ chỉ huy. Nhưng, như bọn tù binh thú nhận: bọn phát-xít bắt đầu khiếp sợ những chiến sĩ mặc quân phục không quân. Để lên dây cót tinh thần cho binh lính chúng, bộ máy tuyên truyền phát-xít đã truyền đi cái tin bịa đặt là ở Ki-ép không còn lính Nga nữa và họ đã buộc phải dùng đến phi công thay cho bộ binh. Mặc cho chúng nói láo. Còn các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy mang phù hiệu mà xanh da trời của chúng ta vẫn lập nên những chiến công hiển hách. Chừng nào dù chỉ còn một chiến sĩ đổ bộ còn đứng vững trên trận địa thì bọn địch vẫn không sao đột phá nổi. Và cũng không riêng các chiến sĩ đổ bộ, các chiến sĩ của các đơn vị bộ binh, cảnh giới trong khu vực cố thủ, anh em pháo thủ, công binh, dân quân đều thi đua nêu cao tinh thần dũng cảm. Mọi người đều sẵn sàng hy sinh không tiếc thân mình để chặn bước tiến của quân thù vào Ki-ép.

Tôi đọc các chỉ lệnh chiến đấu của cơ quan tham mưu tập đoàn quân để ban hành cho các đơn vị trong ngày hôm sau và đóng góp một số ý kiến. Các sĩ quan trong bộ tham mưu phương diện quân cùng đi với tôi kiểm tra công việc của các phòng trong cơ quan tham mưu tập đoàn quân, đến trạm thông tin liên lạc và giúp đỡ những công việc cần thiết. Mãi tới đêm, sau khi thân mật chia tay tham mưu trưởng, chúng tôi mới trở về Brô-va-rư.

Rạng sáng, chúng tôi về đến bộ tham mưu phương diện quân. Chưa kịp tắm rửa sau khi đi đường, tôi tới gặp ngay tướng Tu-pi-cốp. Dọc hành lang, tôi chạm trán với người quen cũ ở Học viện Bộ Tổng tham mưu là đại tá Glê-bốp. Hồi đó, đồng chí làm trung đoàn trưởng pháo binh, đến học sau tôi một năm. Đồng chí thi tốt nghiệp vào loại ưu, và cũng như tôi, ở lại làm cán bộ giảng dạy bộ môn chiến thuật binh chủng hợp thành. Đây là một sĩ quan có nhiều năng lực và giàu kiến thức. Tôi chân tình yêu quý đồng chí.

Tôi cũng biết rằng hồi trước chiến tranh, đồng chí ở học viện đến quân khu chúng tôi thực tập. Và khi chiến tranh nổ ra, Glê-bốp đã ở lại quân đoàn bộ binh 6 làm phó chủ nhiệm pháo binh. Ít lâu sau, đồng chí làm tham mưu trưởng quân đoàn và chiến đấu rất giỏi. Hiện nay, hầu hết các cơ quan chỉ đạo tác chiến của quân đoàn đều giải thể, nên đồng chí được gửi về thuộc quyền Đại bản doanh. Tôi rất vui khi được gặp lại Glê-bốp. Đáp lại câu hỏi của tôi về sự có mặt ở nơi đây và để làm gì, Glê-bốp mỉm cười buồn bã:

– Tôi đã đánh đấm xong rồi, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích ạ. Người ta điều tôi về hậu phương, nhưng tôi thì không muốn. Tôi tới gặp chủ nhiệm pháo binh phương diện quân. May ra, đồng chí ấy sẽ nhận tôi trở về với pháo binh… Tôi sẽ làm bất kỳ nhiệm vù gì, chỉ mong sao được ở lại mặt trận.

Tôi chợt nảy ra ý nghĩ: giá mình có được một đồng chí cấp phó như Glê-bốp!

Tôi hỏi đồng chí có ưng thuận làm việc ở phòng tác chiến không. Đồng chí vui vẻ trả lời:

– Rất vui lòng!

Tôi hứa sẽ thu xếp nhanh chóng chuyện này.

Tôi ở chỗ Tu-pi-cốp không lâu và kể lại những điều chưa ổn ở cơ quan tham mưu tập đoàn quân mới. Thiếu tướng hứa sẽ tăng cường cho những cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm. Nhân lúc thuận tiện, tôi đề cập tới chuyện của Glê-bốp, giới thiệu đồng chí là người rất tốt. Tu-pi-cốp chận nhận đề nghị của tôi. Glê-bốp trở thành người phó của tôi.

Và cũng chính từ đó, I. X. Glê-bốp bắt đầu làm công việc tác chiến ở những bộ tham mưu lớn.

Tôi đã định ra về, nhưng tham mưu trưởng giữ lại:

– Mình có một tin rất vui đối với cậu.

Đồng chí lại gần, nắm chặt tay tôi:

– Xin chúc mừng cậu được phong quân hàm cấp tướng. Mình vừa nhận được điện.

Thật là một niềm vui lớn, làm cho tôi quên hết mỏi mệt và những đêm mất ngủ.

Ít lâu sau, tôi còn được một niềm vui lớn hơn nữa. Các đồng chí đảng viên ở bộ tham mưu phương diện quân kết nạp tôi đứng trong hàng ngũ Đảng của Lê-nin. Chính trong những ngày tháng Tám khó khăn của năm 1941, ước mơ tha thiết từ lâu của tôi đã trở thành sự thật.

Bất chấp mọi thiệt hại, kẻ địch vẫn không từ bỏ hy vọng đột nhập Ki-ép và các chỗ vượt sông Đni-ép-rơ. Sáng ngay 10 tháng Tám, bọn phát-xít lại bắt đầu những đợt tiến công dọc theo đường cái Va-xin-cốp – Ki-ép, sau khi đã ập trung tại đây năm sư đoàn.

Một lần nữa, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các lữ đoàn đổ bộ đường không lại làm mọi người kinh ngạc trước lòng dũng cảm của họ. Học viện trường hạ sĩ quan của lữ đoàn A. I. Rô-đim-txép bình tĩnh chờ xe tăng địch vượt qua chiến hào rồi mới đồng loạt nổ súng, diệt sạch bọn lính bộ binh tiến theo sau. Tiếp đó, anh em cùng với các chiến sĩ pháo binh quay sang diệt những xe tăng địch vừa vượt qua. Bằng đạn pháo, lựu đạn và chai cháy, các chiến sĩ đổ bộ diệt được mười xe tăng địch. Ở một đoạn khác, bọn phát-xít đã đột nhập vào cơ quan tham mưu của lữ đoàn đổ bộ đường không 6. Cơ quan chỉ còn lại ít người, nhưng mỗi người đã chiến đấu bằng năm. Lữ đoàn trưởng nhiều lần động viên anh em xông lên phản kích. Họ đã đứng vững cho đến khi viện binh tới. Lúc đó, đại úy X. I. Ga-la-nốp, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 của lữ đoàn, dẫn các phân đội của mình xông lên đánh tập hậu bọn phát-xít đột phá. Bọn Hít-le bị tiêu diệt. Người tiểu đoàn trưởng đã anh dũng hy sinh. Đại úy B. V. Xmô-lin, tham mưu trưởng tập đoàn, tiếp tục chỉ huy trận đánh đến cùng.

Nhưng nói chung, tình hình của bộ đội tập đoàn quân 37 trong ngày hôm ấy quá xấu, nên đã phải điều những phân đội độc lập của sư đoàn 4 thuộc Bộ dân ủy nội vụ và những đơn vị bộ đội đường sắt của phương diện quân tới chi viện. Những tiểu đoàn làm đường 75, 76, 77 và tiểu đoàn bắc cầu đường sắt 31 đã giao chiến với địch ở ngoai vị Tây – Nam Ki-ép.

Đại úy V. C. Cút-xơ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 76, và chính ủy V. M. I-lin đã dẫn số anh em làm đường, thợ nguội, thợ mộc, thợ đầu tiến lên công kích ở khu vực Mư-se-lốp-ca. Mặt giáp mặt với địch, đồng đội của họ đã ngã xuống khá nhiều, nhưng địch đã bị đẩy lui. Một tổ chiến sĩ dũng cảm do X. P. Mô-rô-dốp lãnh đạo lọt vào sau lưng địch, chiếm được khẩu cối và đã dùng súng địch bắn lại địch, khiến chúng càng thêm kinh hoàng. Những phân đội chiến sĩ xây dựng đường sắt của đại úy Xlép-vốp, thượng úy Cô-mi-tsen-cô, I-u-rin, Rốt-xi và những cán bộ chỉ huy vinh quang khác đã chiến đấu rất dũng cảm.

Anh em thủy thủ giang đoàn Pin-xcơ giúp đỡ các đơn vị của ta rất nhiều. Đại tá hải quân P. X, Cra-vét chỉ huy giang đoàn này. Dân quân sát cánh chiến đấu với chiến sĩ các đơn vị quân thường trực. Đoàn tàu bọc thép của dân quân Ki-ép do L. V. Va-xi-lép-xki chỉ huy, tập kích hết sức táo bạo, làm cho kẻ địch bạt vía.

Hàng nghìn tên địch đã bỏ mạng sau mỗi ngày chiến đấu. Nhưng chúng ta cũng mất đi những chiến sĩ và cán bộ chỉ huy ưu tú. Nhiều đơn vị còn lại rất ít người. Chẳng hạn, mỗi trung đoàn của sư đoàn bộ binh 147 chỉ còn 150-200 người (tôi chỉ nói tới những phân đội chiến đấu – các chiến sĩ bộ binh và chiến sĩ súng máy); lữ đoàn đổ bộ đường không 3 còn lại 375 tay súng; đơn vị lừng danh của tướng Ma-tư-kin – 300 chiến sĩ; sư đoàn bộ binh 206 còn nhiều hơn một chút. Thấy rõ tình hình đó, Nguyên soái X. M. Bu-đi-ôn-nưi đã điều đến Ki-ép sư đoàn bộ binh 284 lấy trong lực lượng dự bị của đồng chí. Đến tối, đại tá Gh. P. Pan-cốp, sư đoàn trưởng, cùng với nhóm sĩ quan tham mưu gấp rút đến sở chỉ huy tập đoàn quân 37, và một ngày sau, những binh đội của binh đoàn này đã tham chiến ở khu vực làng Mư-sê-lốp-ca, và nơi đây đã trở thành cái bẫy chuột(Tác giá chơi chữ: tên làng Mư-sê-lốp-ca trong tiếng Nga có nghĩa là cái bẫy chuột. – ND.) thực sự đối với quân địch: hàng trăm tên lính phát-xít đã sa vào chiếc bẫy đó.

Có thêm sư đoàn bộ binh 284 bước vào tham chiến, bộ đội tập đoàn quân 37 đã khôi phục được những cuộc phản kích với một sức mạnh mới, và ngày 12 tháng Tám, địch đã bị đè bẹp. Các dũng sĩ bảo vệ Ki-ép bắt đầu dần dần, nhưng liên tục đẩy địch lui xuống phía Nam.

Trong những ngày đó, chúng tôi đã tiếp nhận được một số khẩu đội súng cối phản lực “Ca-ti-u-sa” mà hồi đó Phương diện quân Tây – Nam còn chưa biết tới. Sáng 15 tháng Tám, “Ca-ti-u-sa” dội lửa vào dải tiến công của sư đoàn bộ binh 147. Các loạt đạt đã gieo rắc nỗi kinh hoàng và khủng khiếp cho địch. Hôm sau, Pô-tê-khin báo cáo là ở những vùng bị ăn đạn “Ca-ti-u-sa”, hàng ngũ địch đã trở nên rối loạn, chúng phải rời bỏ trận địa.

Súng cối phản lực của ta xuất hiện đã gây biết bao phấn chấn đối với các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy!

Dù hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, các chiến sĩ cao xạ và chiến sĩ lái máy bay vinh quang của chúng ta vẫn góp phần đánh trả có kết quả cuộc tổng công kích của địch.

Không quân phát-xít điên cuồng hoạt động. Bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam” ngày càng thấy khó có thể chiếm được thành phố, nên ra sức sử dụng không quân bắn phá cầu, cắt đường vận chuyển, hòng làm nhụt tinh thần của các chiến sĩ bảo vệ Ki-ép. Được máy bay tiêm kích yểm hộ, từng dàn máy bay ném bom của địch loạt tới thành phố và các chỗ vượt sông. Nhưng ưu thế gấp bội về không quân cũng không giúp được gì cho kẻ địch. Các chiến sĩ lái máy bay của ta hiệp đồng chặt chẽ với pháo cao xạ đã bảo vệ vững chắc bầu trời Ki-ép. Nếu có những chiếc máy bay nào đó của địch lọt tới cầu thì pháo cao xạ cùng với máy bay tiêm kích của ta lập tức đánh trả quyết liệt và bắn chính xác, khiến chúng không thể ném bom trúng mục tiêu. Địch vội vã trút bom bừa bãi và tháo chạy. Do đó, trong suốt thời gian bảo vệ Ki-ép, địch không thể tổ chức những đòn tập kích mạnh đánh vào thành phố để phá vỡ nhịp sống ổn định tại nơi đây.

Công lao to lớn trong việc xây dựng lưới lửa phòng không vững chắc trên bầu trời Ki-ép thuộc về những người chỉ huy phòng không của phương diện quân là tướng A. I. Đa-ni-lốp và thiếu tá V. A. Pen-cốp-xki. Các trận không chiến tại cửa ngõ Ki-ép trong những ngày tháng Tám đầy khó khăn đối với thành phố một lần nữa lại làm nổi bật thành tích của những chiến sĩ lái máy bay của sư đoàn không quân tiêm kích 36 thuộc bộ đội phòng không bảo vệ thủ đô U-cra-i-na.

Mọi người đều nhớ tới sự kiện xảy ra vào ngày 10 tháng Tám. Buổi trưa, một chiếc máy bay tiêm kích xô-viết đang làm nhiệm vụ tuần tra ở ngoại vi phía Nam Ki-ép. Bỗng bất ngờ, xuất hiện bảy chiếc “Mét-xơ-smít” đang bay từ phía mặt trời lại. Các chiến sĩ bộ binh theo dõi từ mặt đất thầm mong phi công xô-viết sẽ không tiếp nhận trận đánh này và chờ chi viện. Nhưng chiếc tiêm kích có ngôi sao đỏ bỗng bay vút lên cao và lao tới máy bay địch như một mũi tên. Những chiếc máy bay tiêm kích lượn vòng bám đuôi nhau rất nhanh. Phi công xô-viết chiến đấu dũng cảm và khôn khéo đến mức chỉ trong hai giây đầu tiên đã bắn rơi hai chiếc “Mét-xơ-smít”. Bọn còn lại tháo chạy khi thấy những chiếc tiêm kích của ta đang bay tới chi viện cho đồng đội.

Sau này, chúng tôi được biết con người dũng cảm đó là trung úy V. G. Ca-rê-lin, chiến sĩ lái của trung đoàn tiêm kích 2 thuộc sư đoàn không quân 36, đoàn viên thanh niên cộng sản.

Ít lâu sau, nhân dân Ki-ép lại được chứng kiến một trận không chiến không kém phần hào hứng. Ba phi công tiêm kích xô-viết là trung úy A. N. Mu-cô-mô-lốp, thiếu úy A. I. Bô-ri-xốp và một thiếu úy mà bạn đọc dã quen biết là Đ. A. Dai-txép, đã đương đầu với 15 chiếc “Mét-xơ-smít”. Cả một mớ bòng bong quay tít trên bầu trời. Tiếng động cơ gáo rú, từng tràng đạn nổ liên hồi. Một chiếc tách khỏi mớ bòng bong, vừa xoáy tròn vừa rơi xuống. Máy bay của ta ư? Không, máy bay địch. Lại thêm một “Mét-xơ-smít” nữa xoáy tròn và rơi xuống sông Đni-ép-rơ. Những máy bay gắn ngôi sao đỏ của ta không biết nhờ phép lạ nào mà vẫn nguyên vẹn và tiếp tục công kích. Khi phát hiện thấy máy bay ta đang bay tới chi viện, bọn địch liền tháo chạy.

18 máy bay ném bom và 9 máy bay tiêm kích địch tập kích vào sân bay của sư đoàn không quân 15. Chỉ có năm chiến sĩ lái thuộc trung đoàn không quân tiêm kích 28 kịp cất cánh đón đánh địch: trung úy Anh hùng Liên Xô, I-a. Phi-ô-đô-rốp, các trung úy Bô-tsa-rốp, Pác-phi-ô-nốp, Tơ-ri-phô-nốp do chính trị viên phi đội A. V. Ru-đen-cô lãnh đạo. Năm chiến sĩ ta không hề do dự đã dũng cảm lao vào công kích. Đội hình máy bay ném bom địch giãn ra, mấy chiếc bốc cháy, những chiếc còn lại bỏ chạy, trút bom bừa bãi.

Một tên giặc lái Đức bị bắt được giải tới bộ tham mưu. Y thốt lên:

– Phi công của các ông là những người mất trí! Công kích trong điều kiện không cân sức như vậy là điều ngông cuồng.

Anh em nhắc lại với hắn về kết quả trận công kích “mất trí” ấy. Hắn ta cố gắng bào chữa, cho đó là sự ngẫu nhiên, và nói rằng những phi công Đức chỉ kinh ngạc trước sự táo bạo chưa từng thấy này, mà chỉ có ai mất trí mới có thể làm được.

Làm sao hắn có thể hiểu nổi tâm hồn của con người xô-viết. Các chiến sĩ lái chúng ta thấy rõ tình trạng không cân sức và mối đe dọa nguy hiểm chết người đang chờ đón họ. Mất trí ư? Goóc-ki đã viết về chính những con người ấy:

“Chúng ta ngợi ca sự mất trí của những con người dũng cảm!”.

Hàng trăm nghìn con người như vậy đã chiến đấu ở Ki-ép, và với những nỗ lực phi thường, ngày 16 tháng Tám, họ dã đánh bật những sư đoàn phát-xít, gần như về tới tuyến chúng bắt đầu xuất phát để tổng công kích thành phố.

Sau đó, tại những cửa ngõ ở gần Ki-ép, bọn phát-xít vẫn buộc phải dẫm chân tại chỗ, mặc dù cuối tháng Tám, chúng lại mưu toan đột nhập thành phố một lần nữa.

Tư lệnh cụm các tập đoàn quân “Nam” bàng hoàng trước thất bại. Hắn bắt đầu nghĩ đến chuyển sang phòng ngự ở khu vực Ki-ép. Theo lời tướng Phi-líp-pi, thống chế Run-stết vội vã thông báo cho bộ tổng tư lệnh lục quân Đức rằng quân Nga ở Ki-ép “đang chuẩn bị đánh bại cánh Bắc cụm các tập đoàn quân”. Rún-tết khẩn khoản đề nghị chuyển ngay cho hắn, dù chỉ là một sư đoàn xe tăng lấy trong lực lượng dự bị, đồng thời chi viện bằng cách cho các đơn vị cụm các tập đoàn quân “Trung tâm” đột kích từ phía Gô-men. Đề nghị của hắn không được chấp thuận. Run-stết bèn quyết định ném ngay tới Ki-ép những đơn vị thuộc tập đoàn xe tăng của Clai-xtơ.

Nguy cơ Ki-ép bị thất thủ vào hồi nửa đầu tháng Tám không làm nhụt chí người dân thành phố, trái lại, càng thúc giục họ ra sức chi viện hơn nữa cho mặt trận. Đảng viên cộng sản bao giờ cũng đi đầu. Dù chỉ một phần tư toàn bộ tổ chức đảng ở lại thành phố (số còn lại đã gia nhập Hồng quân, du kích), những người cộng sản vẫn là linh hồn của mọi khởi xướng yêu nước.

Theo sáng kiến của họ, các nhà máy đã tổ chức sản xuất vật cản chống tăng, dây thép gai, mìn chống tăng, chai cháy, sửa chữa vũ khí cho bộ binh, pháo binh, xe tăng, ô-tô, thậm chí cả máy bay. Chí tính riêng trong tháng Bảy và tháng Tám, các xí nghiệp ở Ki-ép đã khôi phục được 905 xe chiến đấu các loại. Một loạt nhà máy đã chuyển sang sản xuất súng cối và các loại vũ khí khác.

Công nhân giao thông vận tải đã lao động dũng cảm. Các nhân viên đường sắt và đường sông đã liên tục chuyên chở đạn dược, lương thực cho bộ đội, sơ tán thương binh trước sự bắn phá và ném bom không ngớt của địch.

N. N. Đút-ca lái phà dưới bom đạn tại một bến vượt sông Đni-ép-rơ ở phía Nam Ki-ép. Sau đó, đồng chí đi theo các đơn vị của ta, để rồi hai năm sau lại trở về với Đni-ép-rơ thân yêu. Đồng chí là một trong những người đầu tiên vượt con sông lớn này và được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Trong những ngày này, X. Đ. Khô-men-cô cũng lao động quên mình như vậy ở bến cảng Ki-ép. Về sau, đồng chí càng nổi tiếng và được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì đã lập công xuất sắc. cả hai người vẫn không rời Đni-ép-rơ. Đút-ca làm việc ở bến cảng sông Đni-ép-rơ, còn Khô-men-cô lao động trong nhà máy thủy điện Ki-ép.

Lẽ nào có thể quên được chiến công của người lái tàu hỏa V. I. Ca-dan-xki?! Đồng chí bị thương cả hai chân nhưng vẫn không rời vị trí, và tuy mất nhiều máu, vẫn đưa đoàn tàu về đến địa điểm quy định.

Tinh thần hy sinh quên mình của nhân dân lao động nước Cộng hòa Xô-viết U-cra-i-na đã cổ vũ các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy, củng cố thêm tinh thần bất khuất và ý chí chiến thắng của họ.

Tôi còn nhớ, trong những ngày gian nguy vào tháng Bảy và tháng Tám năm 1941, tư lệnh các tập đoàn quân, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị các binh đoàn đã báo cáo về Hội đồng quân sự phương diện quân là họ thực sự bị những người tình nguyện bao vây. Những người không được chính thức ghi tên vào đơn vị thường trở thành những chiến sĩ “bí mật”. Trong những giờ phút chiến đấu nóng bỏng nhất, cán bộ chỉ huy bỗng phát hiện là quân số đơn vị đột nhiên tăng lên.

Họ từ đâu đến? Đó là những thiếu niên và cụ già vì hạn tuổi không được nhận vào bộ đội, đã cầm súng của những người hy sinh, và cùng với các chiến sĩ Hồng quân xông lên công kích. Nói theo các nhà luật pháp và nhà ngoại giao, họ đã trở thành những chiến sĩ trên thực tế. Sau đó, từng đoàn đại biểu kéo đến gặp các cán bộ chỉ huy để chứng minh cho những người này là những người lính dũng cảm, có nên giữ họ lại với chúng ta không? Và rồi phải công nhận những người tình nguyện ấy về mặt pháp lý, ghi tên họ vào danh sách đại đội với đầy đủ mọi thủ tục.

Tướng G. I. Séc-xti-úc, sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 45, đã kể lại cho tôi nghe về một trong những chiến sĩ tình nguyện ấy.

Trong các trận đánh bảo vệ thành phố Ma-lin, một cậu bé 15 tuổi, học sinh trường trung học tên là Li-ôn-ni-a Txư-ba đã đi theo một đại đội bộ binh của sư đoàn đồng chí. Các chiến sĩ chăm sóc, yêu mến chú bé dịu dàng và sáng dạ, cố giữ chú ở xa tuyến trước và được ở gần nhà bếp, chú vui vẻ giúp đỡ đồng chí cấp dưỡng. Nhưng một hôm, đại đội đang tiến lên công kích thì bị súng máy địch bố trí ở bên sườn bắn lướt cánh sẻ, buộc các chiến sĩ phải nằm ép xuống. Các chiến sĩ ta nhìn thấy một thân hình bé nhỏ đang dán mình xuống đất bò tới khẩu súng máy. Chú bé nấp sau một gò đất chỉ cách khẩu súng máy địch có vài bước. Lợi dụng lúc địch đang chú ý tới hướng khác, em nhổm dậy ném lựu đạn. Súng địch câm bặt. Chiến sĩ ta nhất loạt xông lên công kích. Anh em chạy tới chỗ chú bé. Em đã bị thương.

– Anh em báo cáo với tôi về việc này, - thiếu tướng mỉm cười. – Tất nhiên, tôi mắng cậu chuẩn úy của đại đội tại sao cho chú bé đi theo, nhưng cậu ta cứ khư khư giữ ý kiến của mình: “Thưa thiếu tướng, Li-ô-ni-a của chúng tôi là một anh hùng!”. Không đành lòng, tôi phải đồng ý cho giữ chú bé ở lại đại đội.

Hình như tất cả các các cô cậu học sinh các trường học ở ngoại vi thành phố và ở làng xã chỉ nghĩ làm sao để được ra mặt trận. Tất nhiên, không cho phép các em làm như vậy. Nhưng nhiều người vẫn vượt qua được mọi trở ngại và kề vai chiến đấu cùng với cha anh mình.

Tướng Cô-xten-cô, tư lệnh tập đoàn quân 26, để nghị tặng huân chương cho nữ cứu thương Xcơ-voóc-tsin-xcai-a, con gái một người thọ rèn nhà máy “Ác-xê-nan” ở Ki-ép. Nữ đoàn viên thanh niên cộng sản 16 tuổi đã dùng mọi lý lẽ thuyết phục để được ghi tên vào sư đoàn kỵ binh 14. Tư lệnh tập đoàn quân cho biết người nữ chiến sĩ yêu nước đã cùng hàng chục chiến sĩ và cán bộ chỉ huy bị thương ngay dưới làn dạn của địch.

Tôi tìm thấy trong cuốn sổ ghi chép cũ của mình một đoạn ghi ngắn: “12 tháng Tám 1941. Làng Pê-sơ-ki, huyện Coóc-xun. Nữ nông rang viên A. C. Xốp-tsen-cô đã cứu 14 chiến sĩ ta thoát khỏi bàn tay thần chết”. Điều ghi chép ngắn gọn này gợi lại câu chuyện trong thời kỳ gian khổ ấy, khiến tôi vô cùng xúc động. Vào nửa đầu tháng Tám, bộ đội ta chiến đấu ở vùng Coóc-xin bị đẩy lui, để lại trên trận địa ở làng Pê-sơ-ki 12 chiến sĩ và hai cán bộ chỉ huy bị thương. Nông trang viên Xô-stsen-cô khi đó với 22 hoặc 23 tuổi, trông thấy thương binh. Mặc dù biết có thể nguy hiểm tới tính mạng, nhưng chị vẫn đón anh em thương binh về nhà mình. Bọn phát-xít ập vào làng. Đêm đến, Xôp-tsen-cô đã chuyển toàn bộ thương binh đến nơi an toàn, tìm cách che giấu và chăm sóc thương binh xô-viết ở ngay trong làng đầy binh lính phát-xít. Đây là một việc làm cực kỳ khó khăn. Người thiếu phụ đã trải qua bao nổi lo âu và hồi hộp! Hơn thế, ít lâu sau, những tên lính càn quét đã thay thế bọn lính hậu cần. Chúng như những con chó săn lùng sục khắp nơi, nhưng vẫn không sao tìm ra cái viện quân y bí mật đó. Chẳng bao lâu, bộ đội tập đoàn quân 26 đánh bật quân địch ra khỏi làng, và Xốp-tsen-cô đã chuyển giao những người được mình đỡ đầu cho các đồng chí quân y.

Ủy ban trung ương Đảng cộng sản U-cra-i-na và Chính phủ nước Cộng hòa đánh giá cao chủ nghĩa anh hùng của những người bảo vệ Ki-ép. Ngày 17 tháng Tám, Ủy ban trung ương Đảng và Chính phủ thông báo biểu dương cán bộ và chiến sĩ những binh đội và binh đoàn xuất sắc nhất và trao tặng Cờ đỏ danh dự cho các đơn vị này. Ngày hôm sau, các đại biểu của nhân dân lao động thủ đô U-cra-i-na đã ra ngoài mặt trận để trao tặng những lá cờ đỏ trong bầu không khí trọng thể.

Ki-ép mở hội nghị đảng viên cốt cán của thành phố, có đại biểu các tổ chức đảng trong quân đội cùng tham gia. Các nghị quyết được thông qua trong hội nghị đã cổ vũ mạnh mẽ những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép lập nên những sự tích anh hùng mới.

THẤT BẠI Ở Ô-CU-NI-NÔ-VÔ

Tình hình của Phương diện quân Trung tâm ở bên cánh phải chúng tôi xấu hẳn đi. Trung tuần tháng Tám, trong dải của phương diện quân, bọn phát-xít Đức đã vượt qua thượng nguồn sông Đni-ép-rơ và thọc sâu sang phía Đông, đe dọa sườn bên trái bị hở của Phương diện quân chúng tôi. Chỉ ngày một ngày hai, những lực lượng lớn của đối phương sẽ có thể lọt sâu vào sau lưng tập đoàn quân 5 từ phía Bắc và chiếm lấy chỗ vượt sông Đni-ép-rơ tối quan trọng đối với tập đoàn quân.

Ngày 16 tháng Tám, chúng tôi được biết là X. M. Bu-đi-ôn-nưi, tổng tư lệnh hướng chúng tôi, đã đề nghị Đại bản doanh cho phép rút tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27 sang phía tả ngạn con sông. Đồng chí lập luận về đề nghị của mình như sau:

“Đại bản doanh quyết định không tiến hành chiến dịch tiến công ở khu vực này (khu vực Ô-vru-tsơ. – TG.), nên việc phòng ngự ở đó về mặt ý nghĩa và làm yếu các đơn vị chúng tôi trong những trận chiến đấu không cận sức. Nếu kéo sườn phải của Phương diện quân Tây – Nam (tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27) sang phía Đông, bên kia sông Đni-ép-rơ, sẽ thuận lợi hơn cho chúng tôi. Hơn nữa, việc rút sườn phải đã chín muồi ở chỗ Phương diện quân Trung tâm ở bên cạnh, theo những tin tức chúng tôi nắm được, đang chiến đấu ở các cửa ngõ tới tuyến Bri-an-xcơ, Ư-nê-tsa. Nếu ta xây dựng lực lượng dự bị ở sau sườn phải Phương diện quân Tây – Nam càng mạnh thì tình thế của ta càng vững vàng. Đồng thời, những lực lượng dự bị còn cần thiết cho những cuộc chiến đấu bảo vệ Ki-ép. Nhưng lực lượng hiện có ở khu vực cố thủ hoàn toàn không đủ để làm nhiệm vụ. Trong khi ấy, do ta rút quân sang bên kia sông Đni-ép-rơ, địch đã có điều kiện kéo những lực lượng chưa bị sứt mẻ tới công kích khu vực cố thủ Ki-ép. Nếu Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao cho phép rút tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27 của chúng tôi sang bên kia sông Đni-ép-rơ, thì có thể lấy ra 2-3 sư đoàn bộ binh làm lực lượng dự bị và bắt tay vào tổ chức lại bảy sư đoàn xe tăng và cơ giới. Như vậy, lực lượng dự bị sẽ có thêm hai sư đoàn bộ binh”.

Đại bản doanh nhanh chóng trả lời đồng ý. Hai ngày sau, Đại bản doanh giao cho Phương diện quân Tây – Nam nhiệm vụ giữ vững tuyến phòng ngự chạy dọc theo tả ngạn sông Đni-ép-rơ từ thị trấn Lô-ép (phía Bắc Ki-ép) đến Pê-rê-vô-lô-sơ-nai-a (phía Đông – Nam Crê-men-tsúc). Do tuyến phòng ngự được rút ngắn lại nên phương diện quân chúng tôi lúc này có thể lấy ra ít nhất tám sư đoàn bộ binh làm lực lượng dự bị. Ngay hôm ấy, tức là ngày 19 tháng Tám, Hội đồng quân sự phương diện quân ký lệnh hướng dẫn các chiến sĩ việc rút tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27.

Theo lệnh, việc rút quân phải được thực hiện trong thời hạn ngắn nhất. Tập đoàn quân 5 bắt đầu rút đêm rạng ngày 20 tháng Tám và đến rạng sáng 25 tháng Tám phải chiếm lĩnh xong tuyến phòng ngự ở phía Bắc Ki-ép, từ thị trấn Lô-ép đến Glu-bốp. chỉ được phép hành quân đêm. Năm đêm – năm lần chuyển quân.

Quân đoàn bộ binh 27 vượt chặng đường ngắn hơn, nên trong ba ngày đầu, khi các đơn vị của tướng Pô-ta-pốp đang rút quân, nó phải giữ vững tuyến phòng ngự chiếm lĩnh, để bảo đảm sườn bên trái cho tập đoàn quân 5. Quân đoàn chỉ có thể bắt đầu chuyển quân lúc sẩm tối ngày 22 tháng Tám. Sau khi quân đoàn rút sang tả ngạn sông Đni-ép-rơ thì sư đoàn bộ binh 28 của quân đoàn sẽ được điều động tăng cường cho các đơn vị ở khu vực cố thủ Ki-ép, còn những lữ đoàn đổ bộ đường không 2 và 3 sẽ được chuyển làm lực lượng dự bị của phương diện quân.

Chúng tôi dự kiến sẽ cơ động như vậy, và đến lúc này chỉ còn việc theo dõi việc thực hiện.

Các binh đội của tập đoàn quân 5 tiếp cận chiến đấu sát với những lực lượng mạnh hơn của địch, nên phải bí mật bứt khỏi địch để không gặp cản trở lúc qua sông Đni-ép-rơ. Tướng Pô-ta-pốp và cơ quan tham mưu của đồng chí tổ chức mọi công việc thật chu đáo. Bộ chỉ huy Hít-le không thể ngăn cản nổi tập đoàn quân rút lui. Tướng Phi-líp-pi buộc phải công nhận: “Giống như trước đây, tập đoàn quân này của đối phương đã tăng cường sức kháng cự ở mặt chính diện, đã đánh lạc hướng được bộ chỉ huy các binh đoàn Đức đang chiến đấu với nó và giữ được bí mật việc chuẩn bị rút quân, để sau đó bất thần rút lui trên toàn mặt trận”.

Khi trinh sát địch phát hiện các sư đoàn xô-viết bắt đầu rút khỏi khu vực Cô-rô-xten, chúng liền tổ chức những đợt công kích mãnh liệt dọc sông Tê-tê-rép, nhằm cắt đường chuyển quân của các sư đoàn này, nhưng các đơn vị đóng bên sườn trái, trong đó có các phân đội của sư đoàn bộ 4 thuộc Bộ dân ủy nội vụ, đã đánh lui có kết quả những mũi đột kích đó.

Cuối cùng, bọn phát-xít đành chịu không cắt nổi đường rút lui dài dằng dặc của tập đoàn quân 5.

Tình hình của quân đoàn bộ binh 27 lại hoàn toàn khác. Tướng P. Đ. Ác-ti-ô-men-cô và cơ quan tham mưu của đồng chí tổ chức rút quân kém. Các đồng chí đánh giá hoàn toàn không đúng mức những khả năng thực tế địch sẽ quấy rối cuộc cơ động cực kỳ quan trọng và phức tạp đó. Tiếc rằng cả bộ tham mưu phương diện quân cũng không thấy được nguy cơ ấy. Tư lệnh tập đoàn quân 6 Đức lợi dụng ngay sai lầm đó của ta. Qua trinh sát, biết các đơn vị xô-viết bắt đầu chuyển quân không hẳn bí mật và cũng không được tổ chức tốt, hắn lệnh cho tướng Stáp-phơ, sư đoàn trưởng sư đoàn xe tăng 11, vượt lên trước tới sông Đni-ép-rơ. Cụm cơ động mạnh của Stáp-phơ tiến quân trên con đường cái duy nhất ở bên sườn phải quân đoàn. Không hiểu tại sao tướng Ác-ti-ô-men-cô lại giao nhiệm vụ yểm hộ con đường đó cho sư đoàn bộ binh 171 của tướng A. E. Bu-đư-khô đang ở gần Ki-ép hơn, mà không giao cho sư đoàn bộ binh sơn chiến 28 của thiếu tướng C. I. Nô-vích mà sườn phải của nó dựa vào con đường giao thông quan trọng nói trên. Trong khi đội cơ động của Bu-đư-khô biên chế có một trung đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo thuộc trung đoàn pháo hạng nhẹ 357 đang phải vượt khu rừng và đầm lấy đầy ắp các đơn vị hậu cần thì xe tăng địch đã tiến xa trên con đường cái dẫn đến bến vượt duy nhất bằng cầu qua sông Đni-ép-rơ ở khu vực này, gần làng Ô-cu-ni-nô-vô.

Trên đường xe tăng địch tiến quân, chỉ có tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn pháo 357 kịp triển khai. Bọn phát-xít chạm trán với các khẩu đội của tiểu đoàn ở cạnh làng I-van-cô-vô. Một khẩu đội bị gần mười xe tăng địch công kích. Anh em pháo thủ tiêu diệt được hai chiếc, nhưng đã hy sinh gần hết trong bão lửa của bọn phát-xít. Chỉ còn một chiến sĩ duy nhất sống sót bên cạnh khẩu đội cuối cùng được ngụy trang sau bờ giậu. Khi xe tăng địch tới gần, khẩu pháo này lại khạc đạn. Thêm hai xe tăng địch bốc cháy. Những chiếc còn lại bắn như vãi đạn. Lúc đó, một nhóm xạ thủ tiểu liên của địch đánh bọc sườn khẩu pháo. Vẫn còn cơ hội để rút lui, nhưng người chiến sĩ pháo binh ấy quyết không lùi bước. Khi xe tăng địch lại xông lên, đồng chí hạ thêm chiếc thứ ba. Túp lều sau khẩu pháo bốc cháy. Tàn lửa rơi xuống làm anh bị bỏng. Nhưng đồng chí vẫn tiếp tục bắn. Lại một xe tăng địch bốc khói mù mịt. Khẩu pháo im bặt – hết đạn. Bọn phát-xít lao tới. Người chiến sĩ pháo binh bị thương, nhổm dậy, giơ nắm đấm dọa chúng rồi loạng choạng bước vào căn lều dang bốc lửa. Thà chết còn hơn bị bắt làm tù binh. Khi quân ta đến nơi vừa xảy ra trận đánh, đã tìm thấy một chiến sĩ bị thương may sao vẫn còn sống. Qua đồng chí chúng ta nắm được những gì đã xảy ra. Đồng chí còn kể tên người chiến sĩ quan trắc đã một mình điều khiển cả khẩu pháo. Tôi còn nhớ họ của đồng chí là Bri-ga-đa. Đáng tiếc tôi không thể biết gì hơn nữa về người anh hùng này.

Tục ngữ có câu “Ai có trái tim thép, có thể dùng giáp gỗ”. Người chiến sĩ pháo binh vinh quang đó thực sự có trái tim thép, hay nói đúng hơn, có trái tim của người yêu nước xô-viết. Và chỉ có cái chết mới có thể làm gục ngã những con người như vậy.

Xe tăng địch lao trên đường nhựa. Một tốp chiến sĩ biên phòng do trung úy X. U-gơ-li-a-ren-cô chỉ huy, đón đánh chúng ở gần Goóc-nô-xtai-pôn, ngay tại cầu qua sông Tê-tê-rép. Họ đã kìm chân địch được mấy tiếng đồng hồ. Mãi đến chiều, sau khi đánh tan những binh đội ít người thuộc sư đoàn 4 Bộ dân ủy nội vụ, chúng mới tiến tới Ô-cu-ni-nô-vô. Vào lúc 18 giờ, chiếc cầu dành cho ô-tô qua sông Đni-ép-rơ lọt vào tay địch.

Biết tin này, ngay cả Kiếc-pô-nô-xơ cũng mất điềm tĩnh vốn có. Đồng chí giận dữ dấm tay xuống tấm bản đồ trải trên bàn:

– Sao lại có thể như thế được!

Tham mưu trưởng phương diện quân báo cáo việc liên lạc với cơ quan tham mưu quân đoàn 27 bị đứt. Anh em đang làm gấp mọi việc để liên lạc trực tiếp với các sư đoàn và điều chúng sang tả ngạn sông Đni-ép-rơ ở phía Bắc Ki-ép. Tướng I-lin – Mít-kê-vích, chủ nhiệm công binh, được lệnh tung ra phía Nam Ô-cu-ni-nô-vô, nơi những binh đội của quân đoàn bộ binh 27 đang rút lui, toàn bộ phương tiện vượt sông hiện có của Công ty vận tải đường thủy Đni-ép-rơ. Đã điều hai tiểu đoàn công binh mang nhiều mìn chống tăng đi ô-tô tới đón đánh xe tăng phát-xít đang vượt sông Đni-ép-rơ.

Kiếc-pô-nô-xơ hài lòng gật đầu:

– Như vậy là được. Đồng chí Tu-pi-cốp hãy đích thân kiểm tra việc vượt sông của quân đoàn 27. Ngoài ra cần áp dụng những biện pháp khẩn cấp để phá cầu ở Ô-cu-ni-nô-vô và thủ tiêu bàn đạp đã bị địch chiếm. Lại còn phải gấp rút xây dựng tuyến phòng ngự dọc theo sông Đê-xna ở Ô-xti-ô-rơ. Chúng ta còn có thể phái thêm tới đây những gì nữa?

Tu-pi-cốp nói là gần đây có một đại đội lính thủy đánh bộ, lữ đoàn đổ bộ đường không 212 và đại đội cao xạ thuộc sư đoàn của Ma-gi-rin.

Kiếc-pô-nô-xơ cho rằng như vậy còn ít. Đồng chí ra lệnh phải tung ngay vào đấy một phần lực lượng của các khu vực khác, trong đó có cả lực lượng của khu vực cố thủ Ki-ép, trước hết là của sư đoàn 44 của tướng G. N. Mi-cu-sép và của các quân đoàn đổ bộ đường không. Đồng chí quyết định cử một cán bộ chỉ huy tháo vát thuộc bộ tham mưu phương diện quân trực tiếp tới đoạn Ô-cu-ni-nô-vô để tìm hiểu tình hình và báo cáo tỉ mỉ diễn biến ở đó.

– Đồng chí Tu-pi-cốp, đừng để chậm, - Kiếc-pô-nô-xơ sốt ruột khoát tay. – Đồng chí hãy đi ngay và ra mọi chỉ lệnh cần thiết.

Điều gì xảy ra ở bến vượt sông Ô-cu-ni-nô-vô?

Tham mưu trưởng bộ đội phòng không của phương diện quân là thiếu tá V. A. Pen-cốp-xki được cử đến đây trở về có vẻ buồn bã và trông như già hẳn đi. Đây là những điều đồng chí thuật lại.

Chiếc cầu được hai tiểu đoàn pháo cao xạ và một phân đội nhỏ thuộc sư đoàn 4 Bộ dân ủy nội vụ của Ph. M. Ma-gi-rin bảo vệ. Ban đêm, trước khi xe tăng địch đột nhập, không hiểu sao tư lệnh tập đoàn quân 37 lại điều một tiểu đoàn pháo sang khu vực khác. Hai bên bờ sông gần cầu, nhân dân địa phương đã xây dựng những công trình phòng ngự vững chắc, một số hỏa điểm nối liền với nhau qua hệ thống giao thông hào, và công sự bộ binh. Nhưng những công trình này còn trống vì những phân đội phải chiếm lĩnh đã chưa đến kịp. Ở đây cũng không có một khẩu pháo chống tăng nào.

Còn để sơ xuất đến mức sẩm tối 23 tháng Tám, khi xe tăng địch xuất hiện ở bên cầu thì chiến sĩ cao xạ lại dùng… đạn mảnh bắn chúng. Hóa ra là thậm chí tiểu đoàn trưởng cũng không quan tâm đến việc pháo có loại đạn thích hợp với những mục tiêu như vậy. Không bị sứt mẻ gì trước loại đạn ấy, xe tăng địch đã nghiền nát các khẩu pháo bên hữu ngạn và lao lên cầu. Một nhóm pháo thủ thuộc trung đội chỉ huy xông lên đánh địch. Họ dùng chai cháy diệt được hai chiếc rồi hy sinh trước xe tăng địch.

Do tình hình xảy ra đáng tiếc như vậy, nên đã không phá được cầu, mặc dù đã có chuẩn bị đầy đủ từ trước. Chỉ huy phân đội công binh có liên lạc điện thoại trực tiếp và điện báo với bộ tham mưu phương diện quân. Khi xe tăng địch xuất hiện, đồng chí gọi tôi đến máy nhưng vừa mới bắt đầu báo cáo thì đường dây bị đứt. Ngay lúc ấy, tôi chuyển sang liên lạc với đồng chí bằng điện báo. Nhưng cả lần này, nhân viên điện báo cũng không kịp truyền lệnh nổ cầu. Đường liên lạc bỗng nhiên bị tắc. Thế là chiếc cầu vẫn chưa bị đánh sập. Chính lúc này, tôi mới ý thức được thật sâu sắc thế nào là năng lực của người chỉ huy kịp thời thể hiện tinh thần chủ động và dũng cảm biết hạ quyết tâm hợp lý đáp ứng được tình huống xảy ra…

Các tiểu đoàn công binh dự bị được điều từ khu vực Brô-va-rư đã tới thị trấn Ô-xti-ô-rơ, vượt sông Đê-xna, kịp thời đánh sập toàn bộ số cầu ở khoảng giữa hai sông Đni-ép-rơ và Đê-xna, đồng thời rải mìn trên con đường từ Ô-cu-ni-nô-vô đến Ô-xti-ô-rơ. Nhờ vậy, họ đã kìm chân được đoàn xe tăng địch trong một thời gian.

Nhiều biện pháp được áp dụng gấp để phá cầu ở Ô-cu-ni-nô-vô. Thoạt tiên, không quân và thủy quân cố thử thực hiện nhiệm vụ đó. Đêm đến, tàu ta lao tới cầu, nhưng bị hỏa lực pháo binh dày đặc đẩy lui. Các chiến sĩ thủy quân nảy ra sáng kiến thả thủy lôi xuôi dòng. Chỉ cần một quả chạm vào trụ cầu là chiếc cầu có thể bị phá sập. Nhưng địch cũng dự kiến trước nguy cơ đó. Chúng tổ chức theo dõi chặt chẽ mặt sông và kịp thời vớt thủy lôi.

Máy bay ta lao tới cầu sớm hơn tàu chiến. Nhưng làm thế nào để từ trên cao ném bom trúng chiếc cầu nhỏ như kẻ chỉ! Nhiều chiến sĩ lái bất chấp mọi nguy hiểm, bay là sát mục tiêu, nhưng không một quả bom nào trúng cầu…

Trung úy X. Cô-lư-bin vừa về tới sân bay thì được gọi lên gặp sư đoàn trưởng. Thiếu tướng cho biết cho đến lúc này chiếc cầu vẫn chưa bị sập.

– Tôi trao cho đồng chí nhiệm vụ đó. Đồng chí có hiểu nhiệm vụ này quan trọng đến mức nào không?

– Rõ, thưa thiếu tướng.

Hai chiếc máy bay cất cánh về hướng Ô-cu-ni-nô-vô. Đi đầu là Cô-lư-bin. Bám theo sau là thiếu tá V. Ô-lây-ních.

Vượt qua lưới lửa bảo vệ cầu, Cô-lư-bin hạ thấp độ cao đến mức tối đa và là xuống sát cầu. Hai quả bom rơi thật chính xác. Giàn cầu bằng thép đổ gục xuống dòng sông.

Những người chứng kiến kể lại rằng chính lúc ấy, chiếc “IL” bốc cháy. Chiếc máy bay rực lửa vẫn là sát đường nhựa, sau đó lao vào đoàn xe địch.

(Thật vui mừng xiết bao khi gần đây, tôi được biết người chiến sĩ lái máy bay quang vinh mà chúng ta tưởng đã hy sinh, nây vẫn còn sống như có một phép thần nào đó!).

Trong ngày địch chiếm cầu ở Ô-cu-ni-nô-vô, tôi thực hiện nhiệm vụ tướng Kiếc-pô-nô-xơ giao cho, gọi điện cho tư lệnh tập đoàn quân và truyền đạt mệnh lệnh dứt khoát của tư lệnh phương diện quân: phải hành động kiên quyết để nhanh chóng diệt tan những đơn vị địch đã vượt sông, không cho chúng kịp trụ bám trên bờ sông Đni-ép-rơ.

Tư lệnh tập đoàn quân 37 cam đoan sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Song những lực lượng không đáng kể được điều tới bàn đạp, không cứu vãn nổi tình thế. Và khi bộ tham mưu phương diện quân thúc ép, tư lệnh tập đoàn quân có hành động kiên quyết hơn, thì thời cơ đã qua rồi.

Tiếc rằng tướng Pô-ta-pốp, tư lệnh tập đoàn quân 5, lúc đầu không thể chú ý thích đáng tới việc thanh toán bàn đạp, vì trong những ngày này, đồng chí dang phải tổ chức rút lui đơn vị của mình sang bên kia sông Đni-ép-rơ, và đây lại là một nhiệm vụ khá phức tạp.

Lúc này, chúng tôi đang áp dụng mọi biện pháp nhằm đuổi địch ra khỏi bên tả ngạn, nên đã sử dụng không ít lực lượng và phương tiện của hai tập đoàn quân, cùng một phần lớn lực lượng không quân của phương diện quân. Đôi lúc cứ tưởng như không còn sự sống còn trên bàn đạp này. Nhưng mỗi khi các phân đội của ta công kích thì lại vấp phải hỏa lực dày đặc của địch. Chặng đường chiến sĩ ta phải vượt qua có nhiều đầm lầy, còn bọn Hít-le thì có điều kiện nấp trong những cánh rừng nhỏ rậm rạp.

Thời gian này, đây là một thất bại duy nhất của chúng tôi trong trận giao tranh giành giật Đni-ép-rơ. Trên một tuyến rất dài của trung lưu con sông, bộ đội ta vẫn giữ vững bờ Đông và chỉ ở gần Ô-cu-ni-nô-vô mới dần dần hình thành một khối u nguy hiểm. Trong tình hình đặc biệt khó khăn hồi cuối tháng Tám, đây là một nguy cơ lớn. Hình thái chiến lược của phương diện quân chúng tôi ngày càng xấu đi. Mặc dầu tập đoàn quân 5 đã rút lui, nhưng sườn phải của nó vẫn bị hở - các đơn vị thuộc cụm các tập đoàn quân “Trung tâm” của Đức đã thọc sâu sang phía Đông. Nếu chúng quay xuống phía Nam, và đã có nhiều dấu hiện chứng tỏ chúng đang chuẩn bị thực hiện điều đó, thì bọn Hít-le có thể lọt sâu vào sau lưng phương diện quân chúng tôi.

Trên cánh phía Nam cũng lộ rõ nguy cơ. Những lực lượng chủ yếu của cụm các tập đoàn quân “Nam” – tập đoàn quân dã chiến 17 và tập đoàn quân xe tăng 1 – đã triển khai dọc bờ Tây sông Đni-ép-rơ đến tận thành phố Đni-ép-rô-pê-tơ-rốp-xcơ và đang ráo riết chuẩn bị vượt sông.

Ở phía giữa chính diện, tại chỗ nhô lên vòng cung lớn sông Đni-ép-rơ, bộ đội ta kiên trì bám giữ bàn đạp tác chiến ở bờ phía Tây mà trung tâm của nó là thủ đô U-cra-i-na xô-viết. Mặc dù tình hình ở khu vực này có được cải thiện sau khi ta đánh trả có kết quả cuộc tổng công kích của địch, nhưng bộ tư lệnh phương diện quân vẫn không thể quyết định giảm bớt lực lượng phòng thủ Ki-ép, nhất là sau khi địch chiếm được bến vượt sông ở Ô-cu-ni-nô-vô và cách thành phố không xa lắm.

Căn cứ vào hình thái chiến dịch, chiến lược ngày càng phức tạp, Hội đồng quân sự quyết định chuyển sở chỉ huy phương diện quân về Pri-lu-ki để có điều kiện ở gần những khu vực sắp tới sẽ là nơi triển khai những sự kiện có tính chất quyết định.

Tôi và một nhóm sĩ quan được lệnh ở lại Brô-va-rư cho đến khi thê đội thứ nhất của bộ tư lệnh phương diện quân tới địa điểm mới. Trước khi lên đường, tham mưu trưởng ra lệnh phải theo dõi chặt chẽ tiến trình những trận đánh nhằm thanh toán bàn đạp Ô-cu-ni-nô-vô.

Nhưng đã muộn rồi. Địch đã bám chắc và tích lũy được lực lượng. Chúng ta buộc phải gấp rút áp dụng những biện pháp nhằm củng cố phòng ngự ở Ki-ép, không chỉ ở mạn phía Nam và phía Tây, mà cả ở mạn phía Bắc.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.