Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Không Đủ Lực Lượng
Không Đủ Lực Lượng

❊ ❊ ❊

Việc tập đoàn xe tăng địch thọc sâu vào hướng Lút-xcơ và các đoàn xe tăng phát-xít tiếp tục tiến từ Rát-dê-khúp tới Đúp-nô là một mối nguy kịch lớn.

Có nhiều nguyên nhân góp phần vào thắng lợi của Hít-le ở những vùng này. Có nguyên nhân là do chúng tôi lập kế hoạch phòng thủ biên giới quốc gia vào lúc thời bình, lại cho hướng Cra-cốp – Lơ-vốp là quan trọng hơn cả. Chúng tôi nghĩ rằng chính nơi này có đường sắt lớn chạy từ nội địa Ba Lan đến Lơ-vốp, lại có mạng lưới đường nhựa và đường đất khá phát triển, sẽ là nơi địch tập trung lực lượng của chúng trước tiên. Cả chúng tôi cũng cho khu vực nhô về phía Tây này, lại có một thành phố lớn như Lơ-vốp, sẽ là một bàn đạp rất thuận tiện trong trường hợp chúng ta chuyển sang tiến công rộng khắp. Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi tập trung trên hướng này hai quân đoàn cơ giới 4 và 8 có biên chế đầy đủ nhất và thiện chiến nhắt.

Chúng tôi lại không chú ý đúng mức đến một hướng tác chiến quan trọng khác: Li-u-blin – Lút-xcơ. Phần lãnh thổ Ba Lan bị Đức chiếm đóng tiếp giáp với ta ở đây dù có ăn khá sâu sang phía Đông, uy hiếp mạn phía Bắc Lơ-vốp, nhưng ở phía Tây lại không có đường sá thuận lợi tiến tới mũi nhô ra đó. Và khó mà hình dung được rằng bộ chỉ huy phát-xít đã lợi dụng chính khu vực này để tập trung một cánh quân tiến công lớn. Do đó, trong kế hoạch phòng thủ biên giới của chúng tôi, ở đây, các đơn vị của thê đội một có mật độ chiến thuật thưa mỏng hơn ở hướng Lơ-vốp. Hơn nữa, tai chỗ tiếp giáp giữa tập đoàn quân 5 và 6 đóng quân trong khu vực này chỉ có các phân đội biên phòng làm nhiệm vụ bảo vệ cả một vùng biên giới rộng lớn.

Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng tôi không chú ý bảo vệ hướng Li-u-blin – Lút-xcơ. Ngoài quân đoàn cơ giới 22 thuộc tập đoàn quân 5 đóng ở gần biên giới. bộ tư lệnh tính rằng khi cần thiết sẽ điều tới đây quân đoàn cơ giới 15 thuộc phương diện quân mà các binh đoàn của nó đang đóng quân cách đây 100 – 150 ki-lô-mét - ở Brô-đư, Bê-lưi Ca-men và Crê-mê-nét. Ngoài ra, trong vòng ba bốn ngày, còn có thể điều thêm tới đó hai quân đoàn cơ giới lấy trong thê đội hai của quân khu: quân đoàn 9 của tướng Rô-cô-xốp-xki ở vùng Nô-vô-grát – Vô-lưn-xki và quân đoàn 19 của tướng Phê-cơ-len-cô ở vùng Gi-tô-mi-a.

Nhưng các sự kiện diễn ra không như chúng tôi dự tính. Cuộc tiến công của Hít-le bất ngờ và nhanh chóng đến mức không chỉ những quân đoàn thuộc thê đội hai, mà cả những sư đoàn bộ binh nằm trong tập đoàn quân 5 cũng không kịp tiến ra biên giới và triển khai để đánh trả quân xâm lược.

Những mũi xe tăng mạnh đang thọc ngày càng sâu vào lãnh thô Liên Xô. Bằng bất kỳ giá nào cũng phải chặn đứng chúng. Tối 2 tháng Sáu, Hội đồng quân sự phương diện quân họp để lập kế hoạch phản đột kích. Puốc-ca-ép đọc bản báo cáo ngắn mở đầu hội nghị. Đồng chí tổng kết hoạt động chiến đấu của các đơn vị trong hai ngày đầu chiến tranh và đánh giá tình hình. Theo tính toán của đồng chí, đến sáng thì các quân đoàn cơ giới 15 và 22 mới có thể tham gia phản đột kích và cũng không thể sử dụng được toàn bộ lực lượng (quân đoàn 22 chỉ có một sư đoàn sẽ đến kịp khu vực đã quy định). Những quân đoàn này có thể được sự chi viện của sư đoàn bộ binh 135 và lữ đoàn pháo chống tăng 1 đã bước vào chiến đấu ác liệt. Không thể trông đợi vào các đơn vị khác được, vì quân đoàn cơ giới 8 bị máy bay địch tập kích liên tục trên suốt chặng đường dài, hiện vẫn đang trên đường hành quân từ vùng Lơ-vốp; quân đoàn cơ giới 4 đã phải tung ra để đánh trả địch trên hướng Lơ-vốp. Còn các quân đoàn cơ giới 9 và 19 thì ít nhất phải hai ngày đêm nữa mới tới được chiến trường. Các quân đoàn bộ binh 31, 36 và 37 còn cách xa 130 – 150 ki-lô-mét nên phải mấy ngày sau mới có thể tới được.

Như vậy là trước mắt có rất ít lực lượng để phản đột kích.

– Nếu ta điều các quân đoàn cơ giới chậm như vậy, - Va-su-ghin sôi lên, - thì chỉ hai ba ngày nữa, các sư đoàn phòng thủ biên giới sẽ bị tan tác.

– Chúng ta đã áp dụng tất cả những biện pháp có thể thực hiện, - Puốc-ca-ép nói.

– Đã qua hai ngày chiến đấu mà chúng ta vẫn chưa giáng được một đòn đích đáng nào vào bọn phát-xít. Phải quất cho chúng không kịp hoàn hồn, - ủy viên Hội đồng quân sự tiếp tục nổi nóng.

– Chỉ muốn thôi không đủ, - Puốc-ca-ép lạnh lùng phản đối, - mà phải đánh địch một cách khôn ngoan, chứ không phải nện bừa bãi. Giả dụ thoạt tiên chúng ta dùng một quân đoàn cơ giới đột kích, nhưng lại không sử dụng tất cả các binh đoàn của nó cùng một lúc. Nếu thành công, chúng ta sẽ giải thoát được sư đoàn bị bao vây, nhưng lại làm cho quân đoàn kiệt sức. Sau đó lại dùng một quân đoàn khác tiến công và lại giải thoát thêm một sư đoàn bộ binh nữa. Rồi tiếp theo thì thế nào?... Chính kẻ địch đang mơ ước có điều kiện tiêu diệt từng quân đoàn của chúng ta.

– Nhưng không thể ngồi chờ trong khi các sư đoàn đang bị hy sinh trước mắt chúng ta, - Kiếc-pô-nô-xơ buồn rầu nói. – Puốc-ca-ép, sao đồng chí lại không hiểu nổi điều đó?

– Tôi hiểu, - Puốc-ca-ép nói với giọng bực bội. – Nhưng không thể hy sinh cái lớn vì cái nhỏ. Cần phải ra lệnh cho các sư đoàn phá vây. Còn hai ngày sau, ta sẽ tổ chức những cánh quân mạnh ở sâu trong lãnh thổ và khi đó, chúng ta sẽ tập kích địch từ nhiều phía, không cho chúng gượng nổi. vì cả năm quân đoàn cơ giới – đó là một sức mạnh! Còn nếu tung ra từng quân đoàn thì cũng như nối giáo cho giặc.

– Chúng ta sẽ không tung từng quân đoàn cơ giới ra chiến đấu.

Kiếc-pô-nô-xơ vừa di đầu bút chì cùn trên bản đồ, vừa giải thích là hiện nay, các binh đoàn thuộc các quân đoàn cơ giới 22 và 15 đã đến khu vực địch thọc sâu và bước vào chiến đấu. Ngày mai, quân đoàn cơ giới 22 cùng với sư đoàn bộ binh 135, được lữ đoàn pháo chống tăng 1 yểm hộ, sẽ đột kích vào tập đoàn xe tăng ở phía Bắc của địch trên hướng Vla-đi-mia - Vô-lưn-xki để hội quân với sư đoàn bộ binh 87, đồng thời, quân đoàn cơ giới 15 từ phía Đông – Nam sẽ đánh vào tập đoàn xe tăng ở phía Nam của địch và sẽ hội quân với sư đoàn bộ binh 124. Đó sẽ là thê đội một của ta. Ít lâu sau, khi các quân đoàn cơ giới 4 và 8, rồi 9 và 19 đến thì lực lượng đột kích sẽ tăng gấp ba.

– Tóm lại, - đồng chí kết luận, - không có lối thoát nào khác. Chúng ta không thể rút lui để chờ tập trung được tất cả các quân đoàn cơ giới.

Puốc-ca-ép bực bội im lặng. Lý lẽ của Kiếc-pô-nô-xơ đầy sức thuyết phục. Thụ động chờ tập trung đầy đủ các quân đoàn cơ giới thì có cơ gây ra tai họa lớn. Nếu như những đơn vị phòng thủ biên giới với quân số ít ỏi mà dao động và toàn bộ sườn phía Bắc phương diên quân chúng tôi vội vã rút lui về phía Đông thì sẽ ra sao.

Va-su-ghin không do dự ủng hộ quyết tâm của tư lệnh: không đợi tập trung toàn bộ các quân đoàn cơ giới, sáng mai, 24 tháng Sáu, sẽ tổ chức phản đột kích vào các sư đoàn xe tăng và cơ giới đang đột phá của địch bằng những lực lượng đã tới khu vực chiến đấu mà thôi.

Tướng Kiếc-pô-nô-xơ trình bày nhiệm vụ chiến đấu của các đơn vị: tập đoàn quân 5 sẽ tổ chức phản đột kích trên hướng chung Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki, đánh tan những đơn vị địch đã thọc vào hướng Lút-xcơ, rồi hội quân với các trung đoàn đang bị bao vây của sư đoàn bộ binh 87. Quân đoàn cơ giới 15 sẽ để lại Brô-đư, còn lực lượng chủ yếu sẽ tiến công trên hướng từ Bê-rê-xtét-cô nhằm đánh tan các đơn vị xe tăng và cơ giới địch từ vùng Xô-can thọc tới, sau đó sẽ hội quân với các binh đội đang bị bao vây của sư đoàn bộ binh 124. Tư lệnh tập đoàn quân 6 phải giữ vững tuyến đang chiếm lĩnh và rút ngay quân đoàn cơ giới 4 ra khỏi trận đánh và điều nó về Rát-dê-khúp chi viện cho quân đoàn cơ giới 15. Tư lệnh yêu cầu quân đoàn cơ giới 8 đến sáng 24 tháng Sáu phải có mặt ở vùng Brô-đư và sẵn sàng đột kích vào Bê-rê-xtét-cô để chi viện cho quân đoàn cơ giới 15. Nhiệm vụ của các tập đoàn quân khác vẫn như cũ: phòng ngự vững chắc, giữ vững những tuyến đang chiếm lĩnh.

Tướng Puốc-ca-ép giao cho tôi phải chuẩn bị ngay chỉ lệnh chiến đấu cho các đơn vị. Chuẩn bị xong, tôi đến chỗ tư lệnh, vì tham mưu trưởng đang ở trong phòng làm việc của đồng chí. Tại đây, còn có Gh. C. Giu-cốp và N. X. Khơ-rút-xốp mới từ các đơn vị trở về. Tổng tham mưu trưởng đang chau mày. Đồng chí im lặng gật đầu đáp lại lời chào của tôi. Qua câu chuyện, tôi hiểu rằng Giu-cốp cho hành động của bộ tư lệnh phương diện quân chưa thật cương quyết và chưa có mục tiêu rõ rệt. Theo ý kiến đồng chí, chúng tôi đã chú ý quá nhiều đến việc giải quyết những nhiệm vụ thứ yếu và quá chậm chạp trong việc tập trung các quân đoàn. Lẽ ra phải xác định được mối nguy cơ chính và tập trung nỗ lực chủ yếu để đối phó với nó. Nguy cơ chính là những tập đoàn xe tăng và cơ giới của địch đã thọc sâu vào tuyến phòng ngự của ta. Do đó, phải điều những lực lượng chủ yếu của phương diện quân, được toàn bộ không quân yểm hộ, tới những hướng đó. Chỉ có như vậy mới giành được bước ngoặt trong tiến trình hội chiến ở biên giới. Giu-cốp cho rằng Kiếc-pô-nô-xơ đã phạm sai lầm khi cho phép tư lệnh tập đoàn quân 6 rút quân đoàn cơ giới 4 ở sườn phải tập đoàn quân, nơi địch đột kích chủ yếu, sang bên sườn trái và đưa nó vào chiến đấu trên hướng thứ yếu đó.

Cuộc phản đột kích của chúng tôi bắt đầu ngày 24 tháng Sáu. Tiếc rằng nó phát triển hoàn toàn khác so với kế hoạch của chúng tôi. Những binh đội của lữ đoàn pháo chống tăng 1 và sư đoàn 135 thuộc quân đoàn bộ binh 27 đến chi viện chật vật lắm mới kìm được cuộc tiến công ồ ạt của địch ở cửa ngõ phía xa vào Lút-xcơ. Địch không bẻ gẫy được sự kháng cự anh dũng của các binh đoàn này, mặc dù chúng đã ném thêm một sư đoàn xe tăng vào trận. Các chiến sĩ pháo binh chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Địch phải trả giá đắt mới diệt được từng khẩu pháo. Chẳng hạn, khi bọn phát-xít diệt được khẩu đội của trung úy N. A. Mô-xca-li-ốp thì khẩu đội đã hạ được 12 xe tăng địch. Khẩu đội của hạ sĩ P. I. Tu-ghin, đoàn viên thanh niên cộng sản, đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Các chiến sĩ đã ngã xuống hết. Cuối cùng, chỉ còn một mình khẩu đội trưởng. Đồng chí đã dùng viên đạn cuối cùng bắn thẳng vào chiếc xe tăng phát-xít thứ năm. Không còn đạn để hạ nốt chiếc xe tăng thứ sáu, và nó đã chồn lên nghiền nát khẩu pháo cùng khẩu đội trưởng dũng cảm. Các pháo thủ ngắm bắn G. I. Ma-li-u-ta và I. I. Gai-đa-en-cô cũng đã hy sinh như vậy. Ma-li-u-ta đã diệt bốn xe tăng địch, còn Gai-đa-en-cô – bảy chiếc. Bảy chiếc xe tăng bốc cháy trước khẩu đội của người đảng viên cộng sản trẻ tuổi, hạ sĩ V. P. La-da-rép. Sáu xe tăng địch bốc cháy bởi đường đạn chính xác của người đảng viên I. V. Va-xi-li-ép. Khi những chiếc còn lại tháo chạy thì một tên Hít-le nhảy từ chiếc xe tăng bốc cháy ra. Hắn đứng một lát, lảo đảo như say, rồi bước về phía trận địa ta. Tướng Mô-xca-len-cô hạ lệnh giải tên tù binh này đến. Đó là một tên thiếu tá, tiểu đoàn trưởng xe tăng. Im lặng hồi lâu, hắn kể không người người Nga đã đánh trả quyết liệt như vậy.

– Thế mà các anh hãy còn mơ tưởng đến chiến thắng à? – vị tướng cười mỉa mai. – Không, vị quốc trưởng của các anh không thể thấy được chiến thắng. Chính bản thân anh mới rõ điều đó.

Địch không ngừng công kích. Pháo binh ta chịu nhiều tổn thất. Nguy cơ xe tăng địch thọc tới Lút-xcơ ngày một rõ. Trong lúc nguy kịch đó, trưa 24 tháng Sáu, những binh đội còn lại chưa bị thu hút vào chiến đấu của sư đoàn bộ binh 135 và các sư đoàn cơ giới 215 và xe tăng 19 thuộc quân đoàn cơ giới 22 mới tới đây đã chuyển sang phản kích.

Sư đoàn xe tăng 19 chỉ có những chiếc xe tăng hạng nhẹ đã già nua. Chúng tôi đặt hy vọng chính vào sư đoàn khác cũng thuộc quân đoàn này – sư đoàn 41 có tới 31 xe tăng CV. Nhưng nó chưa đến kịp. Ba sư đoàn chọi với năm sư đoàn phát-xít. Khí thế chiến đâu của các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy xô-viết cao đến mức họ đã đẩy lui được địch. Bộ chỉ huy phát-xít đưa một lực lượng không quân đáng kể vào tham chiến. Máy bay bổ nhào ném bom Đức tập kích vào bộ đội ta, gây thêm thiệt hại nặng. Các đơn vị xô-viết ngừng tiến quân, nhưng bọn phát-xít vẫn không sao chọc thủng được tuyến ngăn chặn mạnh mẽ này. Bộ chỉ huy Hít-le bèn tung một phần lực lượng xe tăng vào đánh vu hồi. Phía ta không có chính diện liên tục mà các binh đoàn phát-xít lại có tính cơ động cao hơn, nên chúng đã thu được kết quả. Các sự đoàn tham gia phản kích thuộc tập đoàn quân 5 lâm vào tính thế hiểm nghèo: địch bắt đầu tràn đến những đường giao thông của họ.

Còn ở phía Nam, trên hướng Xô-can – Đúp-nô, các lực lượng của quân đoàn cơ giới 15 đang với dần trong các trận tao ngộ khốc liệt với tậ đoàn xe tăng phía Nam của tướng Clai-xtơ. Vậy, có thể nghĩ tới cuộc phản đột kích nào nữa? Chỉ một bộ phận của các sư đoàn xe tăng trong quân đoàn cơ giới của ta là có thể tổ chức đợt công kích, còn những lực lượng khác đã phải chiến đấu rất căng thẳng suốt ngày, đánh trả các đòn đột kích của các sư đoàn xe tăng 11 và 16 của địch được ác binh đoàn bộ binh thuộc tập đoàn quân dã chiến 6 và những trận tập kích ồ ạt của không quân yểm hộ.

Nhiệm vụ đặt ra cho các binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 15 thật quá sức của họ. Khi nớ lại những ốc gắng ngăn chặn dòng thác xe tăng và cơ giới địch của quân đoàn này, tôi bỗng liên tưởng đến bức tranh quen thuộc thời thơ ấu.

Sau trận mưa rào, bọn trẻ chúng tôi rất thích chơi trò đắp những chiếc đập chắn dòng nước cuộn chảy trên rãnh. Mới đầu thì cũng được. Dòng nước bị những nắm đất chặn lại, nhưng rồi nước tụ lại, tràn đập, chảy vòng qua và chẳng mấy chốc, dòng nước mạnh đã cuốn phăng chiếc đập.

Ngày hôm ấy, những binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 15 cũng giống như số phận chiếc đạp đó trên đường tiến quân của địch. Quân đoàn vẫn ráng ức kìm địch, nhưng sẽ còn được bao lâu.

Ý nghĩ đó cứ day dứt chúng tôi để phải làm rầy tư lệnh tập đoàn quân 6 mãi: vậy đến khi nào thì những binh đội của các quân đoàn cơ giới 8 và 4 mới đến nơi?

Mặc dầu cuộc phản đột kích của bộ đội cánh phải của phương diện quân không thể triển khai một cách đầy đủ, nhưng các binh đoàn đã gây cho các đơn vị thọc sâu của địch những tổn thất nặng trong những trận đánh tao ngộ. Do đó, cuộc tiến công của tập đoàn xe tăng phái Bắc của phát-xít Đức đến cuối ngày đã bị chặn đứng, và nhịp độ tiến quân của chúng ở phía Nam cũng chậm hẳn lại.

Trận hội chiến xe tăng lớn nhất trong thời kỳ đầu chiến tranh đã diễn ra như thế vào cuối tháng Sáu ở vùng tam giác Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki, Rát-dê-khúp, Đúp-nô, và buộc địch phải dẫm chân tại chỗ suốt một tuần trên hướng chiến lược Tây – Nam. Cả hai bên đã đưa dần vào trận hội chiến hơn một nghìn năm trăm xe tăng.

Ngày nay, các sử gia Tây Đức khi nói về những ngày đầu thường tán dương quá mức tài nghệ chiến đấu của các đơn vị phát-xít cùng nghệ thuật của bộ chỉ huy Đức và gán cho họ đã chiến thắng một lực lượng xe tăng Nga dừng như có ưu thế hơn. Đó là những lập luận nhằm vào những người thiển cận. Bạn đọc đã có thể thấy rằng ngay từ những ngày đầu chiến tranh, các đơn vị của ta đã bị lâm vào những điều kiện không thuận lợi ra sao và bọn xâm lược Đức có những ưu thế lớn như thế nào. Các đơn vị phát-xít không chỉ ở trong thế có lợi hơn, mà chúng còn có ưu thế lớn về quân số trên hướng đột kích chủ yếu, đặc biệt là xe tăng.

Chúng ta chỉ có 133 chiếc xe tăng T-34 và CV để chống lại với 600 – 700 xe tăng hiện đại thuộc bốn sư đoàn của tướng Clai-xtơ. Toàn bộ số xe còn lại của quân đoàn cơ giới 22 và 15, như đã nói ở trên, đều đã cũ và hỏng, loại nhẹ kiểu T-26 và BT dùng để huấn luyện – chiến đấu, phần lớn do trục trặc kỹ thuật đã bị nằm lại trên đường ra biên giới và thực ra không tham gia chiến đấu được.

Khó mà hiểu rõ tình hình phức tạp và đầy lo âu đó. Tôi còn nhớ tối ngày 24 tháng Sáu, đại tướng Giu-cốp đã hỏi nhiều chi tiết khá lâu về tình hình bằng đường dây trực tiếp với tư lệnh tập đoàn quân 5. Trả lời câu hỏi của đại tướng là tư lệnh tập đoàn quân đánh giá tin trong dải của mình như thế nào, tướng Pô-ta-pốp báo cáo rằng: ở chính diện Vlô-đa-va, U-xti-lúc có tới năm sư đoàn bộ binh địch với hai nghìn xe tăng và gần hai nghìn lính mô-tô có trang bị tiểu liên, đang tiến công. Tập đoàn xe tăng chính của địch đánh vào chính diện Đu-bin-ca, Gô-rốt-lô; tập đoàn trợ lực đến Cô-can có tới năm sáu sư đoàn bộ binh và một sư đoàn xe tăng của Hít-le đang tiến công.

Sau này mới rõ là điều khẳng định đó về cơ bản không chính xác: số xe tăng địch đang hoạt động ở khu vực Vlô-đa-va – U-xti-lúc được phóng đại quá, còn ở chính điện U-xti-lúc, Xô-can lại báo cáo ít đi rất nhiều; thực tế, ở đây không phải là một, mà là bốn sư đoàn xe tăng và hai sư đoàn bộ binh cơ giới địch đã tham gia tiến công.

Theo ý kiến tư lệnh tập đoàn quân, đòn đột kích chủ yếu của địch đánh từ Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki đến Lút-xcơ, còn đòn thứ yếu đánh từ Brét – Li-tốp-xcơ đến Cô-ven. Mục đích của chúng nhằm bao vây cánh quân chủ yếu của tập đoàn quân 5.

Giả định này của tư lệnh tập đoàn quân không phù hợp với thực tế. Nhưng đó không phải là lỗi của đồng chí. Ngay từ ngày 23 tháng Sáu, trong báo cáo tổng hợp trinh sát của bộ tham mưu phương diện quân đã nói tới các đoàn xe tăng địch đang di chuyển từ Brét – Li-tốp-xcơ xuống Đông – Nam. Dựa vào báo cáo đó, tướng Pô-ta-pốp rút ra kết luận rằng các đoàn xe tăng địch cơ động từ Brét – Li-tốp-xcơ tiến vào sau lưng tập đoàn quân của đồng chí từ phía Bắc. Cả Hội đồng quân sự phương diện quân cũng ngả theo kết luận đó. Nắm được những tin tức trinh sát như vậy, Tổng tham mưu trưởng yêu cầu Pô-ta-pốp chuyển sườn phải của tập đoàn quân vào hướng Brét – Li-tốp-xcơ để khép chặt lối vào Cô-ven. Thực ra, mối đe dọa đó chỉ là tưởng tượng. Sai lầm đã phải trả giá: dốc hết sức chú ý vào cánh quân địch dường như đang cơ động từ Brét – Li-tốp-xcơ đến Cô-ven, nên tư lệnh tập đoàn quân không thể kịp thời phân tích tình hình bên sườn trái và chỗ tiếp giáp với tập đoàn quân của Mu-dơ-tsen-cô. Trong khi ấy, đòn đột kích chủ yếu của địch lại nhắm đúng vào nơi đó.

Nói chung thì cuộc nói chuyện của Tổng tham mưu trưởng với tư lệnh tập đoàn quân rất thiết thực và cụ thể. Gh. C. Giu-cốp đã khích lệ được Pô-ta-pốp và đóng góp những ý kiến rất quý báu. Thí dụ, khi tư lệnh tập đoàn quân phàn nàn là xe tăng CV (chỗ đồng chí có gần 30 chiếc) đã hết đạn xuyên thép, thì Gh. C. Giu-cốp gợi ý rằng pháo của loại tăng này có thể sử dụng đạn xuyên bê-tông kiểu năm 1930 mà pháo binh dã chiến ta vẫn dùng. Cần cung cấp cho các chiến sĩ xe tăng lại đạn xuyên bê-tông này, và xe tăng CV có thể chiến đấu có hiệu quả với xe tăng hạng nặng của bọn Đức.

Ngày chiến tranh thứ ba sắp qua. Hội đồng quân sự phương diện quân đang cân nhắc xem ngày mai cần làm gì: sẽ tiếp tục phản đột kích bằng lực lượng quân đoàn cơ giới 15 của tướng Các-pê-dô hay chuyển sang phòng ngự cho đến khi tập trung được toàn bộ quân đoàn cơ giới 8 va sư đoàn xe tăng 8 của quân đoàn cơ giới 4.

Lữ đoàn trưởng Pê-tu-khốp vừa từ các đơn vị về báo cáo tình hình nguy ngập của quân đoàn Các-pê-dô. Quân đoàn cần được chi viện ngay, nếu không sẽ bị các đoàn xe tăng địch chà xát. Chỉ có thể chi viện bằng cách tỏ chức ngay những đòn đột kích mới. Do đó, chúng tôi quyết định tiếp tục phản đột kích. Cùng với quân đoàn của Các-pê-dô, tất cả binh đoàn thuộc các quân đoàn cơ giới 4 và 8 khi đó đã đến kịp đều tham gia phản đột kích. Mệnh lệnh chiến đấu yêu cầu các đơn vị này ngay trong đêm phải chiếm lĩnh vị trí xuất phát và đến 7 giờ sáng chuyển sang công kích để đến cuối ngày sẽ đánh tan những đơn vị xe tăng và bộ binh địch, rồi tiến vào vùng Vôi-ni-txa, Mi-li-a-tưn, Xô-can và hội quân với những binh đội đang bị bao vây thuộc các sư đoàn bộ binh 87 và 124. Hội đồng quân sự phương diện quân dùng ba sư đoàn không quân – toàn bộ lực lượng không quân ở dây của chúng tôi – để yểm hộ cho các quân đoàn công kích. Một lực lượng không quân đáng kể được dùng để đánh phá cụm cơ giới Đức ở Brét mà trinh sát không quân của ta vẫn tiếp tục báo cáo về nó. Quân đoàn cơ giới 22, thực ra là lực lượng đột kích chủ yếu, trước kia đã kìm chân địch không cho chúng lao về Lút-xcơ, nay được điều từ hướng Lút-xcơ về gần Cô-ven để đón đầu cụm quân địch.

Các tập đoàn quân 6 và 26 vẫn tiếp diễn những trận chiến đấu ác liệt trong dải của họ, có nhiệm vụ tổ chức phản đột kích để kìm chân địch và tiêu diệt những đơn vị phát-xít riêng lẻ đã thọc sâu vào nội địa của ta.

Riêng có dải hoạt động của tập đoàn quân 12, đóng ở sườn trái, là vẫn còn yên tĩnh như trước. Địch vẫn chờ đợi trên chính diện của tập đoàn quân 9 thuộc quân khu Ô-đét-xa. Sau này, chúng tôi được biết địch chờ đến khi cánh quân xung kích chủ yếu của chúng đang tiến công ở chỗ tiếp giáp giữa tập đoàn quân 5 và 6 bắt đầu tiến sâu vào hậu phương của chúng ta. Chắc là Đại bản doanh đã phán đoán được ý định đó của địch. Chính vì thế mà, hôm đó, Mát-xcơ-va đã mạnh dạn lấy ở tập đoàn quân 12 của chúng tôi quân đoàn bộ binh 17 và quân đoàn cơ giới 16 để xây dựng tập đoàn quân 18. Tập đoàn quân này sẽ nằm trong thành phần của Phương diện quân Nam đang được thành lập ở biên giới giáp Ru-ma-ni.

Mệnh lệnh đã gửi xuống các đơn vị. Chúng tôi lại qua một đêm thức trắng để theo dõi các binh đoàn cơ giới chuyển quân và tập trung.

Nhưng cơ động lực lượng dưới làn bom đạn liên tục của không quân địch thật không đơn giản chút nào. Trời đã sáng, rồi giữa ban ngày mà bộ đội vẫn hành quân. Tinh thần kiên định của các binh đội thuộc quân đoàn 15 của Các-pê-dô thật đáng khâm phục. Địch gia tăng sức ép ở đây hàng giờ, nhưng chiến sĩ ta vẫn đứng vững, hơn nữa, ở một số nơi, còn mưu trí công kích chúng. Cả ở phía Bắc, theo báo cáo của ác đơn vị gửi về, cũng chưa có gì thay đổi lớn. Tướng Pô-ta-pốp thông báo các sư đoàn bộ binh 45 và 62 thuộc quân đoàn của đại tá Phê-đi-u-nin-xki lại đã đánh trả thắng lợi mọi đợt công kích của đơn vị phát-xít trên hướng Cô-ven. Sư đoàn bộ binh 135 của tướng Ph. N. Xmê-khô-tvô-rốp và các binh đội thuộc lữ đoàn pháo chống tăng 1 của tướng Mô-xca-len-cô cũng kìm chân được tập đoàn xe tăng địch ở phía Tây Toóc-tsin, tại những cửa ngõ xa dẫn tới Lút-xcơ. Do đó, tư lệnh tập đoàn quân không hề do dự rút những lực lượng chủ yếu của quân đoàn cơ giới 22 ở nơi đây và điều về hướng Brét. Đúng như dự tính, bọn phát-xít đã lợi dụng tình hình đó và ném một sư đoàn xe tăng còn dồi dào sinh lực vào địa đoạn trống trải ấy trên chính diện của các đơn vị ta. Các binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 135 và lữ đoàn pháo chống tăng 1 có nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt. Các tướng Xmê-khô-tvô-rốp và Mô-xca-len-cô phải chiến đấu quyết liệt mới đưa được các binh đoàn của mình sang bờ phía dông sông Xtưa, trong khi các đơn vị Đức đã thọc tới con sông này rồi.

Rất may là những lực lượng chủ yếu của sư đoàn cơ giới 131 và những chi đội phái đi trước của những sư đoàn xe tăng thuộc quân đoàn cơ giới 9 của tướng C. Co Rô-cô-xốp-xki cũng đến kịp vào lúc đó. Sau này, khi đọc bản báo cáo này, chúng tôi không tin vào mắt mình nữa. Làm sao Rô-cô-xốp-xki có thể thực hiện nổi điều đó? Vì cái gọi là sư đoàn cơ giới của đồng chí lại phải hành quân… bộ. Té ra là ngay trong ngày đầu chiến tranh, người quân đoàn trưởng đầy kiên quyết và chủ động này đã dám chịu trách nhiệm, lấy toàn bộ số xe dự trữ của quân khu ở Sê-pê-tốp-ca – khoảng gần hai trăm chiếc, - để chở bộ binh và cho sư đoàn này hành quân hỗn hợp đi trước quân đoàn. Việc các binh đội của quân đoàn đến vùng Lút-xcơ đã cứu vãn được tình thế. Các binh đội đã chặn đứng các xe tăng địch thọc sâu, và do đó, đã chi viện đắc lực cho các binh đoàn đang rút lui trong tình thế hiểm nghèo.

Các đơn vị rút lui có tổ chức cũng là nhờ tướng Mô-xca-len-cô biết hành động kiên quyết. Mô-xca-len-cô cùng cơ quan tham mưu khi ra sông Xtưa, thấy chiếc cầu rải nhựa qua sông đã bị phá sập; đồng chí bèn nhanh chóng chuẩn bị một chiếc cầu đường sắt ở gần Lút-xcơ cho xe và pháo đi được, tổ chức cho các đơn vị rút lui qua cầu này và bố trí những đội cảnh giới mạnh có trang bị pháo chống tăng ngăn cản không cho địch tiếp cận bờ.

Ngày hôm ấy, tình hình trên hướng Lút-xcơ xấu hẳn đi. Nhưng cả tư lệnh tập đoàn quân lẫn bộ tham mưu phương diện quân cũng đều chưa biết điều đó. Những trục trặc trong công tác thông tin liên lạc và chỉ huy bộ đội tiếp tục ám ảnh chúng tôi.

Bộ tư lệnh phương diện quân vẫn lo lắng nhiều nhất đến những sự kiện ở vùng Rát-dê-khúp và Bê-rê-xtét-cô. Chưa nắm được tình huống, chủ nhiệm trinh sát phương diện quân báo cáo với tướng Kiếc-pô-nô-xơ rằng cánh quân địch ở Rát-dê-khúp đã tăng lên tới ba – bốn sư đoàn xe tăng và cơ giới. được các binh đoàn bộ binh của tập đoàn quân dã chiến 6 hiểm hộ, chúng đã đột phá vào khu vực Đúp-nô, Brô-đư và đe dọa tiến tới đường giao thông của các lực lượng chủ yếu của phương diện quân. Rất tiếc là trinh sát của ta không biết rằng địch còn có một cánh quân mạnh không kém đang tiến về Lút-xcơ.

Lo ngại trước báo cáo có một tập đoàn mạnh xe tăng địch đã thọc tới vùng Đúp-nô, Brô-đư, tư lệnh phương diện quân ra lệnh cho các đơn vị cánh phải tập trung mọi nỗ lực chủ yếu để đối phó. Vì vậy, các binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 9 và 19 lúc ấy đã bắt đầu tập trung, cũng được phái đến Đúp-nô. Tư lệnh phương diện quân giao cho tướng Pô-ta-pốp tổ chức phản đột kích bằng những quân đoàn đó. Toàn bộ lực lượng phải bắt đầu công kích vào lúc 9 giờ sáng ngày 26 tháng Sáu.

Như vậy là bộ tư lệnh phương diện quân đã hạ quyết tâm dùng những lực lượng chủ yếu đánh vào cánh quân địch ở Rát-dê-khúp. Điều đo thật hấp dẫn: đột kích mãnh liệt để thanh toán địch ở phía Nam, sau đó sẽ đánh tan địch ở ngay cửa ngõ tới Lút-xcơ.

Nhưng liệu có thực hiện được ý định đó không?

Đại tướng Giu-cốp từ tập đoàn quân 5 trờ về. Biết Kiếc-pô-nô-xơ có ý định bố trí các quân đoàn bộ binh 36, 37 vừa ở bên trong tiến ra phòng ngự ở tuyến Đúp-nô, Crê-mê-nét, Nô-vưi Pô-tsa-i-úp, Gô-tô-guốc-txư, đồng chí cương quyết phản đối cách sử dụng thê đội hai của phương diện quân như vậy.

– Nếu đã đột kích thì phải dùng toàn bộ lực lượng!

Trước khi bay về Mát-xcơ-vào ngày 26 tháng Sáu, Giu-cốp lại yêu cầu Kiếc-pô-nô-xơ một lần nữa phải tập trung toàn bộ lực lượng có thể để kiên quyết phản đột kích.

Trong lúc liên lạc trước hết của cơ quan tham mưu các quân đoàn cơ giới sẽ phải tham gia phản đột kích từ sáng ngày 26 tháng Sáu, chúng tôi khẩn khoản yêu cầu: nhanh nữa lên, cơ động càng nhanh càng tốt. chúng tôi luôn nghĩ tới số phận những sư đoàn đang bị bao vây và hiểu rõ các sư đoàn ấy đã phải chiến đấu khó khăn như thế nào trong điều kiện bị bao vây, hơn nữa đạn dược lại có hạn. Anh em đang cầm cự ra sao? Mọi cố gắng để tiếp tế đạn dược cho họ đều không thực hiện nổi: các đường chuyên chở đều bị địch chặn ngang.

Suốt đêm, chúng tôi ngồi bên máy điện thoại và điện báo. Khoảng bốn giờ sáng thì nhận được báo cáo đầu tiên của tướng Ri-a-bư-sép. Quân đoàn trưởng báo tin sư đoàn xe tăng 34 của đồng chí đang tiếp cận Rát-di-vi-lốp, sư đoàn xe tăng 12 tới Brô-đư, sư đoàn cơ giới 7 vẫn còn ở Bu-xcơ, trên bờ sông Tây Búc. Đúng giờ đã định, các sư đoàn xe tăng sẽ bắt đầu thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, không chờ sư đoàn cơ giới 7. Ri-a-bư-sép đề nghị cho không quân chi viện quân đoàn và yểm hộ sườn phải của đồng chí.

Hầu như cùng lúc ấy, tướng Các-pê-dô đề nghị hoãn thời điểm bắt đầu tiến công để chờ sư đoàn xe tăng 8. Đồng chí cho biết các binh đội thuộc quân đoàn đồng chí bị tổn thất nặng qua ba ngày chiến đấu căng thẳng, và nếu tiến công sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Quân đoàn trưởng hỏi bao giờ sư đoàn xe tăng 8 sẽ đến, đồng chí đặt rất nhiều hy vọng vào sư đoàn này. Nhưng đồng chí đành phải thất vọng. Sư đoàn xe tăng 8, theo hướng Mu-dư-tsen-cô thông báo cho chúng tôi biết, chỉ mới bắt đầu cơ động rời khỏi vùng phía Tây Lơ-vốp. Sớm nhất cũng phải mất một ngày một đêm nữa mới tới.

Nắm được tất cả những điều đó, Kiếc-pô-nô-xơ không muốn thay đổi quyết tâm đã hạ lệnh điện cho Các-pê-dô: “Hãy chấp hành mệnh lệnh”.

Sáng sớm cùng ngày hôm đó, tướng Pô-ta-pốp, tư lệnh tập đoàn quân 5, báo tin rằng không phải tất cả các sư đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 9 và 19 sau những chặng đường hành quân vất vả đều kịp tập trung và chuẩn bị tiến công vào Đúp-nô theo thời gian đã định. Theo tính toán của đồng chí, những quân đoàn này phải đến trưa mới có thể chuyển sang tiến công được.

Tư lệnh phương diện quân vốn biết rõ tình hình ngày thêm phức tạp, buộc phải yêu cầu Pô-ta-pốp áp dụng mọi biện pháp để kịp thời đưa các quân đoàn cơ giới vào tiến công. Có thể dễ hiểu về tư lệnh: nếu không làm như vậy thì một lần nữa chỉ có một bộ phận lực lượng sẽ phản đột kích vào các sư đoàn xe tăng và cơ giới của tướng Clai-xtơ đang lao nhanh về phía Đông.

Sáng sớm, quân đoàn cơ giới 8 của tướng Ri-a-bư-xép công kích địch bằng lực lượng các sư đoàn xe tăng 12 và 34 do tướng T. A. Mi-sa-nin và đại tá I. V. Va-xi-li-ép chỉ huy. Các sư đoàn này phải đương đầu với những binh đoàn còn sung sức của quân đoàn cơ giới 48 Đức, trong đó có sư đoàn xe tăng 16. Địch chiếm ưu thế về lực lượng, nhưng chúng vẫn không chịu nổi đòn đột kích của xe tăng xô-viết, phải lùi lại. Tướng Đ. I. Ri-a-bư-xép, chính ủy lữ đoàn N. C. Pô-pen, phó quân đoàn trưởng phụ trách chính trị và hai sư đoàn trưởng hôm ấy đã có mặt tại những chỗ nước sôi lửa bỏng của trận chiến đấu. Các đơn vị do các đồng chí dẫn đầu, đã đuổi địch chạy dài 10 ki-lô-mét, trên đường truy kích đã chiếm được thị trấn Lê-snê-vô và thu được nhiều đoàn xe vận tải lớn của Đức. Để đối phó với bộ đội xô-viết, bộ chỉ huy Đức đã tung ra những lực lượng không quân lớn và toàn bộ lực lượng dự bị có trong tay. Vì vậy, xe tăng ta đã đến sát Bê-rê-xtét-cô, nhưng không thể tiến xa hơn nữa.

Tiếc rằng đòn đột kích của quân đoàn cơ giới 8 bị đơn độc. Các đơn vị ở bên trái không thể yểm hộ cho họ được. Quân đoàn của tướng Các-pê-dô vất vả lắm mới đẩy lui được các đợt công kích liên tiếp của địch. Hơn nữa, máy bay địch còn phát hiện được sở chỉ huy của quân đoàn và ném bom ác liệt. Cơ quan tham mưu quân đoàn bị tổn thất nghiêm trọng. Tướng Các-pê-dô bị thương nặng. Đại tá G. I. Éc-mô-la-ép, phó quân đoàn trưởng, tiếp nhận quyền chỉ huy quân đoàn. Lúc đó, những binh đội tiêu biểu của sư đoàn xe tăng 8 đã bắt đầu tiếp cận vùng Bu-xcơ, nhưng không thể đưa vào chiến đấu được vì công tác chỉ đạo tác chiến ở sở chỉ huy quân đoàn mới chưa ổn định.

Mãi đến đêm, chúng tôi mới nắm được kết quả công kích của các quân đoàn cơ giới 9 và 19 đang tiến công từ phía Đông Bắc. Nhận được lệnh phải mau chóng đột kích vào hướng chung tới Đúp-nô, các tướng Rô-cô-xốp-xki và Phê-cơ-len-cô đã đưa cá sư đoàn xe tăng vào công kích, không đợi phải tập trung toàn bộ lực lượng của mình. Mặc dầu những binh đội tiền tiêu của các binh đoàn cơ động địch đang tiến công trên hướng Lút-xcơ và uy hiếp bên sườn cùng sau lưng các đơn vị của ta, các quân đoàn trưởng vẫn không bị sa vào những trận đánh kéo dài với chúng, mà đã dốc toàn lực vào giải quyết nhiệm vụ do tư lệnh tập đoàn quân giao. Sư đoàn xe tăng 20 của quân đoàn cơ giới 9 thọc sâu vào đội hình chiến đấu của địch, đã hoạt động đặc biệt có kết quả. Ban đêm, các trận đánh có lặng đi. Rô-cô-xốp-xki và Phê-cơ-len-cô cam đoan với Pô-ta-pốp là đến sáng, họ lại công kích và đề nghị được sự yểm hộ chống máy bay địch vì chúng gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị.

ĐÃ ĐẾN LÚC CHUYỂN SANG PHÒNG NGỰ

Trận giao chiến ác liệt chưa từng thấy diễn ra ở khu vực sát biên giới đã được năm ngày đêm. Dù có ưu thế lớn về sinh lực và những lợi thế do tiến công bất ngờ, bọn Hít-le vẫn không thể bẻ gẫy được các đơn vị xô-viết. Trên hướng đột kích chủ yếu, kẻ địch không thể biến thắng lợi chiến thuật đã thu được thành thắng lợi có ý nghĩa chiến dịch, tức là không thể chọc thủng chính diện các đơn vị xô-viết và tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Nhưng bộ chỉ huy phát-xít có được cái lợi thế quyết định là những lực lượng dự bị mạnh sẵn sàng tham chiến. Và kẻ địch đã điên cuồng ném chúng vào chiến đấu. Hít-le và bọn cận thần, như những con bạc khát nước, dốc cạn túi vào canh bạc hòng đánh thắng trên đất U-cra-i-na.

Trong những ngày căng thẳng đó, có sự thay đổi trong ban lãnh đạo quân chủng không quân chúng tôi. E. X. Pơ-tu-khin được triệu tập về Mát-xcơ-va. Trung tướng không quân Ph. A. A-xta-khốp tới thay thế. Tướng I-a. X. Scu-rin làm tham mưu trưởng các lực lượng không quân thay tướng La-xkin.

Ph. A. A-xta-khốp là một trong những tay lái máy bay xô-viết kỳ cựu nhất. Xuất thân trong một gia đình công nhân, năm 1915, đồng chí tốt nghiệp vào loại khá trường phó úy, và một năm sau lại tốt nghiệp trường hàng không Ca-tsa. Đồng chí toàn tâm toàn ý đón chào cách mạng. Trong nội chiến, đồng chí làm chủ nhiệm không quân trong tập đoàn quân 5, rồi sau đó chỉ huy các lực lượng không quân ở Xi-bia, đã đánh nhiều trận xuất sắc chống bọn bạch về. Năm 1934, đồng chí làm chủ nhiệm không quân của tập đoàn quân Cáp-ca-dơ độc lập. Hồi làm trung đoàn trưởng kỵ binh của tập đoàn quân này, ngay lúc đó, tôi đã được nghe nhiều điều tốt đẹp về phi công A-xta-khốp. Ít lâu sau, đồng chí trở thành phụ tá cho chủ nhiệm các lực lượng không quân của Hồng quân, rồi chủ nhiệm không quân của quân khu Ki-ép. Mùa xuân 1941, Pơ-tu-khin thay thế cương vị của đồng chí. Và giờ đây, trong ngày chiến tranh thứ năm này, A-xta-khốp lại về với chúng tôi. Lúc này thật khó khăn, không quân địch đang khống chế chúng ta. Và trong hoàn cảnh như vậy, người chủ nhiệm mới đã gánh vác nhiệm vụ khó khăn lãnh đạo không quân và nhanh chóng nắm được tình hình. Đồng chí biết rõ những đơn vị không quân của phương diện quân và những con người ở đây; các chiến sĩ lái kính trọng và yêu mến đồng chí. Những cố gắng của Ph. A. A-xta-khốp sớm đem lại kết quả. Cụ thể là đồng chí đã nhanh chóng cải tiến công tác trinh sát trên không. Những tài liệu trinh sát không quân thu được làm sáng tỏ nhiều tình hình.

Tối 26 tháng Sáu, tôi báo cáo tình hình tác chiến lên Hội đồng quân sự phương diện quân. Căn cứ vào những tài liệu mới của trinh sát trên không, tôi rút ra kết luận: những tin tức về đoàn xe tăng mạnh của địch đang cơ động từ hướng Brét – Li-tốp-xcơ tới Cô-ven trong những ngày gần đây khiến chúng tôi lo lắng là không phù hợp với thực tiễn. Sườn phải tập đoàn quân 5 không bị đe dọa. Nhưng lại nổi lên nguy cơ hai tập đoàn xe tăng lớn của tướng Clai-xtơ sẽ thọc sâu vào trên các hướng Lút-xcơ – Rô-vơ-nô và Rát-dê-khúp – Brô-đư. Chúng được những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân không quân 4 của Đức yểm hộ. Những binh đoàn xe tăng địch tiến quân có hiệp đồng chặt chẽ với các sư đoàn bộ binh thuộc tập đoàn quân dã chiến 6.

Bộ đội ta với sức chịu đựng lớn vẫn kìm được địch ở những vùng cửa ngõ tới Cô-ven, Lút-xcơ, Đúp-nô và Brô-đư, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng. Nhưng chúng ta không đủ sức chống chọi lâu. Các binh đoàn cơ giới bước vào chiến đấu ngay khi mới đến, thường chưa được tổ chức thích đáng cho phản đột kích. Những đợt công kích táo bạo, nhưng rời rạc này tạo điều kiện cho chúng ta kìm được chân địch, thậm chí có thể đánh lui chúng ở từng nơi, trong khi ở những hướng khác, chúng vẫn tiếp tục tiến quân.

Lúc này, các quân đoàn bộ binh thuộc thê đội hai được điều động từ trong ra bắt đầu đến khu vực giao chiến. Do đó, có điều kiện hạ quyết tâm tác chiến đáp ứng được tình hình đã biến đổi, nhằm đánh tan tập đoàn quân phát-xít chủ yếu đang tiếp tục tiến công trong dải hoạt động của tập đoàn quân 5 chúng ta.

Tham mưu trưởng phương diện quân phát biểu ý kiến. Đồng chí cho rằng cần phải cố gắng dùng lực lượng của các quân đoàn bộ binh chiếm lĩnh vững chắc tuyến phòng ngự có lợi theo điều kiện địa hình. Nếu không, các tập đoàn quân xe tăng địch có thể thọc vào phía sau các tập đoàn quân 6 và 26 của ta. Các quân đoàn bộ binh 31, 36 và 37 mới ở bên trong ra cần bố trí tuyến các sông Xtô-khốt, Xtưa và các điểm dân cư Đúp-nô, Crê-mê-nét, Dô-lô-tsép có nhiệm vụ phòng ngự kiên cường để kìm địch. Sẽ rút các quân đoàn cơ giới về sau tuyến đó và tại đây chuẩn bị cho các đơn vị tiến tới tổng phản công.

Đề nghị của tham mưu trưởng không phải là bất ngờ đối với tư lệnh phương diện quân. Bản thân Kiếc-pô-nô-xơ cũng dần dần ngả sang kết luận là không thể tránh khỏi phải tạm thời chuyển sang phòng ngự: cần tập trung các binh đoàn cơ giới, tổ chức những cánh quân xung kích mạnh lấy ở các đơn vị đang trải dài ra trên một khoảng cách rất rộng. Khi các quân đoàn bộ binh đến thì khả năng đó trở thành hoàn toàn hiện thực.

Tư lệnh phương diện quân hạ quyết tâm dứt khoát: các quân đoàn bộ binh tạm thời phòng ngự theo tuyến sông Xtô-khốt, Xtưa và các điểm dân cư Crê-mê-nét, Dô-lô-tsép, rút những quân đoàn cơ giới về sau tuyến đó; trong vòng ba bốn ngày chuẩn bị cuộc phản đột kích mãnh liệt nhằm diệt tan những đơn vị địch đã thọc vào các hướng Lút-xcơ và Đúp-nô.

Không còn thời gian thảo mệnh lệnh chiến đấu chung, và Kiếc-pô-nô-xơ phái các đại diện có trách nhiệm xuống các đơn vị.

Cũng trong ngày hôm ấy, có lệnh chỉnh đốn trang bị ở những khu vực cố thủ cũ: Ki ép, Sê-pê-tốp-ca, I-di-a-xláp, Xta-rô-côn-xtan-ti-nốp, Ô-xtơ-rô-pôn và thành lập thêm những tiểu đoàn súng máy độc lập cho các khu vực này.

Biết rõ các chỉ lệnh đã gửi xuống các đơn vị và quyết tâm mới của hội đồng quân sự phương diện quân cũng đã báo cáo về Mát-xcơ-va, tôi ngả lưng lên chiếc giường dùng khi hành quân, rồi thiếp đi, như bị ngất. Tôi thức giấc vì có người lay mạnh vào vai:

– Đồng chí đại tá! Đồng chí đại tá! – tiếng đồng chí trực ban tác chiến. – Mát-xcơ-va gọi!

Tôi chạy tới phòng đàm thoại. Trông thấy tôi, cô điện báo viên gọi về Mát-xcơ-va: “Đại tá Ba-gra-mi-an bên máy”. Tôi cầm băng và đọc: “Tướng Ma-lan-đi bên máy. Chào đồng chí. Đồng chí báo ngay với tư lệnh là Đại bản doanh cấm rút lui và yêu cầu tiếp tục phản đột kích. Không cho bọn xâm lược yên ổn lấy một ngày. Hết”.

Tôi vội tới gặp Kiếc-pô-nô-xơ. Nghe tôi báo cáo xong, đồng chí chửi đổng và yêu cầu liên lạc với Bộ Tổng tham mưu. Tôi gọi điện cho trực ban thông tin liên lạc. Thong thả mặc xong quân phục, tư lệnh tới phòng đàm thoại, bảo tôi báo cáo sự việc này với tham mưu trưởng và cùng đồng chí chuẩn bị các mệnh lệnh ngừng rút lui gửi xuống các đơn vị. Trong khi tôi và Puốc-ca-ép đang viết gấp dự thảo những mệnh lệnh mới thì Kiếc-pô-nô-xơ đã ở phòng đàm thoại trở về. Không bảo vệ được quyết tâm đã hạ, đồng chí lặng lẽ kỹ các mệnh lệnh.

Buổi sáng của ngày chiến tranh thứ sáu. Mặt trời chói chang. Bầu trời không một gợn mây.

Chúng tôi chưa kịp nhận báo cáo của các quân đoàn cơ giới 8 và 15 là đã trở về các tuyến cũ và sẵn sàng công kích thì khắp bộ tham mưu lan đi cái tin: xe tăng phát-xít đã tràn đến Đúp-nô và đang tiến mạnh về Ô-xtơ-iốc. Nỗi lo lắng bao trùm bộ tham mưu. Tư lệnh phương diện quân yêu cầu cung cấp tin tức cụ thể về tình hình đã xảy ra. Đại tá Bôn-đa-rép giọng xúc động báo cáo rạng sáng nay, sư đoàn xe tăng Đức 11 tiến mạnh và đã vượt qua vùng Đúp-nô. Chúng đã đánh bật các binh đội thuộc sư đoàn cánh phải của quân đoàn bộ binh 36 còn đang trên đường hành quân xuống phía Nam và lúc này đang tiếp về Ô-xtơ-rốc hầu như không gặp trở ngại gì.

– Phải chặn đứng và diệt tan chúng bằng bất kỳ giá nào – Kiếc-pô-nô-xơ bình tĩnh nói. – Nếu không, địch chẳng những cắt đứt cánh phải của phương diện quân ta, mà còn sẽ tiến đến tận Ki-ép. – Tư lệnh quay sang Puốc-ca-ép: - Ta có thể đưa lực lượng nào ra chặn đánh các đoàn xe tăng?

– Ở vùng Sê-pê-tốp-ca còn mấy binh đội thuộc tập đoàn quân 16 của tướng Lu-kin. Nhưng theo mệnh lệnh của Đại bản doanh, các binh đội này đang được điều động sang Phương diện quân Tây tới vùng Xmô-len-xcơ và đang gấp rút lên tàu.

– Ta sẽ yêu cầu Lu-kin điều một đơn vị chặn địch. Vì nếu địch tới Sê-pê-tốp-ca thì thế nào đồng chí ấy cũng phải ngừng việc điều quân và bước vào chiến đấu. Tốt nhất là không chờ bọn phát-xít đến. Ta liên lạc với Lu-kin được không? - Kiếc-pô-nô-xơ hỏi tôi.

Tôi trả lời rằng không có liên lạc trực tiếp với Lu-kin nhưng có thể liên lạc qua sĩ quan quân vụ ở nhà ga Sê-pê-tốp-ca hoặc qua Ki-ép. Tư lệnh ra lệnh cho các chiến sĩ thông tin liên lạc, và để chắc chắn hơn nữa, đồng chí yêu cầu phái một cán bộ tham mưu trực tiếp tới thuật lại tình hình cho Lu-kin. N. X. Khơ-rút-sốp hứa sẽ liên lạc với Đại bản doanh và cố được phép tạm thời giữ những binh đội còn lại của tập đoàn quân 16 ở lại Sê-pê-tốp-ca.

Kiếc-pô-nô-xơ lại cúi xem bản đồ.

– Hãy giao nhiệm vụ mới cho các quân đoàn cơ giới của ta, - đồng chí nói với Puốc-ca-ép, - Đưa quân đoàn 8 quay lên Đông – Bắc tiến thẳng vào Đúp-nô, còn toàn bộ lực lượng quân đoàn 15 sẽ đột kích vào Bê-rê-xtét-cô. Nếu Ri-a-bư-sép hội quân được với những quân đoàn của Rô-cô-xốp-xki và Phê-cơ-len-cô ở vùng Đúp-nô thì những đơn vị địch đã đột nhập sẽ rơi vào bẫy.

Chính ủy lữ đoàn A. I. Mi-khai-lốp và lữ đoàn trưởng N. X. Pê-tu-khốp mang mệnh lệnh về các quân đoàn cơ giới 8 và 15. Ít lâu sau, N. N. Va-su-ghin còn tới đây.

Lại những giờ chờ đợi đau lòng. Cơ quan tham mưu tập đoàn quân 5 dường như mất tăm: không có một báo cáo nào gửi về. Cơ quan tham mưu của các quân đoàn cơ giới cũng im tiếng. Chuyện gì đang xảy ra ở chỗ họ? Họ đã bắt đầu tiến công chưa? Tiến công phát triển ra sao? Tôi không thể trả lời tham mưu trưởng phương diện quân về bất kỳ câu hỏi nào trên đây. Những cán bộ có năng lực nhất của phòng tác chiến được phái xuống đơn vị. Nhưng khi nào họ mới trở về… Lúc này, chỉ tướng A-xta-khốp là có một vài tin cho chúng tôi: chiến sĩ lái của đồng chí trông thấy những trận chiến đấu ác liệt đang diễn ra ở đâu. Nhưng từ trên cao, họ phân tích rắt khó khăn: ranh giới chiến tuyến không rõ, ở một số nơi, các binh đội của ta và địch cài răng lược với nhau.

Không cần nói gì hơn nữa là trong những điều kiện như thế, việc chỉ huy các đơn vị tản mát trên một khoảng cách rất rộng khó khăn biết nhường nào. Song bộ tham mưu phương diện quân không hề bồi rối. Đặc biệt là địch cũng nhận ra điều đó. Ngày 27 tháng Sáu, Han-đe, tổng tham mưu trưởng lục quân Đức, khi tổng kết năm ngày chiến tranh đã ghi trong nhật ký:

“Đối phương đang chiến đấu với cụm tập đoàn quân “Nam” được chỉ huy chặt chẽ và kiên quyết. Đối phương luôn luôn kéo từ phía Nam lên những lực lượng mới để đối phó với mũi xe tăng thọc sâu của ta”.

Và đây là những gì tướng Gốt, nguyên tư lệnh cụm xe tăng Đức 3, viết trong hồi ký của y:

“Cụm “Nam” chật vật nhất. Các đơn vị đối phương phòng ngự ở phía trước các binh đoàn thuộc cánh Bắc, bị đánh bật ra khỏi biên giới, nhưng họ đã nhanh chóng hồi phục sau đòn đột kích bất ngờ, và phản đột kích bằng những lực lượng dự bị và các đơn vị xe tăng đóng sâu ở bên trong, họ đã chặn được các đơn vị Đức tiến quân. Cụm xe tăng 1 được phối thuộc vào tập đoàn quân 6 cho đến ngày 28 tháng Sáu vẫn không thực hiện được đột phá có ý nghĩa chiến dịch. Trở ngại lớn trên đường tiến quân của các đơn vị Đức là những đòn phản đột kích mạnh của đối phương”.

Như chúng ta thấy, ngay các tướng lĩnh phát-xít cũng buộc phải thú nhận là các đơn vị Phương diện quân Tây – Nam đã hành động quân sự tích cực nên kế hoạch của Hít-le định dùng những lực lượng chủ yếu của cụm tập đoàn quân “Nam” đột phá mãnh liệt tới Ki-ép đã bị phá vỡ ngay trong những ngày đầu chiến tranh. Địch bị thiệt hại nặng đến mức muốn tiếp tục tiến công trên hướng Ki-ép, bọn chỉ huy Đức buộc phải lấy trong lực lượng dự bị chiến lược một số lớn binh đoàn, điều thêm hàng trăm xe tăng cùng các tổ lái cho các sư đoàn xe tăng của tướng Clai-xtơ.

Bộ tham mưu phương diện quân, cá phòng tác chiến và trinh sát áp dụng mọi biện pháp để nắm được tình hình. Kiếc-pô-nô-xơ thường ghé vào trung tâm thông tin liên lạc. Puốc-ca-ép cũng không rời khỏi đây. Chỉ có N. X. Khơ-rút-sốp là vẫn ngồi nguyên trong văn phòng. Các phái viên từ Ki-ép và từ các tỉnh lỵ trong nước cộng hòa không ngớt tới đây để giải quyết những vấn đề tiếp tục động viên toàn dân đánh trả quân xâm lược.

Mãi chiều ngày 27 tháng Sáu, chúng tôi mới nắm rõ hơn một chút về tình hình ở sườn phía Nam tập đoàn quân 5. Những phái viên được cử tới các quân đoàn cơ giới 8 và 15 đã trở về. Anh em cho biết những chỉ lệnh luôn thay đổi của chúng ta làm các đơn vị bận túi bụi. Hồi đêm, sau khi nhận được mệnh lệnh rút lui, một số sư đoàn nhổ trại và được các đội cảnh giới yểm hộ, đã bắt đầu chuyển về phía đông. Sau đó, lại có lệnh phải quay lại và tiếp tục công kích ở những hướng đã quy định trước đây. Ri-a-bư-sép và Éc-mô-la-ép vừa mới giữ được các đơn vị đang rút lui thì nhận được lệnh mới, phải đổi hướng công kích. Các quân đoàn trưởng lại bắt đầu chuyển ngay các sư đoàn sang hướng mới, mà làm được việc đó quả là không dễ dàng. Khi Va-su-ghin đến sở chỉ huy gặp tướng Ri-a-bư-sép, đồng chí đang ngợp trong nhiệm vụ đó. Vốn nhiệt tình và cương quyết, Va-su-ghin đã gay gắt chỉnh quân đoàn trưởng về sự chậm trễ và yêu cầu gấp rút thành lập cụm cơ động. Cụm này gồm sư đoàn xe tăng 34 của đại tá I. V. Va-xi-li-ép và trung đoàn mô-tô của quân đoàn. Chính ủy lữ đoàn N. C. Pô-pen được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm này đã nhanh chóng điều cụm cơ động dọc theo đường nhựa Brô-đư – Đúp-nô. Khởi đầu có nhiều hứa hẹn, trung đoàn xe tăng của trung tá P. I. Vôn-cốp trong một trận đánh ác liệt nhưng ngắn gọn, đã thanh toán được tiểu đoàn bộ binh cơ giới và một đại đội xe tăng của bọn Đức ở gần làng Gra-nốp-ca rồi lao về thị trấn Véc-ba, điểm tựa cuối cùng của bọn phát-xít ở cửa ngõ đi Đúp-nô.

Chính ủy quân đoàn Va-su-ghin, sau khi biết là quân đoàn cơ giới của Ri-a-bư-sép đã tiến công, lại lên xe. Vấp phải bao nỗi khó khăn, lại có nguy cơ đụng độ với toán lĩnh Đức nào đó đã lọt vào sau lưng ta, đồng chí tới được quân đoàn cơ giới 15. Nhưng ở đây, ngay cả tính kiên trì của đồng chí cũng không đem lại kết quả. Quân đoàn bị các đợt công kích liên tục của địch kiềm chế chặt, không thể lao lên tiến công được. Va-su-ghin trở về Tác-nô-pôn lòng nặng trĩu. Chúng tôi cũng không giúp được đồng chí bớt nỗi lo âu. Tình hình ở cánh phải phương diện quân vẫn mù mịt. Chúng tôi không nắm được kết quả tiến công của các quân đoàn cơ giới của Rô-cô-xốp-ki và Phê-cơ-len-cô. Liên lạc với Ri-a-bư-sép bị đứt, và không rõ đồng chí có chiếm lại được Đúp-nô không. Tư lệnh tập đoàn quân 16 cũng không cho biết đồng chí có thành lập được lá chắn đáng tin cậy để đối phó với cụm quân địch đã lọt vào Ô-xtơ-rốc hay không.

Liên lạc không ổn định nên buộc bộ tư lệnh phải phái đi khắp nơi những đại biểu có trách nhiệm: A. I. Mi-khai-lốp, M. A. Pác-xê-gốp, C. P. Pốt-la-xơ, A. Ph. I-lin – Mi-tơ-kê-vích. Nhiều cán bộ tham mưu phương diện quân, và trước hết, dĩ nhiên, là các cán bộ ở phòng tác chiến và trinh sát, luôn luôn trên đường công tác. Phòng chúng tôi thường chỉ còn lại năm sáu người, phải gánh trên vai toàn bộ một khối lượng công tác lớn liên quan đến việc thu thập tin tức và bảo đảm chỉ huy bộ đội. Được biên chế theo thời chiến, phòng có mở rộng, nhưng chỉ được lấy những người tình cờ. Vì vậy mà thời kỳ đầu, khi những đồng chí mới đang còn làm quen với công việc thì những cán bộ có kinh nghiệm phải làm việc bằng hai. Tướng Pa-ni-u-khốp đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Đồng chí cho tôi một số cán bộ ở phòng huấn luyện chiến đấu của đồng chí. Anh em chưa có kinh nghiệm làm công tác tác chiến, nhưng nắm được tình hình các đơn vị. Những cán bộ xuất sắc hơn cả là những đồng chí đã đứng tuổi, các thiếu tá Pri-bư-xki, Xáp-tsúc, các đại úy Mai-ô-rốp, Ma-xi-úc.

Tôi rất vui mừng khi trong hoàn cảnh này, sáng sớm ngày 28 tháng Sáu, N. Đ. Da-khơ-va-ta-ép, người bạn cũ của tôi, đã đến với mình.

– Chào đồng chí đại tá! – đồng chí mở đầu trang trọng. – Tôi đến công tác, làm nhiệm vụ phó phòng của đồng chí. – Rồi, nụ cười rộng mở: - Chào I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích! Thế là chúng ta lại cùng bên nhau.

Vì bất ngờ, tôi không thốt lên lời và chỉ ôm chặt đồng chí. Trong lúc khó khăn lại có được người phụ tá tuyệt với, thế này thật là hạnh phúc.

Đường đời chúng tôi thật giống nhau. Tuổi tác gần như nhau, trong chiến tranh thế giới thứ nhất, đều là sĩ quan quân đội Nga, gần như gia nhập Hồng quân cùng một lúc. Tôi tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-dê năm 1934, còn Da-khơ-va-ta-ép thì sau một năm. Năm 1938, tôi học xong ở Học viện Bộ Tổng tham mưu và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy. Năm sau, Da-khơ-va-ta-ép cùng công tác với tôi. Năm 1940, tôi về đặc khu Ki-ép. Chưa đầy một năm sau, đồng chí cũng lại tới đó.

Da-khơ-va-ta-ép là một người dễ mến, vẻ ngoài đặc Nga. Tôi luôn luôn tin và khả năng của đồng chí, và tôi đã không lầm. Về sau, đồng chí nổi tiếng với cương vị tư lệnh tập đoàn quân xung kích 1 là đơn vị đã ghi vào lịch sử các Lực lượng vũ trang Liên Xô những trang anh hùng.

Ngày 28 tháng Sáu, phó phòng của tôi được cử tới gặp Pô-ta-pốp. Đồng chí phải tìm hiểu tình hình tại chỗ và giúp đỡ trong điều kiện có thể việc giải quyết nhiệm vụ chung của các đơn vị cánh phải phương diện quân chúng tôi.

Do vẫn chưa nắm được tình hình ở vùng Ô-xtơ-rốc, tư lệnh phương diện quân quyết định đưa các lực lượng dự bị của mình tới tuyến phòng ngự chéo đã chuẩn bị theo đường Xta-rô-côn-xtan-ti-xốp, Ba-da-li-a, Nô-vưi Vi-snê-vét, đề phòng các đơn vị phát-xít từ khu vực Ô-xtơ-rốc quay về phía Nam, đánh vào sau lưng lực lượng chủ yếu của phương diện quân. Lực lượng dự bị gồm có quân đoàn cơ giới 24, sư đoàn bộ binh 199 và ba lữ đoàn pháo chống tăng lúc đó đã được tổ chức xong.

Chỉ huy các binh đoàn dự bị được gọi gấp về bộ tham mưu. Trong có thiếu tướng V. I. Tsi-xti-a-cốp, bạn tôi, một kỵ sĩ cũ, bạn chiến đấu của anh hùng Cô-tốp-xki. Chúng tôi biết nhau từ năm 1924, hồi cùng học ở Trường cao đẳng kỵ binh. Lúc này, Tsi-xti-a-cốp đang chỉ huy quân đoàn cơ giới 24. Tới Tác-nô-pôn, đồng chí lập tức tìm tôi và hỏi về những tin mới nhất ở chiến trường. Khi nói tới nhiệm vụ của quân đoàn, Tsi-xti-a-cốp tỏ ý lo lắng về sườn phải của mình. Giúp bạn yên lòng, tôi cho đồng chí biết là bên phải quân đoàn của đồng chí – tại khu vực cố thủ Ô-xtơ-rô-pôn, sẽ có lữ đoàn đổ bộ đường không 1. Chính lữ đoàn này sẽ yểm hộ cho sườn phải của đồng chí.

– Vấn đề không chỉ như vậy, - Tsi-xti-a-cốp thở mạnh. – Quân đoàn của mình chưa được như mong muốn. Chúng tôi mới bắt tay vào thành lập. Chúng mình chưa kịp nhận xe tăng mới, ô-tô không có, trang bị lại kém… Do vậy, anh bạn ạ, nếu thấy bọn mình đánh chưa tốt thì cũng dừng phán xét khe khắt đấy. Cậu nhớ rằng bọn mình sẽ làm hết sức.

Lúc chia tay, tôi sực nhớ là ở quân đoàn của Tsi-xti-a-cốp, có đồng chí Xác-ki-xi-an, sư đoàn trưởng sư đoàn cơ giới 216, là bạn đồng ngũ với tôi hồi cùng ở trung đoàn kỵ binh Lê-ni-na-can. Tôi hỏi thăm đồng chí ấy. Tsi-xti-a-cốp say sưa nói về đại tá Xác-ki-xi-an. Một chỉ huy xuất sắc, được chiến sĩ yêu mến.

Thật phấn khởi khi được nghe những ý kiến như vậy nói về đồng chí. Những nhận xét của tôi về Xác-ki-xi-an khi đồng chí còn là đại đội trưởng kỵ binh trong trung đoàn tôi quả rất đúng. Là một kỵ sĩ gan dạ và một con người có tâm hồn, đồng chí có trí tuệ linh lợi và sắc sảo như nắm bắt mọi điều rất nhanh, sử dụng thành thạo mọi loại vũ khí và rất am hiểu về chiến thuật. Chiến sĩ say mê, sẵn sàng nghe đồng chí kể những câu chuyện sâu sắc, giàu hình ảnh, hấp dẫn hàng giờ liền.

– Anh ấy có khả năng dùng lời lẽ kích động lòng người, - Tsi-xti-a-cốp nói, - Mà lúc này điều đó lại rất cần.

Tôi rất muốn gặp lại Xác-ki-xi-an. Nhưng không còn dịp nữa. Ngời bạn can trường của tôi đã anh dũng hy sinh trong những trận chiến đấu ác liệt hồi tháng Bảy.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Tsi-xti-a-cốp và chỉ huy các binh đoàn khác được điều ra tuyến chéo đã lên đường. Sau này mới rõ là chúng tôi sớm vội tung lực lượng dự bị lớn cuối cùng của mình tới đây. Trong những ngày đó, bộ chỉ huy phát-xít không có ý định đưa cánh quân xung kích chủ yếu của chúng xuống phía Nam. Địch lao thẳng về Ki-ép. Tinh thần chủ động và nghị lực của tư lệnh tập đoàn quân M. Ph. Lu-kin đã cứu giúp chúng tôi. Một sĩ quan phòng tác chiến hồi đêm từ tập đoàn quân 16 trở về đã kể cho chúng tôi nghe điều đó.

Tướng Lu-kin thấy rõ ngay hậu quả tai hại của việc bọn Đức đột phá tới Ô-xtơ-rốc. Đồng chí lập tức báo động cho trung đoàn bộ binh cơ giới 381 của trung tá A. I. Pô-đô-pin-gô-ra lúc này đang chuẩn bị lên tàu và điều nó đi đón địch. Sau đó, tư lệnh tập đoàn quân bắt đầu điều về Ô-xtơ-rốc cả những binh đội khác của sư đoàn cơ giới 109 thuộc quân đoàn cơ giới 5 đã lên tàu. Dù sao thì vẫn chưa đủ lực lượng. Nhưng Lu-kin, một con người kiên quyết và thật nghiêm khắc, đã nắm chắc mọi lực lượng đóng quân ở gần đây. Công việc còn phức tạp ở chỗ tư lệnh tập đoàn quân không có cơ quan tham mưu giúp việc vì cơ quan đã chuyển sang Phương diện quân Tây. Nhưng điều đó cũng không làm cho Lu-kin lúng túng. Với những cán bộ chỉ huy có trong tay, đồng chí lập ra một cơ quan chỉ huy nhỏ. Phương tiện liên lạc chỉ còn lại một vài chiếc xe con và mô-tô. Nhưng không sao. Những phụ tá của tư lệnh tập đoàn quân là những người tháo vát và xông xáo của các phân đội sau những trận chiến đấu ác liệt với xe tăng địch, để tập hợp và cỗ vũ anh em. Thì ra ở đây cũng có những chiến sĩ pháo binh đã mang theo được cả súng nòng dài, có thể nói là ngay trước mũi xe tăng địch. Các khẩu đội được bổ sung bằng các chiến sĩ bộ binh, chiến sĩ thông tin liên lạc, tìm ra những khẩu đội trưởng và trung đội trưởng pháo binh còn thiếu. Thành lập được ba tiểu đoàn pháo binh. Tư lệnh tập đoàn quân đã gửi toàn bộ lực lượng thu thập được bằng cách này về gần Ô-xtơ-rốc. Như vậy là ngay trong tiến trình triển khai chiến đấu, chúng ta thấy xuất hiện một liên binh đoàn mới mà trong các bản thông báo và báo cáo gọi là cụm tác chiến của Lu-kin. Ít lâu sau, cụm có thêm sư đoàn bộ binh cơ giới 213 vừa rúi lui về đây. Toàn bộ đòn đột kích của các đơn vị xe tăng và cơ giới phát-xít đột phá trên hướng Ô-xtơ-rốc – Sê-pê-tốp-ca đã chĩa vào cụm của Lu-kin, nhưng đều bị chặn lại.

Đây chưa phải là tin vui mừng duy nhất của chúng tôi. Cuối ngày, tướng Ri-a-bư-sép báo cáo rằng những binh đội tiền tiêu của quân đoàn đồng chí đã đánh tan địch và vừa chiến đấu vừa tiến vào Đúp-nô. Nhưng đồng chí không thông báo gì về các quân đoàn cơ giới 9 và 19. Không hiểu tại sao các quân đoàn này không tới được thành phố.

Thắng lợi của quân đoàn cơ giới 8 phần nào đã gây được khí thế cho chúng tôi. N. N. Va-su-ghin tươi tỉnh. Không chờ những tin tức về tình hình các đơn vị của tập đoàn quân 5, Kiếc-pô-nô-xơ ra lệnh ngày 28 tháng Sáu lại tiếp tục cuộc tổng tiến công nhằm đánh tan tập đoàn xe tăng địch đang hoạt động ở hướng Đúp-nô – Ô-xtơ-rốc. Những binh đoàn còn dồi dào sinh lực mới từ phía trong ra được phái tới chi viện cho những đơn vị đang chiến đấu. Địch sẽ bị công kích từ ba hướng: các quân đoàn cơ giới 9 và 19 đánh từ hướng Đông – Bắc; các lực lượng của quân đoàn cơ giới 8 và 15, quân đoàn bộ binh 36 và 37 cùng quân đoàn kỵ binh 5 (sư đoàn kỵ binh 14) đánh từ hướng Tây – Nam; cụm của tướng Lu-kin đánh từ hướng Đông.

Mệnh lệnh chiến đấu ký hồi 4 giờ sáng đã được gửi xuống các đơn vị. Đã có thể vững lòng là tới đây sẽ đạt được một bước ngoặt. Nhưng bức tranh thuận lợi trên bản đồ tham mưu lại khác xa so với thực tế.

Quá báo cáo của Pô-ta-pốp, chúng tôi biết là cơ quan tham mưu tập đoàn quân 5 cho đến giờ vẫn chưa thể khôi phục được liên lạc bị cắt đứt với các đơn vị. Do đó vẫn chưa nắm được tình hình các quân đoàn bi 15, 27 và quân đoàn cơ giới 22.

Tướng Rô-cô-xốp-xki cho biết quân đoàn cơ giới 9 của đồng chí trong trận chiến đấu với tập đoàn xe tăng địch đã bị thiệt hại đáng kể, nhất là vì những trận tập kích ồ ạt của không quân địch, và buộc phải lui về phía Rô-vơ-nô. Sư đoàn xe tăng 20 của quân đoàn tiến quân ở phía trước mới thoát vây khỏi quân phát-xít nhờ tinh thần tự chủ của đại tá M. V. Tséc-ni-a-ép, quyền sư đoàn trưởng, và các trung đoàn trưởng.

Quân đoàn cơ giới 19 cũng gặp khó khăn. Bị các lực lượng xe tăng lớn tiến công, quân đoàn vừa chiến đấu ác liệt vừa rút từ Đúp-nô về Rô-vơ-nô.

Hóa ra, chúng tôi vui mừng quá sớm với tin quân đoàn cơ giới 8 tiến được về Đúp-nô. Quân đoàn đã lao vào nơi đang là “tử địa” và giờ đây bị khóa chặt ở đấy như bị mắc bẫy. Sĩ quan liên lạc của chúng tôi không thể lọt vào Đúp-nô được – chỗ nào cũng vấp phải đội cảnh giới của địch. Chúng tôi đã phái một cán bộ chỉ huy thuộc bộ tham mưu đáp máy bay tới. Không thấy đồng chí trở về…

Mọi việc đều bất lợi cho chúng tôi. Bị cuốn hút vào việc tổ chức phản đột kích, chúng tôi đã dốc toàn bộ lực lượng vào đó, nên như trước kia, tuyến các khu vực cố thủ cũ vẫn không có bộ đội.

Đại bản doanh cũng nắm được tình thế nguy hiểm đó. Không hy vọng vào việc chúng tôi có thể kìm được dòng thác xe tăng địch, Mát-xcơ-va bắt đầu áp dụng những biện pháp cấp bách, ra lệnh đặt khu vực cố thủ Ki-ép thuộc quyền chỉ huy của tướng I. X. Cô-nép, tư lệnh tập đoàn quân 19. Đồng chí được chỉ thị phải gấp rút tập trung bộ đội tại những cửa ngõ thủ đô U-cra-i-na theo tuyến Goóc-nô-xtai-pôn, Ma-ca-rốp, Pha-xtốp, Bê-lai-a Txéc-cốp, Tơ-ri-pô-li-e và tổ chức phòng ngự ở đây trong những ngày 29 và 30 tháng Sáu.

Có lẽ, Đại bản doanh cho rằng chúng tôi không đủ lực lượng để đánh bại cánh quân xung kích của cụm tập đoàn quân “Nam” và tiến được ra biên giới. Chứng minh cho điều này là bức điện yêu cầu chuyển cho các sư đoàn trưởng bộ binh 87 và 124 vẫn tiếp tục chiến đấu ở biên giới mệnh lệnh “Để các khí tài lại, đem chôn chúng và mang vũ khí xách tay, băng rừng tới Cô-ven”.

Kiếc-pô-nô-xơ cho gọi tướng A-xta-khốp, đại tá Bôn-đa-rép và ra lệnh bằng mọi cách – bằng máy bay và qua các chiến sĩ trinh sát – chuyển bằng được mệnh lệnh đó tới các sư đoàn đang bị bao vây. Lòng tôi nặng trĩu, bởi dẫu có chuyển được lệnh thì liệu các binh đoàn có vượt qua nổi hàng rào các đơn vị phát-xít dày đặc kia không?

Suốt đêm rạng ngày 29 tháng Sáu, chúng tôi cố gắng tìm hiểu tình hình và động thái của các đơn vị ở cánh phải phương diện quân. Cuối cùng, đại tá Da-khơ-va-ta-ép ở tập đoàn quân 5 trở về. Chuyến di công tác của đồng chí gặp nhiều gian truân: tư lệnh tập đoàn quân Pô-ta-pốp hiện ở cách chúng tôi một dải đất rộng đã bị tập đoàn xe tăng địch thọc sâu chiếm đóng. Trên đường về, máy bay của Da-khơ-va-ta-ép bị trúng đạn, phải hạ cánh bắt buộc. Đồng chí phải dùng ô-tô đi vòng qua Sê-pê-tốp-ca.

Dơ-khơ-va-ta-ép không mang về tin vui. Quân đoàn bộ binh 15 và các binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 22 đã phải bỏ Cô-ven rút ra qua sông Xtô-khốt. Tôi sực nhớ: các sư đoàn bộ binh 87 và 124 đang phòng ngự anh dũng ở biên giới lại được lệnh phá vây tiến đến chính Cô-ven!

Theo báo cáo của Da-khơ-va-ta-ép, sư đoàn bộ binh 135 thuộc quân đoàn bộ binh 27, quân đoàn bộ binh 31 và quân đoàn cơ giới 9 chiến đấu rất ác liệt và khó khăn lắm mới kìm được cánh quân địch đang tiến mạnh từ phía Nam tới đường cái Lút-xcơ – Rô-vơ-nô, quân đoàn cơ giới 19 phải chống chọi với địch ngay ở ngoại vi Rô-vơ-nô.

Da-khơ-va-ta-ép cũng đến cả chỗ Lu-kin. Trước nguy cơ địch đột phá vào Sê-pê-tốp-ca, tư lệnh tập đoàn quân vội cho các binh đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 5 lên tàu và đến Phương diện quân Tây. Chỉ có sư đoàn cơ giới 109 của quân đoàn này với những phân đội đã vội vã tập hợp được đang chiến đấu ở gần Ô-xtơ-rốc. Thật ra, các đơn vị chiến đấu rất kiên cường, nhưng Lu-kin kêu rằng lực lượng thuộc cụm đồng chí ngày một giảm sút và khó nói rằng các đơn vị có thể đứng vững được hai ba ngày nữa. Chỗ dựa chính của đồng chí là sư đoàn cơ giới 109, ngay trong đợt phản kích đầu tiên đã bị tổn thất lớn. Đại tá N. P. Cra-xnô-rét-xki, một sư đoàn trưởng dũng cảm, bị thương nặng. Tuy bị thiệt hại lớn nhưng tinh thần và ý chí của anh em vẫn vững vàng. Họ vẫn lao vào chiến đấu, hết trận này đến trận khác. Các trung đoàn trưởng đi trong hàng những chiến sĩ xung kích, đã cổ vũ được cấp dưới bằng tấm gương dũng cảm của chính mình. Vấp phải sức kháng cự quyết liệt, các đơn vị phát-xít buộc phải dừng lại ở đây. Nhưng chúng cũng phát hiện được ngay chỗ trận tuyến bị đứt giữa cụm tác chiến của Lu-kin và quân đoàn bộ binh 36, mà sườn phải của quân đoàn chấm dứt ở phía Đông – Nam Đúp-nô, dựa vào con sông Ích-va. Bọn phát-xít đã lao vào lỗ hổng đó.

Chặn địch như thế nào đây? Tư lệnh, Hội đồng quân sự và bộ tham mưu phương diện quân nóng lòng tìm lối thoát. Lực lượng để tổng tiến công rõ ràng không có. Chuyển sang phòng ngự trên toàn tuyến vào lúc này cũng vẫn không cứu vãn được tình thế. Đề nghị Đại bản doanh cho phép rút bộ đội về tuyến những khu vực cố thủ cũ ư? Điều đó e chừng quá sớm.

Tướng Kiếc-pô-nô-xơ hạ quyết tâm vừa tiếp tục hành động tích cực để kiềm chế những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân Đức 6, vừa tăng cường đột kích vào những binh đoàn xe tăng của Clai-xtơ đã thọc vào vùng Ô-xtơ-rốc, và như vậy, buộc chúng phải ngừng tiến công.

Mệnh lệnh chiến đấu mới đã chuẩn bị xong thì đại tá E. Đ. Ne-xtê-rốp, phó sư đoàn trưởng sư đoàn xe tăng 12, và chính ủy trung đoàn V. V. Vôn-cốp, chính ủy binh đoàn này, lao tới sở chỉ huy của phương diện quân. Cả hai đều buồn bã. Các đồng chí báo cáo quân đoàn cơ giới 8 đang lâm vào tình thế cực kỳ nghiêm trọng. Một bộ phận lớn do chính ủy lữ đoàn Pô-pen chỉ huy đang chiến đấu trong vòng vây. Quân đoàn bị tổn thất nặng, những người còn lại bị kiệt sức vì chiến đấu liên miên.

Trong lúc đang nói chuyện, có mặt Puốc-ca ép và tôi, thì Va-su-ghin bước vào. Chúng tôi thấy đồng chí trở nên xanh xao, nhưng không coi điều đó có ý nghĩa quan trọng. Chúng tôi cho rằng đồng chí đang buồn phiền vì thất bại mà bản thân mình có lỗi một phần trong đó. Không ai có thể ước đoán nỗi đau ấy của đồng chí mạnh đến mức nào. Không đợi hết câu chuyện, Va-su-ghi ra về.

Còn chúng tôi phải xem xét lại tất cả. Rõ ràng không thể dựa vào quân đoàn cơ giới 8 được nữa. Tư lệnh cho lệnh rút những binh đội còn lại của quân đoàn ra khỏi trận chiến đấu. nếu thế thì cuộc tiến công của quân đoàn cơ giới 15 lúc này thấm mệt cũng sẽ mất ý nghĩa. Toàn bộ tập đoàn xung kích của ta bị yếu hẳn đi vì thiếu hai quân đoàn đó. Bây giờ có thể giao cho các đơn vị nào nhiệm vụ đánh tan các đơn vị xe tăng địch đã đột nhập Ô-xtơ-rốc? Mọi hy vọng đều trong đợi ở tập đoàn quân của Pô-ta-pốp. Có thể chi viện hợp sức cho tập đoàn quân của Pô-ta-pốp lúc này thì ngoài không quân của phương diện quân ra, chỉ còn quân đoàn bộ binh 36 và cụm tác chiến của tướng Lu-kin. Tư lệnh ấn định ngày 1 tháng Bảy, những lực lượng này bắt đầu chuyển sang tổng tiến công.

Tướng Kiếc-pô-nô-xơ giao cho tôi báo cáo quyết tâm của đồng chí cho các ủy viên Hội đồng quân sự. Cầm bản đồ công tác và những ghi chép của mình, tôi đến chỗ N. X. Khơ-rút-sốp. Đồng chí đang rất buồn. Nghe tôi báo cáo xong, đồng chí không chút do dự nhất trí với những biện pháp đã định. Biết tôi sẽ đến chỗ Va-su-ghin, Khơ-rút-sốp buồn rầu bảo:

– Đừng đến. Bây giờ không phải báo cáo với đồng chí ấy nữa. đồng chí đã chiến đấu xong…

Va-su-ghin đã tự sát. Đồng chí là một người trung thực, có nghị lực, không thỏa hiệp, nhưng đa cảm và dễ bị xúc động mạnh. Những thất bại nặng nề đã đè bẹp đồng chí…

Trong lúc chúng tôi đang vắt óc nghĩ tìm cách tập trung sao cho được nhiều lực lượng để tiếp tục cuộc phản đột kích vào ngày 1 tháng Bảy thì Mát-xcơ-va luôn luôn chất vấn và gọi đến máy đàm thoại. Chúng tôi cảm thấy Đại bản doanh đang lo lắng về tình hình ở phương diện quân chúng tôi.

Tướng M. N. Sa-rô-khin, phó cục trưởng cục tác chiến, gọi tôi tới máy điện báo. Trong vòng mấy phút, máy điện báo đã vang lên các câu hỏi: “Những gì đang xảy ra ở vùng Đúp-nô, Lút-xcơ, Rô-vơ-nô? Xe tăng địch ở vùng này đã vào đến đâu? Pô-ta-pốp đang ở đâu? Quân đoàn bộ binh 15 của đồng chí ấy ở đâu? Kết quả phản đột kích của các quân đoàn cơ giới 8 và 15 ra sao?”.

Tất nhiên, tôi không thể trả lời đầy đủ hết những câu hỏi đó. Tôi báo cáo quân đoàn bộ binh 15 đã bỏ Cô-ven và đang rút lui tới sông Xtơ-khốt. Hiện còn đang chưa rõ quân đoàn đã tới được sông hay chưa. Các quân đoàn cơ giới 8 và 15 phản đột kích đã thu hút một lực lượng đáng kể của tập đoàn địch đang đột phá tới Rô-vơ-nô và Ô-xtơ-rốc, nhưng đã bị thiệt hại nặng trong chiến đấu. Một bộ phận lực lượng của quân đoàn cơ giới 8 bị hợp vây ở vùng Đúp-nô. Những quân đoàn này đã được quyết định rút về làm lực lượng dự bị.

Tướng Sa-rô-khin gạn hỏi tôi khá lâu. Có lẽ, những câu trả lời của tôi không làm Bộ Tổng tham mưu hài lòng. Một lát sau, trên băng điện báo lại xuất hiện: “Giu-cốp đang ở bên máy. Mời Kiếc-pô-nô-xơ đến máy gấp”.

Kiếc-pô-nô-xơ cũng báo cáo những tin tức như tôi. Đồng chí chỉ nói thêm là quân đoàn bộ binh 36 đang chuyển sang phòng ngự bên bờ Đông sông Ích-va trên chính diện Dơ-bư-tưn, Xu-dô-vi-tse, còn sư đoàn kỵ binh 14 chiếm lĩnh tuyến Crê-mê-nét, Đu-na-i-úp. Giu-cốp hỏi bộ tư lệnh phương diện quân có định đưa cả quân đoàn cơ giới 24 vào vùng Crê-mê-nét không và giải thích: “Đồng chí bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng lệnh cho tôi chuyển cho đồng chí là cần chú ý bảo đảm các đường giao thông của mình ở phía Nam tuyến Xla-vu-ta, Crê-mê-nét, vì địch có thể ngoặt sang Tây - Nam và tiến vào phía sau các quân đoàn bộ binh 36 và 37”.

Kiếc-pô-nô-xơ liếc nhìn tôi:

– Tôi đã nói như thế rồi!

(Trước đây ít lâu, M. P. Kiếc-pô-nô-xơ và M. A. Puốc-ca-ép không nhất trí về vấn đề này. Kiếc-pô-nô-xơ cho rằng bộ chỉ huy phát-xít nhất định sẽ say sưa với triển vọng tiến tới đường giao thông của các tập đoàn quân 6 và 26 của chúng ta nhằm cắt họ tách khỏi các khu vực cố thủ ở trên đường biên giới. Còn Puốc-ca-ép đã phủ nhận khả năng đó và cho rằng bộ chỉ huy phát-xít sẽ làm tấp cả để đột nhập vào Ki-ép. Song tư lệnh vẫn giữ ý kiến của mình và điều quân đoàn cơ giới 24, sư đoàn bộ binh 199 và ba lữ đoàn pháo chống tăng tới tuyến Xta-rô-côn-xtan-ti-nốp, Nô-vưi Vi-snê-vét).

Máy điện báo vẫn tiếp tục truyền lệnh của Tổng tham mưu trưởng: “Do Hung-ga-ri vi phạm biên giới nên cần tổ chức quan sát chặt chẽ và trinh sát hướng Mu-ca-tse-vô. Đồng chí bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng đặc biệt yêu cầu phải bịt chặt cửa mở ở khu vực Lút-xcơ, Xta-ni-xláp-tsích để cô lập tập đoàn cơ giới địch đã đột phá. Đồng thời phải đánh bại chúng ở vùng Ô-xtơ-rốc, Đúp-nô, Rô-vơ-nô. Do đó, cần điều tất cả những binh đội xe tăng của Lu-kin về các hướng Dơ-đôn-bu-nốp và Mi-dô-tsơ. Buộc Ri-a-bư-sép phải tiến công thực sự, nhất là bằng xe tăng CV và T-34”.

Kiếc-pô-nô-xơ trả lời rằng Lu-kin hầu như đã điều toàn bộ các binh đội xe tăng của mình về Phương diện quân Tây, còn quân đoàn cơ giới của Ri-a-bư-sép đã bị kiệt quệ hẳn.

Nhưng Giu-cốp nhấn mạnh Đại bản doanh yêu cầu phải hết sức chú ý tới sự phát triển của những sự kiện trên hướng Sê-pê-tốp-ca, tức là ở khu vực ở cụm Lu-kin, và “phải phân tích kỹ lưỡng, đánh giá một cách khách quan khả năng tiêu diệt cánh quân địch đã đột phá”. Kết thúc cuộc nói chuyện, Giu-cốp thông báo cho Kiếc-pô-nô-xơ về tình hình ở các phương diện quân bạn. Sự đánh giá của đồng chí khá lạc quan: “Đơn vị bạn bên phải (Phương diện quân Tây), tình hình đang tốt lên. Các binh đội đã vào nền nếp: đã nắm được và đưa về đường biên giới cũ. Địch chưa đột phá khu vực cố thủ Min-xcơ. Min-xcơ vẫn ở trong tay chúng ta… Các binh đội cơ giới của Páp-lốp(Tư lệnh Phương diện quân Tây.) gồm bốn quân đoàn cơ giới hiện đang chuẩn bị đánh bại các quân đoàn cơ giới địch ở vùng Xlút-xcơ. Đồng chí Xta-lin đặc biệt yêu cầu và đòi hỏi tiến đánh các quân đoàn địch từ phái sau, cắt đường vận chuyển của chúng. Các đồng chí cũng có cơ hội như thế, và chúng ta có thể cho quân địch đang dương dương tự đắc một bài học đích đáng”

Một kế hoạch thật hấp dẫn, nhưng chúng tôi không có khả năng thực hiện. Ngay từ ngày đầu chiến tranh, các đơn vị chúng tôi đã phải gánh chịu quá sức, không thể gượng đứng lên được.

Máy điện báo lại vang lên tín hiệu. Giu-cốp thông báo “Phê-đô-ren-cô (Cục trưởng Cục ô-tô - xe tăng - thiết giáp Hồng quân.) đã gửi cho các đơn vị phụ tùng của xe tăng. Hay theo dõi chúng đang trên đường đi”.

Tin này làm Kiếc-pô-nô-xơ vui lòng, bởi phần lớn những xe tăng cũ dùng để huấn luyện – chiến đấu hiện không sử dụng được do thiếu phụ tùng.

Nhiệm vụ hôm đó Mát-xcơ-va giao cho bộ đội cánh phải phương diện quân chúng tôi nói chung đáp ứng được tình hình, nhưng thực hiện được quả là rất khó. Lúc ấy, tập đoàn quân 5 phải trả giá bằng những nỗ lực rất lớn mới kiềm chế được cuộc tiến công của địch. Tập đoàn quân không còn khả năng hành động tích cực nữa. Việc đánh giá quá cao khả năng của cụm Lu-kin cũng là không có cơ sở. Những đơn vị với quân số ít hỏi và được tổ chức vội vã của đồng chí lại nằm ở mũi nhọn đột kích chủ yếu của quân phát-xít, buộc chúng tôi phải kinh ngạc là làm thế nào mà các đơn vị ấy vẫn còn trụ bám được. Có lẽ, Bộ Tổng tham mưu cho rằng Lu-kin sẽ tung các sư đoàn xe tăng của mình vào tiến công. Nhưng các binh đoàn xe tăng ấy lại đã được điều về Phương diện quân Tây. Dưới quyền Lu-kin chỉ cón lại một trung đoàn xe tăng. Với lực lượng ít ỏi như vậy, đồng chí đã làm thế nào để kiềm chế được cuộc tiến công của dòng thác xe tăng địch trong suốt một tuần lễ Điều đó đòi hỏi ở những cán bộ chỉ huy biết bao nghị lực và quyết tâm! Chiến sĩ đã biểu lộ biết bao ý chí kiên cường và tinh thần hy sinh quên mình cao cả!

Tư lệnh phương diện quân lệnh cho tôi mang bản ghi cuộc nói chuyện của đồng chí với Giu-cốp. Lúc này, trong phòng làm việc của đồng chí có Khơ-rút-sốp và Puốc-ca-ép. Kiếc-pô-nô-xơ bảo tôi đọc băng điện báo. Sau khi trao đổi ý kiến, tất cả đi đến nhất trí rằng quyết tâm của ngày hôm nay – ngày 1 tháng Bảy lại tiếp tục phản đột kích ở cánh phải phương diện quân – là hoàn toàn phù hợp với những chỉ thị của Tổng tham mưu trưởng.

Trong mệnh lệnh chiến đấu định kỳ giao nhiệm vụ cho tập đoàn quân 5 trong ngày 1 tháng Bảy phải đột kích từ vùng Tsu-man, Xtáp-xcơ, Clê-van (ở phía Tây – Bắc Rô-nơ-vô) nhằm chia cắt tập đoàn cơ giới địch đã đột nhập ở Rô-vơ-nô và thanh toán chỗ cửa mở giữa tập đoàn quân 5 và 6.

Mệnh lệnh yêu cầu tướng Mu-dư-tsen-cô sử dụng những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân trụ bám trên tuyến các điểm dân cư Đúp-nô (ở phía Đông – Nam Đúp-nô), Crê-mê-nét, Dô-lô-tsép, Bô-brơ-ca.

Các tập đoàn quân 26 và 12 vẫn còn chiến đấu ở gần biên giới nên bị tách khỏi những lực lượng chủ yếu của phương diện quân, được lệnh rút về phía Đông để bám trụ ở tuyến Boóc-sốp, Giu-ráp-nô (đối với tập đoàn quân của tướng Cô-sten-cô), Vi-sni-úp, Ca-lu-sơ (đối với tập đoàn quân của tướng Pô-nê-đê-lin). Để tránh mọi bất nờ có thể xảy ra, chúng tôi đã điều cho tư lệnh các tập đoàn quân một lực lượng dự bị không lớn lắm: hai sư đoàn bộ binh cho tập đoàn quân 26, một sư đoàn bộ binh cho tập đoàn quân 12.

Quân đoàn cơ giới 24 của tướng Tsi-xti-a-cốp hiệp đồng chặt chẽ với sư đoàn bộ binh 199 và ba lữ đoàn pháo chống tăng có nhiệm vụ tiếp tục chuẩn bị tuyến chống tăng chéo trên đường Ô-xtơ-rô-pôn, Cra-xi-lốp, Ba-da-li-a, La-nô-stxư, Vi-snê-vét.

Trước tình hình căng thẳng vào không rõ ràng như vậy, bộ tư lệnh phương diện quân không thể không có lực lượng dự bị mạnh, nên chúng tôi đang cố gắng xây dựng. Các quân đoàn cơ giới 4, 8 và 15 vừa rút khỏi chiến đấu, và cả hai sư đoàn bộ binh thuộc quân đoàn bộ binh 49 đang ở bên trong tiến ra mặt trận được quyết định sử dụng làm lực lượng dự bị. Song, chúng tôi không thể đặt nhiều hy vọng vào những quân đoàn cơ giới bởi chúng đã hoàn toàn kiệt sức.

Không quân của phương diện quân được sử dụng để nhằm giải quyết ba nhiệm vụ chủ yếu: tập kích vào tập đoàn địch đang phát triển tiến công từ Đúp-nô tới Rô-vơ-nô và Ô-xtơ-rốc; chi viện cho các tập đoàn quân đánh trả các cuộc tiến công của xe tăng địch trong quá trình rút về các tuyến mới và cả khi đang bám trụ trên các tuyến ấy; yểm hộ các khu vực tập trung các quân đoàn cơ giới của ta chống máy bay địch bắn phá.

Như vậy là trong mệnh lệnh chiến đấu mới, chúng tôi buộc phải công nhận bộ đội của phương diện quân không còn khả năng tiến công nữa. Và dù mệnh lệnh có nói tới cuộc phản đột kích bằng lực lượng của tập đoàn quân 5, nhưng trên thực tế, vẫn đượm tinh thần phòng ngự.

Các trận chiến đấu diễn ra không còn xa Tác-nô-pôn bao nhiêu. Đã đến lúc chúng tôi phải chuyển sở chỉ huy phương diện quân, nếu không sẽ có nguy cơ rối loạn trong việc chỉ huy bộ đội. Đại tướng Giu-cốp đã báo cho biết trước chính về điều này. Chúng tôi đã quyết định đêm rạng ngày 30 tháng Sáu sẽ chuyển sở chỉ huy về Prô-xcu-rốp. Một buổi tối đầy tất bật: mọi người chuẩn bị tài liệu và những vật dụng cần thiết mang theo để xếp lên ô-tô.

Tôi và một tổ sĩ quan được lệnh ở lại Tác-nô-pôn cho đến khi bộ tham mưu tới địa điểm mới để duy trì liên lạc với các đơn vị. Cho đến gần sáng, khi nhận được thông báo là bộ tham mưu đã tới Prô-xcu-rốp, tổ chúng tôi mới lên đường. Trung tá M. G. Xô-lô-vi-ốp, một phó trưởng phòng của tôi, ở lại sở chỉ huy cũ cho đến khi cơ quan tham mưu tập đoàn quân 6 tới tiếp nhận địa điểm này.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.