Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phương Diện Quân Hồi Sinh
Phương Diện Quân Hồi Sinh

❊ ❊ ❊

Ở Ga-đi-a-tsơ, tôi nhận được lệnh cùng nhóm cán bộ chỉ huy phòng tác chiến tới A-khơ-tư-rơ-ca để theo dõi việc xây dựng tập đoàn quân 21. Ngày 25 tháng Chín, chúng tôi lên đường. Vượt cầu qua sông Voóc-xcơ-la, chúng tôi đi sâu vào những lùm cây rậm rạp mọc ở ven bờ. Mấy phút sau, chúng tôi tới bìa rừng và gần như đã ở ngoại vi thành phố. Những tia nắng chẳng phải sắc thu rọi chiếu những ngôi nhà chìm trong bóng cây. A-khơ-tư-rơ-ca tồn tại đã ba trăm năm. Xưa kia, đây là một cứ điểm quan trọng trên tuyến phòng thủ phía Nam bảo vệ nước Nga chống giặc Tác-ta từ Crưm xông tới. Trong những năm thuộc Chính quyền xô-viết, A-khơ-tư-rơ-ca đã có nhiều biến đổi: công nghiệp địa phương ra đời, các trường học mọc lên. Thành phố ngày một mở rộng, to đẹp. Ống khói nhà máy tỏa khói. Tuy ở gần mặt trận, nhưng tất cả các xí nghiệp vẫn đều hoạt động.

Cơ quan tham mưu tập đoàn quân đóng trong mấy ngôi nhà một tầng. Tại một ngôi nhà, sau bức vách mỏng, kê hai chiếc bàn. Một đồng chí cấp tướng đang cúi mình trước tấm bản đồ trải rộng. Tôi tự giới thiệu. Rời mắt khỏi tấm bản đồ, vị tướng đáp lại khá khô khan:

– Chào đồng chí, - và chìa tay cho tôi. – Tôi là Gô-rơ-đốp.

Tôi nói rõ mục đích tới đây và cho biết bản thân mới thoát vây, nên hầu như không biết gì về tình hình. Vị tướng chỉ về phía bản đồ. Vạch đỏ đứt quãng là tuyến mặt trận, trải dài từ Vô-rơ-giơ-ba tới Cra-xnô-grát, gần 300 ki-lô-mét.

Tôi bỗng nhớ lại những tờ truyền đơn và báo chí Đức mà chúng tôi nhặt được khi vượt qua hậu phương địch. Gơ-ben và thuộc hạ huênh hoang trước toàn thế giới rằng Phương diện quân Tây – Nam của bọn Nga – “những tập đoàn quân của Bu-đi-ôn-nưi” – đã bị tiêu diệt, rằng đối với quân đội bách chiến bách thắng của quốc trưởng, con đường dẫn đến tận U-cra-i-na đã mở. Thế mà Phương diện quân Tây – Nam vẫn tồn tại và đang kìm chân địch.

– Hiện nay, lực lượng của ta còn chưa đủ, - V. N. Gô-rơ-đốp nói. Đồng chí lướt bút chì trên tấm bản đồ. Ở cánh Bắc, là tập đoàn quân 40 của tướng Pốt-la-xơ., Lúc này, nó đang gặp nhiều khó khăn. Đơn vị với quân số ít ỏi của tướng Tséc-nốp, sư đoàn bộ binh 293 của đại tá La-gu-tin, sư đoàn bộ binh 227 của đại tá Téc – Gát-pa-ri-an và những đơn vị còn lại của sư đoàn xe tăng 10 của tướng Xê-men-tsen-cô đang chiếm lĩnh một tuyến dài 90 ki-lô-mét. Những lực lượng không lớn này khó khăn lắm mới kìm được những binh đội thuộc tập đoàn quân xe tăng 2 Đức đang tiến công. Nhưng tại Xu-mư, sư đoàn bộ binh cơ giới cận vệ 1 lấy trong lực lượng dự bị của Đại bản doanh, mới đặt dưới quyền chỉ huy của Pốt-la-xơ, đã bắt đầu đổ quân. Phía Nam là một tuyến dài 80 ki-lô-mét của tập đoàn quân 21. Hiện thời, ở đây mới có cụm kỵ binh – cơ giới của tướng Bê-lốp gồm các sư đoàn kỵ binh 5 và 9, sư đoàn bộ binh cận vệ 1 và hai lữ đoàn xe tăng. Lúc này, ở A-khơ-tư-rơ-ca đang gấp rút thành lập sư đoàn bộ binh 295, sẽ được đưa tới khu vực Ga-đi-a-tsơ để nối liền chính diện cum quân của Bê-lốp với những binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 297 đang phòng ngự ở phía Nam. Phòng ngự ở xa hơn nữa là quân đoàn kỵ binh 5 của tướng Ph. V. Cam-cốp gồm có các sư đoàn kỵ binh 3 và 14, hai lữ đoàn xe tăng, một lữ đoàn bộ binh cơ giới và những binh đội thuộc các sư đoàn bộ binh 297 và 212. Ở bên trái quân đoàn này, từ Ga-vrôn-txư đến Các-lốp-ca, năm sư đoàn bộ binh và một sư đoàn kỵ binh thuộc tập đoàn quân 38 đang giao chiến với địch.

Đặt cây bút chì xuống, Gô-rơ-đốp mệt mỏi kết luận:

– Tình hình mặt trận ngày hôm nay là như vậy. Tôi biết rằng trong lực lượng dự bị của Nguyên soái Ti-mô-sen-cô, hiện chưa có những lực lượng lớn. Phải dựa vào tinh thần kiên định của bộ đội và việc cơ động lực lượng từ khu vực này sang khu vực khác thôi.

Tình hình quả là rất khó khăn. Nhưng dù thế nào di nữa thì phương diện quân vẫn tồn tại và tiếp tục chiến đấu.

Bộ đội chúng ta một lần nữa lại hiên ngang đứng lên cản đường các tập đoàn quân phát-xít. Và điều chỉ yếu nhất là nòng cốt của Phương diện quân Tây – Nam trên tuyến mới vẫn gồm những sư đoàn trước đây mà bọn phát-xít từng rêu rao với toàn thế giới rằng chúng đã bao vây và tiêu diệt hết. Trong số những binh đoàn mới, ở đây chỉ có hai sư đoàn bộ binh và quân đoàn kỵ binh 2 lấy từ các phương diện quân khác.

Tôi cũng rất vui mừng vì cơ quan tham mưu tập đoàn quân 21, đảm nhiệm chỉ huy toàn bộ các đơn vị đang hoạt động ở khu vực mặt trận giữa tập đoàn quân 40 và quân đoàn kỵ binh 5, trong khi thoát vây vẫn giữ được bộ khung cán bộ chỉ huy.

Khi tôi hỏi có thể gặp tư lệnh tập đoàn quân không, thì Gô-rơ-đốp trả lời là trung tướng V. I. Cu-dơ-nê-txốp, tư lệnh tập đoàn quân, hiện đang điều trị tại viện quân y, và thượng tướng I-a. T. Tsê-rê-vi-tsen-cô sẽ tới thay.

Chúng tôi thỏa thuận với nhau là ngày hôm sau, tôi sẽ tới cụm kỵ binh – cơ gới của thiếu tướng P. A. Bê-lốp, sau đó ghé qua khu vực Ga-đi-a-tsơ là nơi sư đoàn bộ binh 295 mới được xây dựng đang cơ động tới đây.

Thời gian rảnh rỗi trước lúc lên đường, tôi tranh thủ làm quen với cán bộ chỉ huy ở cơ quan tham mưu, trước hết là với các sĩ quan phòng tác chiến do đại tá M. X. Pô-xi-a-kin lãnh đạo. Trên cương vị này, đồng chí đã cùng tập đoàn quân trải qua một chặng đường chông gai suốt từ dải biên giới đến đây. Đồng chí là một sĩ quan tham mưu được đào tạo chu đáo, đã tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-dê. Trong số các trợ lý thân thiết nhất của đồng chí, tôi đặc biệt nhớ thiếu tá P. G. Ti-u-khốp mà ngay từ ngày đầu chiến tranh đã là tham mưu trưởng một sư đoàn bộ binh thuộc phương diện quân chúng tôi.

Hôm sau, khi ra xe về đơn vị, tôi gặp bạn đồng ngũ cũ, thiếu tướng A. I. Đa-ni-lốp, phó chủ nhiệm phòng không của Kiếc-pô-nô-xơ. Hai chúng tôi đều bị bất ngờ. Vì chúng tôi đã chia tay ở bên kia mặt trận, mỗi người đi một ngả. Thật thú vị biết bao khi được gặp lại một người đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi giữa những ngày gian khổ nhất, trong vòng vây của địch. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, sung sướng thốt lên:

– Vẫn còn sống ư? Cừ thật!

Qua Đa-ni-lốp, tôi được biết rằng cùng đồng chí thoát vây còn có nhiều cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị thuộc bộ tham mưu phương diện quân và tập đoàn quân 5, rằng tham mưu trưởng bộ đội phòng không của phương diện quân là V. A. Pên-cốp-xki cùng một nhóm sĩ quan cũng đã vượt qua vòng vây và vẫn khỏe mạnh. Nhiều người trong số này đang có mặt ở đây, tại A-khơ-tư-rơ-ca này, tôi vội vã chạy tới gặp anh em và tìm thấy họ ở sân trường. Tất cả đều chững chạc, ăn mặc đúng điều lệnh, với vẻ đàng hoàng vốn có của những cán bộ chỉ huy kỳ cựu. Chỉ có bộ quân phục đôi chỗ bị mảnh đạn xé rách và vết thương còn cuốn băng mới cho biết những con người này vừa xông pha vào sinh ra tử.

Ngày 27 tháng Chín, tôi tới cánh rừng phía Tây Lê-bê-đin, nơi đóng quân của cơ quan tham mưu sư đoàn bộ binh cận vệ 1 vừa được điều từ Phương diện quân Tây tới tăng cường cho chúng tôi. Binh đoàn quang vinh này đã xung trận liên tục ngay từ biên giới tới Xmô-len-xcơ. Đã mấy lần, bọn phát-xít bao vây được sư đoàn 100 – phiên hiệu trước đây của sư đoàn, nhưng sư đoàn đều thoát vây và tiếp tục mang về những chiến công như mọi lần. Chỉ huy sư đoàn là thiếu tướng I. N. Ru-xi-a-nốp, một nhà chiến thuật tài ba, một chuyên gia cơ động giỏi. Không có gì đáng ngạc nhiên khi sư đoàn đứng đầu danh sách những binh đoàn cận vệ đầu tiên.

Tôi được biết sư đoàn của Ru-xi-a-nốp từ ngày 22 tháng Chín đã cùng các binh đội thuộc quân đoàn kỵ binh 2 tham gia phản đột kích cánh quân ở vùng Rôm-nư của Gu-đê-ri-an. Những đòn công kích của các đơn vị này đã trói chân những lực lượng đáng kể của địch và, qua đó, đã giảm bớt phần căng thẳng cho những tập đoàn quân của ta đang bị bao vây.

Sư đoàn bộ binh cận vệ 1 vừa được bổ sung các chiến sĩ mới chưa từng biết mùi thuốc súng, đã bị tổn thất nặng. Tôi phải tìm hiểu nguyên nhân tổn thất và xác định xem sư đoàn còn khả năng tiếp tục chiến đấu tích cực được không.

Đêm hôm ấy, tôi mới tìm thấy Ru-xi-a-nốp trong một căn nhà đốt ngọn đèn dầu. Tôi tò mò ngắm nhìn con người đã trở thành huyền thoại. Thân hình rắn chắc, vạm vỡ, nét mặt hơi thô. Mái tóc óng chải mượt lộ rõ vầng trán cao. Trên chiếc áo cố đứng đã cũ, cài kín cúc, lấp lánh tấm huân chương Lê-nin và huân chương Cờ đỏ. I. N. Ru-xi-a-nốp đã bước vào tuổi bốn mươi hai. Đồng chí là một chiến binh dày kinh nghiệm, đã được tôi luyện. Tôi biết đồng chí có những phẩm chất ưu tú của người cán bộ chỉ huy: rộng rãi và tốt bụng, ý chí bất khuất, sống giản dị, yêu lao động, kiên trì, nhận thức sâu sắc nghĩa vụ của mình. Có người nói rằng đồng chí rất hách và quá cục tính. Nhưng anh em cấp dưới lại rất quý đồng chí: “Chỉ huy của chúng tôi không bao giờ ban ơn, dưới quyền đồng chí, ai cũng phục vụ tốt!”.

Chúng tôi làm quen, trò chuyện với nhau. Tôi cho đồng chí biết là bộ tư lệnh rất quan tâm đến vấn đề tại sao sư đoàn cận vệ 1 lại bị tổn thất như vậy ở Rôm-nư. Vân vê bộ lông mày sâu róm, Ru-xi-a-nốp buồn rầu mỉm cười:

– Thế anh có biết chúng tôi bước vào chiến đấu như thế nào không? Mãi trước khi được ném đến đây, chúng tôi mới được bổ sung. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy mới đều chưa được thử lửa và cũng chưa kịp được học hỏi gì. Và cứ thế, anh em xung trận ngay. Vừa xuống tàu và chuyển quân 100 ki-lô-mét, ngay trong hành tiến, không được nghỉ ngơi lấy một giờ, đã phải chiến đấu với xe tăng và bộ binh cơ giới địch. Thậm chí không còn thời gian để kéo pháo tới. Nhưng dù sao chúng tôi cũng nện cho địch một trận ra trò, đẩy lui chúng. Tất nhiên, về phần mình, cũng đã phải trả giá đắt. – Thiếu tướng trầm ngâm một lát. – Còn bây giờ thì khác hẳn. những người mới hôm qua là tân binh, nay đã học được rất nhiều, đã trở thành những người lính thực sự. Chúng tôi được nhận một số tiểu liên và súng máy, còn trước kia chỉ chiến đấu toàn bằng súng trường. Sư đoàn sẵn sàng hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào…

Buổi sáng, chúng tôi tới thăm trận địa một trung đoàn bộ binh. Trung đoàn để lại cho tôi một ấn tượng rất tốt. Chúng tôi chưa kịp rời chiến hào thì địch pháo kích dồn dập. Máy bay địch xuất hiện. Tiếng còi của những máy bay ném bom bổ nhào rít lên. Bom rơi xuống trận địa pháo. Từng đụn khói và lửa bốc lên lẫn trong tiếng nổ rền vang. Dù đã quen với cảnh tượng này, tim tôi vẫn thắt lại vì nỗi lo: liệu có ai còn được nguyên vẹn trong cảnh hiểm nghèo này không? Nhưng cái gì thế kia? Tiếng lục bục xen lẫn những tiếng nổ khô khốc. Các khẩu pháo cao xạ vẫn không ngừng nhả đạn. Ba máy bay địch đâm xuống đất như những ngọn đuốc. Những chiếc còn lại vút lên cao và tháo chạy.

– Lính cao xạ giỏi lắm! – tôi không kìm được mình.

– Đánh đúng bài bản, - Ru-xi-a-nốp thản nhiên đáp lời. - Nhưng bọn Đức xông lên ngay bây giờ đây.

Quả vậy, tiếng pháo và còi rộ lên từ phía làng Xi-ni-ốp-ca. Xen lẫn tiếng pháo nghe rõ cả từng tràng súng máy và tiếng động cơ xe tăng. Đất dưới chân rung lên.

– Bắt đầu rồi đấy, - Ru-xi-a-nốp buồn rầu nói.

Trung đoàn trưởng đi tới, báo cáo:

– Trên ba mươi xe tăng và khoảng một trung đoàn bộ binh cơ giới địch công kích vào trận địa chúng tôi.

Giọng nói bình tĩnh, nét mặt người sĩ quan vẫn tỏ vẻ bình thường. Đúng là anh em ở đây đã quen với mọi việc xảy ra.

– Ở các đơn vị bạn thế nào? – sư đoàn trưởng hỏi.

– Cũng như vậy.

Ru-xi-a-nốp liên lạc bằng điện thoại với đại tá B. I. Ca-sê-ép, tham mưu trưởng, hỏi han hồi lâu về tình hình ở các địa đoạn khác của sư đoàn. Quay về phía tôi, đồng chí nói thêm:

– Ở tất cả các địa đoạn, bọn phát-xít đều không lọt nổi vào trận địa chúng tôi. – Rồi đồng chí thét vào ống nói: - Theo dõi tiến trình chiến đấu. Tôi đến chỗ các anh ngay bây giờ đây.

Trung đoàn trưởng báo cáo là đợt công kích đã bị bẻ gãy và địch bị thiệt hại lớn. Tôi cùng Ru-xi-a-nốp tới sở chỉ huy sư đoàn.

Ở đây đã nhận được tin của quân đoàn kỵ binh, đơn vị bạn ở bên phải, mà sau này chúng tôi được biết, địch đã đột kích chủ yếu vào đây. Sư đoàn xe tăng 9 và sư đoàn cơ giới 25 của Gu-đê-ri-an tiến dọc con đường từ Xi-ni-ốp-ca đi Stê-pốp-ca. Địch có ưu thế về lực lượng. Chính diện của sư đoàn kỵ binh 5 bị chọc thủng, và đoàn quân phát-xít thẳng tiến trên con đường cái từ Va-xi-li-ép-ca, nơi đóng quân của cơ quan tham mưu quân đoàn kỵ binh 2. Đến trưa, những xe tăng phát-xít dẫn đường bắt đầu bắn thẳng vào các xe ô-tô của cơ quan tham mưu. Các chiến sĩ và cán bộ trong cơ quan tham mưu dưới sự chỉ huy của tướng P. A. Bê-lốp, quân đoàn trưởng, và đại tá M. Đ. Grê-txốp, tham mưu trưởng, bố trí phòng ngự vòng tròn. Tình thế đã đến lúc tuyệt vọng: nếu xe tăng địch đồng loạt xông lên thì cả cơ quan tham mưu sẽ bị nghiền nát. Nhưng bọn phát-xít lại do dự. Sau khi mất ba chiếc xe tăng đi đầu, địch lui lại và bắn phá vào cơ quan tham mưu từ xa. Đúng lúc đó, lữ đoàn xe tăng 1 đi theo đường cái tiến ra tuyến chính diện tiếp cận tới. Đại tá A. M. Kha-xin, lữ đoàn trưởng, nghe thấy tiếng súng liền phóng xe tăng tới cơ quan tham mưu. Bê-lốp lệnh cho đồng chí triển khai lữ đoàn và đánh địch ngay trong hành tiến. Địch có năm mươi xe tăng, còn Kha-xin hầu như kém hơn một nửa. Nhưng lữ đoàn vẫn triển khai và xông lên công kích. Xe tăng địch lao ra nghênh chiến. Trận đánh diễn ra ác liệt. Những người chứng kiến kể lại hai chiếc T-34 của ta bị bốc cháy vẫn lao vào trận địa, vừa đè nghiến các khẩu đội chống tăng của địch, vừa bắn vào xe tăng chúng. Đó là xe của các trung tá Cri-vô-rô-tốp và Sa-slô. Năm đảng viên và ba đoàn viên thanh niên cộng sản không chịu rời khỏi chiếc xe tăng bốc cháy rừng rực khi hãy còn đạn. Với những chiến công trong trận này, M. P. Cri-vô-rô-nốp và T. P. Sa-slô được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. 

Cuộc đụng độ đầu tiên kết thúc bằng chiến thắng của lữ đoàn xe tăng 1: địch bị đẩy lui. Cơ quan tham mưu quân đoàn rời đến địa điểm an toàn. Nhưng hai giờ sau, địch điều thêm những lực lượng mới và lại bắt đầu đẩy lui các đơn vị của ta. Bước tiến của địch có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng: có nguy cơ chúng lọt được vào sau lưng sư đoàn kỵ binh 9 của ta đang phòng ngự ở phía Tây Stê-pốp-ca. Bê-lốp lệnh cho Ka-xin phải kìm chân địch. Lúc đó, địch đã chiếm Stê-pốp-ca, nên Kha-xin quyết định tập kích đoàn cơ giới của chúng đang đi qua làng này. Lữ đoàn trưởng dự định chiếm lại Stê-lốp-ca và qua đó sẽ mở đường rút cho kỵ binh. Đồng chí giao nhiệm vụ đó cho đội xe tăng do đại tá C. E. Đa-ép, tham mưu trưởng lữ đoàn, chỉ huy.

Một ngày nắng ấm. Khi xe tăng leo tới đỉnh đồi thì trông thấy đoàn xe địch rõ như trong lòng bàn tay. Đa-ép ra lệnh bắn. Cảnh hỗn loạn diễn ra ngay trên đường. Xe địch bỏ đường cái, chạy tán loạn xuống cánh đồng như đàn kiến. Đa-ép dẫn đội xe tăng lên công kích. Thấy xe tăng xô-viết lao tới, lính địch nhảy ra khỏi xe và tháo chạy thục mạng. Nhưng ở cạnh làng Mi-rô-nốp-si-ca về phía Nam Stê-pốp-ca, địch đã kịp thời bám trụ và kháng cự quyết liệt. Lập tức, Đa-ép rút ra một bộ phận lực lượng đánh vu hồi. Địch không chịu nổi, vội rút về Stê-pốp-ca, nơi có những lực lượng chủ yếu của sư đoàn cơ giới 25 của chúng bố trí phòng ngự.

Trận chiến đấu giành giật ngôi làng bắt đầu.

Tôi theo dõi diễn biến tiếp theo ở cơ quan tham mưu tập đoàn quân 21, nơi tôi được triệu tập đến ngày 29 tháng Chín. Tại đây, chúng tôi được biết là quân đoàn kỵ binh của Bê-lốp bị các sư đoàn xe tăng 9 và 16, các sư đoàn cơ giới 10 và 25 thuộc tập đoàn quân của Gu-đê-ri-an tiến công. Song dù có lực lượng lớn như vậy, địch vẫn không đánh bại nổi quân đoàn kỵ binh. Sư đoàn kỵ 5 của tướng V. C. Ba-ra-nốp vừa khôn khéo cơ động, vừa rút lại phía sau mười ki-lô-mét và kiên trì chiến đấu, đã kìm được địch. Còn sư đoàn kỵ binh 9 của tướng A. Ph. Bu-tsơ-cốp-xki, nhờ công kích bất ngờ vào ban đêm, đã về được với quân ta và bước vào chiến đấu giành lại Stê-pốp-ca nhiều lần đã chuyển từ tay ta sang tay địch.

Thi hành mệnh lệnh của Nguyên soái Ti-mô-sen-cô, các tư lệnh tập đoàn quân 21 và 40 kiên trì cố gắng bịt chỗ bị chọc thủng. Tham chiến ở đây có quân đoàn kỵ binh của Bê-lốp và sư đoàn kỵ binh cơ giới cận vệ 1 của đại tá A. I. Li-di-u-cốp mới được điều từ lực lượng dự bị của Đại bản doanh tới.

Ngày 1 tháng Mười, những đơn vị thuộc các sư đoàn kỵ binh 9 và sư đoàn bộ binh cơ giới cận vệ 1 công kích Stê-pốp-ca từ phía Đông và phía Bắc, còn lữ đoàn xe tăng của đại tá Kha-xin đánh bọc sườn từ phía Tây – Nam. Đến trưa, các chiến sĩ cận vệ của Li-di-u-cốp bị chặn lại tại các cửa ngõ gần làng. Khi ấy, Bê-lốp tung sư đoàn kỵ binh 5, lực lượng sự bị của mình ra. Các chiến sĩ kỵ binh xuống ngựa đã chi viện cho các chiến sĩ cận vệ. Khi trận chiến đấu chuyển sang ngoại vi Đông – Bắc và Bắc làng thì xe tăng của đại tá Kha-xin từ phía Tây – Nam lao đến, còn từ phía Đông – Nam, trung đoàn kỵ binh của thiếu tá A. N. Vư-xốt-xki thúc ngựa lao tới. Anh em kỵ binh sử dụng gươm thành thạo. Bọn phát-xít bị kẹp chặt từ các phía, lúc đầu còn cố chống cự, sau đó phải tháo chạy khỏi làng. Ngày hôm trước trời mưa. Xe cộ của địch bị ngập trong bùn lầy. Còn các chiến sĩ kỵ binh xô-viết cứ lao vun vút trên đường cái, gươm tuốt trần lấp loáng. Bọn phát-xít bỏ lại mọi phương tiện kỹ thuật bị sa lầy và tháo chạy. Kỵ binh của Bê-lốp bám sát truy kích địch.

Chỉ trong mấy ngày, bộ đội ta đã giải phóng được 20 làng, thu 150 pháo, 5 khẩu cối và nhiều vũ khí, khí tài khác. Bọn phát-xít bỏ lại trên đường tháo chạy gần 8 nghìn xác chết, trên một nghìn ô-tô vận tải, 500 mô-tô, 2.000 ngựa kéo.

Trong bối cảnh nặng nề chung, trận chiến đấu ở vùng Stê-pốp-ca có tiếng vang rất lớn và đã đem lại cho các chiến sĩ và cán bộ ta niềm vui lớn. Phương diện quân Tây – Nam được hồi sinh đã chứng minh nó có thể đánh bại địch.

Tôi được lệnh tới bộ tham mưu phương diện quân lúc ấy đang đóng ở Khác-cốp. Trên đường đi, tôi chú ý thấy ở hậu phương ta hầu như không còn bộ đội – tất cả đã được ném ra tiền tuyến. Phần lớn các công việc phòng thủ do nhân dân đảm đương. Chỉ ở các cửa ngõ tới Khác-cốp, trên các công sự đang xây dựng, mới thấy những người mặc quân phục.

Các cơ quan chỉ đạo tác chiến của phương diện quân phân tán khắp thành phố. Tôi may mắn gặp được một cán bộ chỉ huy quen biết ở ban chỉ huy thông tin liên lạc. Không ai biết rõ cách bố trí địa điểm của bộ máy phương diện quân bằng các chiến sĩ thông tin liên lạc. Đồng chí sĩ quan cho biết Hội đồng quân sự và tất cả các phòng chính thuộc bộ tham mưu đóng ỏ ngoại vi thành phố, tại các nhà nghỉ của tỉnh ủy. Và thế là tôi đã ở chỗ tham mưu trưởng phương diện quân, thiếu tướng A. P. Pô-crốp-xki. Tôi biết đồng chí ngay từ những ngày cùng học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu. Con người rất am hiểu binh nghiệp này luôn luôn xử sự bình tĩnh, ăn nói nhẹ nhàng, ngắn gọn và có lẽ, vì thế mà đồng chí có vẻ khô khan đôi chút, thiếu cởi mở.

Khi tôi bước vào phòng, Pô-crốp-xki rời tấm bản đồ, đưa cặp mắt mệt mỏi nhìn tôi. Tôi báo cáo rằng sau khi thoát vây, tôi ở tập đoàn quân 21 thi hành nhiệm vụ do Nguyên soái Ti-mô-sen-cô giao. Bây giờ, tôi muốn biết công việc sắp tới của mình.

Nghe xong, tham mưu trưởng khẽ nói:

– Hết chưa?

– Hết, thưa thiếu tướng.

– Thế thì đồng chí hãy đến gặp Nguyên soái để đồng chí ấy quyết định đồng chí tiếp tục làm việc ở đâu. – Pô-crốp-xki lại cúi xuống bản đồ.

Ít lâu sau, tôi hiểu rõ thủ trưởng mới của tôi là một người trí thức, thông minh, điềm tĩnh và tốt bụng. Còn vẻ khô khan qua cảm giác ban đầu là do đồng chí bị lôi cuốn vào vô vàn công việc. Ngày cũng như đêm, đều có thể thấy đồng chí đang cặm cụi trước tấm bản đồ.

Tôi tới gặp Nguyên soái X. C. Ti-mô-sen-cô lúc này đang lãnh đạo Phương diện quân Tây – Nam. Ti-mô-sen-cô, có dáng người cân đối, hơi gầy, rời bàn đứng dậy, chào đáp lại và lập tức hỏi han tỉ mỉ về hoạt động của các đơn vị khi phá vây. Tiếp đó, Nguyên soái nói đồng chí định giữ tôi lại làm việc ở bộ tham mưu phương diện quân.

– Hiện nay, chúng tôi đang cần người như vậy đấy, - và đồng chí bổ sung cho lời nói của mình bằng một cử chỉ đầy ý nghĩa.

Ti-mô-sen-cô đề nghị tôi kể chi tiết về tình hình và khả năng làm việc của cơ quan tham mưu tập đoàn quân 21, về những đơn vị mà tôi đã có dịp tới. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến sư đoàn của Ru-xi-a-nốp. Khi tôi báo cáo cách giải thích của sư trưởng về nguyên nhân gây ra những tổn thất nghiêm trọng mà binh đoàn phải gánh chịu ở khu vực Rôm-nư, thì Nguyên soái cau mặt:

– Cần phải chỉ huy cho tốt, thì đồng chí đó lại đi tìm những nguyên nhân khách quan.

Lúc ấy, tôi chưa hiểu tại sao Ti-mô-sen-cô lại tỏ ý bực bội với Ru-xi-a-nốp như vậy. Sau này, tôi mới rõ khi được đọc bức điện của Xta-lin, trong đó có nói: “Quyết tâm không cho bộ đội nghỉ để lấy lại sức sau 100 ki-lô-mét hành quân, mà ném ngay anh em vào chiến đấu trong hành tiến là sai lầm… Với phương pháp đưa bộ đội vào chiến đấu không đúng như vậy, có thể làm tan vỡ cả một sư đoàn loại nhất”. Tất nhiên, Nguyên soái không thích thú gì lời quở trách đó. Nhưng biết làm thế nào? Trên một mặt trận rộng lớn chỉ có hai sư đoàn kỵ binh của tướng Bê-lốp đối phó với quân của Gu-đê-ri-an. Và họ không phải chỉ kìm địch, mà còn phải đột kích ngay, đón những đơn vị đang phá vây. Dù sao chăng nữa, nếu tình huống đó không thể bào chữa hoàn toàn được cho việc vội vã đưa các chiến sĩ cận vệ vào chiến đấu, thì ít ra nó cũng giải thích được quyết định của bộ tư lệnh phương diện quân.

Nguyên soái lệnh cho tôi nhanh chóng tìm hiểu công việc và chuẩn bị thay thiếu tướng A. I. Stơ-rôm-béc làm nhiệm vụ trưởng phòng tác chiến của phương diện quân (Stơ-rôm-béc được điều về công tác ở Đại bản doanh).

Phấn khởi vì được ở lại Phương diện quân Tây – Nam và lại vẫn có thể làm công tác quen thuộc, tôi vội vàng tới phòng tác chiến. Tôi rơi vào giữa số sĩ quan mà phần lớn là bạn đồng ngũ cũ.

Hầu hết cán bộ tác chiến của phương diện quân đã thoát vây cùng tôi nên phòng tác chiến, với thành phần mới, khác với những phòng và cục khác của phương diện quân, là được bổ sung biên chế nhiều hơn. Hiện nay, phòng có 44 người: 2 đại tá, 3 trung tá, 16 thiếu tá, số còn lại là đại úy và trung úy. Trong số nhân viên của phòng, tôi thấy có mặt cô đánh máy của chúng tôi trước kia là Lem-bri-cô-va và Clai-nơ-béc. Những chị em dũng cảm đó đã vững vàng chịu đựng mọi thử thách và cùng các đồng chí khác thoát khỏi vòng vây.

Thấy tiếng ồn ào lúc tôi xuất hiện, tướng A. I. Stơ-rôm-béc, hồi xưa cùng học và làm việc với tôi ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, bước ra. Khuôn mặt bạn tôi rạng rỡ nụ cười. Đồng chí ôm lấy tôi và dẫn về phòng làm việc của mình.

– Nào, hãy kể lại thiên trường ca Ô-đi-xê của cậu đi!

Đồng chí Stơ-rôm-béc thích thú nghe tôi kể về cuộc chiến đấu của bộ đội ta trong vòng vây quân thù. Trả lời xong mọi câu hỏi, tôi hỏi lại tại sao lại rời khỏi phòng tác chiến.

– Cậu ngại mang tiếng hất chân mình chứ gì? – Stơ-rôm-béc đoán ngay. – Cứ yên tâm. Đó là do trên điều mình sang công tác khác. Mọi việc đều bình thường, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích ạ.

Tôi đề nghị đồng chí cho tôi làm quen với diễn biến ngoài mặt trận. Chúng tôi nói chuyện rất lâu bên tấm bản đồ. Bọn Hít-le không ngừng công kích ở nhiều nơi. Nhưng bộ đội ta vẫn đánh trả có kết quả. Còn ở những nơi địch không tiến công, các đội biệt động ít người của ta đêm đêm tập kích táo bạo vào sau lưng chúng, không cho bọn Hít-le được yên thân.

Nhưng tình hình vẫn căng thẳng. Tuyến phòng ngự kéo dài, mà bộ tư lệnh không có trong tay lực lượng dự bị lớn. Thêm một vấn đề làm yếu hẳn tuyến phòng ngự của chúng tôi – đó là hình thái tác chiến của Phương diện quân Bri-an-xcơ và Phương diện quân Nam ở hai bên. Gu-đê-ri-an mở một mũi xe tăng mạnh thọc sâu, cắt cánh trái Phương diện quân Bri-an-xcơ và tiến mạnh trên hướng Ô-ri-ôn. Sườn phải chúng tôi bị hở. Tình hình này buộc chúng tôi ngay bây giờ phải nghĩ đến việc rút các tập đoàn quân 40 và 21 của mình về phía Đông.

Tình hình phương diện quân đóng ở bên trái chúng tôi xấu hẳn đi. Địch tập trung ở đó những lực lượng lớn, chọc thủng tuyến phòng ngự của Phương diện quân Nam. Ngày 28 tháng Chín những binh đoàn xe tăng và cơ giới của Clai-xtơ vòng qua Nô-vô-mô-xcốp-xcơ và tiến về Pa-vlô-grát. Đại bản doanh áp dụng những biện pháp kiên quyết nhằm chặn đường tiến của địch về Ta-gan-rốc. Nhưng dù trong trường hợp này, sườn Nam của phương diện quân chúng tôi vẫn bị hở. Có thể, chúng tôi cũng buộc phải rút quân ở đây.

Tôi bắt đầu làm việc tại bộ tham mưu mới của Phương diện quân Tây – Nam. Công việc có nhẹ hơn, vì tôi quen biết nhiều cán bộ lãnh đạo của bộ máy phương diện quân từ những ngày công tác trước kia. Nguyên tư lệnh tập đoàn quân 26 Pác-xê-gốp – phó tư lệnh phụ trách pháo binh. Thiếu tướng không quân Ph. I-a. Pha-la-lê-ép mà tôi quen biết trước đây khi đáp máy bay tới khu vực bị vây, phụ trách không quân. Phó của đồng chí là đại tá N. X. Xcơ-ríp-cô, một người quen biết cũ của tôi hồi còn ở tập đoàn quân 5. Phó tư lệnh phương diện quân phụ trách bộ đội xe tăng – thiết giáp là thiếu tướng V. X. Tam-ru-tsi, tư lệnh quân đoàn cơ giới, mà bạn đọc đã biết. Cán bộ lâu năm của Phương diện quân Tây – Nam là thiếu tướng R. N. Moóc-gu-nốp, làm chủ nhiệm ô-tô – xe kéo. Tôi còn là bạn công tác cũ của chủ nhiệm quân y phương diện quân – bác sĩ lữ đoàn A. P. Cô-lê-xốp, của chủ nhiệm quân nhu phương diện quân A. I. Cô-va-lép, chủ nhiệm công binh G. C. Nép-xki và phó chủ nhiệm phòng không tướng R. A. Đơ-di-vin.

Đại tá N. G. Gri-a-dơ-nốp mà tôi chưa có dịp quen biết, làm trưởng phòng trinh sát. Song, phó phòng của đồng chí – đại tá A. I. Ca-min-xki là bạn đồng ngũ của tôi ở tập đoàn quân 12. Lần đầu tiên tôi gặp trưởng phòng điều động bổ sung là đại tá quân nhu A. I. Xô-xen-cốp, trưởng phòng cung cấp xăng dầu đại tá A. V. Ti-u-rin, trưởng phòng ấn loát trung tá P. A. Dê-va-kin, trưởng phòng mật mã đại úy M. N. A-ga-pốp mà ít lâu sau bạn đồng ngũ cũ của tôi là đại tá E. V. Cơ-lô-tsơ-cốp sẽ thay thế. Đại tá A. A. Coóc-su-nốp vẫn phụ trách thông tin liên lạc quân sự như trước.

Đối với tôi, hầu như không có gì thay đổi: vẫn phương diện quân đó, vẫn những con người đó và vẫn bầu không khí chiến đấu đầy lo âu và sôi nổi. Những thử thách đã qua càng làm cho chúng tôi thân thiết nhau hơn. Và điều đó cũng giúp cho công việc được tốt hơn.

Trong những ngày tháng Mười ấy, từng tốp, từng tốp chiến sĩ, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị thuộc phương diện quân chúng tôi vẫn tiếp tục rời khỏi vòng vây. Trong số họ có: chủ nhiệm chính trị là chính ủy lữ đoàn A. I. Mi-khai-lốp, chủ nhiệm bộ đội phòng hóa, một thiếu tướng đầy nghị lực là N. X. Pê-tu-khốp, sư đoàn trưởng bộ binh là các đại tá P. I. Mô-rô-dốp, V. X. Tô-pô-lép, A. C. Bê-re-xtốp, X. C. Pô-tê-khin, X. N. Vê-ri-tsép, A. M. I-lin, N. M. Pa-nốp, P. X. Vô-cô-nin, G. P. Pan-cốp, C. I. Nô-vích, các lữ đoàn trưởng M. A. Rô-ma-nốp, Ph. Ph. Giơ-ma-tsen-cô và nhiều đồng chí khác.

Ai nấy đều mệt mỏi, nhưng không ai có vẻ chán nản, bi quan. Trái tim họ rực lửa căm thù. Trên mình còn mang những vết thương chưa lành, anh em đến gặp tư lệnh phương diện quân và chỉ có một yêu cầu: “Đề nghị đồng chí cho tôi trở lại chiến đấu, tạo điều kiện cho tôi thanh toán món nợ với bọn phát-xít”. Và bộ tư lệnh đã thỏa mãn yêu cầu của mọi người. Một lần nữa, chúng tôi thấy những chiến sĩ cũ, đã được thử thách lại bước vào những trận chiến đấu mới không kém phần khốc liệt và đẫm máu so với những trận đánh mà họ đã trải qua.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.