Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chiến Đấu Ở Hai Bên Sườn
Chiến Đấu Ở Hai Bên Sườn

❊ ❊ ❊

Nguy cơ đe dọa chúng tôi ngày một lớn. Những tin tức nắm được cho thấy sang đầu tháng Chín năm 1941, bộ chỉ huy Hít-le không chỉ sử dụng những đơn vị trước đây đã tiến công trên hướng Ki-ép, mà còn sử dụng cả những lực lượng lớn kéo từ hướng chiến lược Mát-xcơ-va và từ cánh Nam cụm các tập đoàn quân “Nam” tới đây để đối phó với Phương diện quân Tây – Nam. Sau này, chúng tôi mới được biết có trên 8 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn cơ giới địch đã tham gia đột kích vào cánh Bắc của bộ đội ta, còn tập kích vào cánh Nam ở khu vực Crê-men-tsúc có tới 12 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn cơ giới. Ngoài ra, trong dải hoạt động từ Ô-cu-ni-nô-vô tới Crê-men-tsúc, địch có 20 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn bảo vệ, chưa kể lực lượng dự bị chiến dịch của chúng.

Theo tính toán với mức thấp nhất, bộ chỉ huy Hít-le đã xây dựng trên hướng chiến lược Ki-ép một ưu thế quân sự gấp hơn hai lần lực lượng của Phương diện quân Tây – Nam. Nếu tính cả những thuận lợi về sự bố trí chiến dịch và ưu thế tuyệt đối của chúng về xe tăng và không quân thì sẽ thấy rõ ngay là chúng ta bị lâm vào tình thế nghiêm trọng đến mức nào.

Đến lúc này, bộ chỉ huy Hít-le càng lộ rõ ý đồ là chúng sẽ dùng những cánh quân mạnh đột kích vào các sườn bên ngoài nhằm tiến sâu vào phía sau để hợp vây những lực lượng chủ yếu của phương diện quân chúng tôi. Như bạn đọc đã biết, tình hình ở phía Bắc đáng lo hơn cả. Lúc các tập đoàn quân cánh Nam của Phương diện quân Bri-an-xcơ đang cố gắng tiêu diệt cụm cảnh giới mạnh do Gu-đê-ri-an để lại ở đó, thì những lực lượng chủ yếu của tập đoàn xe tăng của hắn đánh vào tập đoàn quân 40 của chúng ta vừa mới được thành lập, còn thiếu quân số. Bộ đội ta đã anh dũng chiến đấu kìm chân được bầy xe tăng lớn đó ở giữa hai con sông Xây-mơ và Đê-xna, phía Bắc Cô-nô-tốp và Ba-khơ-ma-tsơ. Bộ tư lệnh phương diện quân điều tới đây toàn bộ lực lượng dự bị của mình, nhưng vẫn không ngăn được địch. Tập đoàn quân 40 vừa chiến đấu vất vả, vừa từ từ rút về phía Nam.

Tất nhiên, bộ tư lệnh chúng tôi quan tâm chủ yếu đến những sự kiện trên cánh này của phương diện quân. Và mặc dù có những dấu hiệu bọn Hít-le đang có những mưu đồ nào đó cả ở phía Nam, nhưng chúng tôi vẫn bớt lo đến sườn trái của mình hơn. Chúng tôi cho rằng ở đấy, bộ đội ta sẽ đánh bật địch dễ dàng hơn – dẫu sao tuyến phòng ngự cũng trải theo sông Đni-ép-rơ, dọc theo một vật cản bằng nước rộng lớn mà bọn phát-xít không dễ dàng vượt qua được. Hơn nữa, chúng tôi còn tính rằng nếu kìm được xe tăng của Gu-đê-ri-an ở phía Bắc, thì cuộc tiến công của địch ở phía Nam sẽ không đạt được mục đích. Những sư đoàn của các tập đoàn quân 26 và 38 trải dài trên một mặt trận rộng vẫn tiếp tục cố thủ ở phía Nam Ki-ép. Vào tháng Tám, những đơn vị trên đã chặn đứng được mọi ý đồ vượt sông Đni-ép-rơ của địch và bộ tư lệnh hoàn toàn có cơ sở để dựa vào tinh thần kiên cường của họ.

Thậm chí đến khi thiếu tướng Phê-cơ-len-cô, người vừa thay trung tướng Đ. I. Ri-a-bư-sép làm tư lệnh tập đoàn quân 38, báo cáo ở phía Đông – Nam Crê-men-tsúc, tại khu vực Đê-ri-ép-ca, các đơn vị của tập đoàn quân 17 Đức đã vượt sang tả ngạn và chiếm được một bàn đạp nhỏ, tư lệnh và bộ tham mưu phương diện quân vẫn tương đối bình tâm. Sau khi lệnh cho tư lệnh tập đoàn quân phải hành động kiên quyết nhằm thanh toán bàn đạp ấy và hứa sẽ sử dụng lực lượng dự bị của phương diện quân chi viện cho tập đoàn quân, Kiếc-pô-nô-xơ vẫn tập trung toàn bộ nghị lực để chỉ đạo hoạt động của các đơn vị cánh Bắc phương diện quân như trước đây. Nhưng tình hình ở đó ngày một xấu. Mối nguy cơ không chỉ đe dọa tập đoàn quân 40, mà cả các đơn vị thuộc tập đoàn quân 5 bị điều xa lên phía Tây – Bắc, thành tuyến mặt trận hình móng ngựa chạy từ phía Bắc Tséc-ni-gốp, tới gần Li-u-bếch thì dựa vào sông Đni-ép-rơ, rồi tiếp đó trải dài theo bờ sông đến Xô-rô-cô-si-tsi, đang có nguy cơ bị hợp vây. Những dấu hiệu đầu tiên bị hợp vây xuất hiện ngay từ ngày đầu tháng Chín, khi những đơn vị tập đoàn quân 2 của Đức vượt sông Đê-xna ở phía Đông – Nam Tséc-ni-gốp và chiếm lấy bàn  đạp ở khu vực Vi-bli-a. Đồng thời, những sư đoàn của tập đoàn quân 6 Đức lại tăng cường sức ép từ phía bàn đạp Ô-cu-ni-nô-vô rủi ro. Đến ngày 5 tháng Chín, chúng đột phá tới làng Mắc-xim, nơi có bến vượt sông Đê-xna. Nếu lúc này, bọn phát-xít vượt được sông ở nơi đây, thì chúng sẽ có khả năng hội quân được với những đơn vị của chúng đã đi vòng qua Tséc-ni-gốp từ phía Đông, và khi đó, những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 5 của chúng ta sẽ bị cắt khỏi những đơn vị khác của phương diện quân. Thế nhưng nhờ những cố gắng lớn lao, các chiến sĩ và cán bộ sư đoàn bộ binh 228 của đại tá V. Gh. Tséc-nốp đã phá vỡ được ý định vượt sông của địch. Chỉ tiếc rằng điều đó vẫn không loại trừ được mối nguy cơ. Chúng còn khả năng tiến tới Tséc-ni-gốp theo bờ Tây sông Đên-xna và cắt đường rút lui của các sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 31.

Địch vẫn giữ vững bàn đạp ở khu vực Vi-bli-a. Những đơn vị Đức ở đây đã kịp bám chắc vào mảnh đất này. Còn chúng tôi thì không đủ sức để hất nổi chúng. Nhiều đợt phản kích của hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 62 và của những phân đội thuộc lữ đoàn đổ bộ đường không 204 được điều động tới đây, đều không có kết quả. Không quân địch luôn luôn uy hiếp trên trận địa để kìm chân bộ đội ta. Tướng Pô-ta-pốp lệnh cho quân đoàn trưởng quân đoàn bộ binh 15 bằng bất kỳ giá nào cũng phải hất địch sang bên kia sông Đê-xna. Đại tá M. I. Blan-cơ đích thân chỉ huy cuộc phản kích. Các phân đội bị tổn thất lớn, Blan-cơ hy sinh, còn bàn đạp vẫn nằm trong tay địch.

Đã đến lúc cần phải rút tập đoàn quân 5 sang bên kia sông Đê-xna, thu hẹp tuyến mặt trận và sử dụng đến lực lượng dự bị để cải thiện tình hình tác chiến của tập đoàn quân, nhưng tướng Pô-ta-pốp lại chỉ được phép uốn thẳng tuyến phòng ngự của quân đoàn bộ binh 31. Biện pháp này không làm hay đổi được về cơ bản hình thái của tập đoàn quân.

Đánh giá đúng tình hình, ngày 4 tháng Chín, tổng tư lệnh bộ đội hướng Tây – Nam báo cáo lên Đại bản doanh là địch đã tạo nên ở các bên sườn Phương diện quân Tây – Nam một hình thái đánh vu hồi và uy hiếp đột nhập vào sau lưng bộ đội phương diện quân. Do đó, X. M. Bu-đi-ôn-nưi đề nghị tăng cường những lực lượng dự bị cần thiết cho phương diện quân, và nếu Đại bản doanh không có lực lượng dự bị thì cho phép lấy hai sư đoàn của khu vực cố thủ Ki-ép và hai sư đoàn của tập đoàn quân 26. Ngay hôm ấy, Tổng tham mưu trưởng thông báo rằng Tổng tư lệnh tối cao không phản đối việc bố trí lại lực lượng trong phương diện quân như vậy.

Chúng tôi ở bộ tham mưu phương diện quân hiểu rằng những biện pháp đó cũng hoàn toàn chưa đủ. Trận đánh với quy mô ngày càng lớn, như miếng bọt bể hút nước, đã nuốt chửng ngay những lực lượng dự bị nhỏ bé mà sở dĩ chúng tôi có được là nhờ rút bớt lực lượng ở những đoạn khác chưa bị địch tiến công. Vậy thì bất kỳ lúc nào, địch có thể đột kích vào những chỗ yếu nhất trong tuyến phòng ngự của ta.

Bộ tư lệnh tối cao đã làm tất cả những gì có thể để chi viện cho chúng tôi. Như đã nói ở trên, trong số những biện pháp kiên quyết đã áp dụng, phải kể đến việc hợp nhất Phương diện quân Trung tâm và Phương diện quân Bri-an-xcơ vào tay tướng Ê-ri-ô-men-cô, chuyển thuộc cho đồng chí những lực lượng dự bị của Đại bản doanh nhằm mục đích duy nhất là đánh tan được các đơn vị của Gu-đê-ri-an. Cũng nhằm mục đích đó, tập đoàn quân 40 đã gấp rút được thành lập để cải thiện tình hình ở chỗ tiếp giáp giữa các phương diện quân. Song, khả năng của Đại bản doanh cũng chỉ có hạn.

Tổng tư lệnh bộ đội hướng Tây – Nam vẫn chăm chú theo dõi những sự kiện ở phương diện quân chúng tôi, đã kịp thời thấy rõ nguy cơ ẩn náu trong cái bàn đạp của địch ở phía Đông – Nam Crê-men-tsúc. Ngày 4 tháng Chín, X. M. Bu-đi-ôn-nưi liên lạc với Kiếc-pô-nô-xơ.

– Chậm thanh toán cái bàn đạp ở Đê-ri-ép-ca có nghĩa là tự sát, - Nguyên soái nói và yêu cầu phải hất bọn Hít-le ra khỏi bàn đạp sông Đni-ép-rơ. Đồng chí đề nghị phái những đại diện có trách nhiệm của phương diện quân tới giúp tư lệnh tập đoàn quân là Phê-cơ-len-cô.

Kiếc-pô-nô-xơ lệnh cho tôi triệu tập chủ nhiệm pháo binh M. A. Pác-xê-gốp, chủ nhiệm ô-tô – xe tăng – cơ giới V. T. Vôn-xki và tham mưu phó không quân V. M. Lô-đô-vôi – Xép-tsen-cô tới gặp đồng chí.

– Họ sẽ tới chỗ Phê-cơ-len-cô, - Kiếc-pô-nô-xơ nói. – Đồng chí cũng chuẩn bị đi cùng họ.

Rất may, mọi người đều có mặt ở nơi làm việc. Chúng tôi tập trung đông đủ tại phòng làm việc của đồng chí tư lệnh, lúc này, đã có Kiếc-pô-nô-xơ, Buốc-mi-xten-cô, Rư-cốp và Tu-pi-cốp. Kiếc-pô-nô-xơ cho biết, Hội đồng quân sự giao cho chúng tôi giúp bộ tư lệnh tập đoàn quân 38 thủ tiêu bàn đạp Crê-men-tsúc của địch.

– Chúng ta không thể ngồi lại đây, tại Pri-lu-ki này mà theo dõi được sát chiến dịch rất quan trọng đó. Các đồng chí cần tìm hiểu tình hình tại chỗ và làm tất cả để nhiệm vụ được hoàn thành. Các đồng chí cần thường xuyên báo cáo tiến trình các sự kiện cho bộ tham mưu phương diện quân và trực tiếp cho tổng tư lệnh.

– Đề nghị các đồng chí quan tâm, - M. A. Buốc-mi-xten-cô nói thêm, - sao cho toàn thể các chiến sĩ, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị của tập đoàn quân đều quán triệt được tầm quan trọng của nhiệm vụ trước mắt. Vì nếu địch có thể từ đó đột phá và hợp điểm với các đơn vị của Gu-đê-ri-an thì toàn bộ phương diện quân chúng ta có nguy cơ bị tiêu diệt.

Lúc chia tay, tư lệnh phương diện quân bảo tôi:

– Đồng chí Ba-gra-mi-an, đồng chí chịu trách nhiệm tổ chức công việc và thông báo kịp thời. Cuối ngày mai, tôi đợi báo cáo đầu tiên của đồng chí.

Chúng tôi ra đi vào những thời điểm khác nhau. Từ bộ tham mưu phương diện quân đến Cô-den-si-na là nơi đóng sở chỉ huy tập đoàn quân 38, đường dài gần 180 ki-lô-mét. Song tôi đi ô-tô mất gần một ngày bởi phần lớn là đường rất trơn sau những trận mưa kéo dài. Tìm được sở chỉ huy tập đoàn quân cũng khá vất vả vì chúng ta cố gắng ngụy trang các cơ quan tham mưu thật tốt để tránh địch tập kích bằng đường không.

Tướng N. V. Phê-cơ-len-cô tiếp tôi niềm nở. Chúng tôi là những người quen cũ. Ngay vào những năm ba mươi, chúng tôi đã cùng phục vụ ở sư đoàn kỵ binh 5. Khi đó tôi làm tham mưu trưởng sư đoàn, đồng chí là trung đoàn trưởng trung đoàn cơ giới. Ngay hồi đó, đồng chí đã gây được uy tín do lòng tận tụy, tính thẳng thắn và cương quyết. Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Lê-nin vì đã có công huấn luyện trung đoàn đạt thành tích xuất sắc. Năm 1940, Phê-cơ-len-cô được chỉ định làm sư đoàn trưởng sư đoàn xe tăng, và đầu năm 1941 – quân đoàn trưởng quân đoàn cơ giới 19 mới bắt đầu thành lập. Phê-cơ-len-cô nổi bật lên trong những trận chiến đấu ngay từ những tuần đầu chiến tranh và đã được tặng Huân chương Cờ đỏ. Tuần lễ trước đây, theo đề nghị của tướng Kiếc-pô-nô-xơ, đồng chí được bổ nhiệm làm tư lệnh tập đoàn quân 38.

Là người trung thực và cởi mở, Phê-cơ-len-cô công nhận ngay là lần này, địch khôn ngoan hơn đồng chí. Trước khi chiếm bàn đạp ở bờ Đông sông Đni-ép-rơ, chỗ hợp lưu giữa hai con sông nhỏ Pxi-ôn và Voóc-xcơ-la ít lâu, bọn phát-xít tổ chức một cuộc đổ bộ lớn ở cù lao Crô-lê-vít gần Tséc-ca-xư và đã gây ra ấn tượng là chúng đang chuẩn bị vượt sông Đni-ép-rơ chính tại nơi đây và sẽ sử dụng cù lao làm chiếc cầu đệm để lấy đà. Do đó, một bộ phận lực lượng quan trọng của tập đoàn quân (ba trong số bảy sư đoàn) đã được điều tới khu vực này. Những binh đoàn còn lại phải phòng ngự trên một tuyến rộng. Những ngày gần đây, Phê-cơ-len-cô lại ném tới Tséc-ca-xư sư đoàn dự bị duy nhất của mình. Địch lợi dụng ngay tình huống này. Chúng chọn chỗ yếu nhất để đột kích là bờ sông Đni-ép-rơ giữa hai nhánh sông Pxi-ôn và Voóc-xcơ-la. Tại đây chỉ có một sư đoàn bộ binh phòng ngự trên một tuyến dài 54 ki-lô-mét. Ở đoạn vượt sông, bên ta chỉ có một trung đoàn bộ binh. Còn phía địch, chỉ tính riêng thê đội một đã có tới hai sư đoàn bộ binh. Tướng Phê-cơ-len-cô không có lực lượng dự bị nào ở gần đây. Trong hai ngày đầu chỉ có những binh đội của sư đoàn bộ binh 300 đóng tại đó và những phân đội mới được điều đến thuộc sư đoàn kỵ binh 34 của đại tá A. A. Grê-tsơ-cô lấy ở lực lượng dự bị của tổng tư lệnh hướng Tây – Nam và chuyển thuộc tập đoàn quân, có thể chống trả địch vượt sông Đni-ép-rơ. Đại tá P. I. Cu-dơ-nê-txốp, sư đoàn trưởng bộ binh, cố gắng cơ động lực lượng, ném thêm vào đó một số đơn vị nào đó lấy ở các khu vực khác. Nhưng trong điều kiện đồng chí phải phòng ngự trên một tuyến rất rộng, thì đó là điều hầu như không thể thực hiện được. Lợi dụng ưu thế gấp bội về quân số, ưu thế tuyệt đối về không quân và pháo binh, địch đã đẩy những phân đội của ta ra xa bờ. Khi những binh đội của quân đoàn kỵ binh 5 và sư đoàn bộ binh 304 lấy ở những lực lượng dự bị tới nơi thì những đơn vị phát-xít đã vượt qua và bám chắc vào bàn đạp đã chiếm lĩnh. Trước khi chúng tôi đến, ở tả ngạn sông Đni-ép-rơ đã có tới năm sư đoàn địch. Đối phó với chúng là hai sư đoàn bộ binh và một quân đoàn kỵ binh đã bị thiệt hại đáng kể vì không quân địch trên đường chuyển quân. Những lực lượng này rõ ràng không thể tiêu diệt nổi bàn đạp của địch. Cần có thêm những đơn vị mới, xe tăng, pháo binh với đầy đủ cơ số đạn dự trữ. Tôi báo cáo ngay những ý kiến ban đầu của mình bằng điện thoại với tướng Tu-pi-cốp và đề nghị đồng chí gấp rút tăng cường cho tập đoàn quân 38 những đội viện binh cần thiết như tổng tư lệnh hướng Tây – Nam đã hứa.

Đến tối, toàn bộ tổ công tác chúng tôi đã tập trung đủ. Tôi giới thiệu ngắn gọn tình hình với các đồng chí, kể lại nội dung đã điện cho Tu-pi-cốp và đề nghị cùng lên đường xuống các đơn vị. Tôi đến sư đoàn bộ binh 304. Đồng chí sĩ quan phòng tác chiến tập đoàn quân cùng đi biết rõ ngóc ngách, chỉ đường rất tự tin, không cần nhìn bàn đồ. Dọc đường, máy bay tiêm kích địch mấy lần bổ nhào xuống xe chúng tôi. Rất may là mọi sự đều ổn. Đồng chí dẫn đường chỉ cho chúng tôi ngọn đồi nổi lên sơ với các địa vật xung quanh. Tại đó có đài quan sát của sư đoàn trưởng. Khi chúng tôi còn cách nó khá xa thì pháo binh phát-xít tập kích vào đấy. Ngọn đồi chìm trong khói đạn. Chúng tôi có cảm tưởng ở đấy không gì còn nguyên vẹn. Lợi dụng địa hình che khuất, xe chúng tôi đến tận ngọn đồi. Các chiến sĩ đang khiêng một đại tá bị thương nặng trên cáng. Đồng chí là chủ nhiệm pháo binh sư đoàn.

Các chiến sĩ đang sửa đường dây chỉ lối cho chúng tôi. Lát sau, tôi bước vào một căn hầm đào sâu. Ở đây có mấy sĩ quan và một vị tướng dáng người cao lớn. Sau khi trình diện, tôi nghe thấy câu trả lời:

– Thiếu tướng Pu-khốp, sư đoàn trưởng.

Ai có thể hình dung được con người trầm lặng, chậm chạp đó lại là một anh hùng thực sự và tập đoàn quân 13 do đồng chí chỉ huy sau này đã nổi tiếng dũng cảm trong trận chiến đấu ở vòng cung Cuốc-xcơ…

Cũng xin nói thêm, ngay trong những tháng đầu chiến tranh, tôi đã tin chắc rằng phẩm chất chân chính của người chỉ huy chỉ bộc lộ rõ trong chiến đấu. Chiến đấu là người giám định nghiêm khắc nhất, nó xác định rõ năng lực của từng con người. Nơi đây, chính trong khói lửa và thử thách đã nổi lên những cán bộ chỉ huy dũng cảm và tài năng, trong tình hình phức tạp nhất có khả năng lôi cuốn được mọi người theo mình và dạy họ đánh thắng. Trong số đó, không hiếm những người mà trong thời bình, do tính cách và những phẩm chất cá nhân khác, họ không có gì nổi bật. Nhưng trong chiến tranh, những nét ưu tú nhất của họ lại bỗng được thể hiện một cách rực rỡ, nhưng trí sáng suốt, tài thao lược, lòng dũng cảm, ý chí sắt đá. Đồng chí Pu-khốp là một con người như thế.

… Tôi hỏi Pu-khốp tình hình công việc. Thiếu tướng không trả lời ngay. Lấy khăn tay lau mồ hôi quyện bụi trên mặt, thiếu tướng nói:

– Chưa có gì khấm khá lắm. Trong ba ngày chỉ tiến được một – hai ki-lô-mét. Chúng tôi vừa lao lên thì địch phản kích điên cuồng ngay và không yên khi chưa đánh lui được chúng tôi một lần nữa. Không quân quần đảo liên tục. Pháo địch cũng nã liên hồi và như đồng chí đã thấy, đã xua chúng tôi xuống hầm… Đồng chí xem cái gì sẽ xảy ra bây giờ.

Thiếu tướng bước lên bờ hào và đưa ống nhòm cho tôi. Khắp nơi, từ sau những điểm cao, pháo ta nhả đạn. Tôi thấy rõ từng cột đất tung lên ở phía trước. Khói bụi mờ mịt ở phía chân trời. Pháo chuyển làn xa dần. Địch vẫn im tiếng. Chỉ từ phía sông Đni-ép-rơ, máy bay địch xuất hiện, lượn vòng quanh các khẩu đội pháo của ta. Mấy khẩu cao xạ và súng máy bốn nòng nhả đạn. Sư đoàn trưởng nói như thể trần tình:

– Đó là toàn bộ trang bị phòng không của chúng tôi.

Các pháo thủ vẫn nổ súng, bất chấp bom đạn địch. Nhưng tiếng súng thưa dần vì không thể tránh khỏi tổn thất.

– Đồng chí hãy xem kìa, bộ đội ta đang công kích… - Pu-khốp chỉ về mạn sườn Bắc của điểm cao phía trước.

Những dáng người bé nhỏ bé màu xám đang lao lên dốc. Pháo bắn mạnh, nghe rõ cả tiếng súng máy và súng trường. Lớp chiến sĩ đi đầu đã lên tới đỉnh, rồi khuất về phía sau. Lớp khác bám theo sau. Bỗng toàn bộ điểm cao chìm trong màn khói nâu xám của bom, đạn cối và pháo địch. Lát sau, khoảng hai chục chiếc xe tăng xuất hiện trên đỉnh dốc, và chậm chạp bò xuống. Các chiến sĩ ta vừa bắn trả vừa rút lui đến chỗ pháo binh có thể yểm hộ được…

– Thế mà tôi không có một chiếc xe tăng nào, - sư đoàn trưởng nói. – Hầu như trận công kích nào của chúng tôi cũng kết thúc như vậy.

Đúng vậy, không có xe tăng, không có pháo binh và không quân mạnh, thì ở đây không thể làm được gì cả. Tiến công trong những điều kiện đó là vô nghĩa.

Nói chuyện bằng điện thoại với tư lệnh tập đoàn quân, tôi khẩn khoản đề nghị đồng chí cho phép sư đoàn trưởng ngừng công kích trong khi chờ viện binh tới, để đồng chí ấy bám chắc vào tuyến đã chiếm lĩnh, chấn chỉnh lại các đơn vị, tổ chức chuyên chở đạn dược. Phê-cơ-len-cô đồng ý.

Trận đánh tạm ngừng. Pu-khốp triệu tập các trung đoàn trưởng. Thiếu tướng nói chuyện với cán bộ cấp dưới một cách điềm tĩnh và thiết thực, không chút cáu kỉnh. Trong khi giao nhiệm vụ mới, đồng chí cố gắng làm cho từng trung đoàn trưởng tìm hiểu kỹ tình hình, quán triệt vai trò và tác dụng của mỗi trung đoàn trong điều kiện sư đoàn chuyển sang phòng ngự.

Lát sau, tôi quay trở lại sở chỉ huy tập đoàn quân, trao đổi ý kiến với những đại diện khác của bộ tư lệnh phương diện quân đã kịp thị sát ở nhiều khu vực. Các đồng chí cũng có những nhận xét như tôi. Chúng tôi đề nghị tướng Phê-cơ-len-cô ngừng công kích trên toàn tuyến, và chúng tôi trực tiếp báo cáo ngay tất cả những điều này với X. M. Bu-đi-ôn-nưi và M. P. Kiếc-pô-nô-xơ.

Thấy rõ nếu tiếp tục công kích bằng những lực lượng nhỏ bé như vậy là hoàn toàn không có lợi, tổng tư lệnh ra lệnh tạm ngừng, đồng thời chuẩn bị đòn phản đột kích mới không những chỉ bằng lực lượng của tập đoàn quân, mà cả toàn bộ lực lượng dự bị đang được phái đến thuộc tập đoàn quân. Cuộc phản đột kích được ấn định vào sáng ngày 8 tháng Chín. Trong số các đơn vị của tập đoàn quân 38 thì quân đoàn kỵ binh 5 cùng với sư đoàn kỵ binh 34 và bốn sư đoàn bộ binh sẽ tham gia cuộc phản đột kích này. Tổng tư lệnh lấy trong lực lượng dự bị của mình ba lữ đoàn xe tăng vừa được thành lập và mấy trung đoàn không quân.

Nhiệm vụ thật không dễ dàng. Không đơn thuẩn bởi địch có nhiều lực lượng hơn so với số quân mà bộ tư lệnh phương diện quân chúng tôi có thể tập trung được. Thời gian để chuẩn bị tổ chức phản đột kích chỉ còn già một ngày đêm. Còn những lữ đoàn xe tăng và những đơn vị pháo cao xạ thì mới bắt đầu tới khu vực Pôn-ta-va. Thêm nữa, toàn bộ việc lập kế hoạch chuẩn bị phản đột kích trút lên vai một nhóm nhỏ sĩ quan phòng tác chiến của cơ quan tham mưu tập đoàn quân đứng đầu là đại tá M. I. Pô-ta-pốp.

Đêm 6 tháng Chín, các đơn vị nhận được chỉ lệnh chiến đấu. Tư lệnh tập đoàn quân quyết định giáng hai đòn đột kích theo hai hướng hợp điểm. Một – bằng những lực lượng của bốn sư đoàn bộ binh đánh dọc theo tả ngạn sông Pxi-ôn đến Cô-lê-béc-đa. Một - ở sườn trái tập đoàn quân, trên chính diện Pu-ru-bai, Ô-đi-ô-cư đánh vào bên sườn và sau lưng quân địch đã bám trụ được tại bàn đạp, đồng thời tiến đến những chỗ vượt sông của địch. Nhiệm vụ này giao cho quân đoàn kỵ binh 5 được tăng cường các lữ đoàn xe tăng 3, 142 và sư đoàn xe tăng 47 có không đầy 30 chiếc.

Tư lệnh hạ quyết tâm như vậy là xuất phát từ chỗ có rất ít thời gian để chuẩn bị phản đột kích, không kịp bố trí lại bộ đội về cơ bản. Hướng đột kích do Phê-cơ-len-cô chọn đòi hỏi chỉ phải bố trí lại bộ đội ở mức tối thiểu; đây là điều rất quan trọng khi không có nhiều thời gian. Dự kến đó hợp lý nên chúng tôi đồng ý với quyết tâm của tư lệnh.

Song, dù phải bố trí lại rất ít, tập đoàn quân vẫn không thể chuẩn bị công kích đúng thời hạn quy định. Mặc dù phải hành quân cấp tốc, các binh đoàn và binh đội mới của tập đoàn quân vẫn không kịp tiến ra các khu vực xuất phát. Tư lệnh phương diện quân buộc phải hoãn thời điểm tiến công.

Trong khi chúng tôi chuẩn bị phản đột kích ở sườn trái tập đoàn quân thì địch vượt sông Đni-ép-rơ ở phía Nam Crê-men-tsúc. Sư đoàn bộ binh Đức vượt sông đã được những đơn vị chiếm giữ bàn đạp từ trước chi viện. Còn chúng tôi có một trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 297 phòng ngự ở Crê-men-tsúc. Lực lượng hai bên quá chênh lệch. Thành phố lọt vào tay quân địch. Sau khi điều thêm một sư đoàn bộ binh đến đây, địch cố gắng phát triển tiến công lên phía Bắc. Nhưng chúng bị chặn lại ở phía Bắc Crê-men-tsúc nhờ những đợt phản đột kích quyết liệt của những binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 297 của đại tá G. A. A-pha-na-xi-ép.

Ngày 9 tháng Chính, sau khi nhận được cáo cáo là việc tiến quân của địch ở khu vực này đã bị chặn đứng, Phê-cơ-len-cô lại tập trung vào việc chuẩn bị phản đột kích ở sườn trái tập đoàn quân của đồng chí. Cả bộ tư lệnh phương diện quân cũng thấy không có gì nguy hiểm đặc biệt từ phía Crê-men-tsúc. Được trinh sát cho biết là ở khu vực bàn đạp Đê-ri-ép-ca phát hiện thấy có tiểu đoàn trinh sát thuộc sư đoàn xe tăng 9 của địch, bộ tư lệnh phán đoán rằng cả những lực lượng chủ yếu của cụm xe tăng của tướng Clai-xtơ cũng sẽ đến chính nơi này. Và cánh quân xung kích của tập đoàn quân 38 của ta sẽ đón đánh địch ở đây. Nhưng sau này chúng tôi mới biết, kẻ thù có những kế hoạch hoàn toàn khác…

Tập trung vào chuẩn bị cho tập đoàn quân 38 phản đột kích, chúng tôi vẫn hết sức chú ý theo dõi diễn biến các sự kiện phát triển ở cánh Bắc phương diện quân chúng tôi. Mỗi chúng tôi đều hiểu rằng chính ở đó, vào lúc này đang quyết định kết cục trận giao chiến trên hướng Ki-ép. Bộ đội của tập đoàn quân 40 có đứng vững trước dòng thác xe tăng của Gu-đê-ri-an được không?

Ngồi tại cơ quan tham mưu của Phê-cơ-len-cô, tất nhiên, chúng tôi không thể hình dung được đầy đủ chi tiết những trận chiến đấu ở khu vực đó. Sau này, tôi mới được rõ mọi điều qua tướng Tu-pi-cốp, tham mưu trưởng phương diện quân, và đại tá Da-khơ-va-ta-ép, phó phòng của tôi, khi tôi về tới bộ tham mưu phương diện quân. Những văn kiện còn giữ được cũng giúp tôi khôi phục lại nhiều chi tiết.

Sau đây là những sự kiện xảy ra lúc ấy ở cánh Bắc của chúng tôi. Thượng tuần tháng Chín, tập đoàn quân 40 vẫn tiếp tục chống lại quyết liệt những đơn vị của tướng Gu-đê-ri-an được không quân chi viện mạnh mẽ, có ưu thế áp đảo về xe tăng, pháo binh cũng như về khả năng cơ động. Những đơn vị của ta đã kìm chân những sư đoàn xe tăng và cơ giới địch ở giữa hai con sông Đê-xna và Xây-mơ trong hai tuần.

Sau chiến tranh, Gu-đê-ri-an hổ thẹn không dám thú nhận rằng những lực lượng đáng kể thuộc tập đoàn xe tăng của y hồi đầu tháng Chín năm 1941 đã bị trói chân bởi những đòn phản kích tích cực của một sư đoàn xô-viết duy nhất – sư đoàn bộ binh 293 do đại tá P. Ph. La-gu-tin chỉ huy, vốn chỉ có vài chục chiếc xe tăng của sư đoàn xe tăng độc lập 10 của Anh hùng Liên Xô tướng C. A. Xê-men-tsen-cô chi viện. Tên tướng phát-xít nói bừa rằng đó là bốn sư đoàn, chứ không phải một sư đoàn bộ binh của ta, nhưng như chúng ta đều biết, cả tập đoàn quân 40 không hề có số quân như vậy.

Hoàn toàn bất ngờ trước sự kháng cự mãnh liệt của bộ đội xô-viết, bộ chỉ huy Hít-le rất lo lắng. Thượng tướng Han-đe trong những ngày ấy đã đánh giá những kết quả của Gu-đê-ri-an không có gì đáng vui mừng. Hắn ghi trong nhật ký: “Tập đoàn quân xe tăng 2 trong quá trình tiến công vượt sông Đê-xna đã bị đối phương kìm chặt bên sườn trái đến mức phải ngừng phát triển tiến công xuống phía Nam. Thậm chí tập đoàn quân buộc phải bỏ lại nhưng khu vực đã chiếm được”.

Những kết quả đầu tiên của tập đoàn quân 40 làm Kiếc-pô-nô-xơ yên lòng đến nỗi đồng chí quyết định điều một trong những sư đoàn thuộc tập đoàn quân 40 là sư đoàn bộ binh 135 của tướng Ph. N. Xme-khô-tơ-vô-rốp tới chi viện cho tập đoàn quân 5 hiện đang lâm vào tình thế ngày một xấu do địch lọt sâu ở các hướng Tséc-ni-gốp và Ô-xti-ô-rơ. Địch cố chia cắt các đơn vị của tập đoàn quân 5 và sau khi hợp vây được, sẽ tiến vào phía sau tập đoàn quân 37 của ta đang phòng ngự ở ngay sát Ki-ép. Thời gian này, do bị tách khỏi bộ tham mưu phương diện quân, nên chúng tôi không hiểu được tại sao Kiếc-pô-nô-xơ lại trì hoãn việc rút những binh đoàn của Pô-ta-pốp? Về sau, tôi mới biết do Đại bản doanh dứt khoát không cho phép thực hiện việc đó. Chắc Mát-xcơ-va vẫn hy vọng ở bộ đội của Phương diện quân Bri-an-xcơ có thể tiến công đánh bật địch ra khỏi sông Đê-xna.

Ngày 7 tháng Chín, tư lệnh Phương diện quân Tây – Nam buộc phải gửi Đại bản doanh bản báo cáo đặc biệt, trong đó đồng chí chứng minh rằng không thể chậm trễ được nữa. Tổng tham mưu trưởng hỏi ý kiến Nguyên soái Bu-đi-ôn-nưi. Đồng chí hoàn toàn ủng hộ đề nghị của bộ tư lệnh phương diện quân. Cuối cùng, ngày 9 tháng Chín, Nguyên soái Sa-pô-sni-cốp thông báo: “Tổng tư lệnh tối cao phê chuẩn việc rút tập đoàn quân 5 và sườn phải tập đoàn quân 37 về sông Đê-xna”. Nhưng lúc này, các đơn vị phát-xít đã kịp bám trụ ở hai bên bờ sông Đê-xna. Các binh đoàn của Pô-ta-pốp bị kẹt giữa hai gọng kìm: những đơn vị của tập đoàn quân 6 Đức đánh lấn trên chính diện và những binh đoàn của tập đoàn quân 2 Đức đánh ở phía sau lưng.

Sáng 10 tháng Chín, xe tăng của Gu-đê-ri-an đột kích vào cả tập đoàn quân 40. Chúng tiến công trên một đoạn hẹp, tập trung toàn bộ sức mạnh vào một điểm. Tướng Pốt-la-xơ báo cáo về bộ tham mưu phương diện quân, đề nghị chi viện. Nhưng phương diện quân không còn một sư đoàn dự bị nào.

Bộ đội tập đoàn quân 40 đã chiến đấu đến cùng. Các đơn vị không chịu rút lui. Xe tăng địch chỉ mở được con đường giữa Ba-tu-rin và Cô-nô-tốp là nơi không còn một chiến sĩ nào của ta. Những đơn vị của sư đoàn xe tăng 10 đã chiến đấu anh dũng. Tại đoạn của trung đoàn bộ binh cơ giới 10 thuộc sư đoàn, khi 17 xe tăng và xe bọc thép địch xông vào những đồng chí còn lại trong đại đội của trung úy Pê-tơ-rốp, thì 9 chiến sĩ còn sống đã cùng đại đội trưởng vẫn không chịu lùi bước. Họ đón địch bằng lựu đạn và các chai cháy. Đại đội bạn đã thấy rõ trận đánh diễn ra như thế nào. Hầu hết những người anh hùng đều hy sinh, nhưng bọn phát-xít cũng phải trả một giá đắt: 9 xe tăng và xe bọc thép bị phá hủy.

Trên đường phủ đầy xác lính và những chiếc xe tăng cháy rực của mình, Gu-đê-ri-an tiến đến Rôm-nư ở sâu sau lưng phương diện quân chúng tôi. Không còn ai để chặn đoàn xe bọc thép của địch nữa.

Cuối ngày 10 tháng Chín, những binh đội tiền tiêu thuộc sư đoàn xe tăng 3 Đức của tướng Mô-đen đã hội quân được với lính đổ bộ đường không đổ bộ vào Rôm-nư. Chính diện của tập đoàn quân 40 của ta bị cắt làm đôi: quân đoàn đổ bộ đường không 2 của tập đoàn quân rút lui về dải của tập đoàn quân 21 kế bên, những lực lượng còn lại vừa cố thủ Cô-nô-tốp vừa kéo chính diện đã bị chọc thủng lui về phía Nam.

Dù xe tăng địch có bất ngờ đột nhập Rôm-nư, nhưng các phân đội nhỏ thuộc các đơn vị chuyên môn kỹ thuật và các cơ quan hậu cần ở thành phố vẫn không chịu hạ vũ khí.

Họ đã bố trí phòng ngự vòng tròn bằng những ổ đề kháng riêng lẻ và chiến đấu đến cùng. Thậm chí Gu-đê-ri-an cũng buộc phải công nhận sự thật này. Hắn viết rằng khi tiến vào thành phố mà sư đoàn 3 của hắn vừa chiếm được thì hắn chỉ có thể đi lại bằng xe bọc thép.

Tôi và các đồng chí có mặt ở tập đoàn quân 38 trong những ngày ấy rất ít biết về việc các sư đoàn của Gu-đê-ri-an đã lọt sâu vào sau lưng phương diện quân chúng tôi. Ngày mà xe tăng của Gu-đê-ri-an tiến mạnh từ Cô-nô-tốp tới Rôm-nư, thì ở phía Nam, nơi chúng tôi có mặt lúc đó, bộ đội cụm xung kích của tập đoàn quân 38, sau khi được không quân và pháo binh bắn dọn đường, đã bắt đầu tiến công từ sáng. Tiếc rằng chúng tôi không đủ máy bay và pháo binh, nên không dập tắt được hệ thống hỏa lực của địch. Những sư đoàn tiến công vấp phải hỏa lực dày đặc và bị địch phản kích quyết liệt, nhưng chúng vẫn không ngăn được bộ đội ta. Anh em tiếp tục tiến công. Chúng tôi vui mừng trước những thành tích của quân đoàn kỵ binh 5 của tướng Ph. V. Cam-cốp: tiến công ở sườn trái, tuy chậm nhưng kiên trì, quân đoàn đã đẩy lùi địch về sông Đni-ép-rơ. Những binh đội thuộc sư đoàn kỵ binh 34 của đại tá A. A. Grê-tsơ-cô thu được những kết quả lớn nhất trong ngày hôm đó.

Chúng tôi cố gắng gấp rút thanh toán bàn đạp của địch, vì hiểu rằng qua đó, tình hình của toàn phương diện quân sẽ được cải thiện: khi đó, đòn đột kích của tập đoàn xe tăng Gu-đê-ri-an mất sự yểm hộ từ phía Nam, nên sẽ không còn nguy ngập lắm. Tiếc rằng cụm xung kích của tập đoàn quân 38 vừa phải chiến đấu chống các đơn vị phát-xít phản kích liên tục, vừa bị tổn thất lớn vì không quân địch, nên bước tiến ngày một chậm. Cần gây sức ép đối với địch đến mức tối đa. Tất cả các đại diện của bộ tư lệnh phương diện quân đều có mặt ở các đơn vị tiến công. Sáng 12 tháng Chín, tôi trở lại sư đoàn của Pu-khốp. Vất vả lắm mới đến nổi sở chỉ huy của đồng chí: máy bay địch quần đảo liên tục nên hoàn toàn không thể đi trên địa hình trống trải. Chúng tôi buộc phải để xe lại ở hầm trú ẩn. Có những lúc phải nằm xuống hố bom: pháo binh Đức bắn vào khắp nơi.

Lần này, tôi và Pu-khốp gặp nhau như những người quen biết cũ. Đồng chí khá lạc quan, mặc dù đơn vị của đồng chí chưa tiến được nhiều.

– Nếu ta oanh tạc thật mạnh dù chỉ một lần thôi, - thiếu tướng nói, - thì bọn phát-xít đã bị dồn xuống sông từ lâu rồi.

Theo đề nghị của tôi, tướng Phê-cơ-len-cô rút mấy phi đội máy bay cường kích, có máy bay tiêm kích đi hộ tống, tới chi viện cho hai sư đoàn bộ binh 300 và 304. Trong chừng mực nhất định, thế cũng đã tốt rồi. Những đơn vị của Pu-khốp lại tiến lên.

Bộ đội ta không ngừng công kích ngoan cường cả trên các đoạn khác, trong bàn đạp của địch. Chúng tôi chưa mất hy vọng hất địch về sông Đni-ép-rơ.

Đến chiều, tướng Phê-cơ-len-cô gọi điện đề nghị tôi về ngay sở chỉ huy của đồng chí. Ở đây, tôi được biết một tin không vui. Trong khi chúng tôi cố gắng thanh toán bàn đạp ở Đê-ri-ép ca thì tướng Clai-xtơ bí mật điều những sư đoàn xe tăng và cơ giới của hắn tới khu vực Crê-men-tsúc. Sáng ngày 12 tháng Chín, chúng nhảy bổ vào một trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 297, chia cắt chính diện của sư đoàn và tiến mạnh lên phía Bắc theo hướng chung đi Khô-rôn. Trên dải tiến công của địch, ta chỉ có rất ít lực lượng. Và tất nhiên, Clai-xtơ tiến quân để đón Gu-đê-ri-an. Những đơn vị tiền tiêu của Gu-đê-ri-an lúc này đã tiến xa khỏi Rôm-nư về phía Nam rồi

Không khó khăn gì lắm để đoán ra tập đoàn xe tăng Clai-xtơ sẽ cố gắng tiến đón quân của Gu-đê-ri-an. Nhưng chúng tôi tin chắc rằng xe tăng địch sẽ tiến quân từ chính cái bàn đạp lớn nằm ở giữa hai con sông Pxi-ôn và Voóc-xcơ-la, rằng bọn phát-xít rất quyết tâm mở rộng bàn đạp, bắc cầu phao ở phía sau cũng chính là nhằm mục đích này. Một sự việc nữa làm chúng tôi thêm vững tin là cũng chính tại nơi đây, ngày 10 tháng Chín, chúng ta đã tóm được những tù binh thuộc cụm của Clai-xtơ.

Tóm lại, chúng tôi không kịp thời phát hiện xe tăng của Clai-xtơ tập trung ở khu vực Crê-men-tsúc, nên đã không xác định được đoạn địch sẽ đột kích. Tất nhiên, đó là một sai lầm lớn. Lúc này đã có hai trong bốn tập đoàn xe tăng Đức có mặt trên toàn mặt trận Xô – Đức đang tiến mạnh vào sau lưng những lực lượng chủ yếu của phương diện quân chúng tôi.

Ngày nay, khi toàn bộ những sự kiện đã diễn ra trong những ngày đó được hoàn toàn sáng tỏ, tôi chợt nẩy ra ý nghĩ: giả như trinh sát ta có thể giúp chúng tôi dự đoán được cụm xe tăng của Clai-xtơ sẽ đột kích vào đâu, thì mình cũng chưa chắc đã ngăn chặn nổi sự đột phá của chúng. Địch có ưu thế chung quá lớn về lực lượng và phương tiện. Vì khi tập đoàn xe tăng 1 của Đức (có bốn sư đoàn xe tăng và ba sư đoàn cơ giới) tới đây, thì địch đã tập trung được gần hai mươi sư đoàn để đánh vào cánh Nam của phương diện quân chúng tôi. Và toàn bộ lực lượng này tập kích vào năm sư đoàn bộ binh và bốn sư đoàn kỵ binh của tập đoàn quân 38. Về bộ binh và pháo binh, địch mạnh gần gấp ba lần; về không quân, và nhất là về xe tăng, ưu thế của chúng còn lớn hơn nhiều.

Cần nói thêm rằng tình hình phương diện quân bạn ở bên trái chúng tôi rất thuận lợi cho việc quân địch tập trung lực lượng như vậy. Lúc này, bộ đội Phương diện quân Nam bị đẩy lui qua sông Đni-ép-rơ đến tận cửa sông. Dựa vào chướng ngại vật bằng nước rộng lớn đó, bộ tư lệnh cụm các đoàn quân “Nam” chỉ để lại ở đấy một đội cảnh giới nhỏ, còn đại bộ phận của tập đoàn quân dã chiến 17 và tập đoàn xe tăng 1 được tập trung thành một quả đấm mạnh, mở đòn đột kích từ phía Nam lên đón những binh đoàn của Gu-đê-ri-an.

Vinh dự cho những đơn vị với quân số ít ỏi của tập đoàn quân 38, trong những điều kiện ác liệt như vậy, vẫn giáng trả đích đáng ở bàn đạp giữa hai con sống Pxi-ôn và Voóc-xcơ-la và buộc địch phải từ bỏ ý định tiến công trên hướng thuận lợi nhất của chúng. Đòn phản đột kích rất quyết liệt và dũng cảm của các đơn vị tướng Phê-cơ-len-cô đã buộc địch phải tìm đoạn khác để đột phá và chuyển những nỗ lực của chúng sang nơi đó.

Tôi gặp Phê-cơ-len-cô lúc này đang suy nghĩ rất lung.

– Làm gì bây giờ, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích? – đồng chí hỏi. – Có tiếp tục tiến công hay thôi?

Tôi trả lời rằng, theo tôi, phản đột kích vào lúc này không còn ý nghĩa nữa. Cái chính hiện thời là cố gắng bằng bất kỳ giá nào cũng phải thanh toán bằng được chỗ đột phá đang đưa toàn bộ phương diện quân chúng tôi vào hoàn cảnh cực kỳ nguy nan.

– Nhưng bằng lực lượng nào? – thiếu tướng đau lòng nói. – Lực lượng dự bị của tôi chỉ vẻn vẹn còn một trung đoàn bộ binh. Thậm chí nếu chúng ta lấy ra phần lớn lực lượng của tập đoàn xung kích, thì cũng không có thời gian để điều tới đoạn đột phá. Làm sao mà bây giờ có thể theo kịp Clai-xtơ!

– Đuổi theo Clai-xtơ là vô ích, - tôi đồng ý. – Nhưng nếu ta đột kích vào bên sườn và bịt được cửa mở thì sẽ cắt được đường vận chuyển của các sư đoàn xe tăng và cơ giới của địch, và bộ tư lệnh phương diện quân sẽ dễ đối phó hơn với những binh đoàn cơ động đang đột phá của chúng.

Nhìn lại, phải công nhận rằng trong trường hợp này, tinh thần lạc quan của tôi không có cơ sở, vì như sau đó chúng tôi được biết, bộ tư lệnh phương diện quân Tây – Nam chỉ có thể điều hai sư đoàn bộ binh rút từ tập đoàn quân 26 ra để đối phó với hai tập đoàn quân xe tăng địch đã đột phá sâu vào sau lưng bộ đội ta.

Nhận thấy không có lối thoát nào khác, tướng Phê-cơ-len-cô đề nghị tổng tư lệnh cho phép ngừng những đợt công kích ở bên sườn trái tập đoàn quân và rút ở đấy một phần lực lượng về làm nhiệm vụ dự bị để phục hồi chính diện đã bị chọc thủng và chống lại khả năng một cuộc tiến công của địch và Pôn-ta-va. Lệnh cho phép được ban bố ngay. Đồng thời, Nguyên soái Bu-đi-ôn-nưi còn lệnh cho tư lệnh tập đoàn quân phải ném ngay tất cả các lữ đoàn xe tăng thuộc tập đoàn quân 38 tới đoạn đột phá.

Đến tối mới hoàn toàn biết rõ là ba sư đoàn bên sườn phải của tập đoàn quân Phê-cơ-len-cô đứng đầu là cơ quan tham mưu tập đoàn quân, đã bị tách khỏi những lực lượng chủ yếu và đang tiến hành những trận đánh gay go với một cụm quân mạnh thuộc tập đoàn quân 17 của Đức tiến công họ từ phía Đông – Nam. Biết tin đó, bộ tham mưu của tổng tư lệnh hiểu rằng từ nay, tập đoàn quân 38 kéo dài trên một chính diện 140 ki-lô-mét, sẽ phải chiến đấu thực ra là trên hai hướng chiến dịch tách nhau: Crê-men-tsúc, Rô-mô-đan và Cô-le-béc-đa, Pôn-ta-va.

Bây giờ, tôi xin trở lại những sự kiện ở cánh Bắc phương diện quân. Bộ đội tập đoàn quân 5, sau khi được phép rút lui qua sông Đên-xna quá muộn, đã phải chiến đấu ác liệt để mở đường thoát vây. Địch bám riết và không ngừng công kích từ mọi phía. Trong hoàn cảnh phức tạp đó, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các quân đoàn bộ binh 15 và 31 đã tỏ rõ ý chí gang thép. Các đơn vị kiên trì rút về Đê-xna, dưới tầm bon đạn không ngớt của địch.

Các đơn vị phát-xít đã hai lần bao vây trung đoàn 711 thuộc sư đoàn bộ binh 215 của đại tá P. A. Ba-ra-ba-nốp(Trước đây là sư đoàn cơ giới. Từ ngày 22 tháng Tám, tất cả các sư đoàn bộ binh cơ giới được tổ chức lại thành các sư đoàn bộ binh.), nhưng các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đã công kích quyết liệt mở đường thoát vây. Những binh đội thuộc sư đoàn bội binh 193 của đại tá A. C. Bê-re-xtốp trong hai ngày chiến đấu ác liệt đã diệt được 700 tên địch.

Các binh đoàn thuộc tập đoàn quân 5 không có hậu phương: chỗ nào cũng là mặt trận. Ở sư đoàn bộ binh 200, khi bộ binh và xe tăng Đức đột phá qua đội hình chiến đấu lại tới cơ quan tham mưu sư đoàn, các sĩ quan tham mưu, chiến sĩ thông tin liên lạc và bảo vệ đã xông ra đánh địch. Thiếu tá A. P. Côn-pa-tsi-ốp, sư đoàn trưởng, trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Anh em hy sinh trong những trận đánh không cân sức, nhưng địch cũng bị thiệt hại nặng. Ba xe tăng địch tiếp tục lao lên. Lúc đó, các chiến sĩ Cu-la-cốp, Ô-xi-pốp và Xéc-gây-ép đã chạy tắt đón đường. Họ ném chai cháy vào xe tăng địch chỉ trong khoảng cách 10 – 15 mét. Cơ quan tham mưu được cứu thoát.

Chúng ta có thể hình dung tâm trạng của chiến sĩ và cán bộ chỉ huy khi vượt được tới Đê-xna thì đã thấy bọn địch chiếm bờ sông rồi. Các sư đoàn 193, 195 và 215 thuộc quân đoàn bộ binh 31 dưới quyền chỉ huy chung của tướng V. N. Nê-xmê-lốp, sư đoàn trưởng sư đoàn 195, bị lâm vào một tình thế như vậy. Các đơn vị bị địch tập kích cả ở chính diện lẫn sau lưng, không thể tìm được lối thoát. Trước tình huống đó, đồng chí đã hạ quyết tâm dùng một phần lực lượng để kìm những đơn vị địch công kích từ phía Tây, còn bộ phận khác sẽ vừa chiến đấu vừa vượt sông Đê-xna. Không có phương tiện vượt sông. Họ phải phá hủy pháo và ô-tô. Chỉ có sư đoàn bộ binh 200 của quân đoàn này là bọn phát-xít không chặn được. Sư đoàn trưởng không những đã biết khôn khéo tránh địch đuổi theo, mà còn biết vượt địch tiến ra sông Đê-xna. Sư đoàn vẫn giữ nguyên được toàn bộ pháo binh và các đơn vị hậu cần. Các sư đoàn 45 và 62 của quân đoàn bộ binh 15 tiến ra sông Đê-xna ở phía Nam Tséc-ni-gốp. Tại đây, bờ sông cũng đã lọt vào tay địch. Quân đoàn trưởng là thiếu tướng C. X. Mô-xca-len-cô (thay tướng Blan-cơ đã hy sinh) đã khôn khéo tổ chức công kích đồng loạt, đánh tan địch và thoát vây.

Sau những trận đánh cực kỳ căng thẳng đó, tập đoàn quân 5 bị tổn thất đáng kể, nhưng ngày 11 tháng Chín, các đơn vị vẫn chọc thủng được vòng vây.

Trong lúc những đơn vị cánh phải của phương diện quân mở đường thoát vây thì những binh đoàn bên sườn phải của tập đoàn quân 37 đã phá vỡ mưu toan đánh vu hồi vào Ki-ép từ phía Đông – Bắc của một cánh quân mạnh của địch. Cuộc chiến đấu phòng ngự kiên cường của họ đã làm dịu bớt một phần số phận của tập đoàn quân 5.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.