Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trung Thành Với Nghĩa Vụ
Trung Thành Với Nghĩa Vụ

❊ ❊ ❊

Khi các đoàn biên phòng và đội cảnh giới các khu vực cố thủ chiến đấu không cân sức trong vòng vây của nhiều đơn vị phát-xít lớn thì những sư đoàn đóng gần biên giới đang ra sức tiến đến những tuyến đã định. Cá chiến sĩ và sĩ quan xô-viết đã anh dũng thực hiện nghĩa vụ của mình. Họ không ngừng phản kích lại các mũi tiến công của địch, mặc dù chúng đang có ưu thế lớn về quân đông.

Trong ngày 22 tháng Sáu, trong dải của tập đoàn quân 5, những đơn vị bước vào chiến đấu đầu tiên là sư đoàn bộ binh 45, 62 và 87, mỗi sư đoàn có hai trung đoàn (các trung đoàn thứ ba còn đang làm công tác xây dựng và không kịp đến địa điểm chiến đấu) và toàn bộ sư đoàn bộ binh 124. Được lệnh báo động, các đơn vị chỉ kịp mang theo số đạn rất có hạn (xe chở đạn đang nhận hàng ở kho nơi đóng quân) và chuyển sang phản kích ngay trong lúc đang hành quân. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy chiến đấu một mất một còn.. Bọn phát-xít không thể bẻ gẫy được tinh thần dũng cảm của những con người còn chưa dày dạn trong khói lửa. Địch chặn được họ bằng hỏa lực dày đặc, nhưng không thể buộc họ rút lui.

Còn những binh đoàn đang ở sâu trong khu vực biên giới trước khi đến được các tuyến chiếm lĩnh của mình đã phải vượt qua một chặng đường dài. Bị máy bay địch tập kích liên tục, nhưng các đơn vị này vẫn tiến ra biên giới với tính tổ chức và ý chí kiên cường vốn có của những sư đoàn chính quy.

Trong khi các binh đoàn thê đội hai gấp rút tới chi viện cho bốn sư đoàn đang chiến đấu thì họ đang chống trả quyết liệt mũi đột kích của các lực lượng chủ yếu của địch.

Nhìn vào so sánh lực lượng giữa ta và quân Đức, lại càng thấy khâm phục ý chí bất khuất của người lính xô-viết.

Ngày đầu chiến tranh, trong dải của tập đoàn quân 5 ở địa đoạn dài 75 ki-lô-mét từ Uxti-lúc đến Crư-xtư-nô-pôn, là mũi đột kích của yếu của địch và thực tế là nơi quyết định số phận của toàn bộ chiến trận nơi biên giới, chỉ có hai sư đoàn bộ binh 87 và 124 đương đầu với địch, trong khi những đơn vị khác lại còn ở khá xa.

Địch tập trung tới tám sư đoàn bộ binh và ba – bốn sư đoàn xe tăng, được không quân mạnh yểm hộ, để tiến công hai binh đoàn này. Nhưng các chiến sĩ của ta không hề run sợ.

Nói chung, so sánh lực lượng hoàn toàn không có lợi cho ta. Trên hướng đột kích chủ yếu của địch, toàn bộ cánh quân của Phương diện quân Tây – Nam (ba sư đoàn bộ binh và hai quân đoàn cơ giới 15 và 22), chưa xây dựng xong đội hình tác chiến và còn phân tán trên một tung thâm lớn, với khoảng 100 nghìn người và gần hai nghìn khẩu pháo, cối đang bị tập đoàn quân 6 và cụm xe tăng 1 của phát-xít Đức được triển khai từ trước tiến công, với 300 nghìn binh lính, sĩ quan và gần 5,5 nghìn khẩu pháo, cối. Nghĩa là ở đây, bọn phát-xít có ưu thế gấp ba lần về sinh lực và gấp hơn hai lần về pháo. Hơn nữa, chúng còn khống chế được cả ở trên không.

Trên hướng đột kích chủ yếu của bọn Hít-le, có hai quân đoàn cơ giới 9 và 19 đóng cách biên giới 250 – 300 ki-lô-mét. Về tổng số xe tăng thì cả bốn quân đoàn cơ giới của ta không kém địch, nhưng chủ yếu lại là những xe chiến đấu – huấn luyện kiểu cũ. Còn tăng mới kiểu CV và T-34 là loại hoàn thiện nhất về mặt kỹ thuật thời bấy giờ thì cả bốn quân đoàn nói trên mới chỉ có 163 chiếc. Còn bọn địch có 700 tăng kiểu mới.

Cũng không nên quên sự việc này: nếu lực lượng chủ yếu của các quân đoàn cơ giới 15 và 22 chỉ có thể tham chiến sớm nhất vào ngày thứ hai của cuộc chiến tranh thì các binh đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 9 và 19 trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ kiếp tiến ra biên giới sau bốn ngày đêm. Nếu nói thêm về thợ máy – lái xe chưa kịp nắm vững kỹ thuật của loại xe mới, thì chúng ta sẽ thấy ngay ưu thế về xe tăng đã thuộc về bên nào.

Trong dải của tập đoàn quân 6 và 26, năm sư đoàn bộ binh và một sư đoàn kỵ binh của ta đang phải chống cự với 12 - 14 sư đoàn bộ binh phát-xít. Mặc dầu chúng có ưu thế gấp hơn hai lần về sinh lực, song ở đây, quân Đức vẫn phải dẫm chân tại chỗ. Chúng chỉ có thể tiến lên được khi tình hình không thuận lợi khiến chúng ta tự rút các đơn vị của mình về phía sau.

Ở bên sườn phải của tập đoàn quân 5, nơi mà cụm tập đoàn quân “Nam” của phát-xít Đức đánh đòn đột kích chủ yếu được chuẩn bị chu đáo, địch đã bị chặn đứng ở phía Bắc Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki bằng những cuộc phản kích quyết liệt của quân đoàn bộ binh 15 do đại tá I. I. Phê-đi-u-nin-xki chỉ huy.

Thiếu tướng G. I. Séc-xti-úc, sư đoàn trưởng bộ binh 45, một người giàu kinh nghiệm và bình tĩnh, đã ra lệnh chờ cho quân phát-xít đến thật gần mới nổ súng để tiết kiệm đạn, rồi xông lên dùng lưỡi lê diệt địch. Địch bị tổn thất nặng nhưng vẫn không tiến được mấy.

Các đơn vị thuộc sư đoàn 62 do đại tá M. P. Ti-mô-sen-cô trẻ tuổi chỉ huy đã tiến hành những trận đánh gay go. Khi trung đoàn bộ binh 44 của sư đoàn bị bao vây, Ti-mô-sn-cô đã tập hợp những lực lượng dự bị còn lại không lớn lắm và đích thân dẫn các chiến sĩ đi giải vây cho trung đoàn. Được tin đó, đơn vị bị bao vây, đứng đầu là trung tá G. I. Phê-xen-cô, trung đoàn trưởng và N. I. Bê-xô-nốp, trung đoàn phó phụ trách chính trị, cũng xông lên đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê rất quyết liệt. Những người chứng kiến kể lại rằng khi trung đoàn tiến lên đột phá, những người khỏe mạnh nhất đi hàng đầu. Khập khiễng theo sau là những chiến sĩ bị thương, kẻ cầm súng, người lăm lăm lựu đạn trong tay còn lành lặn, và sau nữa là những người chỉ còn bò được những vẫn không rời vũ khí. Khi đồng đội còn mạnh chân muốn cõng họ là anh em trả lời: “Không cần. Các đồng chí cứ tiến lên, chúng tôi sẽ bắn yểm hộ!”. Thiếu úy X. D. A-khơ-mét-xa-phin, trung đội trưởng, người Ba-ski-ri-a, bị thương ngất đi. Anh em xốc đồng chí dậy và khiêng đi. Nhưng vừa tỉnh, đồng chí đã bật dậy và lại dẫn đồng đội xông lên. Lòng dũng cảm và quyết tâm của họ đã chiến thắng: trung đoàn thoát khỏi vòng vây.

Các chiến sĩ cùng cán bộ chỉ huy và chính trị viên trung đoàn bộ binh 306 do thiếu tá P. X. Ga-vri-lốp-xki chỉ huy cũng chiến đấu quên mình như vậy. Trong lúc phản kích, đại đội bộ binh 1 đánh thọc sâu vào vị trí địch và bị cắt đứt với quân ta. Tình thế thật tuyệt vọng: đạn gần hết, súng máy im bặt. Lòng dũng cảm của chuẩn úy A. I. Rê-dơ-ni-tsen-cô đã cứu thoát đại đội. Tuy bị thương, đồng chí vẫn cùng một tổ chiến sĩ lọt vào chỗ anh em bị vây, tiếp tế đạn cho họ. Và toàn đại đội lại xông lên công kích.

Sau đó không lâu, địch lọt vào phía sau đại đội bộ binh 3. Trung úy N. Ph. Xcơ-li-a-ren-cô dẫn chiến sĩ tiến lên đột phá. Đại đội trưởng cầm súng trường đi đầu hàng quân. Trong trận đánh ác liệt này, đồng chí dùng lưỡi lê diệt bốn tên Hít-le. Tấm gương sáng của đồng chí đã cổ vũ chiến sĩ đánh trả quyết liệt và thoát khỏi vòng vây.

Tối đến, tiểu đoàn 1 đang tiến quân ở phía trước thì bị bọn phát-xít hợp vây ở làng Đam-lư-ni-ê. Địch không lọt nổi vài trận địa của các chiến sĩ xô-viết. Hết đạn, thượng úy L. X. Cô-ten-cô, tiểu đoàn trưởng, dẫn anh em xông lên tấn công bằng lưỡi lê, khiến bọn địch bị bất ngờ. Anh em đạp lên xác giặc mở đường về với chủ lực của trung đoàn.

Một trung đội thuộc đại đội bộ binh 4 dưới quyền chỉ huy của thiếu úy A. X. Mơ-crơ-tư-tsi-an làm nhiệm vụ bảo vệ nơi qua sông Xan ở làng Bư-xtra-ki. Hai đại đội phát-xít chọi với một trung đội của ta, nhưng mọi đợt công kích của chúng đều bị đập tan trước ý chí kiên cường của các chiến sĩ xô-viết. Khi bọn Hít-le vừa bám được vài bờ phía Đông thì Mơ-crơ-tư-tsi-an và đồng đội đã giáng những đòn táo bạo hất chúng xuống sông.

Và dưới đây là báo cáo về chiến công của xạ thủ trung liên I. I. A-pa-na-xen-cô. Trong một trận đánh khốc liệt, đồng chí đang bắn yểm hộ cho đại đội phản kích và không biết mình đang bị địch bao vây. Bọn lính Hít-le lách qua mọi phía hòng tiếp cận người dũng sĩ. Đồng chí vẫn điểm xạ chính xác đẩy lùi ba đợt công kích của chúng. Đạn gần cạn. Bọn Hít-le gầm lên: “Thằng Nga kia, hãy đầu hàng đi!”. Người chiến sĩ xô-viết im lặng. bọn phát-xít tưởng ngon ăn nhảy vài chiến hào. Xạ thủ súng máy bình tĩnh nhả đạn trúng những tên nhổm dậy, ném lựu đạn vào những tên đang bò, lại trở về với đồng đội.

Tôi nhớ trong báo cáo của trung đoàn 306 còn ghi gần một nửa số chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tiểu đoàn 3 bị thương nhưng vẫn không chịu rời trận địa. Trong một trận đánh không cân sức, thiếu úy Đ. X. Xít-man nhận quyền chỉ huy đại đội 9. Bị thương hai lần, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu. chỉ sau khi bị thương đến lần thứ ba và bất tỉnh, anh em mới đưa được đồng chí về phía sau.

I. I. Phê-đi-u-nin-xki báo cáo lên bộ tham mưu phương diện quân về ý chí kiên cường, dũng cảm của các trung đoàn thuộc các sư đoàn bộ binh 87 và 124. Mới đầu, tôi hơi ngạc nhiên, vì theo kế hoạch phòng thủ biên giới, cả hai sư đoàn này đều thuộc quân đoàn 427. Nhưng, khi nhìn lên bản đồ, tôi mới đoán được tại sao lại như vậy. Vào lúc bọn Đức tiến công, hai sư đoàn này còn ở xa cơ quan tham mưu của quân đoàn. Khi đó, tư lệnh tập đoàn quân ra lệnh cho hai sư đoàn này tạm thời thuộc quyền I. I. Phê-đi-u-nin-xki mà quân đoàn bộ binh 15 của đồng chí đã bước vào chiến đấu rồi.

Căn cứ vài những dòng cứ báo cáo ngắn gọn thì khó mà hình dung nổi tất cả những chi tiết về bức tranh chiến đấu. Nhưng qua mỗi giờ, tình hình lại sáng tỏ thêm. Phê-đi-u-nin-xki nhận xét những binh đoàn mới của mình với lòng khâm phục.

Được tin bọn Hít-le tiến công, sư đoàn trưởng bộ binh 87 Ph. Ph. A-li-a-bu-sép đã nhanh chóng dẫn hai trung đoàn của mình cơ động từ Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki đến biên giới. Các binh đội của đồng chí vừa chiến đấu vừa tiến đến khu vực cố thủ sát biên giới, bất ngờ tập kích vào bọn chúng. Nhưng địch lại có ưu thế rất lớn về quân số. Lợi dụng ta chưa mở được chính diện liên tục, chúng đánh thọc sườn những trung đoàn đã tiến xa. Đồng thời, những binh đội thuộc sư đoàn xe tăng Đức 14 xông thẳng tới quãng trống giữa các sư đoàn bộ binh 87 và 62 của ta. Con đường rảnh rang đến Lút-xcơ đã hiện ra trước bầy xe tăng Đức.

Những trung đoàn nằm trong vòng vây đã chiến đấu kiên cường, thu hút nhiều lực lượng địch về phía mình. Địch không tiếc sức nhằm tiêu diệt sư đoàn xô-viết này. Chúng tiến công liên tục. Bọn Hít-le đã cắt rời được trung đoàn bộ binh 96. Nhưng trung tá Ê. I. Va-xi-len-cô, trung đoàn trưởng, đã nhanh chóng lập cụm xung kích và dẫn anh em xông lên phản kích. Trong đội hình phản kích, các chiến sĩ pháo binh của tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn pháo 197, đứng đầu là thượng úy M. D. Vôi-tơ-cô, người chỉ huy dũng cảm của họ, đã kéo pháo bằng tay và bắn thẳng vào bọn phát-xít. Địch không chịu nổi và phải giãn ra. Các binh đội của sư đoàn lại liên lạc được với nhau và chiến đấu hăng hơn nữa. Tôi xin nói trước rằng binh đoàn này đã anh dũng bám trụ ở sát biên giới cho đến tận cuối tháng Sáu, khi được lệnh phá vây trở về với đồng đội.

Những trận đánh đẫm máu cũng diễn ra ở phía Nam Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki, trên hướng Xô-can. Trưa ngày 22 tháng Sáu, những trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 124 do tướng Ph. G. Xu-si chỉ huy đã kịp thời vận động đến đây. Đồng chí là bạn thân của tôi – cùng học tại Học viện quân sự mang tên M. V. Phun-dê. Các binh đội của đồng chí công kích địch trong hành tiến, đánh bạt chúng. Nhưng lực lượng hai bên thật không cân sức. Dưới sức ép của địch, sư đoàn buộc phải vừa đánh vừa rút, bám giữ từng tuyến.

Tối đến, bọn địch thọc vào trận địa hỏa lực của trung đoàn lựu pháo 341 thuộc sư đoàn. Các chiến sĩ pháo binh táo bạo đợi địch đến thật gần và bắn thẳng. Bị tổn thất nhiều, bọn Hít-le buộc phải rút lui. Được chi viện, chúng lại xông lên công kích, nhưng hỏa lực của pháo binh ta lại hất chúng ra. Đạn hết, thiếu tá Ph. K. Xê-tsen-cô, trung đoàn trưởng pháo binh, đã dẫn chiến sĩ pháo binh xông lên phản kích như bộ binh và một lần nữa lại đánh bại lũ phát xít.

Ở đây, địch cũng lợi dụng những chỗ trống trên chính diện của ta. Xe tăng của chúng xông qua những bên sườn bị hở và lao về Rát-dê-khúp. Để cứu vãn tình thế, tư lệnh phương diện quân quyết định điều động lực lượng chủ yếu của quân đoàn cơ giới 15 tới đây. Chúng tôi được biết sư đoàn xe tăng 10 phái đi trước của quân đoàn hiện đang ở cách Rát-dê-khúp 60 – 70 ki-lô-mét. Liệu nó có kịp vượt địch không? Chưa chắc. Nhưng nếu có vượt được thì quân đoàn cũng không tránh khỏi phải tham chiến từng phần với địch, và như vậy sẽ làm cho nhiệm vụ thêm phức tạp. Chúng tôi lo lắng chờ thiếu tướng I. I. Các-pê-dô, sư đoàn trưởng, gửi về những báo cáo đầu tiên.

Trong khi phải áp dụng những biện pháp đối phó với những đoàn xe tăng và cơ giới địch từ Xô-can thọc tới, thì từ phía Bắc, ở vùng Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki, chúng tôi nhận được những tin tức yên lòng. Tại đây, những đơn vị xe tăng địch, sau khi vòng qua sư đoàn bộ binh 87 và lao về Lút-xcơ, đã không tiến sâu được như ở hướng Rát-dê-khúp. Chúng bị những phân đội phái đi trước của lữ đoàn pháo chống tăng 1, đụng độ địch ở vùng Vôi-ni-txa, phía Đông Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki 20 ki-lô-mét, chặn lại.

Sau khi nhận được báo cáo những đại đội pháo phái đi trước đã nhả đạn mãnh liệt vào xe tăng địch, thiếu tướng K. X. Mô-xca-len-cô, lữ đoàn trưởng, cùng với thiếu tướng X. M. Côn-đru-xép, quân đoàn trưởng quân đoàn cơ giới 22, và thiếu tướng V. X. Tam-ru-tsi, tham mưu trưởng quân đoàn, trèo lên điểm cao gần đấy quan sát tình hình. Trên mặt đường, các đồng chí nhìn thấy những chiếc xe tăng phủ khói đen. Quân đoàn trưởng quân đoàn cơ giới 22 giận dữ hỏi Mô-xca-len-cô:

– Pháo thủ các anh đang làm gì vậy? Toàn là xe của chúng ta cả!

Tướng Côn-đru-ép cho rằng đó là sư đoàn xe tăng 41 thuộc quân đoàn của đồng chí đang rút, vì lúc sắp nổ ra chiến tranh, nó đang đóng ở vùng Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki. Nhưng khi những chiếc xe tăng ấy tiến lại gần thì thấy rõ chúng mang dấu hiệu phát-xít. Hình dáng của chúng cũng khác hẳn với xe tăng Liên Xô. Lúc này, đạn bắt đầu trút xuống điểm cao. Tướng Côn-đru-xép bị thương nặng. K. X. Mô-xca-len-cô rời tới đài quan sát mới. Phần lớn lữ đoàn của đồng chí đã kịp triển khai sang hai bên đường nhựa. Đạn chống tăng có ít nên Mô-xca-len-cô lệnh cho pháo thỉ chủ được bắn ăn chắc: “Mỗi viên đạn – một xe tăng thù!”.

Đoàn xe tăng phát-xít lao tới gần. Chuông điện thoại réo lên ở đài quan sát của lữ đoàn trưởng. “Thưa thiếu tướng, đã được bắn chưa?” – các tiểu đoàn trưởng hỏi. Thiếu tướng trả lời: “Đợi một chút nữa”. Xe tăng địch tăng tốc độ, chỉ một lát nữa hôi, chúng sẽ xông vài giữa trận địa của các chiến sĩ pháo binh. Cuối cùng, Mô-xca-len-cô phát tín hiệu.

Hàng chục khẩu pháo hầu như cùng nhả đạn một lúc. Thêm mấy loạt nữa. Xe tăng địch như những con thiêu thân bốc cháy trên đường vài trận địa của các đại đội pháo. Mũi đột kích chủ yếu của địch hướng vài tiểu đoàn pháo của đại úy A. N. Phê-ốc-ti-xtốp. Đoàn tăng địch nối đuổi nhau lao tới. Càng đến gần, chúng càng bị bắn cháy nhiều. Khẩu đôi do các trung sĩ T. I. Mô-xcơ-vin và P. I. Tu-ghin chỉ huy bắn đặc biệt chính xác. Những chiếc bị cháy cản đường những chiếc sau. Chúng cố lách giữa những chiếc đã bị trúng đạn, càng làm mồi ngon cho các pháo thủ, đường đạn càng chính xác hơn. Thêm một số chiếc bị bốc cháy. Nhưng lẻ tẻ có mấy chiếc lọt được vài trận địa. Từng chùm lựu đạn đón chúng ở đây.

Lữ đoàn pháo chống tăng 1 bị thiệt hại đáng kể, nhưng đã chặn được địch. Trận đánh diễn ra ở gần thị trấn Coóc-tsin yên tĩnh của U-cra-i-na.

Chúng tôi chưa kịp vui mừng với thắng lợi này ở phía Bắc thì nhận được báo cáo của tướng Các-pê-dô. Đồng chí cho biết sư đoàn xe tăng 10 của mình đã sẵn sàng chiến đấu và đã cử đội tiền tiêu tới Rát-dê-khúp. Cả sư đoàn xe tăng 37 cũng xuất kích, nhưng thật ra chỉ có bốn tiểu đoàn, còn sư đoàn cơ giới 212 do thiếu xe nên phải hành quân bộ. Quân đoàn trưởng đề nghị gửi gấp cho xe vận tải, nếu không, sư đoàn sẽ không thể tổ chức việc chuyên chở đạn dược và đưa thương binh về tuyến sau. Tình hình ở trung đoàn mô-tô 25, tiểu đoàn thông tin liên lạc của quân đoàn và tiểu đoàn công binh còn tệ hơn: các đơn vị này nói chung không thể cơ động được vì thiếu phương tiện vận tải.

Chúng tôi đã biết quân đoàn cơ giới 15 còn yếu về trang bị kỹ thuật, nhưng đến bây giờ, chúng tôi mới nhận thức được hậu quả của tình hình này. Quân đoàn khó có thể chặn được đoàn xe tăng địch đang lao từ Xô-can về Tây – Nam.

Làm thế nào bây giờ? Tướng Kiếc-pô-nô-xơ đang bận nói chuyện với tư lệnh các tập đoàn quân, lướt qua bức điện của Các-pê-dô rồi đưa cho tham mưu trưởng:

– Đồng chí suy nghĩ xem, có thể làm gì?

Puốc-ca-ép cau mày, quay bút chì trong tay hồi lâu, sau đó viết vào bức điện: “Gửi trưởng phòng tác chiến. Sử dụng những phương tiện có tại chỗ. Yêu cầu Các-pê-dô chấp hành mệnh lệnh”.

Trước khi chuyển cho quân đoàn trưởng lệnh gấp rút tiến đánh địch, tôi tìm tướng Moóc-gu-nốp, chủ nhiệm cục ô-tô – xe tăng – cơ giới của phương diện quân. Đưa cho đồng chí xem báo cáo của Các-pê-dô, tôi đề nghị:

– Đồng chí cho Các-pê-dô một tiểu đoàn ô-tô thôi, có được không?

Moóc-gu-nốp dang tay. Hầu như toàn bộ phương tiện vận chuyển của phương diện quân đã được huy động để chở khí tài, vũ khí và vật liệu dự trữ cho các quân đoàn bộ binh đang ở sâu trong địa phận của quân khu tiến ra biên giới. Chỉ còn một ít xe dự trữ, nhưng lại nằm ở khu vực Sê-pê-tốp-ca. Muốn điều động, phải mất không ít thời gian.

Như vậy là không có gì chi viện cho quân đoàn. Và tướng Các-pê-dô nhận được câu trả lời ngắn gọn: “Hãy chấp hành mệnh lệnh”. Điều đó có nghĩa là phải gấp rút đến Rát-dê-khúp và nhanh chóng phản kích bằng lực lượng và phương tiện sẵn có…

Một yêu cầu mới đáng lo ngại cho thiếu tướng N. Ph. Phê-cơ-len-cô, quân đoàn trưởng quân đoàn cơ giới 19, ở Gi-tô-mia. Cũng như quân đoàn cơ giới 9 của tướng C. C. Rô-cô-xốp-xki, quân đoàn này phải cấp tốc tới chi viện cho tập đoàn quân 5. Nhưng bộ binh cơ giới của quân đoàn lại đang phải cơ động bằng đôi chân, không có xe kéo và ô-tô để kéo pháo, chở đạn và thực phẩm. Tướng Phê-cơ-len-cô chỉ xin trong số dự trữ của quân khu 40 chiếc ô-tô cũng được.

Tướng Kiếc-pô-nô-xơ lo lắng cho gọi Moóc-gu-nốp:

– Đồng chí hãy chuyển ngay cho Phê-cơ-len-cô 40 ô-tô lấy ở Sê-pê-tốp-ca. Giao cho đồng chí ấy và Rô-cô-xốp-xki toàn bộ số phương tiện vận chuyển dự trữ ở chỗ đồng chí. Đồng chí hãy yêu cầu Ki-ép thúc đẩy việc cung cấp ô-tô và xe kéo cho các quân đoàn cơ giới lấy trong số xe đã được động viên.

Vâng, phải đặt mọi hy vọng vài việc động viên phương tiện vận tải của nền kinh tế quốc dân nước cộng hòa. Nhưng cũng lại cần phải có thời gian… Còn giờ đây làm thế nào mà chiến đấu được nếu không có ô-tô và xe kéo?

Trong dải của tập đoàn quân 5, tình hình vẫn rất nghiêm trọng.

Ở tập đoàn quân 6, những thử thách khó khăn nhất rơi vào các đơn vị bên sườn phải: sư đoàn bộ binh 41, sư đoàn kỵ binh 3 và các tiểu đoàn thuộc khu vực cố thủ Ra-va – Ru-xcai-a. Sư đoàn 41 đã kịp triển khai giữa các hỏa điểm cố định của khu vực cố thủ, phải chống trả với hai sư đoàn bộ binh phát-xít đã tiến công trên nhiều hướng, nhằm chia cắt đội hình chiến đấu của các đơn vị xô-viết. Nhiều lần, chúng thọc sâu được vào vị trí của ta. Trong giây phút nguy hiểm đó, tướng G. N. Mi-cu-sép, sư đoàn trưởng, chính ủy trung đoàn A. M. An-tô-nốp, phó sư đoàn trưởng phụ trách chính trị và đại tá N. V. Ê-ri-ô-min, tham mưu trưởng, dẫn trung đoàn xông lên phải kích. Các chiến sĩ và cán bộ chiến đấu hết sức dũng cảm. Thương binh cũng không chịu rời đội ngũ. Trong số những người đặc biệt xuất sắc có đại đội trưởng thượng úy S. I. Ti-khô-rít-dê. Đồng chí bị thương trong lúc đánh giáp lá cà, và tiểu đoàn trưởng lệnh đưa đồng chí về phía sau. Nhưng giữa lúc đó, bọn Đức lại tấn công. Thượng úy được anh em dìu trở lại đại đội và tiếp tục chỉ huy trận đánh.

Địch vẫn không qua được đội hình chiến đấu của sư đoàn 41. Nhưng chúng đã phát hiện ra chỗ yếu ở chỗ tiếp giáp giữa các đơn vị tập đoàn quân 5 và 6, và giờ đây, chúng đang điều tới đó những lực lượng mạnh. Sau khi bẻ gẫy những phân đội biên phòng nhỏ, bọn phát-xít chiếm được nhà ga Pác-kha-tsơ trong hành tiến và lao về phía Đông. Trung đoàn kỵ binh 158 thuộc sư đoàn kỵ binh 3 đóng ở nhà ga. Được tin bọn Hít-le đang tiến quân, đại tá I-a. I. Brốp-tsen-cô, trung đoàn trưởng, ra lệnh báo động cho các chiến sĩ. Tướng M. Ph. Ma-lê-ép, sư đoàn trưởng, lệnh cho kỵ binh hiệp đồng với trung đoàn bộ binh 491 thuộc sư đoàn bộ binh 159 đánh bật bọn phát-xít ra khỏi nhà ga.

Đợt công kích của kỵ binh khiến bọn Đức bàng hoàng. Bộ binh địch bỏ chạy tán loạn. Kỵ binh và bộ binh ta truy kích chúng đến tận biên giới. Ngày tham chiến đầu tiên cũng là ngày tận số của hàng trăm tên lính phát-xít. Nhiều tên bị bắt làm tủ binh. Riêng hạ sĩ X. I. Khác-tsúc đã dẫn đến nộp cho đại đội trưởng kỵ binh năm tên phát-xít bị tước vũ khí. Thu thập số quân còn lại, bộ chỉ huy Đức lai ném chúng ra đối phó với kỵ binh xô-viết. trận đánh diễn ra rất ác liệt. Nhưng những binh đội còn lại của sư đoàn kỵ binh đã kịp thời đến cứu viện cho trung đoàn của Brốp-tsen-cô. Trung đoàn kỵ binh 99 dưới quyền chỉ huy của thiếu tá A. N. I-na-u-ri đã chiến đấu dũng cảm và chặn được bọn Hít-le.

Trong dải của tập đoàn quân 26, sư đoàn bộ binh 99 của tướng N. I. Đê-men-ti-ép đã phối hợp với bộ đội biên phòng và những tiểu đoàn thuộc khu vực cố thủ Pê-rê-mư-slơ giáng cho địch những tổn thất nặng. Do tiến công bất ngờ, những binh đội thuộc sư đoàn bộ binh Đức 101 đã đột nhập được vào thành phố biên giới Pê-rê-mư-slơ, nhưng chúng không thể phát huy được chiến quả. Bộ đội ta công kích địch, giành giật nhau từng ngôi nhà. Trong báo cáo của trung tướng Ph. I-a, Cô-xten-cô, tư lệnh tập đoàn quân, có nói tới trung đội của thiếu úy P. I. Gôn-tsa-rốp. Ba lần bị địch đánh bật nhưng cả ba lần, dù bị thương nhiều, các chiến sĩ xô-viết vẫn xông lên giành lại trận địa.

Dù chưa giải phóng được Pê-rê-mư-slơ, song ta vẫn kìm được chân địch, và tướng Đê-men-ti-ép cam đoan với bộ tư lệnh rằng đến sáng sẽ quét được bọn Hít-le ra khỏi thành phố.

Chủ nhiệm không quân của phương diện quân và cơ quan tham mưu của đồng chí trong lúc này đang cố gắng chấn chỉnh việc chỉ huy các đơn vị không quân. Công việc này thật không dễ dàng. Ngay từ những giờ phút tập kích bất ngờ đầu tiên từ trên không, địch đã gây thiệt hại nặng cho các máy bay của ta, cắt đứt liên lạc giữa bộ chỉ huy với các sân bay. Cán bộ chỉ huy các sư đoàn không quân phải hành động một cách độc lập. Nhìn lên trời, có thể thấy những tốp nhỏ máy bay của ta do nhưng chiến sĩ dũng cảm, táo bạo lái. Tuy ít hơn về số lượng, nhưng anh em vẫn dũng mãnh lao vào máy bay địch và chiến đấu quên mình.

Mãi đến tối, tướng Pơ-tu-khin, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, mới khôi phục được việc điều khiển các đơn vị không quân và chuyển sang hoạt động có tổ chức. Chúng tôi được biết trong ngày hôm ấy, các chiến sĩ lái đã bắn rơi 46 máy bay phát-xít. Nhưng cũng không ít chiến sĩ ta đã hy sinh trong những trận không chiến không cân sức đó. Những cánh chim ưng xô-viết không tiếc thân mình để tạo nên chiến thắng, đã dũng cảm lao vào trận đánh với kẻ thù đang có ưu thế lớn. Ngay trong những giờ phút đầu tiên của chiến tranh, trên bầu trời thành phố biên giới Rô-vơ-nô của U-cra-i-na đã có một chiến sĩ đâm vào máy bay địch Đó là trung úy I. I. I-va-nốp, đoàn viên thanh niên cộng sản. Chính trị viên trưởng phi công C. X. Xéc-đi-út-xki cũng đã bắn rơi hai máy bay phát-xít. Đại úy X. P. Giu-cốp, phi đội trưởng trung đoàn máy bay ném bom 86, một mình chọi với ba máy bay tiêm kích phát-xít, đã bắn rơi được một chiếc, nhưng máy bay của đồng chí cũng bị trúng đạn. Đồng chí nhảy dù và vất vả lắm mới về được tới sân bay, nhưng vừa băng bó vết thương xong, đồng chí đã bay đi chiến đấu ngay. Đại úy I. I. Gây-bô cùng với một tốp vài chiếc, đã tiến công 18 máy bay ném bom phát-xít và buộc chúng phải tháo chạy. Chỉ ít lâu sau, trong lúc yểm hộ cho máy bay bị thương, đồng chí đã lái chiếc I-16 lao vào công kích hai chiếc “Mét-xơ-smít” và cứu được đồng đội. Có biết bao tấm gương đáng tự hào như vậy.

Cho đến cuối ngày, tình hình ở phương diện quân chúng tôi vẫn rất nghiêm trọng. Nhưng ở một số khu vực, địch đã bị chặn lại. Điều đó đã tiếp thêm sức mạnh, cho phép chúng tôi hy vọng vào những điều tốt đẹp hơn.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.