Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sát Nơi Biên Giới
Sát Nơi Biên Giới

❊ ❊ ❊

Giữa tháng Mười, bộ tham mưu tập đoàn quân trở về thành phố Xta-ni-xláp, nơi đóng quân thường xuyên.

Suốt một tuần, không ai quấy rồi tôi: mọi người tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu kỹ hơn về cán bộ và tình hình công việc ở phòng tác chiến.

Tôi dọn đến một căn hộ không người ở, rộng hơn và đầy đủ tiện nghi hơn căn hộ ở Mát-xcơ-va. Tôi lấy làm tiếc vì không thể chuyển cả gia đình đến đây ngay.

Những ngày đầu, tôi phải ngồi lỳ ở bộ tham mưu đến khuya. Nhưng, dần dần thâm nhập công việc, mình cũng đã có những buổi tối rỗi rãi. Tôi bắt đầu tìm hiểu thành phố.

Xta-ni-xláp là tỉnh lỵ, mà năm ngoái tỉnh này mới trở thành một bộ phận của nước Cộng hòa U-cra-i-na xô-viết, vẫn là một thị xã yên tĩnh và hẻo lánh. Công nghiệp ít phát triển, chỉ có một vài nhà máy nhỏ và xưởng sửa chữa xe lửa. Khá nhiều cư dân là quan chức cũ, nhà buôn, chủ xưởng thủ công, thợ thủ công. Xếp những nỗi lo âu ban ngày lại, họ vội vã ẩn mình sau bốn bức tường, vì sống dưới chế độ mới, họ cảm thấy không được thoải mái.

Dạo bước trên các hẻm phó cổ dưới ánh sáng tù mù, bạn chỉ thấy cảnh tĩnh mịch. Hiếm hỏi lắm mới nghe thấy tiếng vó lóc cóc của một con ngựa kéo gầy còm và tiếng chân của một khách qua đường lỡ bước. Chỉ ở trung tâm thị xã, nơi có các cơ quan của đảng và nhà nước, thì buổi tối vẫn còn đông người.

Tôi thường ngừng cuộc đi dạo ở một nhà ăn công cộng nhỏ mà cứ tối đến lại biến thành “tiệm cao lâu”. Sau vài lần ăn tối bằng các “món ăn thường ngày” nguội lạnh, tôi hoàn toàn thất vọng về cái “tiệm cao lâu” này và đành phải huy động toàn bộ hiểu biết nghèo nàn về nghệ thuật bếp núc của mình ra để tự nấu lấy.

Tổ chức sinh hoạt tuy chưa tốt, nhưng tôi cũng ít bị ảnh hưởng. Công việc hấp dẫn lôi cuốn, và lại thấy mình như cá lội trong nước.

Ít lâu sau, tướng Pa-ru-xi-nốp gọi tôi lên. Giọng khô khan, đồng chí bảo tôi rằng đã đến lúc phải tìm hiểu bộ đội ở dải sát biên giới mà chúng tôi phải yểm hộ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Đồng chí đặc biệt yêu cầu phải nghiên cứu kỹ lưỡng những con đèo chính và khu vực sông Xan.

Tôi vui mừng chuẩn bị lên đường. Tôi gọi Đốp-bun, chiến sĩ lái chiếc xe dành cho tôi. Đây là một con người đủng đỉnh và cẩn thận kiểu quê mùa. Cậu ta đăm chiêu gãi đầu gãi tai một lát, rồi mới bắt đầu gạn hỏi cặn kẽ: đi đâu, theo đường nào, đi bao lâu? Thấy tôi sốt ruột, cậu ta thản nhiên giải thích:

– Thế này đồng chí đại tá ạ: tôi chịu trách nhiệm kỹ thuật về chuyến đi của đồng chí. Người ta chẳng thường nói: “chuẩn bị lâu đi đâu cũng chóng” là gì.

… Khi tôi tỉnh giấc, trời hãy còn tối. Cũng chẳng muốn rời khỏi chiếc giường ấm áp để nhìn đồng hồ trên bàn. Nhưng chỉ ít phút sau đã nghe tiếng gõ cửa dè dặt ở phòng ngoài.

– Ai đấy?

– Tôi đây, đồng chí đại tá ạ, - giọng trầm trầm đẩy vẻ quan trọng của cậu lái xe, - xe đã sẵn sàng.

Đổi chiếc giường ấm áp lấy cái giá lạnh ẩm ướt mùa thu lúc này ư?

– Cậu là chúa ác, còn sớm thế này đã dựng mình dậy là thế nào?!

– Còn sớm gì nữa? – tôi nghe thấy tiếng cậu lái xe ở sau cửa. – Đồng hồ điểm 5 tiếng rồi, mà đồng chí đã bảo 5 giờ phải lên đường.

– Thôi được, - tôi phì cười, - chúng ta chuẩn bị lên đường.

Tôi mở cửa cho cậu lái xe sốt sắng vào phòng. Chào hỏi xong, cậu ta vào ngay bếp và đun nước pha trà như chủ nhà vậy.

Khoảng bốn mươi phút sau, chúng tôi lên chiếc xe vẫn chưa nguội máy. Hai sĩ quan đã đợi tôi ở đây: một thuộc phòng tác chiến, một thuộc phòng huấn luyện chiến đấu. Họ cùng đi với tôi. Vất vả lắm, mới chui được vào xe. Thì ra xe chất đủ trăm thứ, những tấm gỗ đầu thừa đuôi thẹo, những tấm đệm đan bằng những cành cây mềm, dây dợ.

– Đống rác này để làm gì vậy? – tôi hỏi Đốp-bun.

– Dạ, thưa đồng chí đại tá, đồng chí không tưởng tượng nổi đường sá ở đây vào mùa thu. Nếu bị sa lầy thì cái gì cũng cần. Giữa đường gặp nạn thì ngay cả sợi dây thừng cũng có ích.

– Thôi được, đi thôi, - Áp-tô-mê-đôn!

Tôi đã kịp nghiệm thấy: để buộc Đốp-bun im lặng thì phải nói với anh ta một từ gì đó thật khó hiểu. Nín thinh, cậu ta sẽ nhăn trán hồi lâu và đứng ngồi không yến nếu chưa hiểu được nói vậy có ý nghĩa gì.

Khi tôi gọi cậu ta là Áp-tô-mê-đôn, cậu ta im thin thít, cau mặt, vào số hai luôn cho xe chồm lên. Đi được một lát, Đố-bun không chịu được nữa:

– Thế Áp-tô-mê-đôn là gì hả đồng chí?

– Áp-tô-mê-đôn là tên người đánh xe chiến hiên ngang của A-sin, anh hùng trong thần thoại Hy Lạp cổ đại.

– À… à, - cậu lái xe nói, thất vọng kéo dài giọng, - thế mà tôi cứ tưởng ở Mátxcơ-va người ta gọi lái xe như vậy đấy, - Ngừng một lát, Đốp-bun hỏi tiếp: - Thế ông ta sống cách đây bao lâu?

– Theo chứng cứ của Hô-me thì vài nghìn năm.

– Thế cơ à! Thế cái ông Hô-me ấy là ai?

Và cứ như thế suốt dọc đường: mỗi câu trả lời của tôi lại đẻ ra một câu hỏi mới. Lòng ham hiểu biết của Đốp-bun quả là không có giới hạn.

Đến trưa, chúng tôi tới Pê-rê-mư-slơ mà không xảy ra chuyện gì. Đốp-bun vốn trước đây đã đến đây nên đưa chúng tôi tới thẳng phòng tham mưu sư đoàn 99. Sư đoàn trưởng không có ở đây: anh em cho biết đồng chí xuống các đơn vị. Chúng tôi được đưa tới gặp tham mưu trưởng. Biết chúng tôi tới thẳng đây, đại tá X. Ph. Gô-rô-khốp có nhã ý mời chúng tôi đến nhà ăn.

Sau bữa ăn trưa, tham mưu trưởng kể cho tôi nghe về sư đoàn này. Sư đoàn gồm các trung đoàn bộ binh 1, 197 và 206. Cả ba trung đoàn đều đóng ở vùng Pê-rê-mư-slơ. Để giáng trả cuộc tiến công có thể xảy ra của các đơn vị phát-xít Đức, theo một tín hiệu đặc biệt, sư đoàn phải chiếm lĩnh các vị trí ở khu vực cố thủ Pê-rê-mư-slơ đang được tiếp tục xây dựng, thuộc quyền chỉ huy của đại tá Đ. I. Ma-xli-úc.

Đại tá Gô-rô-khốp trình bày cụ thể với tôi kế hoạch báo động của sư đoàn. Mọi biện pháp đều được cân nhắc kỹ lưỡng, các văn kiện được soạn thảo rõ ràng, đâu ra đấy. Tôi nhận thấy có bàn tay của một cán bộ tham mưu giàu kinh nghiệm và thành thạo.

Tham mưu trưởng giới thiệu tỉ mỉ về ba đại tá trung đoàn trưởng bộ binh. Theo lời đồng chí, đó là những cán bộ có khả năng chỉ huy sư đoàn và điều đó quyết định phần lớn thành tích của binh đoàn. Với những trung đoàn trưởng như thế, bất kỳ sư đoàn trưởng nào cũng thấy yên tâm vì mình có chỗ dựa vững như bàn thạch.

Mãi khuya, chúng tôi mời xong việc ở bộ tham mưu. Đại tá Gô-rô-khốp định tiễn chúng tôi đến chỗ nghỉ đêm, nhưng Đốp-bun bỗng xuất hiện như từ dưới đất chui lên.

– Thưa đồng chí đại tá, có tôi. Tôi xin đưa đồng chí đi.

– Thế cậu đã biết đi đâu chưa? – tôi ngạc nhiên.

– Tôi đã trinh sát rồi. Chính tôi đã đến đó và xem xét.

Sau khi cảm ơn đại tá Gô-rô-khốp, tôi đi theo Đốp-bun.

Hôm sau, tôi và các sĩ quan cùng đến trung đoàn 1 của sư đoàn. Chỉ huy trung đoàn là đại tá Cô-rốt-cốp, một người trông còn trẻ, chững chạc. Đồng chí kể tỉ mỉ cho tôi tình hình trung đoàn, giới thiệu về cán bộ. Chỉ huy các phân đội, kể cả các tiểu đoàn trưởng, phần lớn đều còn trẻ cả về tuổi đời lẫn kinh nghiệm công tác.

Chúng tôi đi một vòng khắp khu vực doanh trại. Nó được xây dựng từ thời đế quốc Áo – Hung cát cứ, nhưng vẫn còn ngăn nắp. Trong nhà, ngoài sân đều rất sạch, mặc dù chỗ ăn ở chật chội: các phòng đều kê giường hai tầng, thậm chí không còn thừa một chỗ nào để chiến sĩ có thể cạo râu thoải mái, chỉnh đốn trang phục, là quần áo. Tuy thế, các chiến sĩ vẫn ăn mặc chỉnh tề, hơn nữa còn có vẻ diện.

Anh em mời chúng tôi đến nhà ăn sĩ quan. Nhưng tôi đề nghị được ăn cùng với các chiến sĩ. Đại tá vui lòng đồng ý. Nhà ăn chiến sĩ rộng rãi, sáng sủa, trần cao, nom ấm cúng. Rõ ràng đại tá thường xuyên đến đây nên không ai ngạc nhiên khi thấy đồng chí xuất hiện. Nhìn vẻ các chiến sĩ thìa xúc luôn tay, tôi cũng hiểu được ở đây không có lời phàn nàn về chất lượng bữa ăn. Quả nhiên, tôi được một bữa ăn no và ngon miệng.

Ngay sau đó, chúng tôi dự buổi tập chiến thuật ở một tiểu đoàn. Mưa phùn lâm thâm, lạnh và lầy lội. Nhưng xem ra các chiến sĩ đã quen trong mọi thời tiết. Có thể cho rằng bãi tập như đang diễn ra một trận chiến đấu thực sự. Đây đó, trên trời cuộn lên những đụn khói, tiếng súng nổ chát chúa chìm trong tiếng hô “xung phong” vang dội. Ngay cả tôi, một người đã quen với binh nghiệp, cũng rất đỗi vui mừng thấy bộ binh bình tĩnh chờ những chiếc xe tăng đang gầm rú lao hết tốc lực tới (trung đoàn diễn tập chung với các phân đội thuộc quân đoàn cơ giới 8). Bộ binh nấp đưới công sự, để cho những chiếc xe tăng khủng khiếp lao qua ngay trên đầu mình, sau đó dùng thủ pháo ném chính xác vào chúng. Khá thật! Ai đã qua cái cảnh điếc đặc vì tiếng xích sắt nghiến ầm ầm ngay trên đầu, sặc sụa vì khí xả khét lẹt và bị bùn đất phủ lấm lem đầy người, thì tất hiểu rằng đây không phải là một thử thách nhẹ nhàng.

Phải chăng, những bài tập như thế đã là nơi hun đúc nên vinh quang chói lọi mai sau của các chiến sĩ sư đoàn bộ binh 99, những người mà ý chí kiên cường của họ đã trở thành huyền thoại của mùa hè năm 1941?!

Những trung đoàn khác cũng để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Quả thật, có nhiều điều đáng học tập ở cán bộ, chiến sĩ sư đoàn này.

Trên đường đến sư đoàn 72, tôi quyết định đi dọc sông Xan chạy men theo biên giới quốc gia. Con sông uốn khúc quanh có và chảy xiết, cắt đôi sườn phía Đông dãy Các-pát. Lòng sông ở phía Bắc Pê-rê-mư-slơ khá rộng, có chỗ đến hai ki-lô-mét, nhưng rồi hẹp dần lại, vách mỗi lúc một dốc hơn. Đoạn sông tới thành phố Xa-nốc khá sâu, càng lên cao về phía nguồn càng nông, hầu như có thể lội qua ở mọi chỗ.

Chiếc xe vừa bò ngoằn nghèo trên đường núi, vừa rú máy ầm ĩ, thường bị trượt bánh ở những đoạn lên dốc. Chúng tôi dùng vai đẩy, cố tránh bùn từ bánh xe bắn lên. Những lúc này, chúng tôi mới thấy hết giá trị của tính cần thận nhìn xa của cậu lái xe: cả một bộ đồ nghề sẵn có mà cậu ta mang theo đã cứu nguy cho mọi người, ngay cả những khi tưởng như chiếc xe đáng thương của chúng tôi không thể nào thoát ra được…

Chúng tôi đi khá lâu. Thỉnh thoảng dừng lại, trinh sát thực địa, rồi lại cho xe chuyển bánh. Mãi khuya, chúng tôi mới đến Đô-bơ-rô-min. Trong màn mưa bụi dầy đặc của mùa thu, khó khăn lắm mới tìm được phòng tham mưu. Trực ban định báo cáo ngay cho người chỉ huy biết là có chúng tôi đến, nhưng tôi ngăn lại và đề nghị thu xếp được nghỉ đêm ngay.

– Xin tùy đồng chí, - trực ban đồng ý. – Chỗ chúng tôi có một trạm khách nhỏ. Thật ra cũng xuềnh xoàng thôi.

Thị trấn U-cra-i-na bé nhỏ đã ngủ yên. Mãi chúng tôi mới đánh thức được người quản lý trạm khách. Vừa dụi mắt, vừa khoan khoái ngáp, người đàn bà mập mạp, đứng tuổi nói liến thoắng:

– Cơn gió lành nào đưa các đồng chí đến muộn thế này?

Trạm khách là một ngôi nhà nông thôn bình thường, khá lạnh. Cậu lái xe của chúng tôi, không hiểu bằng cách nào đã biết được tên bà chủ, bắt đầu tán:

– Bà chú Gáp-ca ơi, xin bà làm ơn cho đốt lò sười ở phòng ngài đại tá và đun nước đi.

Khó mà nói được rằng cái gì tác động mạnh hơn tới bà chủ uy nghi của cái trạm khách bé nhỏ này: chức tước “ngài đại tá” hay cung cách ân cần của cậu lái xe, chỉ biết rằng người quản lý trạm trở nên tốt bụng và tỏ thái độ mến khách thực sự kiểu U-cra-i-na đối với chúng tôi. Bà chủ trạm đặt những viên than quả bàng do Đốp-bun mang từ ngoài sân vào, lên trên những thanh đóm vừa bốc cháy và nổ lách tách trong hai chiếc lò đá. Lát sau đó có bữa tối nóng sốt do bà chủ trạm nhanh nhẹn và khéo tay nấu bằng khẩu phần đi đường của chúng tôi. Và thế là cái trạm khách bé nhỏ này đã trở nên ấm cúng đối với chúng tôi. Hơn ữa, sau khi thu xếp cho chúng tôi đi ngủ, bà chủ trạm còn hong khô quần áo ướt sũng của từng người và là lượt cẩn thận.

Sáng hôm sau, tôi được mời đến gặp sư đoàn trưởng. Tướng P. I. A-bra-mít-de, dáng người tầm thước, thân hình cân đối, hoạt bát như thanh niên, siết chặt tay tôi. Khuôn mặt ngăm ngăm, xương xương, đôi mắt đen sinh động dưới hàng lông mày lưỡi mác của đồng chí, với nụ cười hiền hòa.

– Số phận nào đưa đồng chí đến chỗ chúng tôi thế?

Khi biết tôi là ai và đến với nhiệm vụ gì, tướng A-bra-mít-de vui lòng kể cho tôi biết về sư đoàn, một binh đoàn đang được tổ chức lại thành sư đoàn bộ binh sơn chiến.

– Hay lắm, đồng chí ạ! – tướng A-bra-mít-de thốt lên. – Tôi thích rừng núi và biết cách đánh nhau ở rừng núi.

Sư đoàn gồm các trung đoàn bộ binh 14, 133 và 187. Khác với sư đoàn 99 là nơi gồm toàn những đại tá giàu kinh nghiệm, sư đoàn 72 lại do những thiếu tá trẻ chỉ huy: Ki-xli-a-cốp, Mi-sen-cô và Khơ-va-tốp. Với cách xử sự vốn có của mình, sư đoàn trưởng nồng nhiệt ca ngợi họ:

– Những dũng sĩ – đại bàng! Những chàng trai tuyệt vời.

Tôi hỏi đồng chí, nếu cần thì trong tình trạng hiện nay, sư đoàn có thể chiến đấu ngay được không. Tướng A-bra-mít-de bật dậy, rảo bước quanh phòng.

– Sẽ khó khăn đấy, đồng chí đại tá ạ. Nhưng chúng tôi sẵn sàng đánh trả địch bất cứ lúc nào. Cứ thò vào đây! – A-bra-mít-de thở dài, nói thêm: - Chúng tôi đang ở biên giới rồi. Cần dứt điểm việc tổ chức lại và bổ sung quân số.

Biết tôi chuẩn bị xuống các trung đoàn, A-bra-mít-de sôi nổi nói:

– Chúng ta cùng đi.

Chúng tôi thống nhất là sẽ bắt đầu từ trung đoàn 187. Trước khi lên đường, tôi nói chuyện với tham mưu trưởng sư đoàn, thiếu tá P. V. Tséc-nô-u-xốp. Đồng chí giới thiệu với tôi về kế hoạch huấn luyện chiến đấu, việc tổ chức báo động chiến đấu, kể cho nghe về các cán bộ chủ chốt của bộ tham mưu, trước hết là các trưởng ban tác chiến và trinh sát, mà sau này tôi có dịp làm quen. Lúc chia tay, tôi hỏi đùa thiếu tá rằng đồng chí có thấy khó làm việc với sư đoàn trưởng không. Thiếu tá mỉm cười trả lời:

– Sư đoàn trưởng của chúng tôi lúc nào cũng sôi sục, đôi khi đập bàn đập ghế, nhưng làm việc với ông ấy vẫn thoải mái. Một chỉ huy thông minh và cương nghị. Dựa vào một người như vậy thì tham mưu trưởng cứ là vững như bàn thạch, chẳng còn lo gì nữa. Bản thân đồng chí đã trải qua từng cấp chỉ huy. Một nhà chiến thuật cự phách. Sử dụng được hầu như đủ các loại vũ khí… - Im lặng một lát, thiếu tá nói thêm: - Anh em cấp dưới quý mến sư đoàn trưởng về sự ăn ở công bằng và hết lòng với mọi người.

Chúng tôi ở sư đoàn hai ngày. Tất nhiên, để tìm hiểu đến đầu đến đũa tất cả các binh đội thì thời gian như thế là quá ít ỏi. Nhưng cảm tưởng chung là đáng phấn khởi.

Chia tay với tướng A-bra-mít-de, chúng tôi đến mấy ngọn đèo gần nhất, tắt qua dãy Các-pát. Chúng tôi nghiên cứu địa hình, tham gia cuộc thực nghiệm được tiến hành theo lệnh của tư lệnh quân khu: cho xe tăng, pháo có xe hoặc ngựa kéo, ô-tô và xe ngựa di chuyển trên đường núi. Qua đồng hồ, chúng tôi theo dõi thời gian vượt đèo.

Xe chúng tôi bò trên con đường hẹp ngoằn ngoèo. Mưa dai dẳng, sương mù dày đặc, đúng là tiết trời cuối thu, dễ có cảm giác là đến đá cũng phải thối rữa vì mưa. Trên đoạn đường dốc và ở những chỗ “cua” gấp, xe chúng tôi đi cheo leo, xểnh một tí là có thể lao xuống vực sâu. Con đường uốn khúc như rắn lượn quanh sườn núi, cây cối rậm rạp. Bên lề đường, những cây dẻ gai to lớn kết thành hàng trông như từng đội tiêu binh.

Thỉnh thoảng, hễ gặp một mảnh đất màu mỡ là lại thấy bên đường mọc lên một trang trại đơn sơ gồm một ngôi nhà nhỏ với vườn tược, chuồng, kho liền bên. Chúng tôi dừng lại bên một trang trại để cho máy nguội và nghỉ ngơi. Gió lạnh se người. Một cụ già miền núi gầy gò, khoác áo lông cừu và đội mũ lông cáo màu đen tiến lại gần chúng tôi. Ông lão đường hoàng chào hỏi vá mời anh em vào nhà.

Rời phòng ngoài rộng rãi, chúng tôi bước qua ngưỡng cửa, vào nhà trong. Nhà chỉ có một phòng lớn. Cả gia đình đông người ngồi trên những chiếc ghế dài đóng ghép thô sơ kê dọc theo tường. Phụ nữ chăm chú thêu thùa may vá, còn cánh đàn ông vừa hút thuốc vừa uể oải chuyện trò. Họ mặc “kíp-ta-ri”, loại áo lông cừu không tay, lưng thắt dây da rộng bản. Phụ nữ mặc áo dài dệt lấy, ngoài phủ áo lông không tay như áo đàn ông, nhưng duyên dáng và lộng lẫy hơn.

Chúng tôi lên tiếng chào hỏi. Mọi người bật dậy, lùi vào những ghế cho khách. Cánh đàn ông càng hút dữ. Phụ nữ bận rộn chuẩn bị đãi khách. Trên chiếc bàn dài đã thấy bày những bát sữa, phó-mát tươi, phó-mát bánh, bánh đa ngô. Chúng tôi chuyện trò với gia đình. Họ nói tiếng U-cra-i-na xen lẫn tiếng Ba Lan nghe thật lạ tai. Đôi lúc, khó khăn lắm chúng tôi mới hiểu được nhau. Khi ấy, ông già và một người cháu vốn nói thạo tiếng Nga lại phiên dịch giúp.

Mọi người hỏi hiệu có xảy ra chiến tranh không (còn có thể hỏi gì hơn ở bộ đội?). Chúng tôi trả lời để bà con yên lòng rằng hiện nay chưa có gì phải lo lắng. Người con trai cả của ông già tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy đồng chí lái xe thoải mái ngồi cùng bàn với cán bộ, nên khẻ nói với bố hỏi tôi xem người lính này có họ hàng gì với tôi không. “Ngài đại tá” chuyện trò tự nhiên với lính là một việc mà anh thanh niên mới đây còn ở trong quân đội Ba Lan tư sản không thể hình dung nổi. Tôi giải thích rằng mình không phải là người nhà của đồng chí lái xe, nhưng tất cả chúng tôi đều phục vụ sự nghiệp chung và không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi gọi nhau là “đồng chí”. Trong quân đội ta, cán bộ và chiến sĩ hôm qua còn là công nhân và nông dân cùng chung một lợi ích và chính vì thế nên họ tôn trọng lẫn nhau.

– Thế còn kỷ luật? – người lính của quân đội Ba Lan thốt lên.

– Ngay cả kỷ luật cũng được duy trì trên cơ sở tôn trọng và ý thức tự giác cao của mỗi người.

Mọi người chú ý lắng nghe. Nhất là cậu con trai út của vị chủ nhà. Thì ra cậu ta sắp được gọi nhập ngũ và đang hãi hùng chờ đón cái ngày ấy vì người anh cả đã kể khá nhiều về chế độ vô nhân đạo trong quân đội Ba Lan tư sản. Lúc này, chàng trai hớn hở hẳn lên. Cậu ta đặt ra hàng loạt câu hỏi về cuộc sống của người chiến sĩ Hồng quân.

– Chả nhẽ ai cũng có thể trở thành chỉ huy ư?

– Bất cứ ai. Chỉ cần công tác tốt và cố gắng học tập.

Câu chuyện chuyển sang vấn đề cuộc sống hàng ngày. Ông già cho biết phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được miếng ăn. Phải chăn cừu và dê ở các bãi trên núi. Nhà không đủ lúa mì. Trồng lúa trên những vạt ruộng đầy đá, mỗi héc-ta chỉ thu được 3 – 4 tạ. Bao đời nay chỉ làm tôi tớ cho địa chủ. Những bãi chăn thả và đất trồng tốt nhất đều nắm trong tay địa chủ và phú nông. Mãi sau khi hợp nhất với nước U-cra-i-na xô-viết, người dân mới được dễ thở. Chính quyền của bọn địa chủ đã đi đời, ruộng đất về tay bà con lao động.

– Bây giờ dễ sống rồi, ngài cán bộ ạ! – ông già nói giọng hân hoan.

Đèo U-giơ nối đoạn đường từ Xam-bo đến U-giơ-gô-rốt ở độ cao không lớn lắm (889 mét so với mực nước biển). Con đèo đón chúng tôi bằng những cơn gió buốt thấu xương và băng tuyết ẩm ướt. Bão tuyết cản trở chúng tôi trinh sát địa hình. Chỉ nhìn thấy xung quanh ít phút vào lúc trời hửng. Núi ở đây là cát kết, đá phiến pha sét, đá ong và các loại đất đá khác dễ sụt lở. Đó là nguyên nhân làm cho đồi núi có hình dáng thanh thoát với những hẻm núi sâu bị con nước đầu nguồn và những dòng suối nhỏ cắt ngang. Chúng tôi ngồi nghỉ bên một dòng suối trong vắt đang réo ầm ầm. Mãi chúng tôi mới nhận ra rằng mình đang ngồi ở đầu nguồn sông Xan, một con sông lớn.

Chập tối, đoàn xe thực nghiệm mới lên tới đèo. Ô-tô vượt dốc đầu tiên. Rồi đến xe tăng. Tiếp theo là xe kéo pháo. Chúng tôi không chờ đoàn xe ngựa kéo, mãi khi xuống đèo mới thấy chúng. Ngựa lên dốc rất vất vả. Phải luôn luôn dừng lại cho chúng nghỉ lấy hơi. Nói chung, đoàn xe di chuyển rất chậm. Rõ ràng, những sư đoàn bộ binh nặng nề, kém cơ động và không thích hợp với tác chiến ở vùng rừng núi cần được nhanh chóng tổ chức lại thành những sư đoàn bộ binh sơn chiến gọn nhẹ.

Cuối cùng, chúng tôi cũng về đến Xta-ni-xláp trước ngày lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười vĩ đại. Tôi chuẩn bị báo cáo cụ thể về chuyến di, nêu lên một số thiếu sót, nhận xét tốt về kỹ năng chiến đấu của các đơn vị và sốt sắng đề nghị nhanh chóng tổ chức lại một số sư đoàn bộ binh của tập đoàn quân thành các đơn vị bộ binh sơn chiến. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại việc này, tôi lại thấy buồn trong lòng: khi chiến tranh bắt đầu, các sư đoàn bộ binh sơn chiến của Liên Xô đã buộc phải chiến đấu ở đồng bằng. Công sức tổ chức lại chúng đâm ra vô ích…

Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới tồn tại đã được 23 năm. Có lúc kẻ thù đã tiên đoán rằng nó không đứng vững nổi vải tuần. Lịch sử đã cười vào mũi bọn tiên trì rởm. Nhà nước xô-viết ngày một hùng mạnh và được củng cố, đã trở thành một trong những cường quốc mạnh nhất trên thế giới. Nhân dân lao động toàn thế giới, tất cả các dân tộc đang rên siết dưới ách tư bản đều hướng về Đất nước xô-viết với niềm hy vọng. Còn bọn phát-xít thì căm ghét. Chúng ta biết rằng chúng sẽ không để chúng ta yên, chúng ta sẽ phải chiến đấu một mất một còn với chúng. Chúng ta đã cảm thấy giờ thử thách khốc liệt sắp đến. Nhưng chúng ta tin vào chế độ xã hội xô-viết vô địch và dũng cảm hướng về tương lai.

Vào ngày 7 tháng Mười một, tôi không thể nhận ra Xta-ni-xláp nữa. Như trên đã nói, khi tôi đến đây lần đầu, Xta-ni-xláp còn là chốn thị dân, heo hút. Thế mà giờ đây, đã thay đổi hẳn. Phố xá đông vui nhộn nhịp. Đội ngũ công nhân đông đảo diễu hành qua qua các phố, chứng tỏ công nghiệp của thành phố phát triển nhanh chóng. Biển người rộn ràng lời ca tiếng hát, những bài ca xô-viết. Tỉnh mới sáp nhập vào nước U-cra-i-na xô viết một năm mà đã có nhiều thay đổi kỳ lạ. Cuộc sống mới đã đoàn kết và nâng mọi người lên. Tim tôi rộn ràng một niềm vui, vì ở đây, chúng tôi cũng cảm thấy như ở nhà.

Sang tháng Mười hai, sư đoàn bộ binh sơn chiến 96 đã hành quân đến nơi đóng quân ở sát biên giới Ru-ma-ni. Chỉ huy sư đoàn là P. A. Bê-lốp, một tướng kỵ binh nổi tiếng. Tướng Pa-ru-xi-nốp lệnh cho tôi đi kiểm tra cuộc hành quân. Lúc đó, tuyết rơi dày đặc, trời trở lạnh đột ngột. Việc chuyển quân gặp khó khăn.

Đêm đến, tôi đuổi kịp đội tiền vệ của sư đoàn ở vùng Lan-tsin. Cuộc hành quân được thực hiện như trong tình huống có chiến sự. Các đơn vị hành quân đều có đội cảnh giới được tổ chức theo đúng nguyên tắc và sẵn sàng ứng chiến bất cứ lúc nào. Dọc đường, ở các điểm đã quy định trước đều bố trí súng máy và súng phòng không. Các khẩu đội chăm chú hướng lên bầu trời đêm không một bóng mây.

Tôi tìm gặp được tướng Bê-lốp ở cánh rừng sồi nhỏ ngập tuyết. Tại đây đã dựng hai chiếc lều bạt che ấm cho nhóm cán bộ tác chiến của đồng chí. Tướng Bê-lốp mặc áo ca-pốt dài của kỵ binh, thắt đai chéo đứng cạnh chiếc bàn dã chiến, có đèn ắc-quy chiếu sáng trên trải bàn đồ.

Tôi gặp Bê-lốp từ năm 1933, khi ấy anh đang học hàm thụ Học viện quân sự mang tên M. V. Phrun-dê và đến đó thi tốt nghiệp. Thân hình mảnh khảnh, trông có vẻ trí thức, người cán bộ chỉ huy với ba gạch trên cấp hiệu đã làm mọi người chú ý bởi dáng dấp kỵ binh đẹp đẽ của mình. Chúng tôi bắt chuyện với nhau. Cả hai đều ngạc nhiên vì có nhiều điểm giống nhau trên con đường binh nghiệp. Cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, hai chúng tôi đều là sĩ quan, cùng chạy sang với Chính quyền xô-viết và năm 1923 đã là trung đoàn trưởng kỵ binh. Giờ đây, tôi khá ngạc nhiên khi thấy một người say mê kỵ binh lại sang chỉ huy một sư đoàn bộ binh sơn chiến.

Bê-lốp nhận ngay ra tôi:

– A! Chào anh bạn kỵ binh! Cơn gió nào đã đưa anh tới đây?

Tôi nói rõ lý do. Bê-lốp trở nên nghiêm nghị.

– Anh có thể báo cáo với tư lệnh rằng sư đoàn hành quân theo đúng kế hoạch. Không ai bị cóng lạnh, trên suốt chặng đường hành quân đều tổ chức các trạm sưởi ấm. Ở những điểm dừng chân, các bếp dã chiến bảo đảm cho bộ đội được ăn nóng. Chúng tôi mang theo toàn bộ trang bị, đồ dùng; như người ta thường nói: tha cả chổi cùn rế rách. Tóm lại, mọi việc đều ổn.

Sư đoàn trưởng chỉ lên bản đồ cho tôi thấy đường đi của các đơn vị hành quân. Trình tự hành quân thật là mẫu mực.

Anh em mang đến cho chúng tôi mỗi người một ca nước chè nóng, thật là đúng lúc trong cái đêm băng giá này.

– Thế nào ông anh, đã phản bội kỵ binh rồi à? – Bê-lốp hỏi. – Hay số phận ác nghiệt đã xô đẩy anh vào bộ tham mưu tập đoàn quân.

– Tôi chẳng có gì đáng hối tiếc. Kỵ binh đã làm trọn sứ mạng của nó. Tương lai bây giờ thuộc về bộ đội cơ giới. Còn về công tác ở một bộ tham mưu lớn, thì đều có lợi cho mọi người. Do đó, tôi chẳng có điều gì phải băn khoăn. Còn anh, dân kỵ binh con nhà nói mà lại sang chỉ huy một sư đoàn bộ binh sơn chiến? Có vấn đề gì chăng?

Bê-lốp chau mày, thở dài:

– Số phận đã an bài như vậy. Mình là người lính. Có lệnh chỉ huy bộ binh thì mình chỉ huy bộ binh, nếu có lệnh thì mình sư đoàn cơ giới vào trận. Ôi, còn nếu bây giờ được nhận một sư đoàn kỵ binh thì sướng nhất. Mọi cái ở đấy đều quen thuộc, thân thương, chứ đâu như ở bộ binh. – Bê-lốp vỗ nhẹ bàn tay vào bản đồ: - Tôi thấy đội hình kéo dài quá, anh em bộ binh rất khó vận động trong bão tuyết. Giá như mọi người được lên ngựa! Và còn thói quen nghề nghiệp nữa chứ: tính toán tốc độ hành quân mình mình cứ xuất phát từ khả năng của kỵ binh…

Chúng tôi làm việc với Bê-lốp suốt mấy ngày liền, đến khắp các binh đội đang hành quân và rời khỏi sư đoàn khi toàn bộ sư đoàn đã đến địa điểm quy định. Tôi thân mật chia tay với Bê-lốp. Khi đó, tôi và anh không hề biết ràng chỉ ít lâu sau, người kỵ sĩ dũng mạnh đó sẽ lại trở về với môi trường quen thuộc của mình. Quân đoàn kỵ binh của Bê-lốp lập công xuất sắc trong những trận chiến đấu bảo vệ Mát-xcơ-va và được tặng danh hiệu cận vệ…

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.