Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiếp Tục Công Kích
Tiếp Tục Công Kích

❊ ❊ ❊

Ở bộ tham mưu phương diện quân, công việc vẫn tất bật suốt đêm. Các trợ lý của tôi đều có mặt. Trên các bản đồ tác chiến đều có đánh dấu cẩn thận mọi tình huống biến đổi. Chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị các số liệu cho báo cáo buổi sáng trình bộ tư lệnh. Tảng sáng, tôi tới gặp tham mưu trưởng phương diện quân. Anh em cho biết đồng chí đang ở chỗ tư lệnh. Như vậy càng tốt, tôi có dịp báo cáo với cả hai người một lúc.

Hai vị tướng đang tranh luận sôi nổi. Tôi hiểu ngay là các đồng chí đang bàn về tập đoàn quân 6. Lại có việc gì ở đây rồi?

Kiếc-pô-nô-xơ bực tức lắc chuông điện báo:

– Tình trạng này còn kéo dài đến bao giờ? Phải chấp hành các mệnh lệnh chiến đấu thì tư lệnh tập đoàn quân lại cứ đề nghị hủy bỏ chúng?

Puốc-ca-ép chỉ nhún vai đáp lại.

Chuyển bức điện cho tham mưu trưởng, tư lệnh càu nhàu:

– Cứ tưởng như hiện nay chỉ có một mình tập đoàn quân 6 là khó khăn. Chỉ có một câu trả lời: Mu-dư-tsen-cô phải chấp hành mệnh lệnh vô điều kiện.

Thấy tôi, tư lệnh hỏi:

– Tình hình khu vực cố thủ thế nào? Báo cáo đi!

Tôi trình bày những cảm tưởng của mình, kế hoạch bố trí lại các đơn vị của bộ tư lệnh khu vực cố thủ và tinh thần bộ đội. Tôi cũng nhắc tới vết thương của Xư-xô-ép và cho biết hiện nay đồng chí làm việc rất khó khăn.

– Cần suy nghĩ, - Kiếc-pô-nô-xơ nói với Puốc-ca-ép, - có thể cử tướng nào chỉ huy khu vực cố thủ. Hiện nay đang tập trung những lực lượng lớn đến đó, mà sức khỏe của Xư-xô-ép như vậy e cũng khó đảm đương…

Sau khi ra những chỉ thị cần thiết về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng ngự khu vực cố thủ Ki-ép và bảo đảm gấp đạn xuyên thép tới đây, tư lệnh phương diện quân lệnh cho tôi theo dõi việc điều động bộ đội đến trận địa mới.

Khi Kiếc-pô-nô-xơ cho chúng tôi ra về, tham mưu trưởng ra hiệu cho tôi đi theo đồng chí. Tới phòng làm việc, đồng chí mệt mỏi buông mình xuống ghế.

– Tập đoàn quân 6 đang xảy ra chuyện gì vậy? – tôi sốt ruột hỏi.

– Hừ! – Puốc-ca-ép bực tức vung tay. – Sau khi nhận được chỉ thị của chúng tôi là tiến công vào Rô-ma-nốp-ca thì Mu-dư-tsen-cô lại gửi cho chúng tôi cái này đây. Đồng chí ấy cố chứng minh là không thể tiến công được… Đồng chí ấy lấy đâu ra thì giờ để viết báo cáo dài dằng dặc như thế này!

Tướng Mu-dư-tsen-cô là một người kiên nghị hiếm có và rất không thích viết dài nên khó mà tin rằng đồng chí lại đủ kiên nhẫn để viết nổi một văn kiện dài dòng như vậy. Có lẽ là cán bộ tham mưu cố vẽ ra thôi.

Lướt qua nội dung báo cáo, tôi nói là nếu theo đề nghị này thì cả cuộc tiến công của tập đoàn quân Pô-ta-pốp cũng sẽ mất hết ý nghĩa.

– Đúng thế đấy, - Puốc-ca-ép buồn rầu đáp. – Nếu thế thì chúng ta sẽ phải chuyển sang phòng ngự bị động, và bọn Đức sẽ có điều kiện tấn công Ki-ép mà không gặp trở ngại gì. Chính vì vậy mà chúng ta không thể đồng ý với những đề nghị của tướng Mu-dư-tsen-cô. Đại bản doanh yêu cầu chúng ta phải phản kích quyết liệt nhằm bịt mọi cửa mở và tiêu diệt địch. Thay cho chấp hành mệnh lệnh, chúng ta lại báo cáo với Mát-xcơ-va rằng ta không đủ lực lượng và không thể tiến công trong những điều kiện đó hay sao? Chẳng lẽ Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu lại không hiểu bộ đội ta đang ở trong tình hình như thế nào ư?!

Phải nói một cách khách quan là tướng Mu-dư-tsen-cô không hề nói quá về tình thế nặng nề của tập đoàn quân của mình và tình trạng không đủ lực lượng để tiến công. Dù sao, trong hoàn cảnh chính diện bị chia cắt thì không có lối thoát nào khác hơn. Nếu bộ đội ta chuyển sang phòng ngự bị động sẽ chỉ có lợi cho địch.

Dù tập đoàn quân 6 phản đột kích vào Rô-ma-nốp-ca không bịt được cửa mở trên tuyến chính diện, thì cũng vẫn kìm được một lực lượng địch đáng kể ở đây, làm cho tình hình Ki-ép bớt căng. Thêm nữa, cuộc tiến công ấy còn mở ra hy vọng sẽ liên lạc được với những binh đội thuộc quân đoàn bộ binh 7 đang bị bao vây ở phía Bắc Nô-vưi Mi-rô-pôn.

Tôi hỏi có phải chuẩn bị trả lời thích đáng cho bộ tư lệnh tập đoàn quân 6 không. Puốc-ca-ép cho biết là không cần, bởi tướng Pa-ni-u-khốp đã đi đến chỗ Mu-dư-tsen-cô và sẽ thông báo cho đồng chí ấy biết quyết tâm của Hội đồng quân sự và sẽ kiểm tra việc thực hiện mệnh lệnh.

Những cuộc phản đột kích của bội đội chúng ta ở gần Nô-vô-grát – Vô-lưn-xki và Béc-đi-tsép, tuy chưa thực triệt để, nhưng cũng đạt được mục đích là kìm chân được bọn phát-xít ở khu vực này, và bộ chỉ huy Hít-le buộc phải tung lực lượng dự bị mới của chúng ra, nên chúng chưa dám ném lực lượng chủ yếu vào cuộc tấn công Ki-ép.

Vinh dự cho tướng Mu-dư-tsen-cô, bản thân đồng chí đã hiểu rõ tầm quan trọng của những cuộc phản đột kích và dốc hết nghị lực của mình để hoàn thành nhiệm vụ đó. Tiếc rằng lực lượng dưới quyền của đồng chí ngày càng ít. Đồng chí hy vọng có thể sử dụng quân đoàn cơ giới 16 tiến công vào Rô-ma-nốp-ca, song không thực hiện được. Những binh đoàn của quân đoàn này bị kéo dần vào những trận đánh ác liệt với cụm quân địch ở vùng Béc-đi-tsép, nên không điều động được chúng tới khu vực phản đột kích. Còn sức ép ngày một mạnh của các đơn vị phát-xít ở gần Béc-đi-tsép khiến chúng tôi rất lo lắng, vì từ đó, chúng có thể đột phá vào sau lưng các tập đoàn quân 6 và 12 của ta. Vì vậy, tư lệnh phương diện quân yêu cầu cụm quân của tướng Ô-guốc-txốp tiếp tục đột kích địch. Cum quân của Ô-guốc-txốp và các binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 16 đã hoàn thành nhiệm vụ. Bộ đội ta đã kìm chân những lực lượng chủ yếu của tướng Clai-xtơ trong suốt một tuần liền tại đây.

Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc đơn vị hỗn hợp của sư đoàn xe tăng 8 thuộc quân đoàn cơ giới 4 đã thể hiện tinh thần dũng cảm vô song. Khi bọn phát-xít bất ngờ tràn vào Béc-đi-tsép, chúng ta chưa kịp mang ra khỏi thành phố 70 toa đạn. Không thể để số bom đạn do bàn tay của những người xô-viết chế tạo lại rơi vào tay giặc. Có lệnh phá hủy chúng. Nhiệm vụ ấy được trao cho tiểu đoàn của thiếu tá A. I. Cô-pư-tin. Các chiến sĩ xô-viết đã lọt vào nhà ga. Bọn phát-xít điên cuồng công kích hòng bao vây tiêu diệt họ. Nhưng không một sức mạnh nào có thể bắt các chiến sĩ ta lùi bước. Cho tới khi anh em công binh đã đặt mìn xong, thiếu tá Cô-tư-tin mới cho lệnh rút về với đồng đội. Bọn xạ thủ tiểu liên phát-xít lao về phía các toa tàu. Đúng lúc đó, một tiếng nổ long trời. Ai cũng cho rằng toàn bộ tiểu đoàn Cô-tư-tin đã bị hy sinh. Nhưng rồi tất cả đều ngạc nhiên biết bao khi tám ngày sau, thiếu tá đã đưa được toàn bộ anh em về nói đóng quân của ta. Mọi người mệt lử, nhưng rất tự hào vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, quân số lại tăng hơn trước lúc đi làm nhiệm vụ: trên đường về, thiếu tá Cô-pư-tin đã cho nhập vào tiểu đoàn mình hơn hai đại đội của sư đoàn bạn bị hãm trong vòng vây.

Lại còn một chuyện hệt như thần thoại về những chiến sĩ xe tăng thuộc đơn vị hỗn hợp của sư đoàn xe tăng 10. Toàn thể phương diện quân qua sự việc này đã biết tới thượng úy Đ. X. Pê-lê-vin. Chỉ huy trưởng đơn vị hỗn hợp giao cho đồng chí phải tóm lấy một “cái lưỡi”. Pê-lê-vin lái chiếc xe tăng hạng nhẹ của mình vượt lưới lửa dầy đặc tiến vào ngoại vi phía Bắc Béc-đi-tsép đã bị chiếm. Bọn địch nháo nhác cả lên. Các chiến sĩ xe tăng của Pê-lê-vin vừa dùng xích sắt nghiến nát lính địch, vừa bình tĩnh chọn một “cái lưỡi” đáng giá nhất. Họ đã lật nhào được chiếc mô-tô của một tên sĩ quan Đức. Tên này nhổm dậy chực chạy trốn. Pê-lê-vin nhảy từ trong xe ra, đuổi lịp tên Hít-le, tước vũ khí và lôi cổ hắn lên xe. Khi đã ấn nó xuống nắp xe, Pê-lê-vin bỗng nhận ra nó không có xà cột, có lẽ nó đã để rơi trên đường. Bất chấp những loạt tiểu liên của bọn phát-xít, thượng úy lại nhảy ra khỏi xe tăng đi tìm chiếc xà cột, rồi sau đó mới trở về xe.

Nhờ cơ động khéo léo, các chiến sĩ xe tăng đã thoát ra khỏi thành phố. Trên đường về, họ lại bất ngờ chạm trán với một đoàn ô-tô địch. Pê-lê-vin quyết định hành động cục kỳ táo bạo. Đồng chí lệnh cho lái xe đâm đổ nhào chiếc xe gần nhất. Địch hoảng sợ hỗn loạn. Xe của chúng va vào nhau, lật nhào. Lính địch bắn tiểu liên bừa bãi, chạy tán loạn ngoài đồng. Lợi dụng cảnh hỗn loạn ấy, xe tăng của Pê-lê-vin biến vào cánh rừng con gần đấy. Nửa giờ sau, đồng chí đã trở về nơi đóng quân. “Cái lưỡi” do Pô-lê-vin mang về quả là rất quý. Đó là một tên sĩ quan tham mưu, mang theo bản mệnh lệnh quan trọng của cơ quan tham mưu sư đoàn Đức.

Các chiến sĩ xe tăng thuộc đơn vị này đã tiến công dũng mãnh biết bao! Chúng tôi đã được thông báo về chiến công của tổ lái T-34 do M. X. Đu-đa-rép chỉ huy. X. I,. Giơ-đa-nốp – thợ máy – lái xe. V. I. Ba-xtưa – xạ thủ trên tháp và X. V. Cơ-rư-mốp – điện báo viên. Trong giây phút chiến đấu nguy hiểm nhất, một khẩu đội phát-xít được ngụy trang cẩn thận, bố trí ở bên sườn, bắn đầu bắn. Đại đội trưởng lệnh cho Đu-đa-rép phải tiêu diệt chúng. Giơ-đa-nốp quay xe, rồi mở hết tốc lực lao vào địch. Bọn phát-xít tập trung cả bốn khẩu pháo vào chiếc xe tăng đang lao tới. Xe rung lên: đạn không xuyên qua nổi và bật ra ngoài. Các chiến sĩ bị thương vì mảnh của vỏ thép xe. Một quả đạn rơi đúng làm cho tháp xe bị kẹt, không bắn được nữa. Từ trong xe không nhìn thấy gì. Đu-đa-rép phải quan sát qua nắp xe. Mặc dầu vậy, các chiến sĩ xe tăng vẫn lao về phía trước. Xe tăng xông tới trận địa pháo, nghiền nát pháo địch và bọn pháo thủ chạy toán loạn. Đại đội có điều kiện phát triển công kích.

Chiếc xe tăng hạng nặng CV với tổ lái gồm trung úy I. N. Gia-bin, thiếu úy X. P. Ki-sê-li-ốp, hạ sĩ quan V. I. Grin-xin, pháo thủ T. I. Tô-tsin và chiến sĩ L. C. Véc-khốp-xki sau đợt công kích bị cắt khỏi đội hình. Cùng với tổ lái, trong xe còn có thượng úy đại đội trưởng A. E. Cô-giê-mi-a-tsơ-cô.

– Không sao, - đồng chí nói với anh em, - chúng ta sẽ chiến đấu.

Một bên xích bị đứt ngay trong giờ chiến đấu đầu tiên. Các đồng chí đã dùng hỏa lực đánh bật bọn phát-xít đang lấn tới. Trận đánh kéo dài suốt đêmTrong khi những người này dùng súng máy bắn ghìm địch, không cho chúng tới gần, thì những người khác nhảy ra ngoài sửa chữa xích hỏng. Cả tổ lái đã chiến đấu trên đường phố Béc-đi-tsép cho tới sáng, diệt 8 xe tăng Đức, nhiều ô-tô, hàng chục tên địch và cuối cùng thoát khỏi vòng vây về nơi đóng quân của ta, thêm nữa, đã kéo theo một chiếc xe tăng địch hầu như còn nguyên vẹn. Khi chiếc CV được đưa đến xưởng sửa chữa, có tới ba mươi vết lõm lớn ở ngoài vỏ thép và một viên đại xuyên thép của địch cắm sâu vào vỏ thép ở phần dưới tháp xe.

Hành động anh dũng của các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy sư đoàn xe tăng 10 được Chính phủ Liên Xô đánh giá cao. Ngay trong tháng Bảy năm 1941 đã có 109 chiến sĩ tăng được tặng thưởng huân chương và huy chương.

Sư đoàn trưởng Ô-guốc-txốp, một con người rất dũng cảm, từng tham gia nội chiến, đã gặp số phận không may. Hồi đầu tháng Tám năm 1941, đồng chí cùng những người còn lại của đơn vị hỗn hợp của mình bị địch bao vây. Mãi chúng không khuất phục nổi một nhóm chiến sĩ do đồng chí chỉ huy đã nhiều lần xông lên phản kích. Trong một trận đánh sau cùng, tướng Ô-guốc-txốp bị dập thương nặng, ngất đi và đã bị địch bắt. Đồng chí bị tống vào trại tù binh. Nhưng vết thương chưa lành, đồng chí đã tìm cách vượt trại. Liên lạc với du kích và tham gia tất cả các cuộc tập kích táo bạo nhất của đội du kích do Man-gie-vít-đe lãnh đạo. X. I-a. Ô-guốc-txốp đã anh dũng hy sinh trong chiến dịch gần thành phố Tô-ma-súp.

Hoạt động của bộ đội ta ở vùng Béc-đi-tsép khiến bộ chỉ huy tối cao của phát xít rất đau đầu. Sau chiến tranh, tôi có dịp đọc nhật ký của viên thượng tướng Han-đe, nguyên tổng tham mưu trưởng lục quân Hít-le, viết hồi đó: “Béc-đi-tsép: đối phương tiến công mạnh từ phía Nam và phía Đông nên sư đoàn xe tăng 11 và sư đoàn cơ giới 60 buộc phải rút về phòng ngự. Sư đoàn xe tăng 16 và sư đoàn cơ giới 16 tiến rất chậm”. Hai ngày sau, y viết thêm: “Sư đoàn xe tăng 11 mất 2.000 người”.

Trong khi đó, các binh đoàn thuộc tập đoàn quân 5 của chúng ta chấp hành mệnh lệnh của bộ tư lệnh phương diện quân đã chiến đấu kiên cường để hội quân với bộ đội của tập đoàn quân 6. Các sư đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 19 của tướng N. V. Phê-cơ-len-cô anh dũng công kích địch. Sư đoàn xe tăng 40 lúc này chỉ có khoảng gần ba chục xe tăng đã lao mạnh vào sau lưng quân địch, khiến chúng bị rối loạn. Đặc biệt, thượng úy A. C. I-u-nát-xki và trung úy I. M. Ô-xơ-kin hay sử dụng xe tăng T-34 của mình tập kích như vậy. Sau một chuyến “dạo chơi” của I-u-nát-xki xông vào trận địa pháo của địch, bọn phát-xít mất hơn mười khẩu pháo chống tăng và một lựu pháo cỡ lớn.

Một hôm, tổ lái của trung úy Ô-xơ-kin đã giáp trận với một số xe tăng địch. Xe tăng xô-viết diệt được ba xe tăng địch nhưng rồi cũng bị bắn hỏng. Ô-xơ-kin cùng anh em trong tổ lái thoát ra khỏi chiếc xe đang cháy ngùn ngut và vẫn tiếp tục chiến đấu. Trung úy đã cõng một đồng chí bị thương vượt chặng đường mấy ki-lô-mét trở về với đồng đội.

Những chiến sĩ lái máy bay vẻ vang của chúng ta vẫn yểm hộ đắc lực cho bộ đội chiến đấu như trước kia. Tuy kẻ địch đã chiếm được ưu thế trên không, nhưng anh em vẫn bay từng tốp hai ba chiếc, đôi khi chỉ một chiếc, gan dạ xẻ dọc bầu trời, tập kích các đoàn xe tăng địch và các sân bay phía trước của chúng, chiến đấu táo bạo với máy bay tiêm kích địch. Các chiến sĩ lái của ta, đôi khi dùng cả những chiếc máy bay đã cũ kỹ, đánh thắng những tên giặc sừng sỏ của địch lái đang cưỡi trên những chiếc máy bay tối tân nhất.

Ngày càng có nhiều trường hợp máy bay tiêm kích xô-viết một mình lao vào chiến đấu với năm sáu may bay địch, không cho chúng lọt vào Ki-ép.

Tôi còn nhớ, chúng tôi khâm phục biết bao tinh thần hy sinh quên mình của những chiến sĩ lái thuộc sư đoàn không quân 36 làm nhiệm vụ bảo vệ không phận thành phố. Hai mươi chiếc may bay tiêm kích “Mét-xơ-smít” bay phía trước dọn đường cho máy bay ném bom của chúng tới gần ngoại vi Ki-ép, thì bị một tốp máy bay tiêm kích của ta đón đánh. Mỗi con “đại bàng” của ta lại phải chọi với hai ba máy bay địch. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, cuối cùng địch không chịu nổi phải tháo chạy. Các chiến sĩ lái xô-viết lao theo truy kích chúng. Lúc đó, nhưng chiếc máy bay ném bom “Gioong-ke” nặng nề xuất hiện. Lợi dụng lúc chúng không được yểm hộ, những “đại bàng” của ta lần lượt bắn rơi từng chiếc một. Một chiếc máy bay tiêm kích của ta bám đuôi chiếc “Gioong-ke” địch. Đó là thời điểm nổ súng thuận lợi nhất, nhưng lại không bắn. Té ra là hết đạn. Không lẽ để tên phát-xít này chạy thoát! Những người theo dõi trận không chiến tỏ ra bực bội, nhiều người thét lên: “Quất, quất rụng nó đi!”. Và chiến sĩ lái dường như nghe thấy tiếng thét đó. “Đại bàng” lại vọt mạnh về phía trước. Những mảy đuôi máy bay địch lấp loáng trên không và máy bay rơi theo hình xoắn ốc xuống đất. “Đại bàng” cũng bị thương, vất vả liệng về phía sân bay. Những người theo dõi trận không chiến không biết chiến sĩ lái của ta có hạ cánh được không. Tất nhiên, ai cũng muốn biết tên đồng chí ấy. Về sau mới biết, đó là thiếu úy Đ. A. Dai-txép, chiến sĩ lại thuộc sư đoàn không quân 36. Đồng chí vẫn hạ cánh được. Tổ quốc đánh giá cao chiến công của người đoàn viên thanh niên cộng sản: đồng chí được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Sau này, tôi còn được nghe nhiều lần về những chiến công khác của đồng chí. Tiếc rằng tôi không nắm được số phận tiếp theo của người anh hùng, nhưng rõ ràng mọi người đều thèm muốn chiến công của đồng chí trên bầu trời Ki-ép.

… Bộ đội xô-viết vẫn tiếp tục kiên trì phản kích địch trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Những lực lượng chủ yếu trong tập đoàn xe tăng của tướng Clai-xtơ hầu như đã bị kìm chân ở khu vực Béc-đi-tsép suốt một tuần liền, còn quân đoàn cơ giới 3 của Đức đã tiến về Ki-ép ngay từ ngày 11 tháng Bảy, nhưng vẫn chưa dám đánh vào thành phố.

Tuy nhiên, lực lượng của các đơn vị phản kích ngày một suy giảm, còn kẻ đich lại tung ra những lực lượng dự bị mới. Giữa tháng Bảy, cánh phải của tập đoàn quân 6 chúng ta bị rút dần khỏi Béc-đi-tsép theo hướng Đông – Nam, về phía U-man. Kẽ hở của trận tuyến ngày một rộng. Và điều đó làm cho chúng ta mất hết hy vọng bịt được cửa mở.

Chúng ta dự định đưa những lực lượng mới của các sư đoàn bộ binh 27 và 64 vào chiến đấu. Nhưng các đơn vị này còn đang trên đường hành quân. Tư lệnh phương diện quân cho gọi chủ nhiệm giao thông quân sự đại tá A. A. Coóc-su-nốp, một người chu đáo và đầy nghị lực. Cuộc nói chuyện rất căng. Tướng Kiếc-pô-nô-xơ hoàn toàn không muốn nghe những lý do viện cớ máy bay địch bắn phá làm cho các đoàn tàu chở quân bị ngừng trệ, và yêu cầu phải áp dụng mọi biện pháp đẩy mạnh công việc chuyên chở.

Trong khi chờ lực lượng dự bị tiếp cận tới, bộ tư lệnh phương diện quân buộc phải tận dụng những lực lượng cuối cùng của các tập đoàn quân 5 và 6. Các trung đoàn và sư đoàn đang chật vật trụ bám ở các tuyến chưa được chuẩn bị, một lần nữa lại xông lên phản kích, thường phải chiến đấu giáp lá cà với địch, để cố kìm chân địch ở khu vực này, không cho chúng tiến về Ki-ép.

Bộ tư lệnh phương diện quân hiểu rõ tầm quan trọng của việc phải nhanh chóng chi viện cho tập đoàn quân 6, bởi cánh phải của tập đoàn quân ở vùng Béc-đi-tsép ngày càng khó chống đỡ nổi với sáu sư đoàn xe tăng và cơ giới địch. Nhưng lấy đâu ra lực lượng để làm việc đó?

Những binh đội đầu tiên của quân đoàn bộ binh 27 đã đến. Đêm rạng ngày 15 tháng Bảy, các đơn vị này được lệnh phải công kích vào lúc rạng đông. Đơn vị của tướng Ph. Ma-tư-kin chỉ có một trung đoàn cơ giới, một trung đoàn pháo và một tiểu đoàn xe tăng, phải đột kích từ phía Nam, từ khu vực Pha-xtốp sang, để bắt liên lạc với các binh đội trên. Mệnh lệnh vừa gửi xuống đơn vị thì Puốc-ca-ép cho gọi tôi. Tham mưu trưởng đang trầm tư, cúi gập người trước tấm bản đồ. Có vấn đề phải suy nghĩ. Đại tá Bôn-đa-rép, chủ nhiệm trinh sát, vừa báo cáo: những sư đoàn xe tăng và cơ giới Đức ở khu vực Gi-tô-mia bỗng rẽ ngoặt sang hướng Đông – Nam, nhằm phía Pô-pen-ni-a. Những binh đoàn khác cũng thuộc cụm quân này đã vòng sang sườn phải của tập đoàn quân 6 ở phía Đông Ca-đa-tin. Tư lệnh phương diện quân đã ra lệnh tập kích từ ba hướng vào các đơn vị Đức đang tiến quân: quân đoàn cơ giới 16 – từ khu vực Ca-da-tin đến Gi-tô-mia; tập đoàn quân 6 và quân đoàn bộ binh 27 – từ phía Bắc tới Bru-xi-lốp và Gi-tô-mia; quân đoàn kỵ binh 5 và quân đoàn bộ binh 6 – từ phía Nam tới Bru-xi-lốp và Pô-pen-ni-a.

Tôi lưu ý Puốc-ca-ép là quân đoàn kỵ binh 5 chỉ có một sư đoàn, mà sư đoàn lại chưa hồi phục được sau những tổn thất trong chiến đấu. Tham mưu trưởng cho biết quân đoàn sẽ được tăng cường: đơn vị của tướng Ma-tư-kin và trung đoàn cơ giới thuộc quân đoàn cơ giới 16 sẽ chuyển thuộc cho quân đoàn.

Tướng Ph. I-a. Cô-xten-cô, tư lệnh tập đoàn quân 24, được quyết định sẽ trực tiếp chỉ huy quân đoàn bộ binh 4 và quân đoàn kỵ binh 5. Đồng chí cũng được lệnh sẽ cùng với cơ quan tham mưu của mình chuyển từ Pê-rê-i-a-xláp tới Bô-gu-xláp và đến cuối ngày phải nắm chắc những đơn vị mới được chuyển thuộc.

Buổi sáng, tướng Cô-xten-cô gọi điện cho tôi. Đồng chí đề nghị báo cáo với tư lệnh phương diện quân xin hoãn thời điểm bắt đầu tiến công dù chỉ từ một đến hai ngày, vì quân đoàn kỵ binh 5 được tổ chức từ các binh đội lẻ tẻ, nên cần có thời gian để tập trung về một khu vực.

– Bây giờ đã chín giờ rồi, - Cô-xten-cô nói, - thế mà tôi được lệnh ngay hôm nay phải chiếm được Pha-xtốp và Pô-pen-ni-a. Xin đồng chí trình bày với cấp trên không thể làm nổi việc đó. Tôi vẫn chưa nắm được các quân đoàn của mình đang ở đâu và liệu có thể chuyển sang tiến công được không.

Cô-xten-cô vốn nổi tiếng là người chấp hành triệt để các mệnh lệnh. Và tôi hiểu, vì mệnh lệnh đồng chí và nhận được không thực tế nên buộc đồng chí phải đề nghị như vậy. Tướng Kiếc-pô-nô-xơ lúc này đang ở Ki-ép nên tôi hứa với Cô-xten-cô là sẽ báo cáo với tham mưu trưởng, vì đồng chí là người đã ký văn bản mệnh lệnh đó.

– Cậu đến có việc gì thế? – Puốc-ca-ép hỏi.

Tôi trình bày đề nghị của tướng Cô-xten-cô và nói thêm: những lý lẽ của tư lệnh tập đoàn quân, rằng cơ quan tham mưu tập đoàn quân 26 phải mất không ít thời gian để tới Bô-gu-xláp và như vậy không thể không ảnh hưởng tới việc chỉ huy bộ đội trong những giờ phút cực kỳ quan trọng này.

Tham mưu trưởng lạnh lùng nhìn tôi:

– Tư lệnh tập đoàn quân nhìn sự việc chung quanh bằng con mắt thiển cận của mình là không hay. Nhưng khi đồng chí, I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích, tham mưu phó của tôi, mà cũng bắt đầu suy xét như vậy thì không ra sao cả. Đồng chí cần hiểu là Cô-xten-cô chỉ thấy những gì đang xảy ra ở khu vực của đồng chí ấy, còn chúng ta lại xuất phát từ lợi ích của cả phương diện quân. Đúng, nhiệm vụ của đồng chí ấy có khó khăn, rất khó khăn là đằng khác. Nhưng chúng ta có nhiệm vụ phải kìm chân những sư đoàn địch đang tiến về Ki-ép. Không một phút nào chúng ta được quên tình hình đang diễn biến nặng nề bên sườn phải tập đoàn quân 6 của chúng ta. Và đó là nguyên nhân buộc ta phải bắt đầu phản đột kích ngay. Hôm nay, quân đoàn bộ binh 27 phải chuyển sang tiến công từ phía Bắc. Nếu chúng ta không chi viện quân đoàn này bằng đợt công kích từ phía Nam thì không đạt được kết quả.

– Tôi, và có lẽ cả tướng Cô-xten-cô đều hiểu điều đó. Nhưng phản đột kích chỉ thu được kết quả khi có chuẩn bị tốt. Do đó, gia hạn thêm một chút là điều có thể được.

Song, tham mưu trưởng cương quyết gạt bỏ mọi lý lẽ và phê chuẩn mệnh lệnh.

Dù sao thì trong ngày hôm ấy, chúng tôi không thể tổ chức được cuộc tiến công của tập đoàn quân 26. Chỉ có quân đoàn bộ binh 6 và đoàn biên phòng hỗn hợp mới tiếp xúc trực tiếp với địch. Nhưng các đơn vị này cũng thể tiến công được, bởi họ đang phải kìm chân một lực lượng địch có ưu thế lớn trên một chính diện rất rộng. Còn khả năng của các đơn vị ấy thì lại có hạn. Bạn đọc còn nhớ, chúng tôi rút quân đoàn bộ binh 6 của tướng I. I. A-lếch-xây-ép về bổ sung, nhưng chưa kị bổ sung thì quân đoàn đã lại phải lao vào những trận đánh ác liệt. Còn đoàn biên phòng hỗn hợp mới bị các đơn vị xe tăng cơ giới địch tập kích dữ dội và chúng ta phải ngạc nhiên là làm thế nào mà các đồng chí ấy vẫn tồn tại được.

Đúng vậy, ngày hôm trước, 14 tháng Bảy, các chiến sĩ biên phòng đã thể hiện tinh thần bất khuất cao độ. Các phân đội biên phòng với số quân ít ỏi phải yểm hộ một đoạn dài bảy mươi ki-lô-mét giữa sườn phải tập đoàn quân 6 với khu vực cố thủ Ki-ép. Tảng sáng, những binh đội thuộc sư đoàn xe tăng 9 của Đức đã công kích họ dồn dập.

Đoàn biên phòng 94, các trung đoàn bộ binh cơ giới 6 và 16 nằm trong đoàn biên phòng hỗn hợp chỉ có ba khẩu pháo và hai xe tăng hạng nhẹ. Vậy những đơn vị ấy có thể làm được gì? Thế mà họ đã làm được nhiều, rất nhiền. Bọn Hít-le cho rằng chúng có thể tự do tiến quân, nhưng đã gặp phải hỏa lực, buộc phải dừng lại, triển khai đội hình chiến đấu. Xe tăng và bộ binh địch công kích nhiều lần, nhưng lần nào cũng bị đẩy lui. Cuối cùng, bọn Hít-le cũng tìm được ra chỗ yếu ở bên sườn.

Các chiến sĩ pháo binh thuộc đại đội của đại úy I-u-đin chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đã hy sinh dưới vành xích sắt của xe tăng địch.

Để tránh nguy cơ bị bao vây, chỉ huy trưởng đoàn hỗn hợp bắt đầu cho các phân đội rút về hội quân với những binh đội thuộc quân đoàn bộ binh 6. Những bộ phận còn lại của đội biên phòng 3 và 4 yểm hộ cho bộ đội rút lui. Anh em chiến đấu đến cùng. Đại úy Glát-ki-khơ và thượng úy An-đri-a-cốp bị thương nặng. Các chính trị viên đội biên phòng I. M. Cô-rô-vu-xkin và I. N. Pô-ta-pen-cô lên chỉ huy thay.

Địch mưu toan chặn đường rút lui của các chiến sĩ biên phòng. Cần phải tìm bằng được cách tránh địch truy kích và bám trụ ở tuyến mới. Đại úy I. M. Xê-rê-đa, người chỉ huy khu I, đã lãnh đạo các đồn biên phòng 17 và 18, có nhiệm vụ giữ tuyến phòng ngự ở ngoại vi phía Nam làng Pa-ríp-xư (cách Pô-pen-ni-a 4 ki-lô-mét về phía Nam) và kìm chân các đơn vị địch. Rất may, gần đấy có một đại đội pháo thuộc một trung đoàn pháo binh của tập đoàn quân. Trung đoàn trưởng sẵn sàng để lại đại đội này bắn chi viện cho các chiến sĩ biên phòng.

Đại úy I. M. Xê-rê-đa, chính trị viên trưởng P. P. Cô-lê-xni-tsen-cô và các chiến sĩ đã kìm được địch bằng chính sinh mạng của mình.

Bạn đọc có dịp tới tỉnh Gi-tô-mia, mời bạn hãy đến thăm đoạn đường Pô-pen-ni-a đi Xcơ-vi-ra. Ở ngã tư cách thành phố mấy ki-lô-mét, bạn sẽ thấy một đài kỷ niệm ghi dòng chữ: “Bạn hãy nghiêng mình trước đồng đội, nơi đây đã thấm máu các anh hùng. Tại đây, ngày 14 tháng Bảy năm 1941, Anh hùng Liên Xô đại úy Xê-rê-đa, chính trị viên Cô-lê-xni-tsen-cô và 152 chiến sĩ đoàn biên phòng 94 đã anh dũng hy sinh trong trận đánh không cân sức với xe tăng phát-xít”.

Khí phách anh hùng của các chiến sĩ biên phòng và nghệ thuật chỉ huy các các cán bộ không những đã kìm chân địch được gần một ngày đêm, mà còn ứng cứu cho đơn vị hỗn hợp. Sau khi rút về phía Đông – Nam Pha-xtốp, đơn vị này đã hội quân được với những binh đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 6 và bây giờ lại tham gia chiến đấu.

Khi biết được chỉ có những lực lượng nhỏ bé này tới ngày 15 tháng Bảy mới chạm trán với địch, tư lệnh phương diện quân buộc phải hạ một mệnh lệnh mới cho tập đoàn quân 26 vào lúc đêm khuya. Cuộc tiến công được hoãn đến sáng hôm sau. Theo mệnh lệnh này, đến cuối ngày, các đơn vị phải tiến tới tuyến Pha-xtốp, Cra-xnô-lê-xi, Đu-lít-xcôi-e (phía nam Pha-xtốp). Lại thêm một nhiên vụ rất khó khăn nữa. Vì như vậy, có nghĩa là trong một ngày, các đơn vị không chỉ có nhiệm vụ đánh tan những sư đoàn xe tăng và cơ giới địch đang tiến công, mà còn phải tiến được mấy chục ki-lô-mét về hướng Tây – Bắc. Còn lực lượng lúc này vẫn thiếu như trước kia. Mặc dù tập đoàn quân của Cô-xten-cô được tăng cường thêm quân đoàn bộ binh 64 gồm hai sư đoàn lấy trong lực lượng dự bị của phương diện quân, nhưng, thực ra, vẫn là quân đoàn bội binh 6 đã bị tổn thất và các chiến sĩ biên phòng vẫn phải chiến đấu với địch mà thôi. Đơn vị của Ph. N. Ma-tư-kin cũng vẫn chưa tiếp cận đến tuyến chính diện, còn quân đoàn bộ binh 64 lại phải vượt chặng đường dài hơn nữa (quân đoàn đang ở bờ Đông sông Đni-ép-rơ). Quân đoàn phải vượt sông rồi tiếp cận địa điểm chiến đấu trong điều kiện bị không quân địch tập kích liên tục, là một công việc rất phức tạp và cần nhiều thời gian.

Ngày nay, tất nhiên, người ta có thể thắc mắc là tại sao trong những ngày ấy, tập đoàn quân 26 lại khăng khăng được giao những nhiệm vụ hoàn toàn không hiện thực như vậy: vì ngày 15, ngày 16 và cả ngày 17, những lực lượng dự bị được chuyển thuộc cho tư lệnh tập đoàn quân vẫn không kịp đến tuyến xuất phát, mà thiếu những lực lượng ấy thì không thể bắt đầu phản đột kích được.

Bọn đọc thử hình dung trở lại những ngày đó. Kẻ địch đang ở ngưỡng cửa Ki-ép, xe tăng của chúng có thể đột nhập thành phố bất cứ lúc nào, các đơn vị phát-xít đang tiến mạnh về phía Đông, bẻ gẫy tuyến phòng ngự của ta mới gấp rút xây dựng lúc ở chỗ này lúc ở chỗ khác. Trong những điều kiện như thế, cả bộ tư lệnh phương diện quân lẫn Đại bản doanh đều cố gắng tận dụng mọi khả năng để ngăn chặn dòng suối thép của địch dù chỉ là một ngày, một giờ. Do đó, phải khẩn trương chống đỡ những đòn tập kích của địch trên những hướng yếu nhất. Chúng ta buộc phải trông cậy vào chỗ dựa chủ yếu – sức mạnh tinh thần không gì bẻ gẫy nổi của các chiến sĩ: đối với anh em, không một nhiệm vụ nào là không thể hoàn thành. Và mỗi giờ, chúng ta càng thấy rõ điều đó.

Bộ tư lệnh quân đoàn bộ binh 27 cố gắng nhiều để đẩy mạnh việc điều động bộ đội. Vì quân đoàn ở bờ Tây sông Đni-ép-rơ rồi, nên ngày 16 tháng Bảy, cả hai sư đoàn trong quân đoàn đã bước vào chiến đấu trong hành tiến ở phía Tây – Bắc Ki-ép, tuy không cùng một lúc. Bẻ gẫy được sức kháng cự của địch, hai sư đoàn đã tiến khá nhanh và đến cuối ngày chỉ còn cách đường Ki-ép – Gi-tô-mia có bốn ki-lô-mét. Một đại đội thuộc trung đoàn bộ binh 144 của sư đoàn bộ binh sơn chiến 28 do thiếu úy Đ. I. Sê-pê-len-cô chỉ huy đã tiến tới con đường đó và chiếm giữ đoạn đường ở làng Xta-vi-se. Chúng tôi biết được tình huống này không chỉ qua báo cáo chiến đấu ở dưới đơn vị gửi lên, mà còn bắt được sóng vô tuyến của địch: sau khi biết tuyến chủ yếu cung cấp cho các đơn vị đang tiến mạnh tới Ki-ép bị cắt, tướng Rây-khơ-nao, tư lệnh tập đoàn quân 6 của Đức nổi khùng và dọa sẽ trừng phạt nặng, yêu cầu các đơn vị Đức phải nhanh chóng dọn sạch đường. Bộ chỉ huy phát-xít đã ném tới đây một lực lượng đáng kể bộ binh cơ giới và mười lăm xe tăng để đối phó với một đại đội chiến sĩ xô-viết. Chiến sự diễn ra chỉ cách các lực lượng chủ yếu của sư đoàn bộ binh sơn chiến của ta có bốn ki-lô-mét, nhưng lúc này, các chiến sĩ ta bị cột chặt trong chiến đấu nên không thể chi viện cho nhóm dũng sĩ. Còn họ thì hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách xứng đáng. Trận đánh không cân sức kéo dài hai ngày đêm. Người con vinh quang của nhân dân U-cra-i-na Đ. I. Sê-pê-len-cô và các bạn chiến đấu của anh đã ngã xuống, nhưng vẫn quyết không chịu lùi bước. Cuối trận đánh, khắp cánh đồng làng ngổn ngang xác địch cùng những chiếc xe tăng bị thiêu cháy.

Sức kháng cự của các đơn vị địch tăng lên đột ngột đã kìm bớt cuộc tiến công của quân đoàn bộ binh 27. Quân đoàn không được mũi đột kích đồng thời từ phía Nam đánh sang chi viện, vì bản thân những sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 6 và các đơn vị biên phòng hỗn hợp ở các khu vực Pha-xtốp và Bê-lai-a Txéc-cốp bị những binh đoàn xe tăng và cơ giới địch tiến công mãnh liệt. Bộ đội ta chiến đấu kiên cường, và địch bị tổn thất đáng kể. Nhưng ở một số đoạn, xe tăng phát-xít đã đột nhập được vào đội hình chiến đấu củ các sư đoàn. Chúng ta buộc phải bỏ Bê-la-a Txéc-cốp. Tướng I. I. A-lếch-xây-ép quyết không chịu, nên sau khi điều động lực lượng, đồng chí lại tổ chức phản kích quyết liệt. địch bị hất sang bên kia đường Va-xin-cốp – Bê-lai-a Txéc-cốp. Nhưng sẩm tối, chúng tôi nhận được báo cáo đáng lo ngại của tập đoàn quân 6: địch đang tiến quân ở phía Nam và đi vòng qua Bê-lai-a Txéc-cốp từ phía Tây. Ở khu vực Ca-da-tin, địch đã đẩy lui những binh đội bên sườn phải của tập đoàn quân 6 sâu thêm nữa về phía Tây – Nam. Quân đoàn cơ giới 16 của ta bắt đầu bị nguy ngập. Thêm nữa, báo cáo của tư lệnh tập đoàn quân 12 còn cho biết: xe tăn địch đã đột phá được bốn nơi trên chính diện và đang tiến mạnh về Giơ-mê-rin-ca và Vin-ni-txa.

Được tin đó, Nguyên soái X. M. Bu-đi-ôn-nưi, tổng tư lệnh bộ đội hướng Tây – Nam, yêu cầu bộ tự lệnh phương diện quân phải hành động kiên quyết và ra lệnh trước hết phải đưa toàn bộ lực lượng không quân của phương diện quân ra đối phó với các đơn vị địch đang tiến công. Đồng thời, đồng chí cho biết sẽ chuyển cho phương diện quân ba sư đoàn bộ binh dự bị đang đáp tàu tới các khu vực Tséc-ca-xư và Ca-nép.

Khi tôi báo cáo với Kiếc-pô-nô-xơ chỉ lệnh vừa nhận được của tổng tư lệnh, đồng chí càng đăm chiêu hơn và nói chuyện ngay bằng điện thoại với tư lệnh lực lượng không quân phương diện quân:

– Đồng chí A-xta-khốp! Tình hình bên trái phương diện quân trở nên hết sức phức tạp. Đại tá Ba-gra-mi-an sẽ thông báo điều đó với đồng chí cụ thể hơn. Đồng chí hãy tập hợp tất cả những gì có thể thể tập hợp để tập kích vào các đoàn xe tăng địch ở Bê-lai-a Txéc-cốp và ở phía Đông – Bắc Ca-da-tin. Hãy kìm chân địch lại. Nhiệm vụ chính là phải phá vỡ kế hoạch của địch.

Đặt máy xuống, Kiếc-pô-nô-xơ nói khẽ, dường như đồng chí tư duy thành tiếng:

– Ba sư đoàn do tổng tư lệnh chuyển cho ta còn lâu mới tới. Khi đó, địch sẽ đẩy lui tập đoàn quân 6 của ta sâu hơn nữa về phía Nam. Chắc là Clai-xtơ sẽ cố tiến mạnh tới Đni-ép-rơ. Do đó, ta phải dùng những sư đoàn đang tiếp cận để yểm hộ các chỗ vượt sông: tập đoàn quân 6 phải rút lui nên cửa ngõ vào Đni-ép-rơ hoàn toàn bị bỏ trống.

Hôm sau, tướng A-xta-khốp đưa phần lớn máy bay ném bom và máy bay cường kích của mình tiến công những cụm quân địch đã đột phá. Máy bay ta lọt qua hàng rào máy bay tiêm kích địch và đánh vào các đoàn xe tăng, nhưng, tất nhiên, cũng không thể ngăn chặn được cuộc tiến công của địch đã triển khai hầu như trên khắp chính diện.

Ngày 17 tháng Bảy, đơn vị của tướng Ph. N. Ma-tư-kin đã công kích dũng cảm và đột nhập được vào Pha-xtốp. Các đơn vị đã chiến đấu quyết liệt, đánh bại quân phát-xít và làm chủ thành phố. Trận đánh giành lại Bê-lai-a Txéc-cốp dấy lên một khí thế mới. Địch khó khăn lắm mới đẩy lui được những đợt công kích của quân đoàn bộ binh 6. Chúng tung lực lượng dự bị ra, mở lại cuộc tiến công. Tướng Cô-xten-cô lúc này không còn nghĩ đến chuyện giành lại Bê-lai-a Txéc-cốp nữa, mà chỉ lo sao giữ vững được trận địa ở phía Đông thành phó. Các sư đoàn của quân đoàn và các phân đội của đơn vị biên phòng hỗn hợp vẫn dũng cảm bẻ gãy những đợt công kích của xe tăng và bộ binh cơ giới địch như trước. Một lần nữa, các chiến sĩ biên phòng bất tử đã chiến đấu đến cùng ở đoạn giữa Pha-xtốp và Bê-lai-a Txéc-cốp. Nhiều người bị trúng đạn ngã xuống, nhiều người bị xích xe tăng địch nghiền nát, nhưng những người còn sống vẫn tiếp tục chiến đấu.

Ký ức về những trận đánh trong những ngày tháng Bảy này ở phía Tây – Nam Pha-xtốp vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân địa phương. Tại làng Ê-li-da-vét-ca, nhân dân đã dựng một đài kỷ niệm hùng vĩ, đặt trên bệ đá cẩm thách, khắc sâu tên tuổi những liệt sĩ của đoàn biên phòng 94 do thiếu tá P. I. Bô-xưi chỉ huy. Nhân dân địa phương đã cứu được tại trận địa nhiều chiến sĩ bị thương nặng và không quản ngại đến tính mạng của mình để chăm sóc anh em. Bà con tìm được chiến sĩ biên phòng I. I. I-va-nốp bị mất nhiều máu, hai chân dập nát. Người chiến sĩ ấy sống lại được quả là một điều kỳ diệu. Đồng chí ở lại nơi mình đã chiến đấu. Ít ai biết con người luôn luôn vui tính này lại là một trong ba người anh hùng đã chiến đấu một mất một còn tại đây vào hồi tháng Bảy năm 1941, và đài kỷ niệm ở làng Ê-li-da-vét-ca được dựng lên chính là để tưởng niệm những người con anh hùng ấy.

… Những sư đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 16 vừa chiến đấu, vừa rút từ Béc-đi-tsép ngày một sâu thêm về hướng Tây – Nam. Trước nguy cơ bị bao vây, các đơn vị này buộc phải bỏ Ca-da-tin ngay từ ngày 15 tháng Bảy.

Trong dải của tập đoàn quân 12, ba sư đoàn bộ binh và một trăm xe tăng địch đột phá đã chiếm được Giơ-mê-rin-ca và đang lao về Vin-ni-txa, nơi đóng quân của cơ quan tham mưu tập đoàn quân.

Đến ngày 18 tháng Bảy, khoảng trống giữa các sư đoàn bên sườn phải của tập đoàn quân 6 và quân đoàn bộ binh thuộc tập đoàn quân 26 đã rộng tới gần một trăm ki-lô-mét. Quân địch lũ lượt kéo qua khu vực cửa mở mới đó. Chỉ cần chậm trễ độ hai ba ngày, các tập đoàn quân 6 và 12 của ta sẽ bị hợp vây.

Tướng Kiếc-pô-nô-xơ ngồi lâu bên tấm bản đồ. Vẻ ngoài đồng chí vẫn bình tĩnh như thường lệ, nhưng trong giọng nói khàn khàn, đều đều của đồng chí đượm nỗi lo âu.

– Phải báo cáo ngay với tổng tư lệnh, không thể trì hoãn việc rút các tập đoàn quân.

Tôi biết X. M. Bu-đi-ôn-nưi cũng đang rất lo lắng về tình hình bộ đội ở bên cánh trái chúng tôi. Ngay đêm khuya, tướng A. I. Stơ-rôm-béc ở bộ tham mưu của Bu-đi-ôn-nưi nói chuyện với tôi rằng tổng tư lệnh đã điện về Đại bản doanh: tập đoàn quân 6 và 12 hoàn toàn không có lực lượng dự bị, các sư đoàn đã kiệt sức đến nỗi khó khăn lắm mới giữ được tuyến đã chiếm; không có lực lượng nào cản địch đi vòng qua sườn các tập đoàn quân; nếu không rút lui, bộ đội ta sẽ bị hợp vây.

Hồi 16 giờ 40, tướng Sa-rô-khin ở Bộ Tổng tham mưu chuyển cho chúng tôi lệnh hướng dẫn của Đại bản doanh: tập đoàn quân 6 và 12 sẽ chuyển quân trong ba đêm để đến sáng 21 tháng Bảy rút về chiếm lĩnh chính diện Bê-lai-a Txéc-cốp, Tê-ti-ép, Ki-tai-gô-rốt. Trong ba đêm, bộ đội phải vượt được 60 – 90 ki-lô-mét.

Giữa các tập đoàn quân ở cạnh trái và bộ tham mưu phương diện quân là một dải rộng đã bị địch chiếm, lại không có liên lạc hữu tuyến. Chúng tôi không dám truyền đạt một mệnh lệnh quan trọng như vậy bằng sóng vô tuyến. Vì vậy, các tướng Pa-ni-u-khốp và Pốt-la-xơ đáp máy bay tới cơ quan tham mưu các tập đoàn quân.

Cùng với việc rút nhưng tập đoàn quân ở cánh trái, Đại bản doanh yêu cầu chúng tôi tiến hành những cuộc đột kích phối hợp từ phía Bắc tiến tới tuyến Gi-tô-mia, Ca-da-tin, Tê-ti-ép nhằm bịt cửa mở và khôi phục lại chính diện chung với những đơn vị đang rút lui. Nếu hoàn thành được nhiệm vụ này thì, tự nhiên, chúng tôi sẽ thanh toán được mối nguy cơ đe dọa Ki-ép và các tập đoàn quân ở cánh trái của chúng tôi. Nhưng muốn làm được việc đó cần phải có một lực lượng lớn hơn nhiều so với lực lượng chúng tôi hiện có. Song, không có lối thoát nào khác. Sáng 19 tháng Bảy, cuộc tiến công bắt đầu. Tập đoàn quân 5 cho một bộ phận đột kích dọc theo đường Cô-rô-xten – Gi-tô-mia và cơ động đến Tséc-ni-a-khốp. Quân đoàn bộ binh 27 lại bắt đầu những cuộc tấn công ở phía nam Ra-đô-mư-slơ. Tập đoàn quân 26 dùng một sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 64 và đơn vị của tướng Ph. N. Ma-tư-kin đột kích từ hướng Pha-xtốp về phía Tây – Bắc, đón quân đoàn bộ binh 27, và dùng hai sư đoàn thuộc quân đoàn kỵ binh 5 đột kích vào Ta-ra-sa. Quân đoàn bộ binh 6 không hể tiến công vào ngày hôm ấy được. Các sư đoàn trong quân đoàn phải chống lại những đợt công kích dữ dội của các binh đoàn xe tăng và cơ giới địch.

Lực lượng tham gia phân tích tuy không nhiều, song những ngày sau đó, trên toàn chính diện ở gần Ki-ép, các trận đánh đã diễn ra rất ác liệt. Bộ đội ta công kích quyết liệt ở một số đoạn và tổ chức phản kích địch đang tiến mạnh  một số nơi khác. Tuyến mặt trận ở sườn trái tập đoàn quân 5 và ở dải hành động của quân đoàn bộ binh 27 thường phải chuyển từ hướng này sang hướng khác. Ba quân đoàn bộ binh thuộc tập đoàn quân 6 Đức bị giam chân tại đây. Về sau, bộ chỉ huy phát-xít buộc phải ném vào đây cả quân đoàn thứ tư – quân đoàn bộ binh 55, lấy ở khu vực Béc-đi-tsép.

Các trận đánh phát triển có kết quả ở dải của tập đoàn quân 26. Thật ra, bộ đội ta ở đây gặp khó khăn hơn do cơ quan tham mưu của tập đoàn quân không giữ đúng những biện pháp bảo đảm bí mật nên địch biết trước một ngày việc chuẩn bị phản đột kích của ta. Bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam” của Đức lo lắng trước những tin tức về cuộc tiến công sắp tới của tập đoàn quân 26 xô-viết đến mức tổng hành dinh Hít-le cũng biết. Tướng Han-đe ghi trong nhật ký: “Hành động của bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam” bị tê liệt vì chờ đợi đợt tiến công sắp tới của tập đoàn quân 26”.

Địch vội vã điều về hướng này những sư đoàn cơ giới và xe tăng trước đây đã tập trung ở gần Ki-ép. Dù sao, đòn đột kích quyết liệt của bộ đội tập đoàn quân 26 của chúng ta cũng đã buộc địch phải lui bước. Hai sư đoàn thuộc quân đoàn kỵ binh 5 do thiếu tướng Ph. V. Cam-cốp dày kinh nghiệm lãnh đạo thu được kết quả lớn nhất. Các binh đoàn đã bao vây và diệt tan được nhiều lực lượng địch ở vùng Ta-ra-sa.

Cuộc phản đột kích của các đơn vị của tướng Cô-xten-cô tuy kết quả còn hạn chế (một phần là do chúng tôi không xây dựng được một cánh quân mạnh và các binh đoàn bố trí trên một khu vực rộng một trăm ki-lô-mét), nhưng cũng mang lại nhiều ích lợi. Han-đe vẫn đặc biệt theo dõi các sự kiện ở khu vực Ki-ép, đã phải tức giận nhận xét: “Những lực lượng chủ yếu của cụm xe tăng 1 vẫn bị các đợt công kích của tập đoàn quân 26 trói chân…”.

Bộ đội phương diện quân không thể giải quyết đến cùng nhiệm vụ tiến ra tuyến đã định, bịt cửa mở và khép sườn các tập đoàn quân. Một bộ phận những sư đoàn xe tăng và cơ giới của tướng Clai-xtơ không bị cuộc phản kích của ta kìm lại vẫn tiếp tục tiến quân tới đường rút lui của tập đoàn quân 6. Lẽ ra phải cơ động về hướng Đông, tới Bê-lai-a Txéc-cốp, nhưng các sư đoàn của tập đoàn quân lại buộc phải đi chệch về hướng Đông – Nam, nên ngày càng cách xa những lực lượng còn lại của phương diện quân. Thêm nữa, tập đoàn quân 6 còn vô tình đẩy cả tập đoàn quân 12 bạn phải lui về hướng Đông – Nam, nên hai tập đoàn quân của phương diện quân không những không nhích lại được gần nhau, mà ngày càng xa nhau hơn. Cần rất mưu trí và kiên quyết mới có thể chống đỡ nổi mối nguy cơ bị uy hiếp từ phía chính diện và phía sau. Thí dụ, ngày 22 tháng Bảy, khi quân đoàn bộ binh 49 thuộc tập đoàn quân 6 được các binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 16 yểm hộ, tiến đến Ô-ra-tốp (ở phía Tây – Nam Tê-ti-ép) thì thị trấn này đã bị địch chiếm. Bộ đội quân đoàn 49 của tướng I. A. Coóc-ni-lốp công kích quyết liệt cánh quân phát-xít, thu được 100 ô-tô, 300 mô-tô và bắt 80 tù binh. Trong thời gian đó, sư đoàn bộ binh 37 bạn đã đột nhập vào thị trấn Ô-xích-ca và diệt được một bộ tham mưu lớn. Tập đoàn quân 6 vẫn tiếp tục rút lui trong những điều kiện ấy. Bộ đội tập đoàn quân 12 cũng không dễ chịu gì hơn vì sườn trái của tập đoàn quân luôn có nguy cơ bị đánh tập hậu.

Cả hai tập đoàn quân đều không thể bám trụ ở tuyến do Đại bản doanh chỉ định, vẫn tiếp tục từ từ rút lui, vừa phải chiến đấu ác liệt, vừa phải bảo đảm cho những đoàn ô-tô, đoàn tàu hỏa lớn chở tài sản và thương binh đi sơ tán chạy trước. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn đó, khi khả năng duy nhất để thoát vây là phải nhanh chóng rút lui, thì các tập đoàn quân lại bị chôn chân, giống như người khách bộ hành bị gánh nặng quá sức chúi xuống. Song không thể làm gì khác được. Họ vẫn buộc phải mang tiếp gánh nặng: nếu đó chỉ là tài sản thì có thể vứt bỏ đi được, song đó là những đoàn tàu chở thương binh mà Hồng quân tuyệt đối không thể bỏ lại. Lúc này, với sự nỗ lực cao độ, bộ đội ta chưa bị địch hợp vây. Nhưng liệu còn bao lâu nữa?

Để chi viện cho những tập đoàn quân ở sườn trái, Hội đồng quân sự phương diện quân lệnh cho tướng Ph. I-a. Cô-xten-cô, tư lệnh tập đoàn quân 26, dồn nhưng nỗ lực chủ yếu vào hướng chung ở phía Nam, tức là nhằm bắt liên lạc với những đơn vị đang rút lui. Do đó, trách nhiệm phòng ngự Ki-ép ngày càng đè nặng lên cánh phải của phương diện quân, vào tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27. Các đơn vị này phải hành động tích cực nhằm thu hút về phía mình càng nhiều càng tốt những đơn vị thuộc tập đoàn quân 6 của Đức, để không cho chúng tập trung ở ngưỡng cửa thành phố.

Ngày 21 tháng Bảy, theo lệnh của tư lệnh phương diện quân, tôi đi đến chỗ tướng Pô-ta-pốp và gặp đồng chí ở sở chỉ huy lúc đó đặt ở phía Bắc Cô-rô-xten 20 ki-lô-mét.

M. I. Pô-ta-pốp vóc người vốn cao lớn, cân đối, thế mà giờ đây trông gầy hẳn đi, dáng mệt mỏi, song vẫn như trước kia, ở đồng chí không bao giờ lộ vẻ chán nản. Đồng chí rất vui vì được thông báo tình hình trên toàn mặt trận, nhất là lại được thông báo trực tiếp. Pô-ta-pốp hỏi han tỉ mỉ tình hình ở gần Ki-ép, tin thần bộ đội và nhân dân thành phố. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến tình hình bội đội ở bên cánh trái phương diện quân. Tôi thuật lại hết, không thêm, không bớt, và lưu ý đồng chí là bộ tư lệnh phương diện quân đặt nhiều hy vọng vào cuộc phản đột kích của các binh đoàn của đồng chí.

Đi tới chỗ treo bản đồ, Pô-ta-pốp nói:

– Chúng tôi đang làm tất cả những gì có thể để kìm chân thật nhiều lực lượng địch, tiêu hao chúng và không cho chúng tiến tới Ki-ép.

Tư lệnh tập đoàn quân có cơ sở để khẳng định như vậy. Quân địch đã bị bộ đội của đồng chí trừng phạt nặng nề. Nguyên tướng Hít-le A. Phi-líp-pi đã nhận xét trong bút ký của y là tập đoàn quân 5 Nga “ngày 10 tháng Bảy được một lực lượng pháo binh lớn yểm hộ đã tiến công và buộc tất cả các binh đội và binh đoàn mà tập đoàn quân 6 Đức đã tập trung được ở ngoài mặt trận phải chuyển sang phòng ngự”. Một tuần sau, Phi-líp-pi viết, bộ chỉ huy tập đoàn quân 6 Đức buộc phải tuyên bố: “Các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 5 Nga vẫn gây cho ta một nguy cơ khiến chúng ta phải thanh toán bằng được trước khi tiến công vào Ki-ép”.

– Nhưng tiếc rằng chúng tôi không có lực lượng để giáng những đòn đột kích có tính chất quyết định, - tư lệnh tập đoàn quân nói.

– Nhưng đồng chí có ba quân đoàn cơ giới, - tôi nhắc lại. – Không một tập đoàn quân nào của phương diện quân có được những lực lượng như thế.

– Đấy, đấy! – tư lệnh tập đoàn quân chớp lấy. – Các đơn vị bạn nghe thấy có ba quân đoàn cơ giới thì làm gì mà họ chẳng ganh: “Pô-ta-pốp chiến đấu được thôi”. Nhưng đồng chí cũng biết rõ không kém tôi là ba quân đoàn ấy ở trong tình trạng như thế nào.

Pô-ta-pốp dẫn ra những số liệu: quân đoàn cơ giới 9 (trước ngày 19 tháng Bảy do C. C. Rô-cô-xốp-xki chỉ huy, nay thuộc tướng A. G. Ma-xlốp) chỉ có ba ươi xe tăng hạng nhẹ, quân đoàn cơ giới 22 của V. C. Tam-ru-tsi có bốn mươi chiếc, N. V. Phê-cơ-len-cô ở quân đoàn 19 có nhiều xe tăng hơn, gần bảy mươi chiếc, trong đó có 30 chiếc hạng vừa và hạng nặng, còn các quân đoàn khác không hề có xe tăng loại này.

– Nếu tập trung hết số xe tăng đó lại thì cũng không đủ cho một sư đoàn xe tăng bình thường. Thế mà đồng chí nói tới ba quân đoàn cơ giới! – Pô-ta-pốp bực bội nói. – Thêm nữa, trong những ngày chiến đấu, xe đã chạy trên một nghìn ki-lô-mét, đòi hỏi phải có những sửa chữa kỹ thuật lớn, nên không có gì phải tị với chúng tôi.

– Nhưng các tập đoàn quân khác có nhiều lý do hơn nữa để kêu ca…

– Đúng, đúng, - Pô-ta-pốp vội vã đồng ý. – Tất nhiên, đồng chí nói đúng: so với các tập đoàn quân của Mu-dư-tsen-cô và Pô-nê-đê-lin thì chúng tôi có khá hơn.

Tư lệnh tập đoàn quân phàn nàn bị thiếu đạn, nhất là đạn xuyên thép: đạn chở được đến đâu bắn hết đến đấy, không còn để dự trữ.

– Làm sao mà dự trữ được. Chúng tôi đánh ngay từ ngày đầu chiến tranh, mà bây giờ đã là tuần thứ hai lại vẫn không ngừng phải phản kích.

Im lặng một lát, tư lệnh tập đoàn quân nói thêm, giọng tin tưởng, tự hào:

– Không sao. Chúng tôi đã làm cho bọn phát-xít phải kiêng nể. Chúng tôi bắt được thư từ của binh lính địch thấy chúng ngày càng tỏ ra buồn bã chán nản. Thường thấy câu: “Đây không phải là đất Pháp”. Bây giờ, bọn địch tiến công mà vẫn nơm nớp. Trước khi xông lên chúng phải cho bom đạn cày nát và thường ngày phải lên dây cót tinh thần bằng rượu. Ngày 16 tháng Bảy, chúng lao từng đàn tới trận địa quân đoàn bộ binh 31 của ta, ưỡn thẳng người, gào lên vỡ họng. Chúng tôi đã làm cỏ bọn chúng,bắt sống được mười lăm tên, tất cả đều say mềm.

Rút trong đống tài liệu trên bàn một bức thư kèm bản dịch, Pô-ta-pốp bảo tôi:

– Đồng chí đọc xem.

Đó là bức thư chưa kịp gửi của tên lính Đức Côn-rát Đum-le:

“Tôi ở trong quân ngũ đã được bốn năm, tham gia chiến tranh hai năm. Nhưng tới bây giờ tôi mới hiểu rằng chiến tranh thực sự mới bắt đầu. Còn trước đây thì chỉ có thể gọi là những cuộc diễn tập. Người Nga là những dũng sĩ tuyệt vời. Họ hiến đấu dữ như hung thần”.

Tên kiểm duyệt Đức giữ lại bức hư để ghi thêm: “Lạ thật, Đum-le đã tham gia nhiều chiến dịch, được coi là người tốt”.

– Không sao, - tư lệnh tập đoàn quân phá lên cười, - khi chúng ta choảng mạnh hơn thì bọn phát-xít sẽ còn viết khác hơn nữa.

Câu chuyện quay sang vấn đề thông tin liên lạc. Tôi nói với Pô-ta-pốp là tư lệnh phương diện quân rất lo vì không thường xuyên nhận được tin tức của tập đoàn quân 5.

Tư lệnh tập đoàn quân cay đắng thở dài:

– Bản thân chúng tôi cũng khổ vì không có liên lạc. Chỉ huy bộ đội trong điều kiện bị địch thọc sâu quả là vấn đề của những vấn đề. Liên lạc hữu tuyến không thể đặt được. Đài thu phát có ít. Mà chúng tôi cũng chưa được học tập đầy đủ cách sử dụng điện dài. Ít được tập luyện mã hóa nên đôi khi cán bộ chỉ huy nói chuyện thẳng bằng lời khiến những tin tức quan trọng bị địch thu được. Nhưng đồng chí có thể báo cáo với tư lệnh phương diện quân là chúng tôi đang áp dụng mọi biện pháp để duy trì liên lạc chặt chẽ với các đơn vị của mình cũng như với bộ tham mưu phương diện quân.

Tôi cũng nói chuyện lâu với tướng Đ. X. Pi-xa-rép-xki, tham mưu trưởng tập đoàn quân, và cũng được đồng chí cam đoan như vậy.

Lúc chia tay, Pô-ta-pốp đề nghị tôi chuyển đề nghị của đồng chí tới chủ nhiệm công binh phương diện quân gửi cho đồng chí ít nhất 5 – 6 nghìn xẻng công binh nhỏ.

– Có khi chúng tôi chiếm được một tuyến thuận lợi nhưng không giữ nổi vì không có dụng cụ đào công sự, chỉ một nửa số chiến sĩ có xẻng… Còn cái này thì đồng chí chuyển hộ cho Cục chính trị phương diện quân, - tư lệnh đưa cho tôi một tập tài liệu. – Tôi nghĩ là sẽ cần đến.

Đó là những tài liệu rất bổ ích và lý thú: mệnh lệnh và báo cáo của các tướng lĩnh Hít-le, nhật ký và thư từ của binh lính và sĩ quan Đức.

Dưới đây là nhật ký của tên chuẩn úy An-be Smít của đại đội 2 thuộc trung đoàn xe tăng 36. Đoạn kể từ ngày 21 tháng Sáu đầy phấn khởi. Người viết sung sướng vì mới nhận được tiền, số tiền ứng trước cho đợt xâm nhập lãnh thổ Liên Xô vào ngày mai. Hôm sau, y viết: “8 giờ, chúng tôi tiến công. Và thế là bắt đầu chiến tranh với nước Nga… 3 giờ sáng hôm nay, chúng tôi nổ súng ở 52 đại đội”. Nhật ký ghi tiếp ngắn hơn nhiều: “Bọn Nga chiến đấu quyết liệt…”. “Đại đội chúng tôi mất 7 xe tăng”. Ngày 25 tháng Sáu, y đã rút ra những kết luận đầu tiên: “Chưa có ai trong chúng tôi tham gia những trận chiến đấu như ở nước Nga. Chiến trường đầy vẻ khủng khiếp. Chúng tôi chưa gặp cảnh tượng này bao giờ… Tổn thất thật nặng nề”. Cuối tuần chiến tranh đầu tiên: “Nhiều người chúng tôi bị chết và bị thương”. Trang nhật ký cuối cùng ghi ngày 14 và 15 tháng Bảy cực kỳ ngắn: “Những ngày khủng khiếp!”.

Trong nhật ký của tên Các Nôi-xe, chuẩn úy đại đội 5 thuộc trung đoạn kỵ binh 132, tâm trạng còn biến đổi rõ nét hơn. “Chúng tôi đã chọc thủng tiền duyên, - y sung sướng viết trong ngày chiến tranh đầu tiên. – Còn sau này sẽ ra sao?”. Hôm sau y đã lo ngại: “Tình hình phía ta trở nên rất nghiêm trọng. Điều gì sẽ xảy ra?”. Ngày 24 tháng Sáu, nhật ký đã đượm những nét buồn: “Những nấm mồ đồng đội đánh dấu con đường chúng tôi đi. Trận hội chiến ác liệt đã diễn ra trước cứ điểm của bọn Nga”. Và mỗi ngày một thêm lo lắng. Ngày 9 tháng Bảy: “16 giờ, chúng tôi vào được thành phố, nơi đã diễn ra trận đánh ác liệt, vì bọn Nga kháng cự rất kiên cường. Thành phố này là Nô-vô-grát – Vô-lưn-xki”. Một ngày sau: “Trung đội chúng tôi nhận nhiệm vụ đi trinh sát và xác định xem đối phương còn ở trong khu rừng bên cạnh không. 29 người lên đường. Thoạt đầu mọi sự đều ổn, nhưng khi chúng tôi vào rừng thì thấy chín lính Nga tiến về phía mình. Viện thượng sĩ đã làm một việc ngu xuẩn nhất có thể có. Hắn cưỡi xe đạp đến chỗ bọn Nga, định bắt sống chúng. Nhưng điều khủng khiếp đã xảy ra. Nhanh như chớp, bọn Nga nằm rạp xuống, dùng tiểu liên bắn vào đội chúng tôi. Lúc này, ngoài tôi và hai tên lính ra, đội chưa đi tới bìa rừng. Chúng tôi đã làm tất cả để thoát chết. Bọn Nga bao vây. Chúng tôi núp trong cỏ rậm rồi lợi dụng thời cơ tháo chạy. Chúng tôi Ba chúng tôi về được tới tiểu đoàn và báo cáo rằng rừng đã bị địch chiếm. 14 hoặc 15 người không thấy quay lại. Họ đã chết. Có lẽ hai người bị bọn Nga bắt làm tù binh. Sau này, chúng tôi tìm thấy xác của hai viên chuẩn úy, một viên thượng sĩ và tám tên lính. Lần ấy, tôi thoát chết thật kỳ lạ. Nhưng bóng dáng của tử thần vẫn lởn vởn suốt ngày đêm”. Trang mới ghi tiếp: “Ngày thứ hai của trận đánh thật khủng khiếp. Tôi nằm trong chiến hào và theo dõi đối phương. Chúng tôi bị tỏn thất lớn”. Tiếp theo: “Ngày thứ ba của trận đánh. Chúng tôi vẫn nằm trong chiến hào. Trung đội 3 của tôi chỉ còn năm hoặc sáu người. Pháo binh Nga nện ra trò. Từ 11 giờ 30, quanh chúng tôi sắp sửa đi đứt hết. Đến bao giờ chúng tôi mới thoát khỏi chốn này? Đã năm giờ liền không được nghỉ một phút. Bọn Nga tiếp tục công kích. Cuộc tiến công của chúng tôi trở thành phòng ngự. Ban đêm còn đáng sợ hơn ban ngày vì chỉ có thể phát hiện đối phương khi chúng đã đến thật gần”.

Quả là những lời thú nhận đầy ý nghĩa!

Về tới bộ tham mưu phương diện quân, tôi vội trình bày với tư lệnh những cảm tưởng về tình hình tập đoàn quân 5. Khác với mọi khi, Kiếc-pô-nô-xơ không chú ý nghe báo cáo.

– Được, - đồng chí gật đầu, rồi nói sang vấn đề khác: - Hiện nay, tôi đặc biệt lo lắng về tình hình bộ đội ta ở phía Tây – Nam Ki-ép. Chúng toi được biết địch đang tập trung nhiều lực lượng bộ binh cơ giới và xe tăng để đối phó với tập đoàn quân 26 của ta. Tập đoàn quân này như cái gai trước mắt chúng. Tất nhiên, thống chế Run-stết bắt đầu hiểu rằng nếu tập đoàn quân của Cô-xten-cô hội quân được với quân đoàn bộ binh 27 và tập đoàn quân 6 thì mọi kế hoạch của y, kể cả việc chiếm Ki-ép ở phía Nam thành phố đều bị phá sản… Hiện nay, địch tập trung những lực lượng lớn ở phía Tây – Nam khiến chúng ta lo lắng nhiều nhất. Tiếc là chúng ta không còn lực lượng dự bị, và chỉ có thể đối phó với địch bằng những lực lượng hiện có của tập đoàn quân 26. Ba sư đoàn lấy trong lực lượng dự bị của Đại bản doanh sẽ dùng để giữ bàn đạp Ca-nép và Tséc-ca-xư. Nhưng cả ba sư đoàn vẫn còn đang trên đường và còn lâu mới vượt sang bờ phải sông Đni-ép-rơ. – Thượng tướng im lặng nhìn bản đồ. Trong tình hình này, một quyết tâm tự nó bật ra: chuyển sang phòng ngự. Nhưng địch cũng lại đang cần chính như vậy! Khi ấy, chúng có thể dễ dàng tung hết lực lượng cả về Ki-ép, cả vòng về phía sau lưng tập đoàn quân 6 của ta… - Kiếc-pô-nô-xơ ném bút chì xuống bản đồ. – Vì thế, dù rất cần chuyển sang phòng ngự, vẫn phải yêu cầu Cô-xten-cô tiếp tục tiến công bằng bất kỳ giá nào.

Những trận chiến đấu diễn ra ngày càng gần Ki-ép.

Nguy cơ bộ đội cánh trái của phương diện quân bị bao vây ngày một rõ, khiến ai nấy đều lo lắng. Các trợ lý của phòng tác chiến cũng suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Những sĩ quan trẻ tuổi, nóng tính đặt ra nhiều kế hoạch cực kỳ táo bạo. Đại úy Ai-va-dốp rất sôi nổi, mắt sáng rực, chạy lại gặp tôi.

– Đồng chí đại tá! Có lẽ tôi đã tỉm ra lối thoát, sẽ đảo lộn được hế thảy.

– Thử nói xem, - tôi nói. – Nhưng ngắn thôi đấy. Bản thân cậu cũng biết lả thời gian rất gấp.

Kế hoạch của Ai-va-dốp thật táo bạo. Chiến sự trong phạm vi phương diện quân chúng tôi, về thực chất, mang tính chất từng ổ và cả địch lẫn ta đều không có tuyến phòng ngự liên tục nên cần lợi dụng tình hình này để thành lập ở phía Nam Cô-rô-xen một cụm xung kích cơ động gồm xe tăng và bộ binh cơ giới để tung xuống phía Nam theo hướng An-na-pôn, Gô-lô-vin, Vê-rê-xư, rồi chiếm lấy Gi-tô-mia và sau đó chiếm Béc-đi-tsép.

Thấy tôi cau mặt tỏ vẻ hoài nghi, A-va-dốp càng hăng hái:

– Đồng chí đại tá ạ, cái chính là sự bất ngờ và mưu trí. Các đội du kích sẽ giúp chúng ta. Theo tín hiệu của ta, họ sẽ làm náo động hậu phương địch đến nỗi chúng không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Lúc ấy, bộ đội nhảy dù ta sẽ hoạt động, chiếm lấy con đường cái, thu hút sự chú ý của địch. Lợi dụng tình hình này, cụm cơ động sẽ tiến hành niệm vụ. Theo sau cụm cơ động, các binh đội thuộc quân đoàn bộ binh 15 sẽ củng cố thắng lội. Đòn đột kích bất ngờ này sẽ buộc địch phải kéo lui những sư đoàn của chúng, và như thế sẽ giúp các tập đoàn quân ta ở cánh trái hội quân được với những lực lượng chủ yếu của phương diện quân.

Ai-va-dốp cho tôi xem những bảng tính. Đầu óc cậu ta thật tuyệt vời. Đúng là một đại úy am hiểu nghệ thuật tác chiến. Nhưng khổ một nỗi là cậu ta do quá bồng bột, nên thường không có sự liên hệ với tình hình thực tại và khả năng của chúng tôi. Dù không muốn làm người sĩ quan trẻ thất vọng, tôi cũng phải nhanh chóng bác bỏ lý lẽ của cậu ấy. Đại úy không vui, cuộn tròn tờ giấy lại và thừa nhận rằng mình còn nhiều điều chưa suy nghĩ chín.

Tôi cho đại úy ra về, nhưng trong lòng mình thấy ấm áp. Thật dễ chịu khi được làm việc với những con người biết suy nghĩ, nhìn xa thấy rộng và dồn hết tâm trí vào công việc.

Ai-va-dốp vừa đi khỏi thì lại có tiếng gõ cửa. Đại úy Ph. E. Li-pít tươi cười bước vào.

– Đại tá cho phép báo cáo?

“Lại một dự án mới đây” – tôi nghĩ thầm.

– Được, đồng chí có chuyện gì vậy.

– Sư đoàn bộ binh 124 và cụm của Pô-pen đã tới!

Thật không thể ngờ được. Một tin thật vui!

Đã hơn một tháng nay, sư đoàn của tướng Ph. G. Xu-si – bạn tôi – và một bộ phận lực lượng của quân đoàn cơ giới 8 do chính ủy lữ đoàn N. C. Pô-pen lãnh đạo bị địch hợp vây. Chúng tôi không nhận được một tin tức gì về các đơn vị ấy, cứ nghĩ ràng họ đã hy sinh. Thế nhưng, các đồng chí ấy đã trở về, lại mang theo cả quân kỳ và vũ khí. Nghĩa là bọn phát-xít quả là không xóa sổ được một binh đoàn nào của phương diện quân chúng tôi. Trước đó, các trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 87, tiếp theo là các sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 7 đã thoát vây, còn bây giờ Xu-si và Pô-pen đã trở về cùng với những dũng sĩ của mình. Thật ra, các đơn vị đã bị mất nhiều người trong chiến đấu, nhưng kẻ địch cũng đã bị trừng phạt nặng nề, khi những đơn vị này cơ động ở sau lưng chúng.

Ít lâu sau, chúng tôi nhận được báo cáo tỉ mỉ của quyền sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 124 đại tá T. I-a. Nô-vi-cốp và của chính ủy lữ đoàn N. C. Pô-pen. Các đồng chí báo cáo diễn biến chiến sự bằng ngôn ngữ quân sự, khô khan. Nhưng chúng tôi đã xúc động biết bao khi đọc những dòng chữ ấy và lại một lần nữa kinh ngạc trước sức mạnh thần kỳ của người chiến sĩ xô-viết.

Trong ngày đầu chiến tranh, sư đoàn bộ binh 124 được gấp rút điều từ nơi đóng quân ra biên giới quốc gia, tới dải phòng ngự đã chuẩn bị sẵn. Sư đoàn phải vừa hành quân vừa chiến đấu. Các chiến sĩ đã công kích quyết liệt, hất địch ra và chiếm lấy các công sự. Nhưng bọn phát-xít tập họp được những lực lượng mạnh hơn đã buộc sư đoàn phải rút lui. Sư đoàn đã chiếm được tuyến phòng ngự hai lần nữa, rồi phải bỏ lại. Đội ngũ sư đoàn bị tiêu hao, còn địch ngày càng kéo đến nhiều đơn vị mới.

Đêm đến, sư đoàn bám trụ được ở tuyến Pô-rút-xcơ (Páp-lốp-xcơ), Mi-li-a-tin. Tại đây, sư đoàn đã anh dũng đánh bại mọi đợt công kích của địch và giữ vững trận tuyến. Nhưng hai bên sườn của sư đoàn bị hở. Xe tăng và bộ binh địch đã vòng qua và bao vây các đơn vị xô-viết. Đó là ngày chiến tranh thứ ba. Tư lệnh tập đoàn quân Pô-ta-pốp báo cáo về bộ tham mưu phương diện quân là cả đồng chí lẫn quân đoàn trưởng đều không liên lạc được với anh em đang bị bao vây. Bây giờ, chúng tôi mới rõ là sau khi bao vây được sư đoàn, địch muốn xóa sổ bằng một đòn tập kích. Các đợt công kích được tiến hành đồng thời ở các phía. Một cụm quân lớn của địch lọt vào trận địa của trung đoàn pháo. Các pháo thủ không hề run sợ, đã bắn trực diện. Chẳng mấy tên còn sông sót sau những loạt đạn ấy.

Một phân đội lớn xạ thủ tiêu liên địch tiến công vào cơ quan tham mưu sư đoàn ở phía Đông – Bắc Mi-li-a-tin. Đại đội bảo vệ và các cán bộ tham mưu sư đoàn ba lần xông lên phản kích và đẩy lui địch. Trong trận chiến đấu này, chính ủy sư đoàn G. I. Giê-li-a-cốp hy sinh, tướng Xu-si bị thương.

Đến sáng, địch dội bom vào sư đoàn. Hàng chục máy bay ném bom phát-xít tham chiến. Cơ quan tham mưu bị phá hủy. Các trung đoàn pháo mất gần nửa số pháo. Nhiều chiến sĩ hy sinh. Tiếp tục ở lại đây có nghĩa là đưa sư đoàn đến chỗ tiêu vong. Và tướng Xu-si đã hạ một quyết tâm duy nhất đúng: phá vây.

Rạng sáng ngày 26 tháng Sáu, các trung đoàn tiến về hướng Lu-tsi-txa và Pốt-bê-rê-đi-ê. Lúc này, sư đoàn hết xăng, không thể di chuyển bằng ô-tô được. Đạn pháo còn rất ít.

Địch dùng pháo và súng máy bắn dữ dội vào những chiến sĩ công kích, tung bộ binh ra đón đánh họ. Các chiến sĩ tiết kiệm đến những viên đạn cuối cùng, im lặng, bằng động tác chạy – nằm – chạy từng đoạn ngắn về phía địch, và sau đó, nhất loạt xông lên đánh giáp lá cà. Bọn phát-xít bỏ chạytrong trận đánh ngắn ngủi nhưng quyết liệt ở khu vực Pốt-bê-rê-di-ê, trung đoàn bộ binh phát-xít của tên đại tá Hốp-man bị đánh tan tành. Phía ta bắt được gần 250 tù binh, trong đó có 12 sĩ quan, thu 50 pháo và nhiều khí tài chiến đấu khác. Chiến trường ngổn ngang xác địch.

Sư đoàn bộ binh 124 quang vinh đã mở đầu con đường dài của mình ở sau lưng địch như thế đó.

Bộ chỉ huy Đức hoảng sợ, vội vã tung hết đơn vị này đến đơn vị khác ra chặn sư đoàn xô-viết. Nhớ đến số phận cay đắng của trung đoàn Hốp-man, bọn Hít-le không dám công khai công kích, chúng cố nhử các đơn vị của ta vào bẫy hỏa lực. Chúng đã thực hiện được điều đó khi các trung đoàn của ta kéo đến khu vực có ba điểm dân cư nhỏ: Ra-tsin, Côn-pư-tốp, Xvi-ni-u-khi. Sư đoàn trưởng sơ xuất không tổ chức trinh sát tỉ mỉ nên các trung đoàn chưa kịp bám chắc vào vị trí thì đã bị rơi vào túi hỏa lực của địch. Các loại vũ khí của chúng chụp xuống họ. Các cán bộ chỉ huy lại dẫn chiến sĩ xông lên công kích. Đột phá trong lúc này đã phải trả bằng một giá đắt. Sư đoàn bị thiệt hại nặng, nhất là pháo binh. Trung đoàn bộ binh 781, đơn vị đi đầu trong tiến công, đã bị mất trung đoàn trưởng của mình là đại tá C. Ph. Xa-vê-li-ép và chính ủy V. X. Va-xi-li-ép.

Một lần nữa, sư đoàn lại thoát bẫy. Nhưng tiếp tục đi đâu? Tướng Xu-si không biết chủ lực của tập đoàn quân đang ở đâu. Chắc là ở hướng Đông – Bắc. Nhưng đường cái Vla-đi-mia – Vô-lưn-xki – Lút-xcơ trên hướng này đã bị địch sử dụng làm tuyến đường chủ yếu để chuyên chở các lực lượng dự bị của chúng. Trinh sát khẳng định trên đường dày đặc quân địch. Và sư đoàn trưởng đã dẫn sư đoàn đi về hướng Đông – Nam.

Địch bám sát nút. Chúng tổ chức độ bộ đường không. Sư đoàn lại bị vây. Trận đánh kéo dài năm tiếng đồng hồ. Máy bay phát-xít bắn phá điên cuồng. Nhưng cả lần này, địch cũng bị tổn thất nặng và bị đánh bật. Sư đoàn tiến ra sông Xtưa ở phía Bắc Bê-rê-xtét-cô và chiến đấu vượt sông bằng những phương tiện sẵn có, chỉ bị mất có hai khẩu pháo.

Ngày 4 và 5 tháng Bảy, sư đoàn đột phá hết đội cảnh giới này đến đội cảnh giới khác của địch và gặp khó khăn lớn nhất ở gần thị trấn Cô-din. Tại đây có một cánh quân lớn của địch. Tướng Xu-si quyết định hành động cực kỳ dũng cảm là bao vây và diệt gọn đội cảnh giới. Đồng chí tổ chức sư đoàn thành hai bộ phận. Một do trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 406 đại tá T. I-a. Nô-vi-cốp chỉ huy, một do trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 622 thiếu tá S. Các-txơ-khi-i-a chỉ huy, có nhiệm vị đi vòng qua Cô-din từ phía Bắc và phía Nam rồi kẹp địch vào hai gọng kìm.

Cụm của Nô-vi-cốp đi vòng qua Cô-din trước tiên và tiến công địch quyết liệt. Song, những phân đội của thiếu tá Cá-txơ-khi-i-a đến muộn, nên không thể yểm hộ bạn kịp thời. Địch tập trung toàn bộ hỏa lực pháo binh đối phó với Nô-vi-cốp. Đại úy Bô-brốp, tiểu đoàn trưởng pháo binh, đã chi viện bằng cách đưa một đại đội pháo lên phía trước, triển khai trong hành tiến và bắn thẳng. Hỏa lực của bọn phát-xít giảm hẳn đi. Trong trận chiến đấu này, trung đoàn pháo binh 469 đã bắn đến những viên đạn cuối cùng. Cuộc tiến công vẫn tiếp diễn đến gần ngoại vi Cô-din. Lúc đó, xe tăng phát-xít đánh vào sau lưng cụm của Nô-vi-cốp. Các đồng chí buộc phải rút lui. Các pháo thủ đã kịp thời phá hủy những khẩu pháo lúc này đã không còn tác dụng. Cuối cùng, thiếu tá Các-txơ-khi-i-a cũng đưa được trung đoàn mình đến nơi. Các chiến sĩ xông lên đánh giáp lá cà mấy lần. Các-txơ-khi-i-a đã anh dũng ngã xuống trong trận đánh sau cùng. Tướng Xu-si cũng hy sinh. Nhưng sư đoàn thoát được vòng vây. Đại tá Nô-vi-cốp nhận quyền chỉ huy sư đoàn. Đồng chi bị thương nặng. Anh em đặt đồng chí lên một chiếc xe ngựa, và chiếc xe đó trở thành sở chỉ huy lưu động của sư đoàn. A. A. Ba-xác-ghin, chính trị viên tiểu đoàn bậc trưởng, một người điềm tĩnh, chín chắn và rất dũng cảm hệt như Nô-vi-cốp, làm nhiệm vụ chính ủy sư đoàn. Đại úy P. X. Pô-vi-tsúc, chủ nhiệm thông tin liên lạc của sư đoàn, nổi tiếng dũng cảm ngay từ khi phòng ngự thành phố Gô-rô-khốp, đã nhanh chóng thành lập một cơ quan tham mưu nhỏ, giúp việc đắc lực cho sư đoàn trưởng.

Nô-vi-cốp dẫn những trung đoàn đã bị tiêu hao từ bờ sông Ích-va để vượt sông ở phía Bắc điểm dân cư Véc-ba. Địch cũng dặt một đội cảnh giới mạnh ở đây. Sư đoàn đã đánh bại địch và vượt sông. Địch bao vây nhiều lần, nhưng sư đoàn vẫn băng qua mọi trở ngại, tiến mãi, tiến mãi, có lúc công kích trực diện, có lúc cơ động khéo léo lừa địch.

Sau khi vượt sông Gô-rưn, Nô-vi-cốp gặp được cụm quân của N. C. Pô-pen. Lực lượng tăng thêm, chiến đấu càng dễ dàng hơn. Khi các đơn vị tới gần Nô-vô-grát – Vô-lưn-xki thì lại bị địch phát hiện. Máy bay phát-xít đến quấy rầy. Rõ ràng là địch đang âm mưu đánh một trận quyết định ở gần sông Xlu-tsơ. Làm thế nào để vượt sông? Nô-vi-cốp và Pô-pen suy nghĩ nát óc trước tấm bản đồ, trinh sát sục sạo cả một bên bờ sông. Đến đêm, quân ta mở đầu trận đánh, không tiếc những viên đạn và quả lựu đạn cuối cùng. Bọn Hít-le ném vào đây tất cả những gì chúng có trong tay. Súng nổ rầm trời. Địch không phán đoán được là ở đó chỉ có đội trinh sát tăng cường đang hoạt động, còn lực lượng chủ yếu của ta lại vượt sông ở chỗ khác. Bọn phát-xít hiểu được điều đó thì đã muộn. Khi chúng tới được đoạn vượt sông thì những phân đội cảnh giới phía sau đã vượt được sang bờ bên kia.

Tuyến mặt trận ngày một gần. Mật độ địch ngày càng dày đặc. Nhưng Nô-vi-cốp cũng đã tìm ra chỗ yếu trong trận địa phòng ngự của Đức ở ngoại vi Bê-lô-cô-rô-vi-tsi. Thế là sư đoàn của Nô-vi-cốp và cụm quân của Pô-pen hội quân được với chủ lực của tập đoàn quân 2.

Trong suốt 32 ngày vừa chiến đấu vừa vượt chặng đường gần 600 ki-lô-mét ở sau lưng địch, các chiến sĩ vừa mệt vừa đói, nhưng không một sức mạnh nào có thể ngăn nổi anh em. Cuộc hành quân dũng cảm giống như một tấm gương phản chiếu ý chí quyết chiến quyết thắng sắt đá của người chiến binh xô-viết.

Giả định của tư lệnh phương diện quân là đúng. Bộ chỉ huy Đức lo lứng trước những đợt công kích kiên cường của các đơn vị thuộc tập đoàn quân 26, nên cuối tháng Bảy, chúng đã tập trung những lực lượng lớn để đối phó (Sau này, chúng tôi biết là ngay ngày 21 tháng Bảy, tướng Han-đe đã viết trong nhật ký: “Khi tập đoàn quân 26 Nga đang hoạt động ở phía Nam Ki-ép chưa bị đánh tan thì chưa thể giao cho cụm xe tăng 1 nhiệm vụ mới nào để tiến công xuống phía Nam).

Trưa ngày 25 tháng Bảy, bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam” đã tiến công tập đoàn quân 26 của ta trên toàn chính diện. Các binh đoàn xe tăng và cơ giới địch tiến lên công kích được sự yểm trợ mạnh của hỏa lực pháo binh và không quân. Mũi đột kích chủ yếu của chúng nhắm vào các sư đoàn thuộc quân đoàn bộ binh 6 và quân đoàn kỵ binh 5 ở phía Đông và Đông – Nam Bê-lai-a Txéc-cốp. Rõ ràng, bộ chỉ huy Hít-le không chỉ nhằm đập tan những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 6, mà còn không cho họ rút về sông Đni-ép-rơ. Các sĩ quan được phái xuống các đơn vị cho biết rằng các sư đoàn của cả hai quân đoàn đang từ từ rút lui, vừa rút vừa tiến hành những trận đánh căng thẳng.

Sau khi đánh giá tình hình, tướng Kiếc-pô-nô-xơ yêu cầu tướng Cô-xten-cô bằng mọi giá phải chặn cho được địch ở sông Rô-xơ, tức là không cho chúng tiến tới sông Đni-ép-rơ. Đồng thời, đồng chí ra lệnh hco hai sư đoàn bộ binh lấy trong lực lượng dự bị dù thế nào cũng không ngừng công kích từ vùng Bô-gu-xláp tiến ra hướng chung tới Dơ-vê-ni-gô-rốt-ca để chặn đường những sư đoàn xe tăng và cơ giới địch đang tiến mạnh về phía sau lưng tập đoàn quân 6.

Còn tình hình bộ đội ta ở cánh trái thì ngày một xấu. Các đơn vị ngày càng bị đẩy lui xuống phía Nam. Ý định bắt liên lạc với các đơn vị trên các hướng đánh vu hồi không thành công. Những đại diện của bộ tham mưu phương diện quân đáp máy bay tới đó rất vất vả, phải vượt qua một dải rộng đã bị địch chiếm. Bộ tham mưu phương diện quân ngày càng khó chỉ đạo hoạt động của những đơn vị ấy. Gay hơn nữa là những căn cứ của chúng tôi không thể tiếp tế cho tập đoàn quân 6 và 12. Chúng tôi cứ luôn phải đề nghị bộ tư lệnh Phương diện quân Nam cung cấp dù chỉ là một ít đạn và xăng cho hai tập đoàn quân trên. Tính chất không bình thường của tình hình vừa diễn ra buộc X. M. Bu-đi-ôn-nưi sáng 25 tháng Bảy phải gửi điện cho Tổng tham mưu trưởng: “Mọi ý định thoát về phía Đông và Đông – Bắc của các tập đoàn quân 6 và 12 đều không có kết quả. Tình hình đòi hỏi phải nhanh chóng rút những tập đoàn quân này về hướng Đông – Nam. Do đó, tôi cho rằng cần chuyển thuộc tập đoàn quân 6 và 12 cho bộ tư lệnh Phương diện quân Nam và yêu cầu đồng chí ấy rút họ về khu vực Tan-nôi-e, Khơ-ri-xti-nốp-ca, U-man. Ngoài việc cần phải tổ chức hiệp đồng chặt chẽ hơn giữa tập đoàn quân 6 và 12 với sườn phải của Phương diện quân Nam, biện pháp này còn do sự cần thiết phải cải tiến việc chỉ đạo và bảo đảm vật chất. Tôi đề nghị Đại bản doanh phê chuẩn quyết định này”.

Mỗi khi vấn đề đã đến tay Gh. C. Giu-cốp là được giải quyết ngay: Đại bản doanh trả lời chuyển thuộc tập đoàn quân 6 và 12 cho Phương diện quân Nam.

Tôi xin nói trước là cả hai tập đoàn quân này đều đã anh dũng chiến đấu với những lực lượng lớn của địch đang lấn ép. Nhưng cuộc chiến đấu diễn ra trong những điều kiện hoàn toàn bất lợi. Bộ đội ta bị địch bao vây. Phải chăng, việc chuyển các tập đoàn quân 6 và 12 từ phương diện quân này sang phương diện quân khác đã là nguyên nhân gây ra tình hình nói trên, như một số đồng chí suy nghĩ không? Tất nhiên là không. Tôi tin chắc rằng nếu các tập đoàn quân vẫn thuộc phương diện quân chúng tôi, thì tình hình còn xấu hơn nữa vì mất liên lạc và không được tiếp tế.

Tuy đã quyết định chuyển thuộc các tập đoàn quân 6 và 12 cho Phương diện quân Nam, song Đại bản doanh vẫn yêu cầu chúng tôi phải tiếp tục phản đột kích ở sườn trái của mình như trước để không cho địch tiến sâu thêm vào sau lưng những đơn vị rút lui. Nhiệm vụ ấy lại vẫn giao cho tập đoàn quân 26 như cũ. Để giúp đồng chí tư lệnh có thể hoàn toàn tập trung sự chú ý vào việc thực hiện một nhiệm vụ khó khăn như vậy, tướng Kiếc-pô-nô-xơ quyết định rút quân đoàn 64 ra khỏi quyền của đồng chí. Quân đoàn lúc này sẽ trực thuộc bộ tư lệnh phương diện quân như mọi lực lượng dự bị khác ở cửa ngõ Ki-ép.

Từ đó, tướng Ph. I-a. Cô-xten-cô và cơ quan tham mưu của đồng chí đã làm việc hết sức mình, không chỉ để ngăn chặn địch đang tiến mạnh tới bờ sông Đni-nép-rơ, mà còn để chi viện cho tập đoàn quân 6 và 12 thuộc Phương diện quân Nam mà tình hình lúc này dang ngày một xấu hơn. Và không phải lỗi của tư lệnh tập đoàn quân khi không thực hiện được nhiệm vụ đó đến cùng vì đồng chí có rất ít lực lượng.

Đêm khuya ngày 28 tháng Bảy, đại úy Xa-ra-cu-txa, sĩ quan phòng tác chến, lúc đưa cho tôi ký bản thảo thông báo tác chiến, cho biết tham mưu trưởng mới của phương diện quân đã đến. Tôi biết tướng Puốc-ca-ép sẽ được triệu về Đại bản doanh, nhưng không ngờ lại sớm như vậy.

Tôi tới phòng làm việc của tham mưu trưởng phương diện quân. Puốc-ca-ép đang ngồi sau bàn, cạnh đồng chí là một vị tướng tóc đen, còn khá trẻ. Khuôn mặt cởi mở, rất gợi cảm. Cặp mắt đen với cái nhìn chăm chú và hiếu kỳ.

Tôi tự giới thiệu. Vị tướng đứng ngay dậy, bắt tay tôi và trả lời:

– Tu-pi-cốp.

Đồng chí là tham mưu trưởng mới của phương diện quân.

Tôi được biết thiếu tướng V. I. Tu-pi-cốp phục vụ trong quân đội từ năm 1922. Đồng chí đã tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Phrun-dê, năm 1939 đã phụ trách bộ tham mưu quân khu Khác-cốp. Trước chiến tranh, đồng chí làm tùy viên quân sự ở Đức, và khó khăn lắm, đồng chí mới trở về Tổ quốc được.

Đồng chí am hiểu tưởng tận những quan điểm chiến thuật và chiến dịch của các tướng lĩnh phát-xít. Ít lâu sau, chúng tôi càng thấy rõ điều đó: đồng chí biết nhìn trước tiến trình các sự kiện ngoài mặt trận hơn tất cả chúng tôi. Rất tiếc là không phải bao giờ mọi người cùng đều nghe theo ý kiến của đồng chí.

Nở nụ cười thân mật, Tu-pi-cốp nói:

– Ở Bộ Tổng tham mưu, tôi được nghe nói về đồng chí. Tôi nghĩ ràng trong quá trình làm việc, chúng ta sẽ có điều kiện hiểu nhau hơn. Còn bây giờ tôi chỉ đề nghị đứng trên tình đồng chí, đứng giận khi tôi nóng nảy. Tôi muốn nói trước là nếu đồng chí có điều gì ngờ vực với những quyết tâm của tôi thì cứ nói thẳng. Tôi thích cấp dưới thi hành mệnh lệnh một cách tin tưởng, chứ không bị ép buộc.

Tướng Puốc-ca-ép không tham gia câu chuyện, lặng lẽ xếp đồ dùng cá nhân vào cặp.

– Và đây là yêu cầu đầu tiên của tôi với đồng chí, - tham mưu trưởng mới vừa tiếp tục nói, vừa chăm chú nhìn tôi… Đồng chí Puốc-ca-ép sẽ giới thiệu tôi với tất cả các cán bộ phụ trách trong bộ tham mưu. Còn đồng chí sẽ cho tôi làm quen với tình huống tỉ mỉ hơn, theo khả năng… Đồng chí thông cảm, - Tu-pi-cốp nói thêm như để xin lỗi, - tới được chỗ các đồng chí thật mệt bã người, chân như muốn rời ra. Tôi muốn tìm hiểu tình hình khi đầu óc minh mẫn, nên xin phép được nghỉ ngơi chốc lát. Do đó, đề nghị đồng chí mang báo cáo đến chỗ tôi lúc 4 giờ sáng.

Đúng giờ hẹn, tôi gỡ cửa phòng tham mưu trưởng. Không có tiếng trả lời. Tôi hé cửa. Thiếu tướng nằm ngủ trên chiếc giường dã chiến, tay dang rộng. Tôi thử đánh động. Đồng chí vẫn không thức giấc. Tôi cũng không nhớ làm mình đã được nghỉ ngơi vào lúc nào, bởi tình hình ngoài mặt trận không cho phép nghĩ đến ngủ. Tranh thủ chợp mắt trong khi tham mưu trưởng đang nghỉ. Tôi nằm ghé xuống đi-văng. Đạn cao xạ và những tiếng nổ rầm trời làm tôi choàng dậy. Máy bay địch lại tới bắn phá như thường lệ. Và qua tiếng ầm ầm như ở dưới địa ngục đó, tôi bỗng nghe thấy giọng hát khe khẽ. Tôi ngạc nhiên mở mắt. Tham mưu trưởng mới đang bước rộng từ góc này sang góc khác trong phòng làm việc, trầm ngâm hát nhỏ giọng.

Tiếng đạn cao xạ xen lẫn tiếng bom nổ liên hồi, kính vỡ răng rắc, vữa rơi lả tả từ trên trần nhà, đèn treo đung đưa như quả lắc đồng hồ.

Tu-pi-cốp chưa quen với những cảnh này, và chắc là tiếng bom nổ đã nhanh chóng đánh thức đồng chí. Chúng tôi, những “chiến sĩ dày dạn” đã quen với những trận bắn phá của máy bay địch, phần nữa đã kiệt sức sau một ngày làm việc căng thẳng, nên thường ngủ say trong lúc địch ném bom. Tôi còn nhớ một trường hợp đến vui. Một thiếu tá, cán bộ phòng tác chiến, phải đáp máy bay đến cơ quan tham mưu tập đoàn quân 6 để truyền đạt nhiệm vụ. Trước khi đi, đồng chí muốn nghỉ ngơi chốc lát và đề nghị trực ban tác chiến hai giờ nữa sẽ đánh thức đồng chí dậy. Nhưng đúng lúc trực ban đi đánh thức thiếu tá thì máy bay địch ầm ầm trên đầu. Đồng chí trực ban nghĩ rằng tiếng bom nổ nhất định sẽ đánh thức tất cả mọi người nên thản nhiên quay về phòng mình. Máy bay địch tập kích được năm mươi phút rồi, mà thiếu tá mắt vẫn còn ngái ngủ, tóc tai rối bù, vừa chửi đổng vừa chạy tới chỗ trực ban.

– Cậu định chơi xỏ mình hay sao đấy! – đồng chí kêu lên. – Mình đã đề nghị với cậu đúng bốn giờ thì gọi dậy. Thế mà bây giờ đã năm giờ kém mười lăm. Bị chậm mất rồi!

Đồng chí trực ban chưng hửng dang tay:

– Bom đạn nổ đinh tai nhức óc đến người chết cũng phải bật dậy. Bọn Đức ném bom đánh thức cậu nửa tiếng liền mà chẳng lẽ cậu không nghe thấy gì ư?

– Cái gì? Máy bay ném bom thật à? – thiếu tá hỏi và tươi tỉnh: - Nếu vậy thì không sao. Tôi sẽ nói là ngồi trong hầm đợi cho đến khi địch cút.

… Tôi bật khỏi đi-văng và trải bản đồ trên bàn.

– Thiếu tướng cho phép báo cáo?

– Được, đồng chí báo cáo đi. Bọn phát-xít không cho tôi ngủ chứ không thể ngăn cản tôi làm việc.

Tôi thuật lại tóm tắt những sự kiện ở phương diên quân từ lúc bắt đầu trận hội chiến biên giới, giới thiệu với đồng chí thành phần chiến đấu, quân số, tập đoàn các đơn vị trong chiến dịch và nhiệm vụ của các đơn vị ấy. Nói ràng đại tá Bôn-đa-rép, trưởng phòng trinh sát bộ tham mưu phương diện quân, sẽ báo cáo tỉ mỉ về địch, nên tôi chỉ tình bày khái quát đặc tính tập đoàn các đơn vị phát-xít Đức, so sánh lực lượng hai bên và những mục đích tác chiến sắp tới mà bọn Hít-le đang cố đạt trên mặt trận của chúng tôi. Tôi nói tỉ mỉ hơn về tình hình các tập đoàn quân của phương diện quân trong những ngày vừa qua và nhiệm vụ trong thời gian tới.

Tướng Tu-pi-cốp vừa chăm chú nghe vừa nghiên cứu tỉ mỉ bản đồ.

– Đúng, tình hình thật phức tạp, - đồng chí trầm tư tóm tắt, rồi bắt đầu nói về tập đoàn quân 26 và quân đoàn bộ binh 64.

Theo ý kiến đồng chí, chính những đơn vị này đang gây cản trở cho bộ chỉ huy HÍt-le, khiến chúng không thể ập tới Ki-ép, mà cũng không thể tập trung được một lực lượng chống lại các tập đoàn quân 6 và 12 đang lùi xuống phía Nam. Do đó, địch chưa thể yên tâm khi chưa hất được bộ đội của tướng Cô-xten-cô sang bên kia sông Đni-ép-rơ. Chúng ta không có khả năng để tăng cường cho những sư đoàn này. Nhưng cần hướng dẫn cho các sư đoàn chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng đánh trả đòn đột kích sắp tới của địch.

Tôi lưu ý tham mưu trưởng là hiện nay, tập đoàn quân 26 phải đem hầu như toàn bộ lực lượng ra để phòng ngự và chỉ công kích ở một vài nơi cá biệt bên sườn trái.

– Thế dấy, - Tu-pi-cốp nhanh chóng tiếp lời, - giờ đây, bộ tư lệnh của tập đoàn quân đang đứng trước ngã ba đường: không có mệnh lệnh chuyển sáng phòng ngự vững chắc; mệnh lệnh tiến công ban hành trước đây cũng chưa được bãi bỏ. Do đó, bội đội trên thực tế hiện nay là đang phòng ngự và đôi chỗ phải rút lui, nhưng đây đó vẫn cố gắng thể hiện “tinh thần tiến công”. Cần chấm dứt tình trạng hai mặt đó và ra một chỉ lệnh rõ ràng.

Tôi cùng Tu-pi-cốp dự thảo mệnh lệnh chiến đấu.

“Gửi Hội đồng quân sự tập đoàn quân 26. Địch đang kết thúc việc tập trung những lực lượng chủ yếu của chúng ở khu vực Ca-ra-pư-si, Bô-gu-xláp, Tê-ti-ép-ca nhằm đột phá tới những chỗ vượt sông Ca-nép. Những trận địa các đồng chí đã chiếm lĩnh và lực lượng của các đồng chí đủ bảo đảm đánh tan địch, không cho chúng tới bờ sông Đni-ép-rơ. Để hoàn thành nhiệm vụ này chỉ cần toàn thể cán bộ và chiến sĩ tập đoàn quân, từ các đồng chí tới anh em chiến sĩ, phải cùng chung một ý chí: thà hy sinh để chặn được địch, không cho chúng tới sông Đni-ép rơ, còn hơn là sống mà phải rút sang bờ phía Đông, bỏ lại bờ phía Tây cho địch

Tôi lưu ý là cần kết hợp phòng ngự bằng hỏa lực kiên cường đến viên đạn cuối cùng với phản đột kích tích cực, nhất là bằng các lực lượng kỵ binh của các đồng chí.

Tôi ra lệnh: phải đánh tan địch trong khi chúng có ý định đột phá tới sông Đni-ép-rơ, và tiếp tục kiên trì giữ vững tuyến các đồng chí đang chiếm lĩnh”.

Đánh máy xong văn kiện, tôi lần lượt đi lấy chữ ký của tham mưu trưởng, tư lệnh và ủy viên Hội đồng quân sự.

Lúc ký mệnh lệnh, tướng Kiếc-pô-nô-xơ hỏi tôi:

– Đồng chí đã tự giới thiệu với ủy viên Hội đồng quân sự mới chưa?

– Chưa, chưa có dịp.

– Đây thật là một dịp tốt. Đồng chí đánh máy thêm tên ủy viên Hội đồng quân sự ở dưới bản mệnh lệnh, rồi báo cáo với đồng chí ấy.

Ủy viên thứ hai của Hội đồng quân sự phương diện quân là chính ủy sư đoàn E. P. Rư-cốp đến chỗ chúng tôi ít ngày sau cái chết của N. N. Va-su-ghin. Nhưng ngay từ những ngày đầu, đồng chí đã bận tối mắt về công tác hậu cần chưa được tổ chức tốt và lo chuẩn bị lực lượng dự bị, do đó, anh em hầu như không thấy đồng chí ở sở chỉ huy. Khi đồng chí tới bộ tham mưu phương diện quân, tôi đang công tác ở dưới đơn vị, nên chưa kịp làm quen với đồng chí.

Tôi biết rằng trước khi đến chỗ chúng tôi, Rư-cốp đã ở cương vị ủy viên Hội đồng quân sự quân khu Trung Á. Tôi cho rằng mình đã gặp một chính ủy dày dạn, đầy chiến công, mở đầu con đường chiến đấu của mình từ thời nội chiến. Nhưng khi bước vào phòng làm việc, tôi sững người ở ngưỡng cửa. Một người còn trẻ đứng dậy, tiến ra đón tôi. Áo va-rơi có thắt lưng bó chặt thân hình tầm thước, chắc nịch. Tôi nhớ mình đã gặp khuôn mặt hồng hào với chiếc mũi hơi hếch, cặp mắt xám nhạt tinh nghịch, mái tóc rậm màu vàng này ở đâu đây? Nhớ ra rồi! Ngay mùa hè năm 1933, lúc đang học ở học viện, tôi đi thực tập ở U-cra-i--na tại sư đoàn kỵ binh 1 Ca-dắc Đỏ. Khi ấy, Rư-cốp còn là một chính trị viên trẻ tuổi, cán bộ phòng chính trị của sư đoàn. Hồi ấy, đồng chí chưa đến 25 – 26 tuổi. Tôi còn nhớ, đồng chí vui vẻ mời tôi đến ở căn phòng nhỏ độc thân của mình. Người chủ nhà hiếu khách không chỉ trẻ hơn tôi nhiều về tuổi đời, mà cả tuổi quân, do đó, rất thích thú hỏi han những chuyện về nội chiến, về phục vụ trong quân ngũ sau chiến tranh. Nhiều tối, chúng tôi nói chuyện tâm tình với nhau. Đồng chí sinh tháng Mười hai năm 1906 trong một gia đình bần nông Ca-dắc. Khi còn trẻ, đồng chí đã phải làm thuê cho bọn phú nông trong làng. Tuy theo học không được đều đặn ở trường làng, nhưng chàng trai ham hiểu biết và có khả năng ấy vẫn đuổi vượt những người cùng tuổi trong học tập. Năm 1925, các đoàn viên thanh niên cộng sản bầu đồng chí làm bí thư chi đoàn. Nghị lực sôi nổi và trí thông minh khác thường của người bí thư chi đoàn đã nổi bật và đồng chí được tiến cử làm công tác ở tỉnh đoàn Xê-mi-pa-la-tin-xcơ. Năm 1928, đồng chí nhập ngũ tại đây. Chàng trai khéo léo, cường tráng vùng An-tai sớm được anh em kính nể và được bầu làm bí thư đoàn thanh niên cộng sản của trung đoàn.

Ít lâu sau, người bí thư chi đoàn trẻ tuổi chuyển sang công tác tại phòng chính trị sư đoàn. Và chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên cũng vào chính lúc ở Prô-xcu-rốp.

Giờ đây, người quen cũ lại đang đứng trước mặt tôi. Tám năm qua, đồng chí đã trưởng thành từ một cán bộ Đoàn thành ủy viên Hội đồng quân sự của một trong những Phương diện quân chủ yếu. Vẻ ngoài, đồng chí ít thay đổi. Và nếu không có hai hình quả trám cấp hiệu trên áo va-rơi thì có lẽ, tôi đã không kìm được và thốt lên: “Chào cậu!”.

Nhưng thật bất ngờ, đồng chí tiếp tôi lạnh lùng như thể chúng tôi chưa hề gặp nhau bao giờ. Hai người tự giới thiệu nhau. Rồi đồng chí mời tôi ngồi ở cạnh bàn và hỏi dồn dập về công việc: phương diện quân có gì mới, phòng tác chiến làm việc ra sao, anh em làm việc có đều tay không, tinh thần mọi người thế nào. Bây giờ, khó mà nhớ lại chúng tôi đã nói với nhau những gì, nhưng buổi nói chuyện kéo dài hơn một tiếng đồng hồ.

Mới đầu, tôi cảm thấy như có gì bị tổn thương do sự quên lãng kỳ lạ của người quen cũ, nên trả lời trịnh trọng và ngắn gọn, nhưng sau đó, trước sự quan tâm chân thành của đồng chí đối với tất cả những gì làm cho chúng tôi lo lắng và cách xưng hô giản dị, thân mật của Rư-cốp, tôi không để ý mình đã mải mê trò chuyện như thế nào.

Rư-cốp hỏi han tỉ mỉ về gia đình tôi. Biết gia đình tôi đã tản cư về Ta-sken, đồng chí ghi chép gì đó vào sổ thay. Khi ấy, tôi không để ý đến điều này. Về sau, qua thư của nhà tôi, tôi mới biết là vợ của chính ủy sư đoàn, lúc ấy cũng đang sống ở Ta-sken, đã giúp gia đình tôi trong việc thu xếp nơi ăn chốn ở tại nơi cư trú mới.

Thăm hỏi tôi xong, Rư-cốp cầm bản dự thảo mệnh lệnh chiến đấu gửi tập đoàn quân 26. Đồng chí đọc đi đọc lại hai lần. Suy nghĩ một lát, rồi đồng chí ký tên ngay.

– Thật là một điều tốt vì mệnh lệnh không chỉ có tính chất tác chiến, mà còn mang tính chất chính trị nhiều hơn, kêu gọi mọi người bằng bất kỳ giá nào cũng không cho địch tới Đni-ép-rơ. Mỗi chiến sĩ và cán bộ chỉ huy phải thấm nhuần ý nghĩ: chúng ta không có chỗ đứng ở phía sau sông Đni-ép-rơ. Các cán bộ chính trị và đảng viên cộng sản phải làm cho quần chúng quán triệt tư tưởng đó.

Lúc chuẩn bị ra về, không kìm nổi, tôi đã hỏi chẳng nhẽ đồng chí không nhớ ra tôi ư. Rư-cốp phá lên cười, ôm chặt tôi.

– I-van Khơ-ri-xtô-phô-rô-vích, tất nhiên là tôi nhận ra ngay và rất sung sướng lại được gặp cậu. Nhưng trước hết phải tính đến công tác đã. Còn khi tình hình mặt trận đỡ nặng nề hơn, chúng ta sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ cho ra trò.

Con người dễ mến, yêu đời đó, với tài tổ chức và mẫn cảm cao độ của mình, đã sớm được toàn thể anh em yêu mến. Đồng chí không bao giờ giải quyết bất cứ vấn đề nào một cách thờ ơ, mà luôn luôn cố gắng đi sâu vào bản chất công việc. Đó là một cán bộ lãnh đạo tích cực và giàu tính chủ động.

Tinh thần chiến đấu kiên định của bộ đội ta, những đợt phản đột kích liên tục ở ngưỡng cửa Ki-ép đã phá vớ kế hoạch của bộ chỉ huy phát-xít. Trong lúc diễn ra những trận đánh hồi tháng Bảy, tướng Han-đe đã viết trong nhật ký: “Chiến dịch ở cụm các tập đoàn quân “Nam” ngày càng tỏ ra lộn xộn… Ở khu vực Bắc mặt trận của cụm các tập đoàn quân, số lực lượng bị kìm chân nhiều hơn dự tính”.

Bộ chỉ huy Hít-le vội vã đưa quân tiến công Ki-ép từ phía Tây – Nam. Tập đoàn quân 6 Đức được tăng cường bảy sư đoàn: ba sư đoàn lấy trong lực lượng dự bị, bốn sư đoàn lấy trong cụm quân của tướng Svét-le đang tiến công ở phía Nam Ki-ép. Tướng Rây-khơ-nao, tư lệnh tập đoàn quân, bố trí lại các đơn vị của y. Quân đoàn bộ binh 29 có lực lượng chiến đấu mạnh được đưa vào cụm xung kích chĩa vào ngoại vi Tây – Nam của thành phố. Địch cũng vội vã ném vào đó cả những binh đoàn thuộc thê đội tác chiến hai.

Đến cuối tháng Bảy, địch đã tập trung được hơn hai mươi sư đoàn ở các cửa ngõ vào Ki-ép.

Bộ chỉ huy phát-xít Đức chuẩn bị đòn đột kích mới, đã tính toán không chỉ nhằm chiếm Ki-ép mà còn nuôi ý định sau khi cắt được tập đoàn quân 5 của ta ra khỏi sông Đni-ép-rơ, sẽ bắt liên lạc với cánh quân ở Mô-dưa thuộc cụm các tập đoàn quân “Trung tâm”. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua nhật ký của Han-đe ghi ngày 20 tháng Bảy: “Chiến dịch của các đơn vị của Rây-khơ-nao phải đạt mục đích hất đối phương ra khỏi sông Đni-ép-rơ. Ngày 25 và 26 tháng Bảy có thể hiệp đồng với quân đoàn bộ binh 35 đang hoạt động ở khu vực Mô-dưa”. Thế nhưng, tập đoàn quân của Pô-ta-pốp đã không cho địch thực hiện ý định đó. Cho nên, mười ngày sau, như tướng A. Phi-líp-pi của tập đoàn quân Hít-le viết, bộ tổng chỉ huy lục quân Đức một lần nữa phải xác định lại nhiệm vụ trước đây: “Tập đoàn quân 6 phải tiến công đối phó với tập đoàn quân 5 của quân Nga hoạt động ở đoạn đầm lấy phía Tây – Bắc Ki-ép, nhằm ngăn đối phương rút sang bờ Bắc sông Pri-pi-át và tiêu diệt chúng ở phía Tây sông Đni-ép-rơ”.

Dù kẻ địch tập trung được những lực lượng rất lớn, nhưng chúng cũng đã phải trả giá cho mỗi bước tiến quân, bị mất nhiều sinh lực, khí tài và,về thực chất, vẫn bị cầm chân tại chỗ. Đến cuối tháng Bảy, ở phía trước các khu vực cố thủ Cô-rô-xten và Ki-ép, nhìn chung, quân địch đã phải dừng lại. Còn ở phía Nam Ki-ép, những lực lượng đáng kể của tập đoàn quân 6 và cụm xe tăng 1 của địch đã sa vào những trận chiến đấu khốc liệt. Ở đây, tập đoàn quân 26 của ta đã bẻ gãy mọi ý đồ của địch hòng đột phá tới những chỗ vượt sông Đni-ép-rơ ở Rơ-gi-sép và Ca-nép. Tuyến mặt trận Ki-ép vẫn khá ổn định, cách con đường sắt Ki-ép – Cô-rô-xten 15-20 ki-lô-mét về phía Nam và trải dài tới sông Iô-pen, rồi chạy dọc theo bờ trái, sau vòng qua Va-xin-cốp, Bô-gu-xláp, Mét-xin, Xmê-la.

Chúng tôi hiểu địch sẽ không chịu như vậy. Trinh sát cho biết địch đang tập trung lực lượng ở phía Bắc Bê-lai-a Txéc-cốp, ở đây có tới bảy sư đoàn phát-xít. Bộ đội ta đã được thông báo về tình hình này và chuẩn bị đòn đánh trả. Ngay 30 tháng Bảy, địch bắt đầu đột kích. Quân đoàn bộ binh 64 bảo vệ đường cái Bê-lai-a Txéc-cốp – Ki-ép phải chịu đựng nặng nề nhất: năm sư đoàn địch đã tiến công vào đây. Đến trưa, tướng D. D. Rô-gô-dơ-nưi, tham mưu trưởng, tạm thời phụ trách tư lệnh quân đoàn, báo cáo rằng quân đoàn bị những lực lượng địch mạnh hơn công kích. Địch đột kích chủ yếu vào giữa quân đoàn. Thường xuyên có tới 25 – 30 máy bay ném bom của địch bắn phá vào các trận địa phòng ngự của ta. Không quân và pháo binh địch dột kích mãnh liệt đã phá hỏng hệ thống thông tin liên lạc. Bội đội ta đánh trả quyết liệt, nhưng, tiếc rằng việc chỉ huy các binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 165 bị gián đoạn, chính diện bị chọc thủng. Tuy vậu, những binh đội cá biệt của sư đoàn vẫn kiên trì bám chắc trận địa, mặc dù địch đã thọc sâu vào tuyến phòng ngự và đánh vào phía sau bộ đội ta.

Nửa đêm ngày 30 tháng Bảy, chúng tôi đã hình dung được hoàn toàn rõ ràng hình thái của các binh đoàn thuộc quân đoàn. Đòn đột kích chủ yếu của ba sư đoàn phát-xít đánh vào nơi tiếp giáp giữa các sư đoàn bộ binh 165 và 175. Trên một chính diện hẹp Pin-tsu-ki, Vi-nít-xki-e Xta-vưa. Chính tại nơi đây, địch đang cố gắng đột phá tới thành phố từ phía nam, dọc theo đường cái Bê-lai-a Txéc-cốp – Ki-ép. Sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 165 tổ chức yếu, đã buông lỏng việc chỉ huy các binh đội nên dẫn đến những hậu quả nặng nề. Mấy tiểu đoàn bị cắt khỏi chủ lực và hiện đang chiến đấu trong vòng vây.

Khi tham mưu trưởng phương diện quân báo cáo tình hình này, tư lệnh lườm tôi:

– Lại cái anh bạn đồng ngũ kỵ binh của anh. Lúc vượt sông Đni-ép-rơ thì chậm như rùa, còn bây giờ thì thả lỏng dây cương. Tiếc rằng ta đã không thay anh ấy bằng một người chỉ huy kiên quyết hơn.

Tướng Rô-gô-đơ-nưi đề nghị tư lệnh phương diện quân cho phép rút quân về tuyến đã chuẩn bị sẵn. Kiếc-pô-nô-xơ trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu trước tấm bản đồ. Cuối cùng, đồng chí bảo tướng Tu-pi-cốp:

– Lúc này, quân đoàn không thể khôi phục được hình thái như trước đây nữa. Nhưng cũng không thể cho quân đoàn rút lui. Cần chi viện cho quân đoàn bám trụ được ở những tuyến hiện nay.

– Vâng, - tham mưu trưởng đồng ý. – Nhưng yêu cầu Rô-gô-đơ-nưi phải chi viện cho những tiểu đoàn đang bị bao vây trở về với đồng đội. Họ chỉ ở cách có hai, ba ki-lô-mét thôi. Phải biết lợi dụng đêm tối. Quân đoàn phải đứng vững. Nêu quân đoàn rút về phía sau thì lập tức mở đường cho địch tiến tới các chỗ vượt sông Đni-ép-rơ.

Nhưng lấy gì để chi viện cho quân đoàn?

Chúng tôi cho mời tư lệnh lực lượng không quân. Kiếc-pô-nô-xơ lệnh cho đồng chí sử dụng được càng nhiều càng tốt máy bay cường kích và máy bay tiêm kích để chi viện và yểm hộ cho những binh đội của quân đoàn.

Hơn hai giờ sáng, chúng tôi truyền cho quân đoàn trưởng chỉ lệnh: phải kiên trì bám trụ trận địa để chiếm lĩnh, không cho địch tiếp tục tiến tới các chỗ vượt sông Đni-ép-rơ. Chúng tôi cũng thông báo cho đồng chí biết là đang gửi tới chỗ đồng chí hai đoàn tàu bọc thép ở Ki-ép, và đến sáng, quân đoàn sẽ được không quân của phương diện quân chi viện.

Tiếc rằng tình hình ở hướng rất quan trọng này đối với chúng tôi mỗi giờ một xấu thêm. Nắm được chỗ yếu trong tuyến phòng ngự của chúng tôi, bọn phát-xít tung vào đó những lực lượng mạnh. Đến sáng ngày 31 tháng Bảy, những binh đội lẻ tẻ thuộc sư đoàn bộ binh 165 bị đẩy lùi về hướng Đông – Bắc, làm cho sư đoàn bộ binh 175 bị hở sườn, buộc sư đoàn phải rút lui để tránh bị tiêu diệt.

Đến ngày 1 tháng Tám, địch tăng cường những lực lượng mới cho các sư đoàn bội binh 71 và 95 của chúng đang tiến công ở đây. Những binh đội thuộc quân đoàn 64 bị địch tiến công ngày càng mạnh, phải vừa chiến đấu, vừa rút về trận địa thuộc khu vực cố thủ Ki-ép. Cả đơn vị nhỏ của tướng Ma-tư-kin cũng vừa rút lui, vừa chiến đấu giữ từng tấc đất.

Qua báo cáo đều đặn của quân đoàn, chúng tôi có thể thấy rõ tinh thần hy sinh quên mình cao cả của các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy ta. Những binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 175 của đại tá X. M. Giô-vát-xki được tổ chức ở Ca-bác-đi-nô – Ban-ca-ri-a tỏ ra đặc biệt kiên cường. Các chiến sĩ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng Đại úy G. M. Ma-gien-cốp, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bội binh 632, tuy bị thương, vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Noi gương tiểu đoàn trưởng, những người bị thương còn cầm được vũ khí đều không rời vị trí. Mười lăm xe tăng phát-xít lao vào tiểu đoàn, có những lớp bộ binh dày đắc tiến theo sau. Các chiến sĩ Hồng quân đã đón đánh địch thật dũng cảm. Bốn xe tăng bị diệt, và cả lần này, bọn Hít-le cũng phải tháo chạy.

I. Ph. Ép-đô-ki-mốp, chính ủy khu vực cố thủ Ki-ép, theo dõi những trận đánh này cũng đánh giá cao hành động của trung đoàn bội binh 632. Đồng chí hào hứng kể lại về một khẩu đội bảo vệ bằng hỏa lực của mình bắn cháy một xe tăng, diệt được cả số bộ binh tiến sau xe. Bọn Hít-le tổ chức đánh vu hồi. Chúng xông mãi, rồi cũng sáng được bên tả ngạn. Các phân đội của ta đã chuyển sang tuyến có lợi hơn. Khẩu đội vẫn ở chỗ cũ; anh em pháo thủ yểm hộ cho bộ đội rút lui. Các chiến sĩ bộ binh, sau khi bám chắc những trận địa mới, đã nhả đạn vào quân thù, tạo điều kiện cho phân đội được yểm hộ rút lui. Trung úy Mu-ra-vi-ốp, khẩu đội trưởng, cho các chiến sĩ đánh xe ngựa kéo pháo cùng cả khẩu đội dũng cảm của mình. Chiếc xe ngựa bon về phía trận địa hỏa lực. Pháo vẫn bắn giòn giã, mặc dù chỉ còn lại một chiến sĩ ngắm pháo I. P. Phê-đi-u-nin. Đạn cày quanh trận địa. Rồi xạ thủ cũng ngã nốt, đồng chí bị thương vào chân. Pháo ngừng bắn. Các chiến sĩ đánh xe thúc ngựa. Anh em nom rõ Phê-đi-u-nin đang bò giữa những đồng chí đã hy sinh, thu thập lựu đạn. Mọi người không kịp tới nới: bọn phát-xít đã lao tới khẩu pháo, nhảy bỏ lên người chiến sĩ ngắm pháo bị mất máu, đang kiệt sức. Giữa lúc đó, một tiếng nổ vnag lên. Phê-đi-u-nin đổi mạng mình lấy sinh mạng của hàng chục tên lính địch. Cảnh hỗn loạn do tiếng nổ gây ra giúp anh em đánh xe trở về được với đồng đội.

Ph. N. Ma-rơ-cốp, chiến sĩ bắn súng máy của trung đoàn nói trên, khi yểm hộ đồng đội rút lui, đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chiến sĩ tiếp đạn hy sinh, bản thân đồng chí cũng bị thương nặng, nhưng khẩu súng vẫn nhả đạn, không cho quân địch ngóc đầu dậy.

Ở bên trái quân đoàn bộ binh 64, những binh đoàn thuộc tập đoàn quân 26 phòng ngự rất kiên cường. Cả ở đây, anh em chiến sĩ, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị cũng đã thể hiện tinh thần dũng cảm vô song. Các phân đội có lúc bị địch vây, nhưng anh em vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi thoát vây trở về với đồng đội, hoặc phải hy sinh trong chiến đấu.

Sư đoàn bộ binh 277 phải chịu đựng một đòn tập kích mạnh. Địch dùng một sư đoàn cơ giới có 50 xe tăng và một cụm lớn máy bay ném bom yểm hộ, tiến công vào các một khu vực của sư đoàn. Các đơn vị ta đánh trả có kết quả. Toàn bộ số pháo, kể cả pháo cao xạ, đều được sử dụng để bắn vào xe tăng địch. Trong báo cáo có nêu tên trung úy P. N. Prô-cô-phi-ép. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy thuộc đại độ đồng chí đã dùng pháo bắn ngắm trực tiếp, đánh lui nhiều đợt công kích và diệt được 6 xe tăng địch.

Ưu thế về lực lượng cũng không giúp bọn phát-xít hất được những binh đoàn thuộc tập đoàn quân 26 về sông Đni-ép-rơ, như bộ chỉ huy Hít-le mong muốn. Bộ đội ta vẫn giữ vững bàn đạp ở bờ bên trái.

Trong những ngày khó khăn này, một lần nữa, các chiến sĩ lái máy bay của ta đã quên mình chi viện cho các đơn vị mặt đất.

Ngày 1 tháng Tám, tôi được chứng kiến tận mắt một trận không chiến ác liệt ở cửa ngõ Tây – Bắc Ki-ép. Xe chúng tôi đang chạy chậm, lượn qua những hố bom thì gặp máy bay địch. Mặt đường trở nên trống trải: xe và người tìm cách ẩn vào ven những cây non mới trồng. Vì đang vội, nên tôi quyết định cứ cho xe chạy. Có khi lại gặp may! Tôi ngước nhìn lên trời. Một đàn máy bay ném bom “Gioong-ke” bay ở đội thấp, gào rút dữ dội đang hướng thẳng về phía chúng tôi. Tôi đếm được gần năm mươi chiếc. Thật khủng khiếp khi hình dung rằng chỉ vài phút nữa, chúng sẽ trút toàn bộ các gánh nặng chết chóc kia lên thành phố.

Hình như không có gì chặn được đàn chim sắt khát máu này. Tôi bất lực căm giận nhìn theo chúng. Nhưng cái gì thế kia? Trên đường bay của địch bỗng bùng ra những cụm khói trắng của đạn cao xạ. Đội hình bay của địch có phần hơi rối loạn. Đúng lúc đó, một tốp nhỏ máy bay tiêm kích của ta lao vào bầy phát-xít như tia chớp rạch xé mây đen. Chiếc “Gioong-ke” thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba… bị bắn rơi. Chỉ trong chốc lát, 16 chiếc máy bay địch như những bó đuốc cháy rực cắm xuống đất. Những chiếc còn lại bỏ chạy tán loạn.

Tôn còn được theo dõi trận không chiến tiếp theo trên các cầu qua sông Đni-ép-rơ. Ở đây, máy bay ném bom phát-xít được những chiếc “Méc-xơ-smít” yểm hộ. Mấy chiếc máy bay tiêm kích của ta lao tới chặn địch. Anh em chia cắt đội hình máy bay ném bom và hầu như bắt đầu bắn thẳng vào chúng. Máy bay tiêm kích địch lao vào chi viện cho bọn “Gioong-ke”. Nhưn ba chiếc “MIC” nhanh như sóc của ta đã chặn được chúng. Các chiến sĩ lái của ta hành động mau lẹ, táo bạo, dũng cảm lao vào tiến công trực diện. trận không chiến ác liệt diễn ra không lâu. Thần kinh bọn phát-xít không chịu đựng nổi nữa. Lúc đầu, một chiếc, rồi tiếp đó là những chiếc khác tháo chạy về phía Tây.

Tôi hỏi thiếu tướng I-a. X. Scu-rin, tham mưu trưởng lực lượng không quân phương diện quân: những chiến sĩ lái vừa chiến đấu cực kỳ dũng cảm bảo vệ cầu thuộc đơn vị nào. Đồng chí cho biết, họ thuộc sư đoàn không quân 36 thuộc bộ đội phòng không của đại tá V. V. Dê-len-txốp, và nói thêm, các chiến sĩ lái của ta đã quen với những trận chiến đấu không cân sức như thế.

Mãi đến ngày 3 tháng Tám, địch phải dốc toàn lực mới tiến được đến tiền duyên phòng ngự chủ yếu ở phân khu Nam khu vực cố thủ Ki-ép. Bọn Hít-le hy vọng bám sát những đơn vị ta đang rút lui để đột nhập vào khu vực cố thủ trong hành tiến, song chúng không thực hiện nổi.

Sư đoàn bộ binh 175 đã chiếm lĩnh tuyến phòng ngự ở phía Đông – Nam Bê-lô-gô-rốt-ca, còn đơn vị của tướng Ma-tư-kin ở ven sông Đni-ép-rơ, ngoại vi làng Mơ-rư-ghi. Bộ tư lệnh phương diện quân lệnh cho tướng Rô-gô-đơ-nưi chuyển giao những binh đoàn này cho khu vực cố thủ, điều những binh đội thuộc quân đoàn và sư đoàn bội binh 165 về bờ Đông sông Đni-ép-rơ, phối hợp với sư đoàn bộ binh cơ giới 7 tổ chức phòng ngự ở đây, không cho địch vượt sông ở phía Nam thành phố.

Các trận đánh vẫn không dịu đi. Các chiến sĩ ở hỏa điểm kiên cố thuộc tiểu đoàn súng máy độc lập 28 của khu vực cố thủ và những binh đội thuộc sư đoàn bộ binh 147 của đại tá Pô-tê-khin đã bẻ gãy hết đợt này đến đợt khác của địch. Đại tá Tséc-nốp, chỉ huy phó, và đại tá Li-khốp, tham mưu phó khu vực cố thủ, đã chỉ huy bộ đội ta ở đấy. Mọi người luôn thấy hai đồng chí ở những nơi mũi nhọn khó khăn nhất.

Vào thời gian đó, tập đoàn quân 26 vẫn tiếp tục đánh lui cuộc tấn công của cánh quân địch rất mạnh đang lao tới những chỗ vượt sông Đni-ép-rơ ở các khu vực Rơ-gi-sép và Ca-nép. Nhận thấy bàn đạp Tséc-ca-xư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tổng tư lệnh bội đội hướng Tây – Nam lệnh cho tư lệnh phương diện quân đến ngày 3 tháng Tám phải đưa cơ quan chỉ huy của tập đoàn quân mới số 38, vừa được tổ chức ngay trên cơ sở cơ quan tham mưu của quân đoàn cơ giới 8, đến Tséc-ca-xư. Trung tướng Đ. I. Ri-a-bư-sép, quân đoàn trưởng quân đoàn này, rất xuất sắc trong chiến đấu, được chỉ định làm tư lệnh tập đoàn quân này. Thuộc quyền chỉ huy của đồng chí còn có những sư đoàn đang phòng ngự ở bàn đạp và bờ Đông sông Đni-ép-rơ ở phía Nam Tséc-ca-xư.

Bộ tư lệnh và bộ tham mưu phương diện quân chú ý theo dõi những sự kiện ở cửa ngõ Tây – Bắc Ki-ép. Như chúng tôi dự kiến, bọn phát-xít ở đây cũng chuẩn bị đột kích nhằm tiêu diệt tập đoàn quân 5 của ta và đơn vị bạn bên trái là quân đoàn bội binh 27. Các đơn vị này là mối nguy cơ lớn ở mặt phía Băc và Đông – Bắc đối với cụm quân địch đang tiến mạnh tới Ki-ép. Bọn Hít-le bắt đầu tiến công ở chỗ tiếp giáp giữa tập đoàn quân 5 và quân đoàn bộ binh 27. Mục đích của chúng rất rõ: cắt những đơn vị ở cánh phải của ta ra khỏi sông Đni-ép-rơ và bao vây họ ở bên bờ Tây gần Cô-rô-xten. Làm được như vậy sẽ giúp địch có thể đi vòng qua Ki-ép từ phía Bắc và vượt được sông Đni-ép-rơ tại đây, làm cho hình thái tác chiến của bội đội ta trên toàn hướng Ki-ép bị xấu hẳn đi.

Tư lệnh tập đoàn quân 6 Đức tạo được ưu thế khoảng gấp ba lần về lực lượng trọng tải tiến công. Địch vung vãi bom đạn, công kích liên tục, nhưng vẫn không bẻ gãy được sức phòng ngự của các sư đoàn xô-viết. Chúng chỉ có thể tiến được trên từng đoạn. Song, những đơn vị phát-xít vẫn không thể đột nhập sau vào sau lưng tập đoàn quân 5. Cùng với những binh đội thuộc quân đoàn 27, các phân đội bộ đội đường sắt và sư đoàn 4 thuộc Bộ dân ủy nội vụ đang làm nhiệm vụ bảo vệ những công trình hậu phương quan trọng của ta, đã nhiều lần chặn địch trên đường tiến quân của chúng.

Một lần nữa, tôi muốn dùng những lời lẽ tốt đẹp nói về các chiến sĩ bộ đội đường sắt, những người hình như rất ít liên quan đến hoạt động chiến đấu. Nhiệm vụ của anh em chỉ là khôi phục những đoạn đường sắt bị bị phá hủy. Nhưng khi cần, mỗi người cũng lại là một chiến sĩ dũng cảm và thiện chiến.

Khi đội đường sắt lưu động – đoàn xe nhỏ gồm một số toa tàu được trang bị để sửa chữa – từ Ma-lin đi thì gặp một đoàn xe tăng và ô-tô chở bộ binh của địch. Không ai ra lệnh cho thượng úy P. X. Li-át-xki, đại đội trưởng (đại đội nằm trong tiểu đoàn đường sắt độc lâp 32), phải bước vào chiến đấu. Đồng chí đã hành động với tinh thần chủ động của mình mà đó là điều đặc biệt cần thiết trong điều kiện chiến đấu. Thay vì né tránh sự nguy hiểm, thượng úy đã dẫn đội của mình xông lên đánh đoàn xe địch. Đoàn xe sửa chữa đường sắt, tất nhiên, bị trúng ngay đạn đại bác của xe tăng địch, nhưng các chiến sĩ đường sắt kịp nhảy từ trên sàn toa xuống và chiếm lĩnh tuyến phòng ngự ở ven đường cái. Họ chỉ có một nhóm người, trang bị gồm toàn súng trường và lựu đạn. Nhưng họ không rút lui. Đoàn xe địch dừng lại, xe tăng và bộ binh phát-xít lao vào chiến sĩ đường sắt. Đại đội trưởng Li-át-xki bị thương vào bụng nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

Được tin, đại úy C. I. Khai-li-úc, quyền tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 32, đưa đại đội của thượng úy V. I. Bôn-đa-ren-cô lên đoàn xe khác và gấp rút tới chi viện giải vây. Cùng đi có chính ủy tiểu đoàn V. X. Mô-gia-rốp và tham mưu trưởng T. C. Rô-ma-nen-cô. Trên đường, họ chạm trán với xe tăng phát-xít và đoàn xe của họ cũng bị bắn tan. Cùng với những chiến sĩ còn sống sót, Khai-li-úc vẫn đến được chỗ anh em bị bao vậy. Đại úy chỉ còn một xe goòng tự động có rơ-moóc. Đặt thương binh lên xe, Khai-li-úc cho họ cùng với một số người hộ tống về Ma-lin, còn đồng chí và những chiến sĩ khác cố đột nhập vào ga Tê-tê-rép nhằm bắt liên lạc với tiểu đoàn đường sắt của đại úy V. C. Xu-scô, nhưng không thành. Đồng chí liền quay lại và chiếm lĩnh phòng ngự ở cửa ngõ Ma-lin, gần cầu đường sắt qua sông Tê-tê-rép. Tình hình thật phức tạp. Khai-li-úc không biết ta đâu, địch đâu.

Sau khi hạ lệnh chuẩn bị cấp tốc nổ cầu, đại úy cố liên lạc với cơ quan tham mưu lữ đoàn, nhưng đường dây lại bị đứt. Chỉ còn đường dây liên lạc với đội cảnh giới chiến đấu ở ga Pe-ni-a-dê-vi-tsi vẫn được thông suốt. Một lát sau, từ nhà ga gọi về: “Xe tăng và bộ binh phát-xít đã tiếp cận, chúng tôi đang chiến đấu”. Qua máy điện thoại còn nghe rõ rừng tràng tiểu liên và tiếng đạn pháo. Đường dây bị đứt. Khai-li-úc phái trinh sát tới ga. Đội trưởng trinh sát báo cáo là các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy của đội cảnh giới chiến đấu đã anh dũng hy sinh trong lúc đánh lui những đợt công kích của xe tăng và bộ binh cơ giới địch.

Một lúc sau, bọn phát-xít tiến gần tới đội của Khai-li-úc và dội bão lửa vào anh em. Các chiến sĩ đường sắt cho nổ cầu và bắn súng chống tăng ở cự ly gần. Xe tăng địch cháy ngùn ngụt.

Địch không ngờ bị đánh trả mãnh liệt như vậy nên phải tháo chạy. Sau đó, chúng đi vòng qua chiếc cầu bị sập, vượt sông. Các chiến sĩ đường sắt tổ chức phòng ngự vòng tròn và tiếp tục chiến đấu. Xung quanh là rừng. Bọn phát-xít nấp sau thân cây, đôi khi tiến sát tới trận địa của đội. Xe tăng và lính tiểu liên địch xông vào độ ngũ các chiến sĩ xô-viết đã thưa đi nhiều. Và cứ mỗi lần tháo chạy, địch đều phải bỏ lại những chiếc xe tăng bị bắn cháy và xác lính.

Đến tối, chính ủy tiểu đoàn Mô-gia-rốp bị hy sinh trong trận đánh giáp lá cà. Còn đại úy Khai-li-úc ngất đi vì bị dập thương nặng và đã được cáng về lều đường sắt, nơi mà những thương binh khác đang nằm. Khi trờ tối sẩm, tham mưu trưởng Rô-ma-nen-cô nhận quyền chỉ huy, quyết định giải vây. Anh em khiêng thương binh. Nhưng thượng úy Li-át-xki yêu cầu để đồng chí lại, vì mỗi chấn động dù nhỏ cũng đều gây đau đớn không thể chịu nổi. Đồng chí gọi Rô-ma-nen-cô lại gần và nói với giọng yếu ớt:

– Đồng chí đại úy, để lại bên cạnh tôi một khẩu tiểu liên và kiểm tra xem trong đĩa có đạn không. Đồng chí buộc lựu đạn thành chùm giúp tôi.

Biết rằng dù thế nào cũng không thể mang thượng úy đi được nữa, anh em lặng lẽ thu thập một số lựu đạn, buộc lại và kiểm tra ngòi nổ rồi đặt bên phía tay phải người đang hấp hối, cạnh khẩu tiểu liên của đồng chí.

Đưa mắt nhìn tham mưu trưởng, Li-át-xki ra hiệu chỉ vào ngực. Rô-ma-nen-cô hiểu. Đồng chí mở túi áo va-rơi, thận trọng rút tấm thẻ đảng viên và chứng minh thư. Li-át-xki gật đầu cảm ơn. Rô-ma-nen-cô dẫn các chiến sĩ xông lên công kích. Họ đã mở đường phá vây bằng lưỡi lê và lựu đạn.

Khi đội tới được nơi an toàn thì từ xa vọng lại tiếng súng nổ. Trong tiếng súng tiểu liên không dứt có thể nhận ra được từng loạt đạn ngắn: người bắn tiết kiệm đạn. Rồi tiếng súng im bặt. Và một phút sau vang lên một tiếng ầm nổ. Rô-ma-nen-cô ngả mũ ca-lô. Anh em chiến sĩ làm theo đồng chí.

– Đúng, nếu đã chết thì phải chết như vậy: như một con người! – có chiến sĩ khẽ nói. Mọi người lại tiếp tục tiến về phía trước.

Ở bộ tham mưu phương diện quân, chúng tôi biết tin này do chính những người tham gia trận chiến đấu kể lại. Và câu chuyện chọ họ lắng đọng trong trái tim tôi với đầy dủ mọi chi tiết.

Tất cả những phân đội nằm trên đường tiến quân của địch cũng chiến đấu kiên cường và dũng cảm như vậy. Kết quả là các đơn vị phát-xít không thực hiện được mệnh lệnh của bộ chỉ huy của chúng là tiến đến sông Đni-ép-rơ và chia cắt tập đoàn quân 5 của ta với những lực lượng khác của Phương diện quân Tây – Nam.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.