Mưa dai dẳng từ tối. Đường đất lầy lội. Rất may là chúng tôi đã tới được con đường rải đá, dù có nhiều ổ gà, vẫn còn có thể đi được. Nhưng đến cửa ngõ Prô-xcu-rốp thì đôi chỗ đường bị lở. Tôi nhớ đoạn đường này đến suốt đời. Đường lượn theo sườn một ngọn đồi cao dọc theo một hẻm sâu, vách đá dựng đứng. Lái xe lấy đà đưa chiếc ZIS-101 lên dốc. Chiếc xe nặng nhọc rú máy, lượn sang hai bên và quăng bùn thật xa. Đến chỗ ngoặt, gần như ngay trên đỉnh đồi, động cơ rú mạnh rồi tắt ngấm. Xe trượt lùi, tuột khỏi mặt đường, vừa tăng tốc độ vừa nhích lên sườn dốc. Đồng chí lái xe mặt tái xanh, ngoảnh lại phái sau, quay tít vô-lăng. Tôi nhớ tới những văn kiện tác chiến quan trọng mang theo. Xách chiếc va-li đựng tài liệu, tôi đã hé cửa định nhảy xuống. Nhưng đôi tay thành thạo đã lái chiếc xe trườn tới chỗ bằng phẳng rồi đứng im. Lái xe chậm rãi đưa tay run run lau khôn mặt ướt đẫm mồ hôi:
– Có lẽ thoát nạn rồi…
Bảo trung úy tùy tùng Bô-khô-rốp kéo chiếc ZIS ra khỏi hẻm, tôi xách chiếc va-li quý giá và khó khăn lắm mới trèo được lên mặt đường rồi đi nhờ chiếc xe gặp đầu tiên. Một lát sau, xe chúng tôi xuống tới đồng bằng và đã lăn bánh trên các phố phường Prô-xcu-rốp (nay là thành phố Khơ-men-nít-xki).
Nằm trên bờ sông Nam Búc, Prô-xcu-rốp là đầu mối giao thông đường bộ quan trọng. Những con đường uốn khúc chảy về các hướng Tác-nô-pôn, Sê-pê-tốp-ca, Vin-ni-txa, Ca-mê-nét – Pô-đôn-xki. Do đó, tôi có cảm giác là địa điểm mới cho sở chỉ huy không thích hợp lắm. Không quân phát-xít sẽ không bao giờ để yên cho những đầu mối giao thông lớn. Nhưng ở đây, dựa vào những đường dây liên lạc cố định và những nhánh giao thông rộng rãi, việc chỉ huy bộ đội sẽ dễ dàng hơn.
Các đồng chí của tôi đang làm việc căng thẳng. Liên lạc với các tập đoàn quân đã ổn định. Phái viên của chúng tôi ở các đơn vị về báo cáo rằng đã trao mệnh lệnh chiến đấu và các tư lệnh đã bắt tay vào thực hiện.
Lần đầu tiên trong những ngày chiến tranh, chúng tôi đã nám được tình hình ở sườn phía Bắc một cách rõ ràng. Quân đoàn của Phê-đi-u-nin-xki, sau khi rút lui có tổ chức khỏi vùng Cô-ven, đã bám trụ bên gờ phải sông Xtô-khốt và đang đánh lui có kết quả các đợt công kích của địch. Quân đoàn bộ binh 31 đang phòng ngự ở bên trái quân đoàn, trên bờ sông Xtưa. Kiếc-pô-nô-xơ đã lệnh đưa sư đoàn bộ binh 195 của quân đoàn về vùng Tsác-tô-rưi-xcơ, làm lực lượng dự bị của bộ tư lệnh.
Dọc theo đường cái Lút-xcơ – Rô-vơ-nô trên một chính diện dài khoảng 50 ki-lô-mét, các sư đoàn xe tăng thuộc quân đoàn cơ giới 9 vất vả lắm mới đánh lui được địch. Tướng C. C. Rôp-cô-xốp-xki không có khả năng tổ chức tuyến phòng ngự liên tục, nên đã đưa sư đoàn cơ giới của mình về làm thê đội hai để đánh lui những cụm cơ động của địch đột nhập lúc chỗ này, lúc chỗ khác. Những binh đoàn thuộc quân đoàn cơ giới 19 của tướng N. V. Phê-cơ-len-cô đã chặn được địch trên sông Gô-rưn ở phía Đông Rô-vơ-nô và, sau khi bám trụ trên đường cái Rô-vơ-nô – Nô-vô-grát – Vô-lưn-xki, đã kiên trì đánh lui những đợt công kích của các đơn vị xe tăng và cơ giới phát-xít. Ở phía nam quân đoàn của Phê-cơ-len-cô, những đơn vị của cụm tướng Lu-kin vẫn anh dũng chiến đấu. Thành phố U-ca-i-na cổ kính Ô-xtơ-rốc đã chuyển từ tay quân ta sang tay quân địch mấy lần, và giờ đây, những đơn vị của ta mới bị đánh bật ra khỏi thành phố hôm trước, nay lại đang phản kích địch, cố giành lại những vị trí cũ. Giữa sườn trái của cụm Lu-kin và sườn phải của tập đoàn quân 6 chỉ kéo đến nơi nào ở phía Đông – Nam Đúp-nô, có một cửa mở lớn chỉ do các phân đội trinh sát kiểm soát.
Trong những điều kiện khó khăn ấy, Pô-ta-pốp, tư lệnh tập đoàn quân, cố gắng tổ chức lấy một cụm xung kích cho đòn phản đột kích mới: đồng chí đã rút những binh đội thuộc quân đoàn cơ giới 22 về làm nhiệm vụ thê đội hai và tập trung ở phía Đông – Bắc cách Lút-xcơ 40 ki-lô-mét. Đồng chí cũng rút cả quân đoàn bộ binh 27 mà thực tế chỉ còn một sư đoàn bộ binh 135 và một trung đoàn bộ binh của sư đoàn 87 (Chúng tôi vẫn chưa có tin về những trung đoàn khác của sư đoàn 87 và các binh đội của sư đoàn bộ binh 123 còn đang chiến đấu ở sau lưng địch. Mọi cố gắng nhằm bắt liên lạc với các đơn vị trên đều không thành).
Chấp hành mệnh lệnh của tư lệnh phương diện quân, các tập đoàn quân 6, 26 và 12 đang rút lui để bám trụ ở tuyến Dô-lô-tsép, Boóc-xốp, Bô-brơ-ca, Ca-lu-sơ, Nát-vô-rơ-na.
Các đơn vị từ từ rút lui, vừa rút vừa chiến đấu ngoan cường. Các chiến sĩ vẫn đánh địch quyết liệt như trước và ngày càng đứng vững trước mũi xe tăng địch. Thiếu pháo, anh em dùng lựu đạn chùm. Tiếc rằng ngay đến lựu đạn không phải lúc nào cũng có đủ. Lúc này, anh em lại nhớ tới kinh nghiệm của các chiến sĩ Cộng hòa Tây Ban Nha: mọi người thu nhặt vỏ chai, đổ đầy xăng vào.
Khi nghe các tập đoàn quân báo cáo có những xe tăng địch bị chai xăng đốt cháy, Puốc-ca-ép giao cho tướng N. X. Pê-tu-khốp, chủ nhiệm hóa học, gấp rút nghiên cứu vấn đề này. Đồng chí nhanh chóng liên hệ với những nhà khoa học nổi tiếng của U-cra-i-na. Họ phấn khởi bắt tay vào việc. Ít lâu sau, nhiều nhà máy sản xuất đồ uống của nước cộng hòa đã chuyển sang sản xuất một loại sản phẩm mới. hàng vạn chai cháy hỗn hợp được gửi ra mặt trận. Vũ khí tuy thô sơ, nhưng nằm trong những cánh tay dũng cảm và khéo léo lại trở nên rất có hiệu quả. Mỗi trận đánh con quái vật bọc thép thành công đều được phản ánh trên các trang báo của phương diện quân, tập đoàn quân, sư đoàn và các tờ tin bướm. Những dòng tin ngắn ngủi này có sức cổ vũ lớn, đã thôi thúc các chiến sĩ tiến lên lập công mới.
Việc giáo dục chủ nghĩa anh hùng bằng những tấm gương cụ thể ngày càng sâu rộng. Các cán bộ chính trị, cán bộ cốt cán của đảng và đoàn thanh niên cộng sản đã tranh thủ từng phút thuận tiện để kể cho các chiến sĩ nghe về những chiến công vinh quang của đồng đội. Anh em truyền tay nhau những tờ tờ tin bướm viết tay. Báo liếp và báo tường được treo trên vách chiến hào, trên những tấm bảng xách tay đặt ở những chặng nghỉ ngắn cũng kể về các chiến công.
Những người cộng sản nêu gương dũng cảm, kiên trì và gan dạ. Và các chiến sĩ đều có khát vọng được mang danh hiệu cao quý của người đảng viên. Mỗi người đều coi việc gia nhập đảng phải là nghĩa vụ đi đầu trong chiến đấu. Tính cách ưu tú của người cộng sản là nhận thức sâu sắc nghĩa vụ trước nhân dân, khát vọng cống hiến toàn bộ sức lực, và nếu cần, cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng, cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đã trở thành chuẩn mực đạo đức của các chiến sĩ và cán bộ. Anh em tìm thấy trong mình trung sĩ Xen-txốp đã anh dũng hy sinh, một mảnh giấy viết tay: “Tôi bước vào chiến đấu với ước mơ đón giờ gặp tử thần của mình như một người bôn-sê-vích”. Trước đó hai ngày, Xen-txốp đã nộp đơn xin gia nhập đảng.
Nhận thức được những mục đích thiêng liêng của chiến tranh – đó là một sức mạnh vĩ đại. Và sức mạnh đó được củng cố từng giờ. Chủ nghĩa anh hùng ngày càng mang tính quần chúng. Điều này hợp với quy luật, vì đó là vấn đề bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Mười, vấn đề sống còn của nhân dân Xô-viết.
Tiếc rằng thắng lợi trên chiến trường không chỉ do tinh thần chiến đấu của bộ đội quyết định. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như so sánh lực lượng, mà địch thì vẫn lợi thế như trước kia. Địch chế ngự ta bằng ưu thế xe tăng, máy bay ném bom và ngày càng tung ra những lực lượng dự bị mới. Để bảo toàn lực lượng ngày càng thưa mỏng, chúng ta buộc phải cho bộ đội rút lui. Nhưng ngay khi rút lui về các tuyến mới theo mệnh lệnh của bộ tư lệnh, các chiến sĩ và cán bộ xô-viết cũng không hề suy tính đến tính mạng của mình, mà chỉ nghĩ làm sao có thể gây cho địch nhiều tổn thất nhất.
Chúng ta vừa chiến đấu gian khổ vừa rút những binh đoàn thuộc các tập đoàn quân 6 và 26 từ biên giới về những tuyến mới ở phía Đông Lơ-vốp. Những đơn vị kiên định nhất yểm hộ cho việc rút lui. Ở quân đoàn cơ giới 15, nhiệm vụ đó được trao cho trung đoàn bộ binh cơ giới 669 thuộc sư đoàn cơ giới 212. Khi địch tới gần, đại tá V. V. Bác-đa-đin dẫn trung đoàn tiến lên công kích. Anh em dũng mãnh xông lên đón địch. Lực lượng không cân sức. Trong chiến đấu, những phân đội riêng lẻ có lúc bị sa vào vòng vây của địch. Nhưng lần nào, anh em cũng thoát bẫy nhờ những đợt vọt tiến quyết liệt và đã trở về được với trung đoàn. Bọn phát-xít bao vây đại đội bộ binh cơ giới 6. Chúng đã tới trận địa của họ. Có lẽ, trận đánh sắp kết thúc. Đúng lúc đó, trung úy, trung đội trưởng P. Đ. A-ra-kê-li-an xông lên đánh giáp lá cà. Khí thế của trung đội trưởng được truyền sang các chiến sĩ. A-ra-kê-li-an bị thương nhưng vẫn đi đầu. Chiến sĩ dùng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn chọc thủng bức tường địch và về lại với trung đoàn.
Sư đoàn kỵ binh 14 của thiếu tướng V. Đ. Cri-u-tsen-kin chiến đấu bên cạnh các binh đội của quân đoàn cơ giới 15 ở vùng Crê-mê-nét. Mỗi báo cáo của sư đoàn gửi về bộ tham mưu phương diện quân đều có thể gửi đăng báo. Thiếu úy N. Ph. Cra-vét, đảng viên cộng sản, đã chỉ huy một trung đội xe tăng thuộc trung đoàn xe tăng 29 của sư đoàn này. Để cứu các bạn chiến đấu kỵ binh của mình, các chiến sĩ xe tăng đã dũng cảm lao xe vào những chỗ nước sôi lửa bỏng. Và cả lần này cũng vậy.
Cra-vét dẫn trung đội tiến đánh xe tăng phát-xít đang công kích. Địch chuyển toàn bộ hỏa lực vào các đoàn xe tăng xô-viết. Khôn khéo cơ động, Cra-vét và đồng đội đã đánh trả địch bằng những loạt đại bác và súng máy chính xác. Bỗng một tiếng nổ. Một quả đại bác rơi trúng xe tăng của Cra-vét. Thợ máy – lái xe và xạ thủ trên tháp hy sinh. Trưởng xe bị dập thương, điếc đặc, khó khăn lắm mới vươn được tới khe ngắm. Xe tăng địch tới gần. Cra-vét dồn hết sức lực, nập đạn và ngắm bắn. Một phát, hai phát, rồi một phá nữa… hai xe tăng địch bốc cháy. Nhưng chiếc thứ ba đã thu được chiếc xe tăng xô-viết vào kính ngắm. Đạn nổ làm kẹt tháp xe. Không thể bắn bắn được nữa. Ra-vét kéo đồng chí lái xe đã hy sinh ra, ngồi xuống cầm lái và cho xe tiến lên. Đồng chí dùng toàn bộ sức mạnh của xe lao thẳng vào xe tăng địch.
Quả vậy, không chỉ các chiến sĩ lái máy bay của ta, mà cả các chiến sĩ lái xe tăng cũng đã nhiều lần đâm vào xe tăng địch để tiêu diệt chúng như thế.
Còn biết bao tấm gương khác nữa để các chiến sĩ noi theo.
Trước sức tiến công mãnh liệt của địch, những phân đội thuộc trung đoàn kỵ binh 76 phải rút về phía sau, và như vậy bọn phát-xít có thể đánh vào sau lưng đơn vị bạn. Nhưng khi các chiến sĩ kỵ binh đã mất hy vọng kiềm chế được địch thì xuất hiện một kỵ sĩ với thanh gươm tuốt trần. “Theo tôi!” – anh em nghe thấy tiếng hô xung trận của đồng chí, và nhận ra đó là chính ủy tiểu đoàn bậc trưởng Đ. X. Dô-bru-sin. Các chiến sĩ kỵ binh lập tức xông lên công kích mãnh liệt. Những sức mạnh được dấy lên từ đâu vậy: một trung đoàn vừa mới rút lui đã lại đánh bật địch bằng một đợt công kích dữ dội.
Ở vùng Lơ-vốp, nơi quân đoàn cơ giới 4 đang chiến đấu, sư đoàn xe tăng 8 đã phải chịu gánh nặng nhất trong những trận đánh của trận đánh của các đơn vị hậu vệ. Các binh đội của sư đoàn nhiều lúc phải chiến đấu trong vòng vây của địch. Nhưng, vừa thoát vây, họ đã lại lao vào chặn đường quân phát-xít.
Các tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh cơ giới 8 đã chiến đấu nhiều giờ liền trong hoàn cảnh bị cắt đứt với lực lượng chủ yếu. Chiếc xe tăng của hạ sĩ P. I. Vô-rô-nốp đã yểm hộ cho cả tiểu đoàn rút lui. Đợi cho những chiến sĩ bộ binh cuối cùng khuất hẳn vào rừng, người chỉ huy ra lệnh cho chiến sĩ ngắm súng bắn trả và cho chiến sĩ thợ máy – lái xe rượt theo sau anh em bộ binh, nhưng không may đã bị sa vào đoạn sình lầy. Bọn phát-xít bao vây, các chiến sĩ xe tăng đã dùng súng máy và tiểu liên bắn chính xác, không cho chúng đến gần. Chúng kéo pháo tới, nhưng mới bắn được một phát thì Vô-rô-nốp đã ngồi ngay trên mâm pháo và chỉ một phát đạn đầu tiên của anh đã phá tan khẩu pháo địch. Đến đêm, chiến sĩ xe tăng kéo được xe ra khỏi chỗ sình lầy và trở về với đồng đội. Trên đường về, anh em còn nhặt được bốn chiến sĩ bị thương.
Ở sư đoàn cơ giới 81, đại đội xe tăng rút đi cuối cùng. Giữa lúc trận đánh diễn ra ác liệt nhất thì hai chiến sĩ bộ binh bị thương nặng lết được tới chỗ xe tăng của X. P. Bô-ri-xốp, người Mát-xcơ-va. Tổ lái tăng thu nhặt họ. Hai người thuật lại rằng dọc đường, họ gặp một đại tá bị thương vẫn nằm lại ở giữa rừng bởi các chiến sĩ không đủ sức khiêng đồng chí. Không mảy may do dự, Bô-ri-xốp lái xe tăng xông về phía địch. Hỏa lực dày đặc của địch không ngăn được đồng chí. Sau khi đánh tan khoảng một đại đội bộ binh địch, Bô-ri-xốp cùng anh em trong tổ lái đã tìm ra đồng chí sĩ quan bị thương. Các chiến sĩ xe tăng thận trọng khiêng đại tá vào xe rồi nổ máy trở về với đồng đội. Đại tá được cứu sống.
Khi bộ đội ta bỏ thành phố Giun-kép ở đó vẫn còn những khẩu pháo lớn. Thiếu tá M. P. Iếc-giép-xki, địa diện cho cơ quan tham mưu pháo binh của tập đoàn quân 6, được giao nhiệm vụ phá hủy kho, không để lọt vào tay địch. Thiếu tá cùng một tổ công binh đã đi làm nhiệm vụ. Nhưng đồng chí vừa tới kho thì bọn phát-xít cũng ập vào thành phô. Tổ của Iếc-giép-xki bị bao vây. Làm gì bây giờ? Bỏ mặc mệnh lệnh, thoát về với đồng đội ư?... Thiếu tá cử những chiến sĩ gác kho (họ vẫn ở lại vị trí của mình) và một phần các chiến sĩ công binh làm nhiệm vụ đánh địch, còn đồng chí cùng số anh em còn lại bắt đầu đặt mìn. Xong việc, Iếc-giép-xki lệnh cho các chiến sĩ thoát vây, còn bản thân đồng chí ở lại với một chiến sĩ công binh. Một số chiến sĩ về được với đồng đội sau này kể lại họ còn kịp nhìn thấy bọn Hít-le ập vào kho, và ngay lập tức mọi vật chìm trong khói lửa. Thiếu tá Iếc-giép-xki đã hoàn thành mệnh lệnh bằng cả cuộc đời của mình.
Một câu chuyện tương tự cũng đã xảy ra ở gần Pê-rê-mư-slơ. Mười sáu toa chất nổ còn lại trong vùng địch chiếm. Không thể để lọt vào tay quân thù. Một tổ công binh do trung úy Gri-gô-ri-ép chỉ huy đã đột nhập vào khu vực kho và làm nổ tung kho ngay trước mắt bọn phát-xít.
Chúng tôi còn nhận được nhiều báo cáo ở các đơn vị gửi lên nói về tinh thần chiến đấu xả thân, quên mình của các chiến sĩ thuộc nhiều binh đội và phân đội yểm hộ cho bộ đội tập đoàn quân 26 rút lui.
Ở quân đoàn bộ binh 8, một số chiến sĩ thuộc trung đoàn pháo 233 của quân đoàn do trung úy Cốp-tan chỉ huy đã lọt được vào sau lưng địch và sau khi chiếm được ba khẩu pháo cỡ lớn đã dùng nó bắn thẳng vào bọn phát-xít. Trận pháo kích bất ngờ khiến địch hoảng loạn, giúp cho trung đoàn thoát khỏi bọn địch.
Ở trung đội đứng đầu là chính trị viên Côn-ban-txép, chiến đấu trong đội hậu vệ của sư đoàn bộ binh sơn chiến 72, các chiến sĩ đã đánh trả các đợt công kích của bọn phát-xít đến viên đạn cuối cùng. Họ hy sinh hết, nhưng đã kìm chân quân địch được mấy tiếng đồng hồ.
Các phi công của ta bắt đầu chi viện có hiệu quả hơn cho các đơn vị mặt đất. Quân đoàn không quân tầm xa 4 hoạt động ở hướng Tây – Nam đã diệt tan các lực lượng dự bị và những công trình quan trọng ở sau lưng địch. Không quân của phương diện quân đã tập trung nỗ lực đánh phá các cụm quân phát-xít đang thọc sâu và đánh lui các cuộc tập kích của không quân địch.
Đại tá V. A. Xu-đét, chỉ huy quân đoàn không quân tầm xa, là một người đầy nhiệt huyết, hơi gầy, chấp hành nhiệm vụ chiến đấu rất kiên quyết và không hề biết mệt.
Các máy bay ném bom tầm xa khi hoạt động không được yểm hộ vững chắc và lần nào cũng bị máy bay tiêm kích và pháo cao xạ địch tiến công. Quân đoàn bị thiệt hại, song những chiếc máy bay hạng nặng đó vẫn tiếp tục cất cánh và bay về phía Tây.
Không quân phát-xít vẫn khống chế trên không. Điều kiện ấy đòi hỏi các chiến sĩ của ta phải dũng cảm cao độ. Không hiếm thấy trên bầu trời ba bốn máy bay tiêm kích có ngôi sao đỏ chọi lại với mười, có khi hai mươi máy bay phát-xít.
Đại úy P. X. Xan-xô-nốp, phi đội trưởng của trung đoàn không quân tiêm kích 164 thuộc sư đoàn không quân 15, khi hộ tống máy bay ném bom trên bầu trời Ra-va – Ru-xcai-a, đã một mình chiến đấu với tám máy bay tiêm kích phát-xít. Khó co thể tin, đồng chí sẽ giữ mình được nguyên vẹn trong tận chiến đấu đó. Nhưng đồng chí vẫn bảo vệ được mình và còn bắn rơi một máy bay địch.
Các chiến sĩ lái máy bay trong phi đội của trung đoàn máy bay ném bom 224 thuộc sư đoàn không quân 17 phải trải qua những thử thách nặng nề. Các đồng chí bay đi ném bom những đoàn xe địch nhưng không có máy bay tiêm kích yểm hộ. T. P. Cô-sơ-mi-a-cốp hướng dẫn phi đội bay và bị lọt vào lưới lửa phòng không dày đặc của địch ở vùng Đúp-nô. Cô-sơ-mi-a-cốp chỉ huy phi đội thoát khỏi lưới lửa phòng không nhưng lại bị máy bay địch tiến công. Ba máy bay địch lao vào chiếc đi đầu. Một chiếc bám được đuôi. Nhưng tên phát-xít đã vui mừng quá sớm: chính hắn đã bị ăn đạn của chiến sĩ xạ thủ - điện báo viên Plắc-xu-nốp. Những chiếc tiêm kích khác phải thận trọng hơn và không dám bén mảng đến gần. Vừa chống trả phi cơ địch, máy bay của ta vừa trút bom xuống mục tiêu. Khi về đến sân bay, máy bay của Cô-sơ-mi-a-cốp bị thủng 112 chỗ.
Mười sáu chiếc “Mét-xơ-smít” lao vào tấn công bốn chiếc máy bay ném bom của đại úy C. L. A-xa-u-lốp (thuộc trung đoàn máy bay ném bom 48 cũng của sư đoàn không quân trên). Chiến sĩ lái xô-viết lâm trận. Và quả thật khó có thể tin rằng chính các máy bay ném bom của ta lại đã bắn rơi bốn máy bay tiêm kích của địch. Những chiếc còn lại bỏ chay. Phi đội đã hoàn thành nhiệm vụ.
Chiến sĩ lái Ca-ta-ép cùng xạ thủ - điện báo viên Mi-tơ-rô-pha-nốp thuộc trung đoàn máy bay ném bom 94 của sư đoàn không quân 62 bị ba máy bay tiêm kích phát-xít tấn công lúc ném bom xong, đang trên đường trở về. Khôn khéo cơ động và bắn chính xác nên Ca-ta-ép và Mi-tơ-rô-pha-nốp đã cứu được máy bay mình và còn bắn rơi một chiếc “Mét-xơ-smít”. Anh em ở sân bay hồi hộp theo dõi các đồng chí đến chúc mừng những người anh hùng. Chiến sĩ lái bị thương, còn xạ thủ - điện báo viên Mi-tơ-rô-pha-nốp thì phải khiêng ra. Lúc ấy mới biết đồng chí đã bị thương nặng trước khi bước vào không chiến.
Bạn bè lo lắng biết bao khi theo dõi trận quyết đấu của thượng úy X. I. Pru-xen-cô, chiến sĩ lá của trung đoàn máy bay ném bom 226 cũng thuộc sư đoàn nói trên, với máy bay tiêm kích của địch. Máy bay ném bom của ta đã cơ động khéo léo, né tránh được những đòn tấn công của địch, đồng thời lại đón địch bằng những loạt đạn chính xác. Cuối cùng, máy bay ta về được sân bay. Lúc anh em chạy tới, chiến sĩ lái đã bất tỉnh, mặt đẫm máu, máu rỉ đầy hai mắt. Đồng chí đã làm thế nào để có thể chiến đấu và hạ cánh trong tình trạng như thế?
Tôi có thể dẫn ra rất nhiều thí dụ như vậy. Chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ xô-viết thật vô song. Và đảng viên cộng sản là những người đi đầu trong số những người dũng cảm nhất. Mọi người đều cố vươn lên theo kịp họ trong chiến đấu.
Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đã phát huy được khí phách của chủ nghĩa anh hùng tập thể nên các đơn vị khi rút lui chỉ bị những thiệt hại tương đối nhỏ, thậm chí còn kịp thời mang được hầu như toàn bộ những tài sản quý giá về phía sau. Các tổ chức đảng và chính quyền địa phương đã cố gắng phối hợp chặt chẽ với bộ chỉ huy quân sự trong việc tổ chức sơ tán các thành phố. Công tác sơ tán diễn ra trong điều kiện cực kỳ khó khăn: các tuyến đường sắt thường bị không quân địch bắn phá và quân đổ bộ đường không của chúng phá hoại. Các nhân viên đường sắt đã phát huy cao độ nghị lực và lòng dũng cảm của mình để khôi phục đường và lái tàu dưới làn bom đạn của địch. Các đơn vị bộ đội đường sắt giúp đỡ họ rất tích cực. Các đồng chí địa phương hết lòng khen ngợi các chiến sĩ và cán bộ lữ đoàn đường sắt của đại tá P. A. Ca-ba-nốp. Các tiểu đoàn trong lữ đoàn không chỉ nhanh chóng khôi phục những đoạn đường bị phá hủy, mà còn phải chiến đấu ác liệt với các toán biệt kích địch.