Chiến Tranh Đã Bắt Đầu Như Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Họ Không Chịu Hạ Vũ Khí
Họ Không Chịu Hạ Vũ Khí

❊ ❊ ❊

Sau này, đại tá Da-khơ-va-ta-ép cho tôi biết là đồng chí tìm ra cơ quan tham mưu tập đoàn quân 21 tương đối nhanh và chính đồng chí trao mệnh lệnh của bộ tương lệnh phương diện quân cho trung tướng V. I. Cu-dơ-nê-txốp. Tư lệnh tập đoàn quân nhanh chóng giao nhiệm vụ cho các quân đoàn của đồng chí. Sau khi vượt sông U-đai ở phía Bắc Pi-ri-a-tin, các quân đoàn phải tiến về phía Đông, về hướng giữa Rôm-nư và Lô-khơ-vi-txa. Cu-dơ-nê-txốp cùng cơ quan tham mưu tập đoàn quân quyết định hành quân bằng ngựa theo sau quân đoàn bộ binh 46.

Sáng sớm 18 tháng Chín, đoàn xe của cơ quan chỉ đạo tập đoàn quân đứng đầu là tướng Cu-dơ-nê-txốp, Gô-rơ-đốp và chính ủy sư đoàn X. E. Cô-lô-nin được những đơn vị bộ binh yểm hộ đã bẻ gãy sự kháng cự của bộ binh cơ giới thuộc một sư đoàn xe tăng của Gu-đê-ri-an, và sau khi vượt sông, tiến về Ô-dê-ri-a-nư. Ban ngày, ở khu vực Bê-lô-txéc-cốp-txư, địch lại cản đường ở gần những hẻm sâu, nên các đơn vị buộc phải tổ chức phòng ngự vòng tròn. Tối đến, tư lệnh tập đoàn quân đã dẫn các phân đội xông lên đột phá. Pháo sáng biến đêm thành ngày. Súng máy, súng cối và pháo của địch thi nhau nhả đạn, nhưng cả lần này, anh em vẫn đột phá được.

Trong trận đánh này, Da-khơ-va-ta-ép bị đạn cối hất ngã ngựa. Tỉnh dậy, đồng chí thấy mình đang nằm giữa đống xác người và ngựa. Nghe rõ tiếng chân của binh lính Đức trên cánh đồng. Thỉnh thoảng vang lên những loạt tiểu liên và tiếng người thét: bọn phát-xít bắn chết những chiến sĩ bị thương. Chúng tưởng đại tá đã chết, nhờ vậy đồng chí đã thoát được. Khi bọn địch bỏ đi, đồng chí thu hết sức mình, khập khiễng đi về phía Đông và chẳng bao lâu gặp được thượng úy Tsa-ép, tiểu đoàn trưởng cao xạ, và một chiến sĩ thuộc đại đội kỵ binh bảo vệ cơ quan tham mưu tập đoàn quân. Trải qua nhiều nỗi gian truân, họ mới về được với đồng đội.

Khắc phục mọi khó khăn, trung tướng Cu-dơ-nê-txốp đưa được cụm bộ đội của đồng chí thoát khỏi vòng vây. Đòn đột kích của quân đoàn kỵ binh 2 của tướng P. A. Bê-lốp được tăng cường thêm những lữ đoàn xe tăng lấy trong lực lượng dự bị của Đại bản doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc thoát vây đó. Các chiến sĩ kỵ binh và xe tăng công kích quyết liệt vào Rôm-nư, nơi bộ tham mưu của Gu-đê-ri-an đóng. Gu-đê-ri-an nhớ lại rằng lúc ấy, hắn đứng trên tầng thượng của tòa nhà cao nhất thành phố, tận mắt thấy các chiến sĩ công kích, họ chỉ cách hắn có 800 mét. Viên tướng Đức yếu bóng vía đã cùng bộ tham mưu của hắn bỏ chạy về Cô-nô-tốp.

Tập đoàn quân 5 bị kiệt sức, khi thoát vây gặp khó khăn hơn nhiều. Tướng Pô-ta-pốp không tổ chức được việc rút các đơn vị của tập đoàn quân trên hướng Lô-khơ-vi-txa: địch đánh nống ra quá mạnh. Những binh đội thuộc quân đoàn bộ binh 15 đã bị đẩy lui xuống phía Nam và dưới sự chỉ huy của tướng k. X. Mô-xca-len-cô buộc phải tự lực phá vây. Những binh đội thuộc quân đoàn bộ binh 31 của tướng N. V. Ca-li-nin cố gắng mở đường cho Hội đồng quân sự và cơ quan tham mưu, nhưng họ không thể vượt qua được tuyến phòng ngự mạnh của sư đoàn xe tăng 4 Đức ở gần sông U-đai. Bộ tư lệnh tập đoàn quân buộc phải sáp nhập với thê đội hai của bộ tham mưu phương diện quân lúc ấy đang đóng quân trong khu vực này, rồi cùng đi vòng xuống phía Nam, tới Pi-ri-a-tin.

Rạng sáng 18 tháng chín, khi nhận được lệnh thoát vây, trung tướng Ph. I-a, Cô-xten-cô, tư lệnh tập đoàn quân 26, đã mời các ủy viên Hội đồng quân sự Đ. E. Cô-lê-xni-cốp và V. X. Bu-tư-rin (nguyên bí thư tỉnh ủy Ni-cô-lai-ép Đảng cộng sản (bôn-sê-vích) U-cra-i-na), đại tá I. X. Va-ren-ni-cốp, tham mưu trưởng, đại tá P. X. Xê-mi-ô-nốp, chủ nhiệm pháo binh, chính ủy trung đoàn I. V. Đa-cô-vô-rốt-ni, trưởng phòng chính trị, và trưởng phòng đặc biệt P. V. Va-ti-xơ đến gặp. Sau khi trao đổi ngắn gọn tình hình, Cô-xten-cô hạ quyết tâm; được sự yểm hộ của các đội hậu vệ, bộ đội sẽ rút về sông Oóc-gi-txa và từ tuyến đó tổ chức đột phá tới Lúp-nư, đón quân đoàn kỵ binh 5 của tướng Cam-cốp và lữ đoàn xe tăng thuộc tập đoàn quân 38 đang tiến công từ phía Đông. Ra mệnh lệnh cho các sư đoàn xong, tư lệnh tập đoàn quân cùng với cơ quan tham mưu tiến đến thành phố Oóc-gi-txa, nơi tất cả các đơn vị đang kéo tới. Thị trấn U-cra-i-na bé nhỏ này tràn ngập ô-tô và xe ngựa. Lệnh cho một đội nhỏ của I. I. A-lếch-vây-ép bảo vệ thị trấn, tư lệnh bắt tay vào thành lập cụm quân xung kích. Thiếu phương tiện thông tin liên lạc nên làm việc này rất khó khăn. Hơn nữa, còn phải thường xuyên quan tâm tới những sườn bị hở của tập đoàn quân: từ phía Bắc là các đơn vị của Gu-đê-ri-an đang tiến công, còn từ phía Nam là các binh đội của tập đoàn quân 17 Đức.

Ngày 21 tháng Chín, Cô-xten-cô bắt đầu thực hiện ý định đột phá chính diện cụm xe tăng 1 của Clai-xtơ. Sau khi pháo bắn chuẩn bị, các sư đoàn bắt đầu vượt sông Oóc-gi-txa. Địch chống cự quyết liệt. Bộ chỉ huy phát-xít điều các đơn vị xe tăng tới những nơi các phân đội tiền tiêu đã bám trụ được ở bên tả ngạn. Chiến sĩ ta đón xe tăng địch bằng hỏa lực pháo binh, chai cháy và lựu đạn. Anh em công kích địch hết đợt này đến đợt khác.

Sau này, một chiến sĩ đã tích cực tham gia những trận chiến đấu đó kể lại những tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh 69 của sư đoàn bộ binh 97 (trước kia nằm trong tập đoàn quân 38) đã mấy lần xông tới trận địa địch, nhưng vấp phải hỏa lực mạnh của những xe tăng phát-xít chôn lưng chúng ở mặt đất, nên buộc phải rút lui. Những trận đánh ác liệt như vậy diễn ra trên mọi khu vực.

Trong những cố gắng không đạt được lúc vượt sông, các sư đoàn đã bắn gần hết dạn. Vì không liên lạc được với bộ tham mưu phương diện quân, tướng Cô-xten-cô đã liên lạc với Đại bản doanh và gửi Nguyên soái Sa-pô-sni-cốp bức điện: “Chúng tôi tiếp tục chiến đấu trong vòng vây ở sông Oóc-gi-xta. Mọi cố gắng vượt sông đều không thành. Hết đạn. Đề nghị cho không quân chi viện”.

Nguyên soái Sa-pô-sni-cốp ra lệnh thả đạn xuống khu vực hoạt động của tập đoàn quân Cô-xten-cô. Thấy tập đoàn quân không tới được Lúp-nư, ngày 22 tháng Chín, Sa-pô-sni-cốp thông báo cho tư lệnh tập đoàn quân biết là Kiếc-pô-nô-xơ, Pô-ta-pốp và Cu-dơ-nê-txốp đang tiến quân đón quân đoàn kỵ binh của Bê-lốp trên hướng đi Lô-khơ-vi-txa, nên yêu cầu tư lệnh cũng quay về Đông – Bắc và tiến theo các đơn vị nói trên.

Ngày 22 tháng Chí, hồi 9 giờ tối, Cô-xten-cô quyết định thử vượt sông một lần nữa. Nhưng không kịp: thiếu tá A. C. Bla-giây, phó trưởng phòng tác chiến tập đoàn quân, báo cáo bọn Đức đã đột nhập ngoại vi phía Đông Oóc-gi-txa và đốt cháy thị trấn. tiếp tục chờ đợi thì chẳng khác gì tự sát. Cô-xten-cô cho gọi lữ đoàn trưởng A. B. Bô-ri-xốp. Cụm kỵ binh của đồng chí đóng ở gần đấy, hiện thuộc biên chế của tập đoàn quân 26.

Bô-ri-xốp được lệnh tập kích vào quân địch đã đột phá. Khi kỵ binh của Bô-ri-xốp tiến lên công kích địch thì trận đánh đã phát triển tới gần cơ quan tham mưu tập đoàn quân.

Xách khẩu tiểu liên, gài lựu đạn vào các túi, Cô-xten-cô nói với các sĩ quan tham mưu của mình:

– Đi thôi, các đồng chí!

Các sĩ quan tiến theo kỵ binh tới đập nước, rồi chuyển sang bờ bên kia. Bô-ri-xốp đã để ngựa chờ sẵn tại đây. Cơ quan tham mưu của Cô-xten-cô vốn trước là cơ quan tham mưu của binh đoàn kỵ binh nên chủ yếu gồm những kỵ sĩ giàu kinh nghiệm. Sau khi lên ngựa, ai nấy tươi tỉnh hẳn lên. Kỵ mã trên mình con tuấn mã – đó là một sức mạnh! Cùng với các chiến sĩ kỵ binh của Bô-ri-xốp và những đơn vị khác, cơ quan tham mưu tập đoàn quân vừa chiến đấu liên tục, vừa tiến về phía trước. Họ buộc phải vượt sông mấy lần. Ban đêm, tại bờ Đông sông Xu-la, anh em vấp phải trận địa hỏa lực của khẩu đội súng cối Đức được các phân đội bộ binh yểm hộ. Trận đánh nổ ra. Hai lần kỵ binh xô-viết công kích không có kết quả. Lần thứ ba. Thắng lợi!

Đến tháng Mười, tư lệnh tập đoàn quân 26 cùng các chiến sĩ còn lại chiến đấu thoát vây trong dải hành động của quân đoàn kỵ binh 5. Một thời gian sau đó, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy rớt lại sau của tập đoàn quân vẫn tiếp tục lọt qua chiến tuyến theo từng nhóm nhỏ, thậm chí từng người. Ủy viên Hội đồng quân sự tập đoàn quân là chính ủy lữ đoàn Đ. E. Cô-lê-xni-cốp, trưởng phòng chính trị là chính ủy trung đoàn I. V. Da-cô-vô-rốt-ni cùng nhiều cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị khác cũng thoát khỏi vòng vây một cách an toàn. Một số chiến sĩ và sĩ quan trước khi trở về với đồng đội đã phải đi bộ hàng trăm ki-lô-mét ở sau lưng địch. Một nhóm như thế đứng đầu là chính trị viên M. t. Ta-ran đã vượt chặng đường 600 ki-lô-mét về với đồng đội, mang theo đầy đủ vũ khí, tài liệu và huân chương. Trong nhóm có cả nữ quân y sĩ thuộc trung đoàn bộ binh 169 là A. A. Mát-vi-en-cô. Chị dũng cảm chịu đựng mọi nỗi khó nhọc khi hành quân không kém gì nam giới.

Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tập đoàn quân 37 – những người trực tiếp bảo vệ Ki-ép phải chịu những thử thách nặng nề. Qua nghiên cứu những văn kiện hồi đó và nói chuyện với những người đã từng tham gia chiến đấu, tôi có thể theo dõi khái quát những gì đã xảy ra ở tập đoàn quân 37 sau khi nhận được mệnh lệnh bỏ Ki-ép với một tình thế khó khăn.

Đầu trung tuần tháng Chín, những binh đoàn sườn phải của tập đoàn quân 37 bị địch đánh vu hồi từ phía Đông – Bắc, phải giành giật từng ki-lô-mét ở phía Bắc thị trấn Xê-mi-pôn-ca và từ phía Nam thị trấn êm đềm Ô-xti-ô-rơ. Trong trận đánh chiếm Cô-dê-lét, sư đoàn bộ binh 41 đã hai lần đánh bật những đơn vị phát-xít ra khỏi thị trấn. Khi địch đột nhập thị trấn lần thứ ba thì sư đoàn trưởng Gh. N. Mi-cu-sép, người mà bạn đọc đã biết qua những trận chiến đấu ở biên giới, đã chỉ huy đơn vị tiến lên phản kích. Đồng chí bị hy sinh. Các đơn vị lại bị địch tập kích mạnh và, có lẽ, sẽ không đứng vững nổi nếu sư đoàn của đại tá X. C. Pô-tê-khin từ Ki-ép không đến kịp. Nhờ những đợt phản kích quyết liệt của hai binh đoàn, địch đã bị kìm chân hai ngày đêm.

Nhưng đến ngày 16 tháng Chín, chiến tuyến lại bị dao động. Cánh quân xung kích của tập đoàn quân dã chiến 6 Đức ra sức đột phá tới Ki-ép từ phía Đông – Bắc và chiếm các bến vượt sông Đni-ép-rơ. Ban lãnh đạo bộ tham mưu bảo vệ thành phố đề nghị tư lệnh tập đoàn quân 37 tăng cường cho các đơn vị yểm hộ hướng quan trọng nhất này, nhưng tư lệnh cho biết là đồng chí không còn lực lượng dự bị. Tinh thần chủ động của ban lãnh đạo bộ tham mưu bảo vệ thành phố đã cứu vãn được tình thế. Các đồng chí điều tới đây một bộ phận lực lượng của sư đoàn 4 thuộc Bộ dân ủy nội vụ, một đội dân quân của nhà máy “Ác-xê-nan” và 300 thủy binh của giang đội Đni-ép-rơ thuộc giang đoàn Pin-xcơ, với nhiệm vụ xây dựng tuyến phòng ngự ở các cửa ngõ dẫn tới các cầu của Ki-ép. Nhưng binh đội bên sườn phải của tập đoàn quân 37 bị địch đẩy lui nhưng được sự chi viện kịp thời của những lực lượng do ủy ban bảo vệ thành phố điều tới, nên ngày 16 tháng Chín đã bám trụ được tuyến này và chặn đứng quân địch

Những phân đội thuộc trung đoàn 227 của sư đoàn thuộc Bộ dân ủy nội vụ dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Va-ghin đã chiến đấu rất dũng cảm trong ngày hôm ấy. Các đồng chí tổ chức phản kích quyết liệt, không những đã đánh lui được trung đoàn địch, mà còn thu được lá cờ hiệu của chúng.

Bọn Hít-le nã pháo và dội bom đạn xuống các đơn vị ta, ném bộ binh và xe tăng vào tiến công. Chúng đã mấy lần giở trò tâm lý trên toàn chính diện, ưỡn thẳng người, giọng say mềm, la hét om sòm. Chiến sĩ ta đợi chúng đến gần chiến hào rồi mới xông lên đánh bằng lưỡi lê. Bọn phát-xít không chịu nổi trận đánh giáp lá cà. Số sống sót tháo chạy tán loạn.

Tại địa đoạn của một trung đoàn ta, bọn Hít-le lọt được vào trận địa hỏa lực của pháo binh. Anh em dùng đạn chứa bi bắn thẳng. Ở một địa đoạn khác, bọn phát-xít tiến tới hào chống tăng. Hạ sĩ Ê-phi-mô-tsơ-kin bắn súng máy, đã kéo súng ra khỏi ụ súng bị phá sập một nửa, đặt ngay trên bờ hào để bắn. Đồng chí không ngừng nhả đạn ngay khi bị một khẩu cối địch đang câu tới. Chính trị viên đại đội Xlê-xa-rép, đoàn viên thanh niên cộng sản – hạ sĩ A-ri-xtác-khốp, các binh nhì Bô-ca-nốp, Dơ-vê-rép, Cơ-ni-a-dép và nhiều anh em khác đã chiến đấu xuất sắc trong trận này.

Chừng nào bọn phát-xít chưa bị đánh bật thì anh em thương binh vẫn không rời trận địa. Trung úy Xi-in trong trận đánh giáp lá cà bị thương hai lần, nhưng vẫn không rời đại đội. Sau đợt công kích tiếp theo của địch bị bẻ gẫy, anh em mới buộc được đại đội trưởng về trạm quân y.

Các chiến sĩ phòng ngự thiếu pháo chống tăng và đạn xuyên thép. Trong trận đánh ở gần Cra-xi-lốp-ca, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đại đội 3 của trung đoàn 227, lấy thân mình chặn xe bọc thép địch.

Các chiến sĩ xô-viết đã chiến đấu như thế đó. Những con người bảo vệ Ki-ép không hề có ý nghĩ là họ phải bỏ lại thành phố. Khi các đơn vị phát-xít đã vượt xa về phía Đông thành phố rồi, tờ “Pra-vđa U-cra-i-na” ngày 17 tháng Chín tả lại khí thế của họ, đã viết: “Ki-ép đã và mãi mãi sẽ là của Đất nước xô-viết!”.

Thậm chí trong tình hình nghiêm trọng đó, thủ đô U-cra-i-na vẫn sống cuộc sống bình thường của một thành phố ngoài mặt trận. Không thấy một dấu hiệu hoảng loạn, dù là rất nhỏ. Các xí nghiệp không sơ tán vẫn tiếp tục hoạt động. Nhân dân làm việc với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến!”.

Bộ đội nhận được lệnh bỏ Ki-ép qua điện đài ngày 18 tháng Chín. Bộ tư lệnh tập đoàn quân được chỉ rõ hướng chung để rút bộ đội tập đoàn quân và được thông báo hết sức ngắn gọn về hành động của những tập đoàn quân bạn. Khi đó, chấp hành mệnh lệnh này còn khó hơn là phòng ngự thành phố. Phải vượt qua hàng trăm ki-lô-mét qua vùng địch chiếm. Hơn nữa, do rút quân vội vã, nên tư lệnh tập đoàn quân khó tránh khỏi nhiều sai sót. Thí dụ, đồng chí đã quyết định cho tập đoàn quân đi dọc theo những tuyến đường bộ và đường sắt chính từ Ki-ép đến Pi-r-a-tin. Bộ chỉ huy cụm các tập đoàn quân “Nam” của phát-xít Đức đã nhằm chính vào đó và cố cắt trước những con đường nói trên ở khu vực I-a-gô-tin, nhà ga Bê-rê-đan. Đáng tiếc là cơ quan tham mưu tập đoàn quân không biết rằng ở đấy đang có một cánh quân địch rất lớn.

Những sư đoàn bộ binh phòng ngự bên hữu ngạn sông Đni-ép-rơ, ở khu vực cố thủ Ki-ép, phải rút trước nhất. khi trận địa sau cùng là những tiểu đoàn súng máy của các đơn vị đồn trú ở đây. Sau khi những đơn vị phòng ngự khu vực cố thủ Ki-ép rút qua Bô-rít-pôn thì những đơn vị chiến đấu ở cửa ngõ các cầu qua sông Đni-ép-rơ sẽ rút theo.

Đội hậu vệ gồm sư đoàn bộ binh 87 do đại tá N. I. Va-xi-li-ép chỉ huy và sư đoàn 4 của Bộ dân ủy nội vụ do đại tá Ph. M. Ma-gi-rin chỉ huy.

Đêm rạng ngày 19 tháng Chín, bộ đội lên đường. Đội cảnh giới đầu tiên của địch ở khu vực Bô-rít-pôn bị đánh bại. Đoàn quân tiến về phía Đông.

Còn các sĩ quan trong cơ quan tham mưu và phòng chính trị của khu vực cố thủ lúc này đến khắp các hỏa điểm cố định. Mỗi người chịnh trách nhiệm về một địa đoạn nhất đinh. Các đội bảo vệ hỏa điểm rút lui bí mật. Khi trên trận địa không còn một bóng người thì vang lên những tiếng nổ: công binh đã phá hủy những công trình phòng ngự.

Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đi trên đường phố Ki-ép, cúi đầu và bất giác dừng chân. Thật đau xót khi phải rời thành phố mà mọi người đã chiến đấu quên mình hơn hai tháng nay.

Không thể chê trách những chiến sĩ bảo vệ Ki-ép một điều gì. Họ đã hoàn thành nghĩa vụ. Ki-ép không hề bị khuất phục. Kẻ địch không thể chiếm được Ki-ép bằng những trận đánh công khai. Chỉ do tình hình không thuận lợi đối với bộ đội phương diện quân Tây – Nam, theo mệnh lệnh của Đại bản doanh, các chiến sĩ chúng ta mới rời bỏ thành phố với bao thân thương và vững tin nhất định sẽ trở về. Ki-ép đã và mãi mãi sẽ là của Đất nước xô-viết!

Nhiệm vụ phá các cầu qua sông Đni-ép-rơ được trao cho sư đoàn trưởng sư đoàn 4 của Bộ dân ủy nội vụ Ph. M. Ma-gi-rin, theo cách nói của bộ trưởng Bộ dân ủy nội vụ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết U-cra-i-na V. I. Xéc-ghi-en-cô thì đồng chí là “chỉ huy trưởng cuối cùng của Ki-ép”.

Ngày 19 tháng Chín, bầu trời u ám. Từng đụn khói cuộn trên nền trời Ki-ép. Các cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị cùng những đại diện các tổ chức của thành phố đến khắp các cửa hiệu và nhà kho. Các cửa ra vào được mở toang để dân chúng có thể lấy đi những hàng dự trữ cần thiết.

Khoảng 11 giờ trưa, bọn Đức mới biết bộ đội ta rút quân. Chúng bắn phá dã man các vùng ngoại vi Tây – Nam thành phố và sau đó mới dám tiến lên. Những binh đội hậu vệ của tập đoàn quân cầm cự với cuộc tiến công của địch rất vất vả. Địch nã pháo dữ dội vào cầu. Những đơn vị ta bảo vệ các bến vượt sông tuy bị tổn thất nhưng vẫn dũng cảm tiếp tục làm nghĩa vụ của mình cho những đơn vị rút lui đi qua.

Một trong những biện pháp quan trọng nhất nhằm tổ chức sơ tán Ki-ép là kịp thời cho phá sập các cầu qua sông Đni-ép-rơ. Công binh tập đoàn quân 37, với sự tham gia trực tiếp của bộ tư lệnh sư đoàn 4 Bộ dân ủy nội vụ, đã chuẩn bị xong việc phá cầu ngay từ những ngày đầu tháng Chín.

Đến chiều, khi bến hữu ngạn xuất hiện những đơn vị tiền tiêu của địch thì tín hiệu được phát. Tướng Ma-gi-rin kể lại là đồng chí đứng trên đài quan sát của mình tháy rõ một cột lửa và khói trùm lên chiếc cầu mang tên G. I. Pê-tơ-rốp-xki có đường sắt chạy qua. Những giàn cầu ở giữa gục xuống lòng sông. Chiếc cầu mang tên E. Bô-sơ cũng nổ tung. Chiếc cầu gỗ Na-vốt-nít-xki là một chiếc cầu giữ vị trí trung tâm, và những lực lượng chủ yếu của các đơn vị hậu vệ rút qua đó. Kỹ sư quân sự bậc 3 A. A. Phin-ken-stai-nơ, chịu trách nhiệm phá hủy chiếc cầu này, đã đợi đến giây phút cuối cùng, cho đến lúc nhóm chiến sĩ bị tụt lại sau cùng qua khỏi cầu. Tới khi lính mô-tô địch lao tới bờ sông và điên cuồng xả súng máy, kỹ sư mới phát tín hiệu. Chiếc cầu gỗ được tưới đẫm hắc in và xăng bùng lên. Các chiến sĩ bảo vệ bên hữu ngạn mới rút qua những tấm ván gỗ lát mặt cầu đã bốc cháy. Bọn lính tiểu liên phát-xít đuổi theo. Anh em công binh đợi đúng lúc các chiếc sĩ ta qua hết mới cho nổ mìn đã đặt sẵn vào chân cầu. Chiếc cầu ngùn ngụt lửa sụp xuống dòng Đni-ép-rơ, chôn vùi theo binh lính địch. Hầu như cùng lúc đó vang lên tiếng nổi ở chiếc cầu phía cực Nam, cầu Đa-rơ-nít-xa. Bọn phát-xít điên cuồng cố vượt sông trong hành tiến. Hỏa lực súng máy chính xác từ bên tả ngạn bắn ra hất chúng lại.

Ma-gi-rin liên lạc với sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 87 để phối hợp các hành động tiếp theo. Những đơn vị hậu vệ được lệnh cố thủ cho đến tối, sau đó sẽ rút về hướng đi Bô-rít-pôn.

Sáng sớm 20 tháng Chín, cả binh đoàn đều tới phía Đông khu rừng Đa-rơ-nít-xa. Từ phía chân trời, mặt trời nhô lên chọc thủng màn sương, rọi chiếu thành phố nổi lên màu thẫm ở phía xa. Đó là Bô-rít-pôn. Trên đường tới thành phố, từng đoàn không ngớt ô-tô, xe ngựa, người tản cư đeo bị, đẩy xe cút-kít chất đầy đồ đạc. Ma-gi-rin phái đến Bô-rít-pôn một đội nhỏ, với một đài vô tuyến điện, do thiếu tá Đê-đốp phụ trách. Đồng chí được lệnh tìm cơ quan tham mưu tập đoàn quân ở phía sau Bô-rít-pôn và xác định hướng hành quân tiếp theo. Khoảng một nửa tiếng sau, Đê-đốp cho biết là xe tăng địch đã đột nhập thành phố và đồng chí đã bước vào chiến đấu với chúng. Thế là con đường chạy qua Bô-rít-pôn đã bị cắt.

Chúng tôi được biết những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 37 ở khu vực Ba-rư-sép-ca bị cắt làm hai bộ phận. Bộ phận lớn bị cụm quân địch ở I-a-gô-tin chặn lại trên sông Xư-pôi, những binh đoàn còn lại - ở phía Tây Ba-rư-sép-ca, bên sông Tơ-ru-bê-giơ. Các đơn vị của ta đang công kích địch. Nhưng ở bên bờ Đông cả hai con sông, bọn Hít-le đều đã bố trí xe tăng chôn lưng chừng ở mặt đất. Đột phá tuyến phòng ngự như vậy mà không có lực lượng pháo lớn, quả không phải là chuyện dễ. Bộ đội ta công kích hết đợt này đến dợt khác. Sau những trận chiến đấu ác liệt, một bộ phận thuộc tập đoàn quân 37 đã vượt được sông Tơ-ru-bê-giơ vào đêm rạng ngày 22 tháng Chín và chọc thủng vòng vây. Cuộc công kích quyết liệt đó do thứ trưởng Bộ dân ủy nội vụ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết U-cra-i-na T. A. Xtơ-rô-cát lãnh đạo. Đồng chí cùng với một số tướng lĩnh và sĩ quan trong giờ phút quyết định đã đi ở hàng đầu. Các đại tá Xô-cô-lốp, Cô-xa-rép và nhiều cán bộ chỉ huy khác đã ngã xuống như những người anh hùng. Nhưng họ đã hoàn thành nhiệm vụ. Đội cảnh giới của địch bị diệt tan. Phần lớn bộ đội của cụm này đã trở về với đồng đội. Trung đoàn trưởng trung đoàn 56 thuộc sư đoàn 4 Bộ dân ủy nội vụ là đại tá Ma-du-ren-cô cùng các chiến sĩ của mình nhập vào đội du kích của Cốp-pắc.

Còn những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân bị vây ở khu vực ga Bê-rê-đan và khu rừng phía Nam nhà ga vẫn tiếp tục chiến đấu ác liệt. Tướng C. I. Đô-brô-xéc-đốp, tham mưu trưởng tập đoàn quân, nhận quyền chỉ huy. Bọn phát-xít yêu cầu số người vây hạ vũ khí. Các chiến sĩ và chỉ huy của chúng ta đáp lại bằng những đợt công kích mới.

Sau khi tập hợp những đơn vị có khả năng chiến đấu nhất, đại tá M. Ph. Oóc-lốp, thiếu tá V. X. Bla-gi-ép-xki và những cán bộ chỉ huy khác vào rạng ngày 23 tháng Chín đã tập kích bất ngờ chọc thủng vòng vây và không tiến về phía Đông như kẻ địch mong đợi mà chuyển xuống phía Nam. Một số nhóm khác cũng thoát vây. Song, một bộ phận đáng kể lực lượng của ta, sau những trận công kích quyết liệt đã gần hết đạn, phải ẩn sâu trong rừng. Bọn Hít-le cố mò tới đó mấy lần, nhưng đều bị đánh bật ra và thiệt hại lớn.

Đến cuối tháng Chín, trên bản đồ bộ tổng tham mưu Đức không còn ghi dấu khu vực bao vây những lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân 37 nữa: chắc chúng cho rằng anh em ta ở đó đã bị chết đói hết. Phần lớn lực lượng địch phong tỏa khu rừng được điều sang tiến công về phía Đông. Anh em bị vây lợi dụng vòng vây của địch đã thưa thớt nhiều và từng nhóm lẻ bắt đầu thoát ra, người đi sang phía Đông, qua tuyến mặt trận, người đi về các khu rừng ngoại vi, rồi trở thành hạt nhân của vô vàn đội du kích sau này.

Đội hậu vệ của tập đoàn quân bị cắt khỏi những lực lượng chủ yếu ở khu vực Bô-rít-pôn, đã kiên trì đánh mở đường. Ngày 24 tháng Chín, cả hai sư đoàn đều tới khu vực Rô-gô-dốp. Trận đánh với bọn Hít-le ẩn nấp ở đó bắt đầu. Những trận công kích đầu tiên của ta không đạt kết quả. Khi mặt trời khuất bóng, trinh sát ta phát hiện thấy những lực lượng lớn của địch từ Pê-rê-i-a-xláp tiếp cận tới. Các đơn vị ta bị kẹp giữa hai gọng kìm hỏa lực, cấp tốc chuyển sang phòng ngự, đào hào và bố trí hệ thống hỏa lực. Trận chiến đấu nổ ra vào ban đêm. Bọn Hít-le ném bộ binh có xe tăng yểm hộ vào công kích. Nhằm tiết kiệm đạn, các chiến sĩ không vội bắn. Thỉnh thoảng mới có tiếng nổ của pháo từ phía họ. Mỗi viên đạn đều được tín toán cẩn thận, và pháo binh chỉ bắn thật chắc, không phát nào trượt. Xe tăng địch bốc cháy sáng rực cả một vùng xung quanh. Khi địch tới gần chiến hào, chính ủy sư đoàn 4 Bộ dân ủy nội vụ Cô-nô-va-lốp xông lên trước, hô to “Vì Tổ quốc!”. Bên cạnh đồng chí là chinh trị viên Lê-li-úc. Như có một luồng điện chạy qua chiến hào. Các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy theo sát chính ủy, lao nhanh như con lốc. Đợt tiến công diễn ra ác liệt. Bọn phát-xít phải tháo chạy.

Địch cho rằng các đơn vị của ta sẽ đột phá về hướng Đông. Nhưng bộ chỉ huy đội hậu vệ của tập đoàn quân, theo đề nghị của đại tá Ma-gi-rin, quyết định bí mật rút bộ đội sang phía Tây, đến những khu rừng gần sông Đni-ép-rơ để chấn chỉnh lại và chuẩn bị đón những trận chiến đấu ác liệt mới.

Rạng sáng ngày 25 tháng Chín, những đơn vị tiều tiên của đội hậu vệ tiến vào Xta-rô-ê Xê-lô. Trinh sát báo cáo với thiếu tá Va-ghin, trung đoàn trưởng, rằng có một đoàn quân Hít-le đang tiến về từ Pê-rê-i-a-xláp đến. Thiếu tá nhanh chóng tổ chức mai phục. Giữa lúc bọn phát-xít khinh suất đi đều bước trên con đường rừng thì pháo và súng máy từ bốn phía nã vào chúng. Địch hoảng loạn. Các chiến sĩ nấp trong những bụi rậm xông ra, làm nốt nhiệm vụ diệt tan quân địch. Ta thu được hàng chục ô-tô với quân dụng. Trong số chiến lợi phẩm có cả lá cờ của trung đoàn địch bị tiêu diệt.

Những trận đánh ác liệt diễn ra trên khắp các nẻo đường bọn địch cố chặn bộ đội xô-viết.

Đến tối, tất cả các binh đội của đội hậu vệ tập đoàn quân tới được những khu rừng gần sông Đni-ép-rơ thì vấp phải những bãi cát dày đặc. Ô-tô bị trượt bánh ngốn hết những giọt xăng cuối cùng. Họ dùng ngựa và xe tải của nhà máy đường, chở thương binh, đạn dược, lương thực và chỉ để lại mấy chiếc ô-tô để chở pháo và súng cối, số còn lại phải phá đi. Trinh sát còn phát hiện thấy một trại tù binh mới được gấp rút xây dựng. Những phân đội tiền tiêu tiến lên công kích quyết liệt, diệt bọn giặc và giải phóng được cho các chiến sĩ Hồng quân bị địch bắt. Chập tối, anh em tới một khu đầm lầy lớn. Giữa dầm có một bãi đất, rừng cây um tùm. Chiến sĩ công binh lát gỗ. Các đơn vị tiến vào bãi, bố trí phòng ngự vòng tròn. Quân số đội bảo vệ “pháo đài trên đầm lầy” không ngừng gia tăng, bao gồm anh em công binh đã phá các cầu qua sông Đni-ép-rơ, những phân đội thuộc khu vực cố thủ Ki-ép – những người rút lui cuối cùng, anh em thủy binh giang đoàn, nhân viên đường sắt nhà ga Ki-ép lần lượt kéo tới đây.

Bọn phát-xít tiến công bãi đất mấy lần, nhưng vẫn không chiếm được. Tháng Mười đã tới. Anh em chiến sĩ chỉ có quần áo mùa hè bị thấm lạnh. Đạn dược đã cạn. Trinh sát cho biết bọn Hít-le đang chuẩn bị một đợt tiến công mới. Các đồng chí quyết định vượt qua địch. Đêm rạng ngày 5 tháng Mười, các đơn vị rời khỏi bãi, triển khai thành hàng dọc, đi trong im lặng. Anh em pháo binh dùng tay kéo pháo. Trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở làng Đê-vích-ki. Địch đón các chiến sĩ xung kích bằng những đợt pháo và súng máy dồn đập. Nhưng không gì có thể ngăn được chiến sĩ ta. Mọi người vẫn đi, cố gắng nhanh chóng tiếp cận địch. Anh em pháo binh đi ở hàng đầu và bắn chính xác vào các hỏa điểm của địch.

Khắp nơi diễn ra những trận đánh giáp lá cà. Vòng vây bị chọc thủng. Anh em định tiếp tục tiến theo từng phân đội nhỏ, cố tránh những trận đánh, vì đạn pháo và đạn súng trường đã cạn. Đường đi đằng đẵng và hết sức gian truân. Nhiều người bị hy sinh. Nhưng phần lớn chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đã vượt qua được mọi trở ngại.

Hội đồng quân sự và bộ tham mưu phương diện quân lên đường vào rạng ngày 18 tháng Chín. Các đồng chí quyết định đi xuyên qua Lô-khơ-vi-txa. Để cơ động được dễ dàng hơn, ban chỉ đạo tác chiến của phương diện quân chia làm hai thê đội. Tôi thuộc thê đội thứ nhất, trong đó có Hội đồng quân sự, bộ phận chủ yếu của bộ tham mưu, cục chính trị, chủ nhiệm các binh chủng và chủ nhiệm các ngành. Từ làng Véc-khô-i-a-tốp-ca, chúng tôi đi về hướng Pi-ri-a-tin, nơi có chiếc cầu bắc qua sông U-đai. Nửa đêm về sáng, chúng tôi tới sông. Không quân địch tập kích bến, khó khăn lắm chúng tôi mới giữ được đội hình. Sang sông, đoàn bộ tham mưu được các binh đội của sư đoàn bộ binh 289 do đại tá Đ. Ph. Mác-sa-nốp chỉ huy yểm hộ, đi qua Pi-ri-a-tin và hướng tới điểm dân cư Tséc-nu-kha. Nhưng trước lúc rạng đông, đoàn chúng tôi bị xe tăng Đức tập kích từ hướng Bắc và bị cắt rời khỏi các phân đội bộ binh. Chúng tôi buộc phải đổi hướng đi, ngoặt vào đường làng chạy dọc theo tả ngạn sông U-đai. Chúng tôi hành quân dưới mưa bom và pháo địch. Nhiều lần, bọn phát-xít cố hất chúng tôi xuống sông, nhưng đều không thành công. Ở đây, chúng tôi bị mất nhiều ô-tô: một số bị bom đạn phá hủy và một số do chúng tôi tự loại để đội ngũ gọn nhẹ và có khả năng chiến đấu cao hơn.

Sáng 19 tháng Chín, chúng tôi tới làng Gô-rô-đi-si, nơi hợp lưu giữa sông U-đai và sông Mơ-nô-ga. Tư lệnh phương diện quân ra lệnh dừng chân để chấn chỉnh đội ngũ, tìm hiểu tình hình và lập kế hoạch hành động tiếp theo. Tại làng này, đoàn quân của cơ quan tham mưu tập đoàn quân 5 được bộ phận còn lại của quân đoàn bộ binh 31 dưới quyền tướng Ca-li-nin, yểm hộ, đã hợp nhất với chúng tôi.

Chúng tôi điểm lại lực lượng. Lúc này chỉ còn khoảng gần ba nghìn người, sáu xe bọc thép của trung đoàn bảo vệ và mấy khẩu súng máy cao xạ. Máy bay địch không để chúng tôi yên. Rất may là tổn thất không đáng kể. Đáng buồn nhất là điện đài bị bom địch phá hỏng. Sợi chỉ cuối cùng nối chúng tôi với các tập đoàn quân và bộ tham mưu của tổng tư lệnh không còn nữa.

Kiếc-pô-nô-xơ triệu tập các cán bộ lãnh đạo đang có mặt ở Gô-rô-đi-si trong một căn nhà nhỏ. Tướng Tu-pi-cốp báo cáo tình hình. Địch bao quanh bốn phía. Dọc bờ Nam sông U-đai, nơi chúng tôi đang đóng ở cửa sông, bọn Đức đang củng cố tuyến phòng ngự về phía Bắc; còn bờ Đông sông Mơ-nô-ga đã bị những đơn vị xe tăng và cơ giới của Gu-đê-ri-an chiếm; phía Bắc và Tây - Bắc chúng tôi, tất cả những điểm dân cư lớn cũng đã lọt vào tay địch.

Nghe xong thông báo không vui đó, không ai nói gì. Kiếc-pô-nô-xơ phá vỡ bầu không khí im lặng:

– Có một điều rõ ràng là phá vây. Chỉ còn phải xác định là đi theo hướng nào.

Bây giờ, tôi không nhớ rõ là ai trong lúc đó đã đề nghị đêm tối sẽ vượt sông Mơ-nô-ga ở gần Gô-rô-đi-si và trong đêm ấy sẽ tới Lô-khơ-vi-txa. Tướng Tu-pi-cốp phản đối kịch liệt:

– Chính bọn Đức đang mong chúng ta như vậy. Chắc chắn chúng sẽ phục kích ở bến cầu. Theo ý tôi, chúng ta cần đi dọc bờ sông lên phía trên và vượt sông ở Tséc-nu-khi, cách đây 12 ki-lô-mét về phía Tây – Bắc.

Tướng Pô-ta-pốp ủng hộ Tu-pi-cốp:

– Chúng ta tin chắc rằng bọn Đức không bỏ qua một chiếc cầu nào bắc qua sông. Đột phá ở Tséc-nu-khi còn lợi thế ở chỗ nó bất ngờ với địch. Hơn nữa, ở đấy còn có những chỗ lội qua được, nên không cần phải chiếm cầu.

Mọi người nhất trí với đề nghị. Chúng tôi quyết định thành lập ba cụm chiến đấu: cụm đi đầu có nhiệm vụ dọn đường cho đoàn bộ tham mưu phương diện quân, và hai cụm bên sườn. Cụm đi đầu do tướng M. I. Pô-ta-pốp chỉ huy. Tôi được lệnh chỉ huy đại đội của Bộ dân ủy nội vụ với nhiệm vụ yểm hộ cho toàn bộ đoàn quân chúng tôi ở phía sau.

… Tôi sắp xếp hàng ngũ đội quân của mình. Một trăm năm mươi chàng trai hùng dũng, đĩnh đạc. Có lẽ, tôi là người may mắn nhất, vì đội của mình thực sự có khả năng chiến đấu. Tôi cũng lấy phần lớn sĩ quan của phòng để thành lập tổ chỉ đạo tác chiến.

Lặng lẽ đi vòng hàng quân, tôi ngắm nhìn khuôn mặt các chiến sĩ và cán bộ. Ai cũng mệt mỏi, giá mà mọi người được nghỉ ngơi dù chỉ một chốc lát. Nhưng không còn thời gian. Tôi giải thích nhiệm vụ, báo trước với anh em là sẽ có nhiều khó khăn, và nói:

– Tôi tin rằng mỗi chúng ta sẽ không làm hổ thẹn danh dự của người chiến sĩ xô-viết.

Khi tôi ngừng mời, một chiến sĩ trẻ đứng đối diện, đầu quấn băng đã sạm đen, lên tiếng:

– Thưa thiếu tướng, xin đồng chí yên tâm, chúng tôi sẽ không phụ lòng đồng chí.

Hàng quân vang lên tiếng hô tán thành. Vừa lúc đó, sĩ quan tùy tùng của tướng Kiếc-pô-nô-xơ chạy lại: tư lệnh cho gọi tôi.

Lệnh cho anh em giải tán và chuẩn bị cho trận chiến đấu sắp tới, tôi vội đến giữa làng. Kiếc-pô-nô-xơ, Buốc-mi-xten-cô, Rư-cốp và Tu-pi-cốp đang đứng cùng các tướng lĩnh và sĩ quan khác. Buốc-mi-xten-cô đang bình tĩnh, nhỏ nhẻ nói điều gì đó. Khó mà tin rằng cuộc nói chuyện đang diễn ra đúng trong tầm súng của địch. Sự trầm tĩnh và vững tin này chính là nét tiêu biểu của Buốc-mi-xten-cô, người con vinh quang của nhân dân U-cra-i-na. Tới gần, tôi nghe rõ đồng chí nói:

– Các đồng chí ạ, cái chính là phải bình tĩnh. Không có khó khăn nguy hiểm nào mà chúng ta không khắc phục nổi. Đảng viên cộng sản phải nêu gương hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

Tôi báo cáo trình diện tư lệnh theo lệnh của đồng chí.

– Đồng chí Ba-gra-mi-an, - Kiếc-pô-nô-xơ nói vội, khác hẳn với thường ngày. – Một đơn vị lớn mô-tô Đức xuất phát từ Mê-lê-kha, sau khi vượt sông Mơ-nô-ga, chúng đã hất các phân đội của ta ra khỏi các điểm cao này, - tư lệnh chỉ dãy đồi cách chúng tôi một ki-lô-mét về phía Đông, - và một lát nữa có thể sẽ đột phá tới đây. Đồng chí hãy triển khai ngay đơn vị của mình và công kích địch. Nhiệm vụ của đồng chí là giành lại dãy điểm cao đó, chiến đấu và tiến tới Xen-tsa. Hãy thi hành mệnh lệnh.

Thế là mọi việc đều thay đổi. Chúng tôi sẽ thọc tới Xen-tsa, mà thê đội một lại là đội của tôi… tôi nhớ lại cảnh hôm qua, khi bọn phát-xít tập kích đã đẩy lui quân của bộ tham mưu phương diện quân tách khỏi những đơn vị thuộc sư đoàn bộ binh 289 đi trước chúng tôi. Sợ rằng hôm nay cũng diễn ra như vậy, nên tôi nói nếu đội tôi công kích có kết quả thì những lực lượng chủ yếu tốt nhất là nên bám sát chúng tôi. Tư lệnh số ruột vung tay:

– Được rồi, đi thôi, đồng chí Ba-gra-mi-an.

Tôi thấy chưa bao giờ tư lệnh mệt mỏi và đau khổ như lúc này.

Tôi chạy về đội của mình. Sau khi xếp hàng bộ đội và giải thích nhiệm vụ chiến đấu mới, tôi dẫn anh em đi gấp ra ngoài rìa làng. Đến quãng có nhiều bụi rậm, chúng tôi triển khai thành hàng ngang. Bọn Hít-le nấp trên đồi bắn xuống. Nhưng chúng tôi vẫn tiến lên. Thấy chúng tôi, những người đang nằm rạp dưới đất nhổm dậy. Đó là các chiến sĩ thuộc những phân đội bị địch hất từ trên đồi xuống. Anh em vui mừng nhập vào hàng ngũ chúng tôi. Đội ngũ lớn lên rất nhanh.

Thế là chúng tôi đã tới đỉnh đồi. Lưỡi lê và báng súng làm nốt cái việc mà đạn không làm được. Bọn Hít-le chết la liệt. Chúng tôi bắt 40 tù binh, thu được mấy khẩu cối và mô-tô, gửi tất cả về Gô-rô-đi-si, rồi vội vã tiến ra bờ sông. Rất may, bọn phát-xít chưa kịp phá cầu. Cầu nằm trong tay chúng tôi. Trời đã tối, nhưng những đống cỏ khô xung quanh cháy ngùn ngụt. Đó là vật chuẩn rất tốt cho những lực lượng chủ yếu của ta. Nhưng không hiểu sao chưa thấy họ. Tôi cử quân khí viên bậc hai Xtê-pa-nốp quay lại báo cáo với tư lệnh về kết quả trận đánh và nói rõ chúng tôi đang tiến tới Xen-tsa như mệnh lệnh quy định.

Lúc này, chúng tôi được bổ sung ngày một thêm nhiều quân số. Chủ nhiệm cung ứng xăng dầu phương diện quân là tướng A-lếch-xây-ép và chủ nhiệm hậu cần phương diện quân là đại tá Rô-ga-tin dẫn đến một nhóm chiến sĩ biên phòng. Cán bộ và chiến sĩ các cơ quan hậu cần rải rác đến từng người hoặc hai ba người một. Thế nhưng, mãi vẫn chưa thấy đoàn của bộ tham mưu đâu.

Đêm khuya, chúng tôi tới làng I-u-xcốp-txư. Mặc dù tối trời, nhưng chúng tôi vẫn nhanh chóng định hướng được nhờ những dấu hiệu chỉ đường của bọn Hít-le với tính cầu kỳ rởm kiểu Đức đã đặt hầu như mỗi ngã tư. Chúng tôi tạm dừng lại để tập hợp, chấn chỉnh đội ngũ. Trong khi A-lếch-xây-ép và tôi bận việc này thì những sĩ quan phòng tác chiến đến khắp các nhà dân. Biết đây không phải là bọn Đức, mà là các chiến sĩ Hồng quân, nhân dân rời chỗ ẩn nấp đổ ra phố, tranh nhau thiết đãi các chiến sĩ.

Một sĩ quan phòng tác chiến được cử đi liên lạc với bộ tham mưu phương diện quân, vừa về. Đồng chí mang theo một tin không ngờ: không có ai bám theo chúng tôi cả. Đồng chí gặp những chiến sĩ ở Gô-rô-đi-si đã vượt qua đội cảnh giới của địch. Mọi người đều nói là ở đó không còn người nào của chúng tôi, toàn bộ ô-tô đã đi về phía Tây. Tôi không hiểu nổi nữa. Nhưng chúng tôi được lệnh tới Xen-tsa, và chúng tôi sẽ tới đó. Có thể, bộ tham mưu phương diện quân tới đó bằng con đường khác chăng. Nhưng họ không thể đi qua Xen-tsa được: ở đây có chiếc cầu bắc qua sông Xu-lu. Trên con sông khốn khổ với bãi lầy mênh mông này chỉ có cầu ở Xen-tsa và ở Lô-khơ-vi-txa. Nhưng có điên rồi thì mới chui vào Lô-khơ-vi-txa: một điểm dân cư lớn như vậy nhất định nhung nhúc binh lính địch.

Trước lúc rạng đông, đội của chúng tôi đột nhập vào phía Tây làng Xen-tsa trong hành tiến. Không thấy có bọn Đức. Nhưng khi chúng tôi tới cầu thì hỏa lực súng máy và pháo cối từ bờ bên kia dội sang mãnh liệt. Buộc phải nằm ép xuống. Tôi hội ý với A-lếch-xây-ép và Rô-ga-tin. Chúng tôi quyết định công kích. Cần phải chiếm bằng được bến vượt sông và cả xóm làng, trụ giữ ở đây cho tới khi đoàn của bộ tham mưu phương diện quân tiếp cận tới. Địch vẫn bắn, nhưng theo khẩu lệnh của tôi, anh em chiến sĩ đã bật dậy, xông lên cầu. Giữa lúc này, xe tăng địch xuất hiện. Chúng vừa nã pháo và súng máy, vừa tiến mạnh sang bờ chúng tôi. Thế mà chúng tôi không có nổi một chai cháy. Buộc phải rời làng. Rõ ràng là chúng tôi không thể chiếm được. Phải cố gắng đi vòng.

Chúng tôi tách đội thành hai bộ phận. Tướng A-lếch-xây-ép dẫn một nhóm lên phía Bắc, còn tôi xuống phía Nam, đến ngôi làng nhỏ Lu-tsơ-ca. Hai nhóm đều phải chuẩn bị phương tiện vượt sông có sẵn trong tay và chờ đoàn của bộ tham mưu cho đến sáng.

Trước lúc trời sáng, thấy không còn hy vọng gặp bộ tham mưu phương diện quân nữa, chúng tôi bơi thuyền qua sông. Một người dân địa phương dẫn chúng tôi đi trên những con đường mòn chằng chịt và lầy lội băng qua bãi lầy. Chúng tôi vượt đường nhựa trót lọt và ẩn mình trong những đống lúa mì. Tôi cử trung úy Đô-rô-khốp trẻ tuổi và cẩn thận đi trinh sát. Đồng chí trở về vất vui vẻ:

– Báo cáo thiếu tướng! Gần dây có một nông trường quốc doanh. Ở đó không có bọn Đức. Bà con mời ta vào.

Trong làng nông trường, phụ nữ, cụ già, trẻ em (tất cả nam giới cầm được vũ khí đều đã ra trận) vây quanh chúng tôi. Bà con tới tấp hỏi những câu chuyện thường gặp quanh những ngày ấy: Hồng quân của chúng ta đâu? Tại sao bọn Đức thọc sâu được vào nước ta như vậy?

Tôi kể về tình thế hiểm nghèo ở phương diện quân chúng tôi, về chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ xô-viết, về việc chúng tôi nhất định sẽ trở lại. Phụ nữ tranh nhau mời chúng tôi về nhà ăn tí chút, vội vã trao cho chúng tôi những chiếc tay nải có đủ các loại thức ăn.

Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi nghỉ ngơi trong cái làng hiếu khách này. Anh em chiến sĩ lau chùi vũ khí, tắm rửa, sửa sang quần áo, một số còn kịp cạo râu. Song, không phút nào chúng tôi lãng quên điều nguy hiểm, nên vẫn bố trí bảo vệ theo vòng tròn.

Truyền đơn phát-xít ném xuống khắp nơi. Tôi có đọc một số. Toàn hững luận điệu lừa dối và trúc trắc. Một tờ giấy cho “các ngài U-cra-i-na” và hứa hẹn với họ, “con cháu những người ca-dắc phóng khoáng”, từ nay sẽ được hưởng tự do thực sự. Còn cái tự do đó như thế nào thì lại được giải thích thật rối rắm. Chỉ có một điều rõ ràng là có quyền lựa chọn: chết trên giá treo cổ hoặc bị bắn, nếu những “người ca-dắc phóng khoáng” không phục tùng chính quyền của người Đức. Và tiếp theo là cả một bản dài liệt kê những việc không được làm.

Tôi triệu tập cán bộ chỉ huy. Chúng tôi cùng suy nghĩ tìm đường tiếp tục hành quân.

May là tôi có mang theo một bản đồ tỷ lệ nhỏ (1:1000) và địa bàn. Chúng tôi quyết định đi càng xa đường cái càng tốt để tránh chạm trán với địch. Với mỗi đoạn đường, chúng tôi đều xác định góc phương vị chính xác để ban đêm định hướng dễ dàng hơn.

Buổi tối, chúng tôi thân mật chia tay dân làng và nhằm hướng làng lớn Cô-mư-sni-a với hy vọng gặp những đơn vị tiền tiêu của chúng tôi ở đó. Một cuộc hành quân bí mật, tránh những điểm dân cư. Chúng tôi dừng lại ở rìa làng Cô-mư-sni-a. Đô-rô-khốp táo bạo và hai sĩ quan đi trinh sát. Nửa tiếng sau có tiếng súng bắn tiểu liên và thấy pháo hiệu bay lên. Đô-rô-khốp vừa thở dồn dập vừa chạy vội về báo cáo.

– Bọn Đức ở trong làng! Suýt nữa chúng tôi bị tóm.

Không để mất thời gian, chúng tôi vòng qua làng. Khi tới gần ngôi làng nhỏ Mê-lê-ski nằm trên bờ sông Khô-rôn thì trời đã rạng. Chủ ngôi nhà ven làng cho biết ở đây không có bọn Đức. Khi đã tin chắc chúng tôi là sĩ quan xô-viết, ông chỉ cho chúng tôi lội qua sông. Qua được sông thì đã sáng hẳn. Tiếp tục đi thì nguy hiểm, vì xung quanh là cánh đồng trống trải. Chúng tôi quyết định trú lại một ngày ở các bụi rậm ven bờ gần xóm Tséc-vô-nưi Cút và tổ chức phòng ngự vòng tròn. Những chú bé địa phương mà nơi nào cũng có đã bắt gặp chúng tôi tại đây. Lúc đầu, các cháu sợ những người đeo đầy vũ khí, nhưng sau khi thấy những ngôi sao đỏ trên mũ ca-lô và mũ lưỡi trai, chúng đã mạnh dạn bắt chuyện. Những em bé tinh nhanh này biết rất nhiều điều. Các cháu nói rằng hiện nay, bọn Đức chỉ ở Bê-ri-ô-đô-vai-a Lu-ca và Du-ép-txư là những làng ven sông ở phía Bắc và phía Nam cách chúng tôi vài ki-lô-mét. Tiếc rằng các cháu không biết tình hình ở phía Đông. Chúng tôi hỏi các cháu có kiếm được cái gì ăn ở trong xóm không. Các cháu hứa sẽ tìm hiểu. Tôi cử trung tá Xô-lô-vi-ốp, một trợ lý chín chắn, cẩn thận, đi cùng các em. Lát sau, đồng chí quay lại cùng hai nông trang viên đã đứng tuổi. Cả ba mang nặng những bị đựng đầy thức ăn và bi đông sữa. Một nông trang viên đưa chúng tôi tới làng Ra-síp-ca là nơi, nghe nói, ngay hôm qua có người còn trông thấy các chiến sĩ Hồng quân. Chúng tôi lên đường lúc chập tối. Chung quanh yên lặng: không một tiếng súng, một tiếng pháo hiệu nào của bọn phát-xít! Tới gần Ra-síp-ca, chúng tôi chia tay với người dẫn đường rồi đi tiếp. Gần tới xóm Xa-ran-tsi-na Đô-li-na thì trời sáng. Chúng tôi ẩn trong khu rừng chạy dọc sông Pxi-ôn, phòng ngự vòng tròn và cử đội tuần tra tới đường cái. Đến trưa, họ báo cáo là từ phía Bắc có một đoàn ô-tô không lớn lắm đang bon tới. Tôi ra lệnh chuẩn bị chiến đấu.

Chiến xe đi trước chưa tới xóm đã dừng lại. Trên thùng xe là các chiến sĩ Hồng quân. Chúng tôi reo hò vui sướng lao tới chỗ anh em. Một trung sĩ trẻ tuổi nảy từ trong buồng lái ra. Đồng chí ngạc nhiên nhìn chúng tôi, những người mệt mỏi, râu tua tủa. Thấy tôi, đồng chí chào và báo cáo:

– Tổ tuần tra thuộc đội trinh sát. Tôi là tổ trưởng, trung sĩ Mô-rô-dốp.

Chúng tôi được biết là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn công binh độc lập cử một đội đi từ thành phố Ga-đi-a-tsơ tới nhằm tìm hiểu vị trí địch và sự bố trí lực lượng của chúng. Được chúng tôi cho biết những đội tiền tiêu của địch đang ở đâu, đội tuần tra lại lên đường, còn chúng tôi thì đi về phía Đông. Tại làng lớn Xa-rư, dân làng đón tiếp chúng tôi rất thịnh tình, và được bố trí về ăn ở với các gia đình. Trong cái làng tại dải giáp ranh này, nơi mà chỉ có trinh sát ta mới lọt vào, Xô-viết xã và ban giám đốc nông trường vẫn hoạt động. Đúng là bà con giúp đỡ các chiến sĩ thoát vây ngay dưới mũi bọn Đức. Tại văn phòng của Xô-viết xã, tôi liên lạc bằng điện thoại với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn công binh đóng ở Ga-đi-a-tsơ. Đồng chí cho ô-tô đến chỗ chúng tôi.

Chúng tôi được chở đến một tỏa nhà không lớn lắm. Một sĩ quan rảo bước về phía tôi. Đồng chí tự giới thiệu rành rọt – đúng là một cán bộ chỉ huy chuyên nghiệp:

– Đại úy Cu-lê-sốp, đội trưởng đội doanh trại bảo vệ thành phố Ga-đi-a-tsơ.

Đồng chí mời tôi về phòng làm việc và lệnh cho trợ lý phụ trách bảo đảm vật chất bố trí ngay nơi nghỉ nhơi cho anh em đi cùng với tôi.

Thoải mái thả mình xuống chiếc ghế bành cũ có đệm mềm bọc vải giả da đã ngả màu, tôi chăm chú nghe đại úy nói. Đồng chí báo cáo tình hình ở khu vực hoạt động của đội bảo vệ và lực lượng của đồng chí. Qua câu chuyện, tôi được biết như sau.

Đại úy Cu-lê-sốp là tiểu đàn trưởng tiểu đoàn công binh độc lập 519. Đơn vị đồng chí được tổ chức tại đây, ở Ga-đi-a-tsơ, khi bọn phát-xít chia cắt bộ đội phương diện quân chúng tôi. Biết tin đó và sau khi hội ý với chính ủy tiểu đoàn Mét-vê-đép, đại úy hạ quyết tâm tổ chức bảo vệ thành phố - một thành phố bỗng chốc trở thành tiền duyên của những hoạt động chiến đấu. Là đội trưởng đội bảo vệ, Cu-lê-sốp đặt đội làm đường của đại úy Mi-sin và tiểu đoàn xung kích của địa phương do trưởng ty công an thành phố Ghéc-tsen-cô chỉ huy, dưới quyền điều khiển của mình. Họ nhanh chóng bắt tay xây dựng các tuyến phòng ngự và được nhân dân tích cực giúp đỡ.

Những tổ trinh sát do Cu-lê-sốp thường xuyên phái đi Lô-khơ-vi-txa đã nhiều lần đụng độ với những phân đội riêng lẻ thuộc sư đoàn xe tăng 3 của Đức có nhiệm vụ cản đường rút lui của bộ đội ta. Trong những trận chiến đấu này, ta bắt sống tù binh và thu được những chiến lợi phẩm đầu tiên: ô-tô, điện đài, tài liệu tham mưu.

– Và cả cái này nữa. – Đồng chí đại úy can đảm đặt lên bàn hai chục chiếc huân chương chữ thập sắt của Đức.

Những ngày đầu tiên sau khi các tập đoàn xe tăng phát-xít tiến vào sau lưng bộ đội Phương diện quân Tây – Nam, bộ đội bảo vệ thành phố Ga-đi-a-tsơ là đơn vị duy nhất đóng lại trên cả một đoạn dài hàng chục ki-lô-mét cản đường địch tiến về phía Đông. Thêm nữa, đại úy Cu-lê-sốp phải đảm đương mọi trách nhiệm vì không liên lạc được với bộ chỉ huy cấp trên. Còn bây giờ, đồng chí bắt đầu nhận chỉ thị trực tiếp của bộ tham Phương diện quân Tây – Nam với thành phần cán bộ mới. Thiếu tướng A. P. Pô-crốp-xki được chỉ dịnh làm tham mưu trưởng phương diện quân.

Đơn vị bảo vệ thành phố Ga-đi-a-tsơ giúp đỡ anh em thoát vây rất nhiều. Cán bộ quản lý của đơn vị do A-lếch-xây-ép và Goóc-tsa-cốp phụ trách đã cấp quần áo, giày và thức ăn cho biết bao người rách, đói và bị thương. Đội chúng tôi cũng được hưởng sự chăm sóc chu đáo như vậy.

Ở Ga-đi-a-tsơ, chúng tôi cố gắng tìm hiểu số phận đoàn quân của bộ tham mưu phương diện quân mà chúng tôi chia tay đã lâu. Nhưng không ai có thể cho biết điều gì cụ thể. Sau này, khi gặp phó phòng của mình là trung tá I. X. Glê-bốp và những đồng chí khác ở bộ tham mưu phương diện quân, chúng tôi mới biết những tin tức không vui. Trước hết, tôi hỏi Glê-bốp tại sao đoàn quân của bộ tham mưu phương diện quân lại lần chần ở Gô-rô-đi-si và không bám sát đội chúng tôi. Glê-bốp ngạc nhiên nhìn tôi:

– Chẳng lẽ tướng Kiếc-pô-nô-xơ không nói trước với đồng chí? Đồng chí ấy định dùng đội của đồng chí dương đông kích tây ở hướng Xen-tsa chỉ để nhằm đánh lạc hướng địch. Trong khi đó, đoàn quân phải tiến lên phía Bắc và vượt sông Mơ-nô-ga, gần làng Vô-rôn-ki…

(Hóa ra là như vậy… Không, tôi không thể giận Kiếc-pô-nô-xơ vì đồng chí đã giấu tôi ý định của mình. Đó là quyền của tư lệnh – không cho cấp dưới biết toàn bộ ý định của mình, nhất là khi cấp dưới được giao nhiệm vụ dương đông kích tây – cứ thả sức tung hoành như đang hành động ở hướng đột phá chủ yếu vậy).

Rồi Glê-bốp kể: mới đầu có kết quả. Bộ đội bí mật đi được theo hữu ngạn sông Mơ-nô-ga, chiếm Vô-rôn-ki và qua sông. Tảng sáng ngày 20 tháng Chín, tới xóm Đri-u-cốp-si-na, cách Lô-khơ-vi-txa khoảng 15 ki-lô-mét về phía Tây – Nam. Anh em dừng lại ở đó, trong khu rừng Su-mây-cô-vô, nghỉ ngơi một ngày.

Đoàn quân của bộ tham mưu phương diện quân có hơn một nghìn người, trong đó 800 là sĩ quan. Như trước kia, trong số đó vẫn có M. P. Kiếc-pô-nô-xơ, các ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân M. A. Buốc-mi-xten-cô, chính ủy sư đoàn E. P. Rư-cốp, các thiếu tướng V. I. Tu-pi-cốp, Đ. M. Đô-bư-kin, A. I. Đa-ni-lốp, V. V. Pa-ni-u-khốp, tư lệnh tập đoàn quân 5 là thiếu tướng M. I. Pô-ta-pốp, các ủy viên Hội đồng quân sự của tập đoàn quân 5 là chính ủy sư đoàn M. X. Ni-ki-sép, chính ủy lữ đoàn E. A. Can-tsen-cô, tham mưu trưởng tập đoàn quân thiếu tướng Đ. X. Pi-xa-rép-xki, chủ nhiệm thú y A. M. Pê-ni-ôn-giơ-cô và các đồng chí khác. Cùng đi với đoàn quân có 6 xe bọc thép, 2 pháo chóng tăng và 5 súng máy cao xạ bốn nòng.

Một khe xói cắt ngang khu rừng. Người và xe vận tải phân tán bên rìa khe. Xe chiến đấu được bố trí ở bìa rừng. Tiếc rằng việc tổ chức vẫn không được chu đáo như cũ. Chỉ có đội bảo vệ Hội đồng quân sự phương diện quân do đại tá Glê-bốp chỉ huy và đội bảo vệ cơ quan tham mưu tập đoàn quan 5 do thiếu tá Vla-đi-mia-xki chỉ huy, bố trí phòng ngự. Nhiều sĩ quan tản vào nhà dân trong xóm tắm rửa, kiếm cái ăn và nghỉ ngơi đôi chút.

Còn bọn phát-xít đã phát hiện ra bộ tham mưu phương diện quân biến mất từ đêm. Khi sương sớm vừa tan, trinh sát báo cáo có xe tăng Đức đang tiến đến bờ phía Đông và Đông - Bắc. Những chiến sĩ bị tụt lại sau ở phía Tây – Nam tới cũng báo cáo là mô-tô và xe tăng địch cũng đang kéo đến từ phía đó.

Khoảng hai mươi phút sau, địch công kích khu rừng từ ba phía. Xe tăng nã pháo và súng máy, bọn lính tiểu liên tiến theo sau. Trong tiếng súng rền, lác đác mới nghe thấy tiếng pháo của ta: pháo đã ít, lại còn phải tính toán từng viên đạn. Xe tăng địch đã đột pháo tới bìa rừng phía Đông. Các sĩ quan trang bị lựu đạn và chai cháy xông ra chống chọi với chúng. Hai chiếc bị bốc cháy, những chiếc còn lại bỏ chạy.

Tư lệnh, các ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân, các tướng Tu-pi-cốp và Pô-ta-pốp hội ý công việc trước mắt: nên nán lại trong khu rừng chờ đến tối hay đột phá ngay từ bây giờ? Nhưng địch lại mở đợt công kích mới. Bộ binh Đức được chở bằng ô-tô đã nhanh chóng triển khai thành hàng ngang và xông vào khu rừng dưới sự yểm hộ bằng hỏa lực của xe tăng. Khi chúng tới bìa rừng, đoàn người bị vây được Kiếc-pô-nô-xơ, Buốc-mi-xten-cô, Rư-cốp, Tu-pi-cốp, Pô-ta-pốp và Pi-xa-rép-xki dẫn đầu xông lên phản kích. Không chịu nổi đòn đánh giáp lá cà, bọn địch phải tháo lui.

Trong trận phản kích này, tướng Kiếc-pô-nô-xơ bị thương vào chân. Anh em khiêng đồng chí xuống đáy khe, đến chỗ mạch nước. Anh em cũng đưa cả tư lệnh tập đoàn quân Pô-ta-pốp đã bị thương và chân thương nặng tới đây. Người tham mưu trưởng có nghị lực của đồng chí, tướng Pi-xa-rép-xki hy sinh anh dũng giữa trận đánh.

Chính ủy sư đoàn Rư-cốp và tướng Tu-pi-cốp cùng trung tá Glê-bốp đi khắp bìa rừng, nói chuyện với các cán bộ và chiến sĩ, động viên anh em.

Khoảng bảy giờ tối, Kiếc-pô-nô-xơ, Buốc-mi-xten-cô và Tu-pi-cốp cùng các cán bộ chỉ huy thảo luận các phương án đột phá định tiến hành thì trời tối hẳn. Lúc này, cối địch bắt đầu bắn tới tấp. Một quả đạn nổ ngay sát tư lệnh. Kiếc-pô-nô-xơ khuỵu xuống, không kêu một tiếng. Anh em chạy lại bên đồng chí. Thượng tướng bị thương vào ngực và đầu. Hai phút sau, đồng chí tắt thở. Thiếu tá Gơ-nen-nưi, sĩ quan tùy tùng của tư lệnh, rơm rớm nước mắt, tháo ngôi Sao vàng và các huân chương cài trên áo cổ cứng của thượng tướng.

Đến dây, Tu-pi-cốp dẫn anh em xông ra công kích. Mọi người bất thần nhảy bổ vào địch, không nổ súng. Khi bọn phát-xít hoảng hồn trấn tĩnh lại thì nhiều chiến sĩ và cán bộ chỉ huy ta đã mở được đường thoát. Sau bao nỗi gian truân, vất vả, các đồng chí đã trở về được với đồng đội, trong đó có các tướng Đô-bư-kin, Đan-ni-lốp và Pa-ni-u-khốp, trung tá Glê-bốp và nhiều đồng chí khác. Tướng Tu-pi-cốp không trở về với anh em – đồng chí đã hy sinh khi hai bên bắn nhau ở gầm xóm Ốp-đi-ép-ca, cách khu rừng Su-mây-cô-vô hai ki-lô-mét.

Năm 1943, sau khi giải phóng Tả ngạn U-cra-i-na, chúng tôi mới biết rõ số phận của những đồng chí không ra thoát khỏi khu rừng. Nhân dân những xóm quanh vùng kể lại hai bên còn bắn nhau trong rừng hơn một ngày nữa. Ngày 24 tháng Chín, khi mọi vật trở lại yên tĩnh và bọn Hít-le đã bỏ đi, bà con nông trang tới nơi xảy ra trận đánh. Họ thấy thi thể bất động của các chiến sĩ và chỉ huy xô-viết, tuy hy sinh những vẫn nắm chắc vũ khí. Các băng đạn súng lục và súng trường không còn lấy một viên.

Ngày nay, ở đây, trên nấm mồ chung sừng sững tượng đài người chiến sĩ xô-viết hùng dũng cầm khẩu tiểu liên. Còn ở chỗ mạch nước dựng lên một tấm bia bằng đá cẩm thạch với dòng chữ: “Tại đây, ngày 20 tháng Chín năm 1941 đã anh dũng hy sinh tư lệnh Phương diện quân Tây – Nam thượng tướng Kiếc-pô-nô-xơ M. P.”.

Năm 1943, di hài các tướng Kiếc-pô-nô-xơ và Tu-pi-cốp được chuyển về Ki-ép, mai táng tại công viên Vinh quang bất diệt ở chân đài đồ sộ, cạnh mộ Chiến sĩ vô danh với Ngọn lửa vĩnh cửu, tượng trưng cho những chiến công bất tử vì nhân dân.

Trong những năm chiến tranh cũng như khi chiến tranh đã kết thúc, chúng tôi, những người tham gia các sự kiện đau thương này, không thể xác minh được hoàntoàn chính xác việc ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân, người con ưu tú của nhân dân U-cra-i-na là M. A. Buốc-mi-xten-cô đã hy sinh ở đâu và trong hoàn cảnh nào. Song, chúng tôi tin chắc rằng đồng chí đã hiến dâng cả cuộc đời mình trong trận đánh không cân sức với bọn phát-xít ở gần khu rừng Su-mây-cô-vô. Ở giai đoạn cuối những trận đánh tại khu vực này có tính chất từng ổ, nên chắc rằng Buốc-mi-xten-cô đã anh dũng ngã xuống trong một trận giao chiến ác liệt, và không ai nhận ra đồng chí vì không mặc quân phục có cấp hiệu.

Một số chiến sĩ và cán bộ chỉ huy bị thương nặng rơi vào tay bọn Hít-le, trong đó có ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân chính ủy sư đoàn Rư-cốp. Đồng chí mất máu nhiều, bị địch tra tấn dã man và hành quyết. Nhân dân làng Ca-tôn – Ca-ra-gia ở Ca-dắc-xtan thành kính giữ gìn kỷ niệm về người đồng hương quang vinh của mình. Tại ngôi trường đồng chí theo học có gắn một tấm biển lưu niệm. Trên mặt đá cẩm thạch đắp nổi bức chân dung đồng chí, dưới có ghi dòng chữ:

“Rư-cốp Ép-ghê-ni Páp-lô-vích – chính ủy sư đoàn, ủy viên Hội đồng quân sự Phương diện quân Tây – Nam, đã theo học tại nơi đây. Đồng chí đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. 1906 – 1941”.

Bọn đao phủ phát-xít bắt được tướng Pô-ta-pốp lúc đồng chí đang bị ngất. Chúng tôi tưởng đồng chí đã hy sinh. Nhưng cơ thể cường tráng và tinh thần buất khuất của vị tư lệnh tập đoàn quân trẻ tuổi không hề gục ngã trước bất kỳ vết thương hay ngục tù phát-xít khủng khiếp nào. Đến cuối cuộc chiến tranh, Quân đội Liên Xô giải phóng đồng chí khỏi trại tập trung của Hít-le. Tướng Pô-ta-pốp trở về đội ngũ chúng ta. Trong những năm cuối đời (đồng chí mất năm 1965), tướng Pô-ta-pốp là phó tư lệnh thứ nhất quân khu Ô-đét-xa.

Khi kết thúc câu chuyện về những binh đoàn của Phương diện quân Tây –Nam bị cắt rời khỏi căn cứ của mình đã kiên trì, bất khuất mở đường như thế nào, tôi không thể không nhắc tới chiến công của những cán bộ quân y của ta. Trng vòng vây có không ít thương binh. Các bác sĩ, y sĩ, y tá quân y tự nguyện chia sẻ số phận khắc nghiệt với anh em thương binh. Không chịu rời bỏ những người được bảo trợ của mình, họ giúp đỡ anh em đến mức tối đa và thường vì thế mà phải hy sinh thân mình. Các sĩ quan thoát vây kể cho chúng tôi nghe về nhiều người thầy thuốc anh hùng, rất tiếc là tôi không nhớ được tên của họ. Nhưng gần dây, thư của một bạn đọc đã gợi lại một số tên tuổi đáng kính đó.

L. I. Pa-sen-cốp hồi tháng Chín năm 1941 sống ở Lô-khơ-vi-txa. Đồng chí viết rằng khi đó, ở các làng xung quanh có nhiều chiến sĩ và cán bộ chỉ huy bị thương. Không thể đưa anh em về hậu phương được: bọn phát-xít đã cắt đứt mọi đường. Bấy giờ, cán bộ quân y và dân y vẫn còn lại ở khu vực này bắt đầu gấp rút thu nhặt anh em thương binh và tổ chức những viện quân y bí mật. L. I. Pa-sen-cốp trân trọng nêu tên các giáo sư X. M. Khát-giê-mi-rốp và G. Kh. Sa-khơ-ba-di-an, bác sĩ phẫu thuật C. X. Vê-li-ca-nốp, trong số những người yêu nước đã cống hiến hết sức mình để phục hồi sức khỏe cho anh em thương binh và giúp anh em thoát khỏi bị bắt làm tù binh. Họ đã giúp không biết bao nhiều chiến sĩ và sĩ quan trở về được với đội ngũ như vậy!

Vào mùa hè và đầu thu năm 1941, các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy Phương diện quân Tây – Nam đã gây cho bọn phát-xít Đức xâm lược những thiệt hại không thể bù đắp nổi, thu hút về mình một lực lượng lớn các tập đoàn quân địch. Bộ đội của phương diện quân đã uy hiếp trong một thời gian khá dài sườn Nam cụm các tập đoàn quân “Trung tâm” lúc ấy đã thọc sâu sang phía Đông. Chính tình hình đó buộc Hít-le hồi cuối tháng Tám phải tập trung những nỗ lực chủ yếu của quân Đức vào hướng Ki-ép. Chỉ nhờ có ưu thế rất lớn về lực lượng, nhất là về xe tăng và không quân, và phải trả giá bằng những tổn thất lớn, chúng mới giành được kết quả ở đây. Tinh thần kiên định và chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ Phương diện quân Tây – Nam đã góp phần quan trọng làm thất bại kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng” của Hít-le và, không nghi ngờ gì nữa, đã tác động đáng kể đến sự phát triển của những sự kiện tiếp sau trong chiến dịch ở gần Mát-xcơ-va.

-mi-an —★— CHIẾN TRANH ĐÃ BẮT ĐẦU NHƯ THẾ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda (quansuvn.net) NXB Tiến Bộ Mát-xcơ-va, 1986.
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.