Chiến Tranh Thế Giới

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xvi. Cuộc Tháo Chạy Khỏi London.

❊ ❊ ❊

Thế là bạn có thể hình dung được làn sóng sợ hãi cuồn cuộn càn quét qua thành phố lớn nhất thế giới ngay khi ngày thứ Hai ló rạng — dòng người trốn chạy nhanh chóng dâng thành một trận lũ quét, đập vào nhau trong sự hỗn loạn sủi bọt quanh các nhà ga, ùn ứ thành một cuộc chiến kinh hoàng quanh các bến tàu trên sông Thames, rồi hối hả tỏa đi bằng mọi ngả đường có thể về phía bắc và phía đông. Đến mười giờ, bộ máy cảnh sát, và đến giữa trưa thậm chí cả các tổ chức đường sắt, đều đang mất dần sự gắn kết, mất đi hình thù và hiệu quả, rò rỉ, rã rời, để rồi cuối cùng tan chảy trong dòng chảy xiết của một xã hội đang rã đám.

Tất cả các tuyến đường sắt ở phía bắc sông Thames và khu vực Đông Nam tại ga Cannon Street đã nhận được cảnh báo trước nửa đêm ngày Chủ nhật, và các đoàn tàu đang dần được lấp đầy. Người ta tranh giành nhau một chỗ đứng trong các toa tàu một cách tồi tệ ngay từ lúc hai giờ. Đến ba giờ, con người đã bắt đầu bị giẫm đạp và nghiền nát ngay tại phố Bishopsgate Street, cách ga Liverpool Street chừng hai trăm thước hoặc hơn thế; súng lục đã nổ, người ta đâm chém lẫn nhau, và những cảnh sát được phái đến để điều tiết giao thông, trong sự kiệt quệ và cuồng nộ, đang nện gậy vào đầu những người mà họ được gọi ra để bảo vệ.

Và khi ngày càng về trưa, các thợ máy cùng nhân viên đốt lò từ chối quay lại London, áp lực của cuộc tháo chạy đã đẩy dòng người thành một đám đông ngày càng đặc quánh, rời xa các nhà ga để tràn ra những con đường hướng về phía bắc. Đến giữa trưa, người ta đã nhìn thấy một người Sao Hỏa ở Barnes, và một đám mây hơi nước màu đen đang chầm chậm là đà là là dọc sông Thames cùng những vùng đất phẳng Lambeth, chặn đứng mọi lối thoát qua các cầu trên đà tiến chậm chạp của nó. Một dải mây khác tràn qua Ealing, vây khổng một hòn đảo nhỏ gồm những kẻ sống sót trên đồi Castle Hill, họ vẫn sống nhưng chẳng thể trốn thoát.

Sau một cuộc vật lộn vô ích để lên được chuyến tàu tuyến Tây Bắc tại ga Chalk Farm — đầu máy của những đoàn tàu vừa được chất hàng ở sân dồn tàu tại đó đã càn qua những con người đang gào thét, và một tá tráng đinh đã chật vật ngăn đám đông không chèn ép người lái tàu dính chặt vào lò hơi của ông — anh tôi trồi lên con đường Chalk Farm, lách qua một bầy xe cộ đang hối hả, và may mắn chớp được cơ hội chiếm lấy cửa hàng xe đạp đầu tiên. Lốp trước của chiếc xe anh lấy được đã bị thủng khi kéo nó qua ô cửa sổ, dẫu vậy anh vẫn trèo lên và phóng đi, chẳng bị thương gì hơn ngoài một vết cắt ở cổ tay. Chân dốc Haverstock Hill không thể tài nào qua nổi bởi vô số con ngựa ngã chồng chất, thế là anh tôi rẽ vào đường Belsize Road.

Nhờ thế mà anh thoát khỏi tâm điểm cuồng loạn của cơn hoảng loạn, rồi lách theo đường Edgware Road, tới Edgware vào khoảng bảy giờ, bụng đói meo và mệt lả, nhưng đi trước đám đông một khoảng khá xa. Dọc đường, người ta đứng ngẩn ngơ trên lòng đường với vẻ tò mò và ngạc nhiên. Anh bị vượt qua bởi một số người đi xe đạp, vài người cưỡi ngựa, và hai chiếc ô tô. Cách Edgware một dặm, vành bánh xe bị gãy khiến chiếc xe hoàn toàn không thể đi được nữa. Anh bỏ nó lại bên vệ đường và lê bước qua ngôi làng. Có những cửa hàng hé mở trên con phố chính, người ta chen chúc trên vỉa hè, ngoài ngưỡng cửa và bên cửa sổ, kinh ngạc dõi theo đoàn người tị nạn kỳ lạ này vừa bắt đầu xuất hiện. Anh đã kiếm được chút đồ ăn tại một quán trọ.

Một lúc lâu anh vẫn ở lại Edgware mà chưa biết phải làm gì tiếp theo. Số lượng người tháo chạy ngày một tăng lên. Rất nhiều người trong số họ, cũng giống như anh tôi, có vẻ chần chừ muốn la cà lại nơi này. Chẳng có tin tức gì mới về những kẻ xâm lược từ Sao Hỏa.

Vào lúc đó, con đường tuy đông đúc nhưng hãy còn lâu mới đến mức tắc nghẽn. Hầu hết những kẻ tị nạn vào giờ đó đều đi xe đạp, nhưng chẳng mấy chốc đã có ô tô, xe ngựa hai bánh và xe hơi hối hả chạy qua, bụi bốc lên thành từng đám dày đặc dọc con đường đi St. Albans.

Có lẽ chính một ý nghĩ mơ hồ muốn tìm đường tới Chelmsford, nơi vài người bạn của anh đang sinh sống, cuối cùng đã thúc đẩy anh tôi rẽ vào một con hẻm yên tĩnh hướng về phía đông. Chẳng mấy chốc anh bắt gặp một cái stile, bước qua đó và đi theo một lối mòn hướng đông bắc. Anh đi ngang qua vài trang trại và dăm chòm xóm nhỏ mà anh chẳng kịp biết tên. Anh thấy rất ít người tị nạn cho tới khi, tại một lối đi cỏ dại hướng về High Barnet, anh tình cờ chạm trán hai người phụ nữ sau này trở thành bạn đồng hành của anh. Anh xuất hiện đúng lúc để cứu họ.

Anh nghe thấy tiếng họ thét lên, và khi hối hả vòng qua góc khuất, anh thấy hai gã đàn ông đang vật lộn lôi họ ra khỏi chiếc xe ngựa hai bánh nhỏ mà họ vừa lái, trong khi một gã thứ ba đangật vật giữ lấy đầu con ngựa hoảng sợ. Một trong hai người phụ nữ, một người đàn bà thấp người mặc đồ trắng, chỉ biết gào khét; người kia, một bóng dáng mảnh mai với nước da ngăm đen, đang vung chiếc roi cầm ở bàn tay đang rảnh rỗi để quất vào gã đang siết chặt cánh tay cô.

Anh tôi lập tức nắm bắt tình hình, hô lên và lao về phía cuộc vật lộn. Một gã buông tay quay lại phía anh, và anh tôi, nhận ra từ nét mặt của đối thủ rằng một trận chiến là không thể tránh khỏi, lại sẵn là một võ sĩ quyền Anh kỳ cựu, liền xông thẳng tới tung đòn hạ gục hắn ngã nhào vào bánh xe.

Đây không phải lúc để thượng võ kiểu hiệp sĩ, anh tôi bồi thêm một cú đá khiến hắn nằm im bất động, rồi chộp lấy cổ kẻ đang lôi kéo người phụ nữ mảnh mai. Anh nghe thấy tiếng móng ngựa nện lộp cộp, một nhát roi quất bén ngót qua mặt, một đối thủ thứ ba giáng một đòn giữa hai mắt anh, và gã đàn ông anh đang giữ vùng thoát ra được rồi tháo chạy dọc con hẻm về hướng hắn vừa đến.

Trong cơn choáng váng nhẹ, anh thấy mình đối mặt với gã nãy giờ giữ đầu ngựa, đồng thời nhận ra chiếc xe ngựa đang lùi xa dần xuống cuối hẻm, tròng trành qua lại với những người phụ nữ trong xe đang ngoái nhìn lại. Gã đứng trước mặt anh, một tên du côn vạm vỡ, chồm lên định vật lộn, nhưng anh đã chặn đứng hắn bằng một cú đấm vào mặt. Rồi, nhận ra mình bị bỏ lại một mình, anh lách người đuổi theo chiếc xe ngựa dọc con hẻm, với gã lực lưỡng bám sát ngay sau, còn kẻ trốn chạy lúc nãy thì đã quay đầu bám theo từ xa.

Đột nhiên anh vấp ngã chúi xuống; kẻ đuổi theo sát nút cũng ngã nhào theo quán tính, và khi anh chồm dậy thì nhận ra mình lại một lần nữa phải đối mặt với một cặp đối thủ. Anh sẽ chẳng có mấy cơ hội chống chọi lại chúng nếu như người phụ nữ mảnh mai không rất gan dạ quay xe trở lại ứng cứu. Hóa ra cô đã mang theo một khẩu súng lục suốt từ nãy, nhưng nó nằm dưới ghế ngồi khi cô và người bạn đồng hành bị tấn công. Cô nổ súng từ khoảng cách sáu thước, suýt thì trúng anh tôi. Tên cướp nhát gan hơn liền chuồn thẳng, và đồng bọn của hắn lạy lục tháo chạy theo sau, miệng chửi rủa sự hèn nhát của gã kia. Cả hai dừng lại ở một khúc trông thấy được dọc con hẻm, nơi gã thứ ba đang nằm bất tỉnh.

“Cầm lấy cái này!” người phụ nữ mảnh mai nói, và cô đưa cho anh tôi khẩu súng lục của mình.

“Quay lại xe đi,” anh tôi nói, vừa đưa tay lau vết máu rớm ra từ chiếc môi rách.

Cô quay gót không nói một lời — cả hai đều đang thở hồng hộc — và họ quay trở lại nơi người đàn bà mặc đồ trắng đang vật lộn cố kìm giữ con ngựa hoảng sợ.

Bọn cướp rõ ràng đã thấy thế là đủ. Khi anh tôi nhìn lại, chúng đang rút lui.

“Tôi ngồi đây được chứ,” anh tôi nói, “nếu không phiền”; và anh trèo lên chiếc ghế trước đang bỏ trống. Người phụ nữ ngoái nhìn qua vai.

“Đưa tôi dây cương,” cô nói, rồi quất roi vào mạn sườn con ngựa. Chỉ khoảnh khắc sau, khúc cua trên đường đã che khuất ba tên đàn ông khỏi tầm mắt của anh tôi.

Thế là, một cách đầy bất ngờ, anh tôi thấy mình đang thở dốc, với cái miệng rách, hàm bầm tím và những khớp xương bàn tay dính máu, lái xe dọc theo một con hẻm lạ hoắc cùng hai người phụ nữ này.

Anh biết được họ là vợ và cô em chồng của một bác sĩ phẫu thuật sống ở Stanmore, người đã đến từ canh ba để chữa một ca bệnh hiểm nghèo ở Pinner, rồi nghe được tin về cuộc tiến công của người Sao Hỏa tại một nhà ga nào đó trên đường về. Ông đã vội vã phóng về nhà, đánh thức hai người phụ nữ dậy — người hầu của họ đã bỏ đi từ hai hôm trước — gói ghém ít lương thực, giấu súng lục dưới ghế ngồi — thật may cho anh tôi — và dặn họ cứ lái xe tới Edgware với ý định bắt tàu ở đó. Ông nán lại phía sau để báo tin cho hàng xóm. Ông bảo sẽ bắt kịp họ vào khoảng bốn rưỡi sáng, thế mà bây giờ đã gần chín giờ và họ chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Họ không thể dừng lại ở Edgware vì lượng phương tiện qua lại nơi đây ngày một đông đúc, thế nên họ đã rẽ vào con hẻm nhỏ này.

Đó là câu chuyện họ kể cho anh tôi nghe ngắt quãng khi họ dừng lại lần nữa, gần New Barnet hơn. Anh hứa sẽ ở lại với họ, ít nhất là cho đến khi họ quyết định được phải làm gì, hoặc cho đến khi người đàn ông mất tích xuất hiện, đồng thời tự nhận mình là một tay thiện xạ súng lục — thứ vũ khí vốn xa lạ với anh — nhằm mang lại cho họ chút lòng tin.

Họ dựng một thứ trại tạm bên vệ đường, và con ngựa tỏ ra vô cùng khoan khoái bên lề cỏ. Anh kể cho họ nghe về cuộc trốn chạy của chính mình khỏi London, cùng tất cả những gì anh biết về người Sao Hỏa và cách hành xử của chúng. Mặt trời nhô cao dần trên bầu trời, rồi một lúc sau câu chuyện giữa họ thưa dần đi, nhường chỗ cho một trạng thái thấp thỏm đầy lo âu. Vài lữ khách đi ngang qua con hẻm, và từ họ, anh tôi thu lượm được chút tin tức nào hay chút ấy. Mỗi câu trả lời đứt quãng anh nhận được lại làm sâu sắc thêm ấn tượng về thảm họa vĩ đại giáng xuống nhân loại, củng cố thêm niềm tin của anh về sự cần thiết cấp bách phải tiếp tục cuộc tháo chạy này. Anh giục giã họ chuyện đó.

“Chúng tôi có tiền,” người phụ nữ mảnh mai nói, rồi ngập ngừng.

Ánh mắt cô chạm vào mắt anh tôi, và sự ngập ngừng chấm dứt.

“Tôi cũng vậy,” anh tôi nói.

Cô giải thích rằng họ có tới ba mươi bảng bằng vàng, bên cạnh một tờ giấy bạc năm bảng, và gợi ý rằng với số tiền đó họ có thể bắt được một chuyến tàu tại St. Albans hoặc New Barnet. Anh tôi nghĩ điều đó là vô vọng, khi chứng kiến sự cuồng nộ của người dân London muốn chen chân lên các chuyến tàu, và bèn đưa ra ý kiến của riêng mình là vượt qua Essex hướng về phía Harwich rồi từ đó trốn khỏi đất nước hoàn toàn.

Bà Elphinstone — đó là tên của người phụ nữ mặc đồ trắng — nhất mực không nghe theo lý lẽ nào cả, cứ cất tiếng gọi “George”; nhưng cô em chồng của bà lại tỏ ra bình tĩnh và suy xét một cách đáng ngạc nhiên, và cuối cùng đã đồng ý với đề nghị của anh tôi. Thế là, với dự định cắt ngang con đường Great North Road, họ tiếp tục tiến về hướng Barnet, anh tôi dắt con ngựa đi bộ để đỡ đần cho nó nhiều nhất có thể. Khi mặt trời leo lên đỉnh đầu, trời trở nên nóng nực đến ngột ngạt, và lớp cát trắng mịn dưới chân ngày càng bỏng rát và lóa mắt, khiến tốc độ di chuyển của họ vô cùng chậm chạp. Những hàng rào bụi cây đã bạc phếch vì bụi. Và khi họ tiến gần tới Barnet, một thứ âm thanh rì rầm hỗn độn ngày một lớn dần.

Họ bắt đầu gặp gỡ nhiều người hơn. Phần lớn trong số họ cứ đờ đẫn nhìn thẳng về phía trước, lầm bầm những câu hỏi không đầu không cuối, phờ phạc, hốc hác, nhếch nhác. Một người đàn ông mặc comple dạ tiệc đi ngang qua họ bằng chân đất, mắt dán xuống mặt đất. Họ nghe thấy tiếng ông ta lẩm bẩm, và khi ngoái lại nhìn, họ thấy một tay ông đang bứt tóc còn tay kia thì đấm vào những thứ vô hình trong không trung. Khi cơn giận dữ tột độ qua đi, ông ta tiếp tục bước đi mà chẳng một lần ngoảnh lại.

Khi nhóm của anh tôi tiến về phía ngã tư ở phía nam Barnet, họ thấy một người phụ nữ đang tiến lại gần con đường từ những cánh đồng bên trái, tay bồng một đứa trẻ và dắt theo hai đứa khác; rồi họ vượt qua một người đàn ông mặc bộ đồ đen rách rưới, tay cầm một cây gậy dày, tay kia xách một chiếc vali nhỏ. Rồi từ khúc ngoặt của con hẻm, lách qua giữa những căn biệt thự canh giữ lối giao nhau với đường lớn, một chiếc xe cộ nhỏ xíu xuất hiện, do một con ngựa đen mướt mồ hôi kéo và được điều khiển bởi một thanh niên da ngăm đen đội mũ quả dưa phủ đầy bụi. Có ba cô gái, những nữ công nhân nhà máy ở vùng East End, cùng một cặp trẻ con đang chen chúc trên chiếc xe.

“Cái này có đưa chúng ta vòng lại Edgware không?” người đánh xe hỏi, với đôi mắt hoang dại và khuôn mặt cắt không còn giọt máu; và khi anh tôi bảo rằng có nếu hắn rẽ trái, hắn lập tức quất roi phóng đi chẳng thèm giữ lễ tiết cảm ơn.

Anh tôi nhận thấy một làn khói xám nhạt hoặc lớp sương mù đang bốc lên giữa những ngôi nhà phía trước, che khuất mặt tiền trắng xóa của một dãy nhà phía bên kia con đường vốn hiện ra giữa khoảng trống phía sau các biệt thự. Bà Elphinstone bỗng thét lên khi thấy vô số ngọn lửa khói đỏ rực bốc vút lên trên những ngôi nhà phía trước nền trời xanh ngắt oi ả. Tiếng ồn ào hỗn độn giờ đây hòa quyện thành một thứ âm thanh bát nháo của vô số giọng nói, tiếng bánh xe nghiến ken két, tiếng kẽo kẹt của những cỗ xe ngựa và tiếng móng nện lộp cộp. Con hẻm uốn cong gấp khúc chỉ cách ngã tư chưa đầy năm mươi thước.

“Lạy Chúa!” bà Elphinstone kêu lên. “Anh đang kéo chúng tôi lao vào cái quái gì thế này?”

Anh tôi khựng lại.

Bởi vì con đường chính lúc này là một dòng người sôi sục, một trận lũ con người đang đổ xô về phía bắc, người này chen chúc xô đẩy người kia. Một đám mây bụi khổng lồ, trắng xóa và chói lóa dưới ánh nắng gắt, khiến mọi vật trong khoảng cách hai mươi thước từ mặt đất trở nên xám xịt và mờ ảo, bị khuấy động không ngừng bởi đôi chân vội vã của một đám đông dày đặc những ngựa là ngựa cùng người đi bộ, cùng bánh xe của đủ mọi loại phương tiện.

“Tránh ra!” anh tôi nghe thấy những tiếng thét. “Tránh đường ra!”

Cảm giác tiếp cận điểm giao giữa con hẻm và đường cái chẳng khác nào lao đầu vào làn khói của một đám cháy; đám đông gầm rú như lửa thiêu, và bụi bặm thì nóng rẫy, cay xè. Và quả thực, cách đó không xa trên đường, một căn biệt thự đang bốc cháy ngùn ngụt, thổi từng cuộn khói đen cuồn cuộn băng qua đường làm tăng thêm vẻ hỗn độn.

Hai người đàn ông lướt qua họ. Tiếp đó là một người đàn bà nhếch nhác, tay xách nách mang bọc đồ nặng trịch vừa đi vừa khóc nức nở. Một chú chó săn bị lạc, lưỡi thè lè, cứ quẩn quanh đầy ngờ vực xung quanh họ với dáng vẻ hoảng sợ và thảm hại, rồi tháo chạy mất dạng trước tiếng quát dọa của anh tôi.

Phần con đường hướng về phía London mà họ có thể nhìn thấy qua kẽ hở giữa những ngôi nhà bên phải là một dòng người hối hả, dơ dáy đang cuồn cuộn trôi đi, bị kẹp chặt giữa các dãy biệt thự hai bên; những cái đầu đen kịt, những thân hình chen chúc bỗng trở nên rõ mồn một khi chúng lao hộc tốc đến góc đường, lướt vụt qua, rồi lại hòa tan cá tính của mình vào dòng người đang thụt lùi để cuối cùng bị nuốt chửng trong một đám mây bụi.

“Đi tiếp đi! Đi tiếp đi!” những giọng nói thét lên. “Tránh ra! Tránh ra!”

Tay của người này tỳ lên lưng người nọ. Anh tôi đứng sát đầu con ngựa. Bị cuốn hút một cách không thể cưỡng lại, anh chầm chậm tiến từng bước một xuống con hẻm.

Edgware từng là một cảnh hỗn loạn, Chalk Farm là một cuộc bạo động cuồng nộ, nhưng cảnh tượng này là cả một dân số đang dịch chuyển. Thật khó mà tưởng tượng nổi cái đạo quân ấy. Nó chẳng mang một nét đặc trưng riêng nào cả. Những bóng người tuôn trào qua góc phố, rồi lùi dần với tấm lưng quay về phía nhóm người trong con hẻm. Dọc theo lề đường là những kẻ đi bộ đang bị đe dọa bởi những bánh xe, vấp ngã dưới mương rãnh, va vào nhau lảo đảo.

Xe cộ chen chúc bám sát nhau, hầu như chẳng chừa lại chút lối đi nào cho những phương tiện nhanh nhẩu và thiếu kiên nhẫn hơn cứ chốc chốc lại chồm lên mỗi khi xuất hiện cơ hội, khiến dòng người phải dạt cả vào hàng rào và cổng của các biệt thự.

“Tiến lên!” tiếng hô vang dội. “Tiến lên! Chúng đang tới kìa!”

Trên một chiếc xe ngựa đứng một người đàn ông mù mặc quân phục của Cứ Thế Quân, đang quơ quơ những ngón tay quắp quèo và gào toáng lên: “Cõi vĩnh hằng! Vĩnh hằng!” Giọng ông ta khàn đặc và vang đến mức anh tôi vẫn có thể nghe thấy rõ tận lâu sau khi bóng ông đã khuất hẳn trong làn bụi mờ. Một số người chen chúc trên xe ngựa đang quất roi một cách đần độn vào những con ngựa của họ và cãi cọ với những người đánh xe khác; một số ngồi bất động, trơ mắt nhìn vô định với vẻ mặt thảm hại; một số tự cắn ngón tay mình vì khát, hoặc nằm bẹp dí dưới đáy xe. Miêm hàm của lũ ngựa phủ đầy bọt mép, đôi mắt chúng vằn lên những tia máu.

Có xe cab, xe ngựa chở khách, xe hàng, xe tải, đếm không xuể; một chiếc xe thư tín, một chiếc xe quét đường có đề chữ “Hội đồng giáo xứ St. Pancras”, một cỗ xe chở gỗ khổng lồ chất đầy những tên du côn. Một chiếc xe chở bia lộc cộc chạy qua với hai bánh xe bên trái dính đầy những vệt máu tươi.

“Dọn đường ra!” những giọng nói thét lên. “Dọn đường!”

“Cõi vĩnh-hằng! Vĩnh-hằng!” tiếng vọng lại vang lên dọc con đường.

Có những người phụ nữ hốc hác, đau khổ đang lê bước, ăn mặc sang trọng, dắt theo những đứa trẻ đang khóc lóc và vấp ngã, y phục diêm dúa đẫm đầy bụi bặm, gương mặt mệt mỏi nhem nhuốc nước mắt. Đi bên cạnh rất nhiều người trong số đó là đàn ông, có khi sẵn sàng giúp đỡ, có lúc lại lầm lì và hung bạo. Sát cánh chiến đấu cùng họ là những kẻ cặn bã cùng đinh ở xó chợ trong bộ đồ rách rưới màu đen đã phai màu, mắt trợn trừng, mồm mép lớn tiếng và thô tục. Có những thợ thủ công vạm vỡ đang tự chen lấn lối đi, những gã khốn khổ lếch thếch ăn mặc như nhân viên văn phòng hay người bán hàng, đang vật lộn trong cơn co giật; anh tôi nhận ra một người lính bị thương, những kẻ mặc trang phục nhân viên đường sắt, một sinh linh khốn khổ chỉ mặc độc chiếc áo ngủ khoác thêm chiếc áo bành tô bên ngoài.

Nhưng dẫu thành phần có đa dạng đến đâu, tất cả đám đông ấy đều có những điểm chung nhất định. Nỗi sợ hãi và đau đớn hằn lên trên khuôn mặt họ, và sự kinh hoàng bám sát phía sau. Một tiếng động ồn ã phía trên con đường, một cuộc cãi vã tranh giành một chỗ trên xe ngựa, khiến toàn bộ đám đông tăng tốc độ; ngay cả một kẻ hoảng loạn đến mức suy sụp gối quỵ xuống cũng bỗng chốc được tiếp thêm sinh lực để hoạt động trở lại. Sức nóng và bụi bặm đã bắt đầu hoành hành trên đám đông này. Làn da họ khô khốc, đôi môi thâm đen và nứt nẻ. Tất cả bọn họ đều khát nước, mệt mỏi và đau chân. Và giữa vô vàn tiếng la hét, người ta nghe thấy tiếng cãi vã, trách móc, tiếng rên rỉ vì mệt lả và kiệt sức; giọng nói của hầu hết bọn họ đều đã khàn đặc và yếu ớt. Xuyên suốt tất cả là một điệp khúc:

“Tránh ra! Tránh ra! Người Sao Hỏa đang tới!”

Rất ít người dừng lại và dạt ra khỏi dòng lũ ấy. Con hẻm mở ra xiên xiên vào con đường chính với một lối đi hẹp, mang lại một ảo tưởng đánh lừa rằng nó xuất phát từ hướng London. Thế nhưng một thứ dòng xoáy người vẫn lao vào miệng nó; những kẻ yếu đuối bị hất văng ra khỏi dòng chính, phần lớn chỉ tranh thủ nghỉ ngơi chừng một thoáng trước khi lao mình vào đó một lần nữa. Cách đó không xa trong con hẻm, với hai người bạn đang cúi người chăm sóc, là một người đàn ông bị thương ở chân trần, được băng bó bằng những miếng giẻ dính đầy máu. Anh ta là một kẻ may mắn vì có bạn bè bên cạnh.

Một ông cụ nhỏ thó, với bộ ria mép kiểu quân nhân màu xám và chiếc áo khoác đuôi tôm màu đen dơ dáy, khập khiễng bước ra ngồi phịch xuống bên cạnh chiếc xe ngựa hai bánh, tháo chiếc bốt ra — chiếc tất của ông đẫm máu — rũ sạch một hòn sỏi nhỏ ra ngoài, rồi lại lầm lũi khập khiễng bước tiếp; và rồi một bé gái độ tám, chín tuổi, đi lủi thủi một mình, ném mình xuống bãi cỏ cạnh anh tôi, nức nở khóc.

“Con không đi nổi nữa! Con không đi nổi nữa đâu!”

Anh tôi bừng tỉnh khỏi cơn mê mẩn ngỡ ngàng, bế xốc cô bé lên, cất tiếng dịu dàng an ủi và đưa em đến chỗ cô Elphinstone. Ngay khi anh tôi chạm vào, cô bé bỗng trở nên vô cùng ngoan ngoãn, như thể đang sợ hãi.

“Ellen!” một người phụ nữ trong đám đông thét lên, giọng nghẹn ngào nước mắt — “Ellen!” Và đứa trẻ lập tức vùng chạy khỏi tay anh tôi, miệng gọi “Mẹ ơi!”

“Chúng đến kìa,” một người đàn ông cưỡi ngựa hô lên khi phi qua con hẻm.

“Tránh đường ra đấy!” một người đánh xe gầm lên từ trên cao; và anh tôi thấy một chiếc xe ngựa kín đang rẽ vào con hẻm.

Mọi người xô đẩy dạt cả vào nhau để tránh con ngựa. Anh tôi đẩy lùi chiếc xe ngựa của mình sát vào hàng rào, và gã đàn ông lái xe phóng qua rồi dừng lại ngay khúc cua đường. Đó là một chiếc xe ngựa kéo đôi, nhưng chỉ có một con bị trói buộc trong dây cương. Anh tôi lờ mờ nhìn qua làn bụi thấy hai người đàn ông khiêng thứ gì đó ra từ trên một chiếc cáng trắng rồi đặt nhẹ nhàng xuống thảm cỏ dưới tán hàng rào lá nguyệt quế.

Một trong hai người đàn ông chạy sầm tới chỗ anh tôi.

“Chỗ nào có nước thế?” anh ta nói. “Ông ấy đang hấp hối rồi, và rất khát. Đó là Lãnh án Garrick.”

“Lãnh án Garrick!” anh tôi thốt lên; “Chánh án Tối cao ư?”

“Nước đâu?” anh ta giục.

“Có lẽ có vòi nước,” anh tôi đáp, “ở mấy ngôi nhà nào đó. Chúng tôi không có nước. Tôi không dám rời khỏi người của mình.”

Gã đàn ông lách qua đám đông hướng về phía cổng của ngôi nhà góc đường.

“Đi đi!” mọi người la hét, xô đẩy hắn. “Chúng đang đến kìa! Đi tiếp đi!”

Ngay lúc ấy, sự chú ý của anh tôi bị thu hút bởi một người đàn ông có chòm râu quai nón, mặt sắc như diều hâu đang lôi theo một chiếc túi xách nhỏ, thứ vừa rách toạc ra ngay khi mắt anh tôi chạm vào và trút ra một đống tiền vàng dường như vỡ vụn thành từng đồng xu riêng biệt khi chạm đất. Chúng lăn lóc khắp nơi giữa những bước chân đang giãy giụa của người và ngựa. Gã đàn ông khựng lại đẫn độn nhìn đống tiền, và càng xe của một chiếc xe cab đập trúng vai hất hắn lảo đảo. Gã thét lên một tiếng rồi lùi phắt lại, suýt thì bị bánh xe cán qua trong gang tấc.

“Tránh ra!” những người xung quanh hét lớn. “Tránh đường!”

Ngay khi chiếc xe cab vừa đi qua, gã lao mình với cả hai tay mở rộng xuống đống tiền xu, rồi vội vã cào từng vốc nhét vào túi. Một con ngựa chồm lên sát ngay phía sau, và chỉ một khoảnh khắc sau, khi gã chưa kịp chồm dậy hẳn, thân hình hắn đã bị đè bẹp dưới những móng ngựa.

“Dừng lại!” anh tôi thét lên, gạt một người phụ nữ sang một bên để cố chộp lấy dây cương ngựa.

Trước khi kịp chạm tới, anh nghe thấy một tiếng thét dưới gầm bánh xe, và nhìn qua màn bụi thấy vành bánh xe đang lăn qua lưng kẻ khốn khổ. Người đánh xe quất một roi phăng phăng vào anh tôi, khiến anh phải chạy vòng ra phía sau xe. Tiếng la hét hỗn tạp làm ù cả tai anh. Gã đàn ông đang oằn mình quằn quại trong lớp bụi giữa số tiền tản mát, không thể gượng dậy nổi vì bánh xe đã làm gãy cột sống, khiến đôi chân phía dưới mềm nhũn và chết lặng. Anh tôi đứng bật dậy quát tháo vào mặt tên đánh xe tiếp theo, và một người đàn ông cưỡi ngựa đen đã lao đến trợ giúp.

“Lôi hắn ra khỏi đường đi,” anh ta bảo; và với tay không tóm chặt lấy cổ gã đàn ông, anh tôi kéo lê hắn sang một bên. Nhưng hắn vẫn cố với lấy số tiền của mình, trừng mắt nhìn anh tôi đầy hung dữ và đấm liên hồi vào cánh tay anh bằng một nắm vàng. “Đi đi! Đi tiếp đi!” những giọng nói giận dữ gầm lên từ phía sau. “Tránh ra! Tránh ra!”

Một tiếng va chạm chói tai vang lên khi càng xe của một cỗ xe ngựa đâm sầm vào chiếc xe tải mà người đàn ông cưỡi ngựa vừa chặn lại. Anh tôi ngẩng lên, và gã đàn ông cầm vàng vặn phắt cổ ngoạm lấy cánh tay đang giữ cổ áo hắn. Một cú va đập mạnh làm con ngựa đen lảo đảo ngạng sang một bên, và con ngựa kéo xe len lách áp sát cạnh đó. Một móng ngựa sượt qua bàn chân anh tôi trong gang tấc. Anh buông tay khỏi kẻ ngã ngựa rồi nhảy lùi lại. Anh thấy sự giận dữ biến thành nỗi kinh hoàng trên gương mặt kẻ khốn khổ dưới đất, và chỉ chớp mắt hắn đã bị che khuất, còn anh tôi bị đám đông đẩy lùi về phía sau, trôi qua cả lối vào con hẻm và phải chiến đấu cật lực trong dòng lũ xiết mới ngoi lại được.

Anh thấy cô Elphinstone đưa tay che mắt, và một đứa trẻ, với sự thiếu hụt trí tưởng tượng đồng cảm vốn có của trẻ thơ, đang trân trân giương đôi mắt mở lớn nhìn một vật thể đầy bụi bặm nằm đen thui và bất động, bị nghiền nát dưới những vòng bánh xe lăn. “Chúng ta quay lại thôi!” anh thét lên, rồi bắt đầu quay đầu con ngựa lại. “Chúng ta không thể vượt qua cái — địa ngục này đâu,” anh nói và họ lùi lại trăm thước theo lối cũ, cho đến khi đám đông hỗn chiến bị khuất hẳn. Khi đi qua khúc cua trong con hẻm, anh tôi thoáng thấy gương mặt của người đàn ông hấp hối dưới mương nước cạnh hàng rào nguyệt quế, trắng bệch, nhăn nhúm và đầm đìa mồ hôi. Hai người phụ nữ ngồi im thin thít, co rúm người trên ghế và run lẩy bẩy.

Rồi qua khỏi khúc cua, anh tôi lại dừng lại. Cô Elphinstone tái mét, còn cô em chồng của cô ngồi khóc nức nở, quá đau khổ đến mức chẳng thèm gọi “George” nữa. Anh tôi cảm thấy hoảng sợ và bối rối. Ngay khi họ vừa rút lui, anh nhận ra việc cố gắng vượt qua lối này là vô cùng cấp bách và không thể tránh khỏi. Anh quay sang cô Elphinstone với vẻ quyết đoán đột ngột.

“Chúng ta phải đi theo hướng đó,” anh nói và quay đầu con ngựa trở lại.

Lần thứ hai trong ngày, cô gái này chứng tỏ được bản lĩnh của mình. Để chen chân vào dòng người đang cuồng nộ, anh tôi lao thẳng vào luồng giao thông và chặn đầu một con xe cab, trong khi cô điều khiển con ngựa vượt qua phía trước đầu nó. Một cỗ xe ngựa bị vướng bánh trong giây lát đã tiện đứt một mảnh ván dài từ chiếc xe hai bánh của họ. Chỉ khoảnh khắc sau, họ bị cuốn phăng đi và quét về phía trước theo dòng chảy. Anh tôi, với những vết roi đỏ lằn trên mặt và tay của người đánh xe cab, trèo vội lên xe và giật lấy dây cương từ tay cô.

“Chĩa súng lục vào gã đằng sau,” anh nói, vừa trao nó cho cô, “nếu hắn ép chúng ta quá mức. Không! — chĩa vào con ngựa của hắn ấy.”

Rồi anh bắt đầu tìm kiếm cơ hội lách sang phải để băng qua đường. Nhưng một khi đã lọt vào dòng lũ, anh dường như mất đi quyền tự chủ, trở thành một phần của đám đông bụi bặm ấy. Họ quét qua Chipping Barnet cùng dòng lũ xiết; họ đã đi được gần một dặm qua khỏi trung tâm thị trấn mới có thể chen đấu sang được phần đường phía bên kia. Đó là thứ âm thanh ầm ĩ và sự hỗn loạn không thể tả xiết; nhưng trong và ngoài thị trấn, con đường liên tục rẽ nhánh, và điều này phần nào làm giảm bớt áp lực.

Họ rẽ về phía đông qua Hadley, và ở đó hai bên đường cùng một địa điểm khác xa hơn, họ bắt gặp một đám đông khổng lồ đang uống nước bên suối, có kẻ còn tranh giành nhau để tiếp cận nguồn nước. Và xa hơn nữa, từ một quãng im ắng gần East Barnet, họ nhìn thấy hai đoàn tàu đang chạy chầm chậm nối tiếp nhau mà chẳng có tín hiệu hay mệnh lệnh nào — những đoàn tàu đặc kín người, thậm chí có cả đàn ông chen chúc cả giữa đống than phía sau đầu máy — đang hướng về phía bắc dọc theo tuyến đường sắt Great Northern Railway. Anh tôi đoán chắc chúng phải được nhồi nhét từ bên ngoài London, bởi vào thời điểm đó nỗi kinh hoàng cuồng loạn của người dân đã khiến các nhà ga trung tâm trở nên bất khả xâm phạm.

Gần địa điểm này, họ dừng chân nghỉ ngơi suốt buổi chiều còn lại, bởi sự dữ dội của cả ngày dài đã vắt kiệt sức lực của cả ba người. Họ bắt đầu cảm nhận những cơn đói cào ruột; ban đêm trời trở lạnh, và chẳng ai trong số họ dám ngủ thiếp đi. Và vào buổi tối, rất nhiều người hối hả chạy dọc con đường gần nơi họ dừng chân, trốn chạy những hiểm nguy vô hình phía trước và đi theo hướng ngược lại với hướng mà anh tôi vừa đến.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của H. G. Wells

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.