Tôi trải qua đêm đó trong quán trọ nằm trên đỉnh đồi Putney, được nằm ngủ trên một chiếc giường đàng hoàng lần đầu tiên kể từ khi trốn chạy tới Leatherhead. Tôi không muốn kể lể về những rắc rối vô tích sự khi phải cạy cửa ngôi nhà ấy—mãi sau tôi mới phát hiện ra cửa trước chỉ khép hờ—cũng như cách tôi lục lọi từng căn phòng để tìm kiếm đồ ăn, cho đến tận bờ vực của sự tuyệt vọng, trong căn phòng có vẻ như là của người hầu, tôi tìm thấy một mẩu bánh mì bị chuột gặm và hai hộp dứa. Nơi này đã bị lục soát và vét sạch từ trước. Ở quầy bar, sau đó tôi tìm thấy vài chiếc bánh quy và bánh kẹp đã bị bỏ sót. Mấy chiếc bánh kẹp thì tôi không thể ăn nổi vì chúng đã quá thối rữa, nhưng bánh quy thì không chỉ làm dịu cơn đói mà còn nhét đầy túi áo tôi. Tôi không thắp đèn, sợ rằng có tên Sao Hỏa nào đó sẽ lùng sục khu vực đó của London để kiếm đồ ăn trong đêm. Trước khi đi ngủ, tôi trải qua một khoảng thời gian bồn chồn, đi lang thang từ cửa sổ này sang cửa sổ khác, ngó nghiêng tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của những con quái vật ấy. Tôi chợp mắt rất ít. Khi nằm trên giường, tôi thấy mình bắt đầu suy nghĩ mạch lạc—một điều mà tôi không nhớ là mình đã từng làm kể từ cuộc tranh luận cuối cùng với viên mục sư. Trong suốt khoảng thời gian xen giữa ấy, tâm trí tôi chỉ là một chuỗi nối tiếp vội vã những trạng thái cảm xúc mơ hồ hoặc một thứ khả năng tiếp thu đờ đẫn. Nhưng trong đêm đó, bộ não tôi, có lẽ được hồi phục nhờ số thức ăn đã ăn, đã trở nên minh mẫn trở lại, và tôi bắt đầu suy nghĩ.
Ba điều tranh giành sự chú ý trong tâm trí tôi: cái chết của viên mục sư, tung tích của những kẻ Sao Hỏa, và số phận có thể xảy ra của vợ tôi. Điều đầu tiên không mang lại cho tôi chút cảm giác kinh hãi hay ân hận nào khi nhớ lại; tôi nhìn nhận nó đơn thuần như một việc đã rồi, một ký ức vô cùng khó chịu nhưng hoàn toàn không mang chút màu sắc hối hận nào. Lúc đó tôi nhìn bản thân mình cũng như bây giờ, bị đẩy từng bước tới cú đánh vội vã ấy, là sản phẩm của một chuỗi tai nạn dẫn dắt tất cả đến cục diện đó một cách tất yếu. Tôi không tự phán xét; thế mà ký ức ấy, tĩnh lặng, không tiến triển, cứ mãi ám ảnh tôi. Trong sự tĩnh lặng của màn đêm, với cảm giác về sự gần gũi của Chúa đôi khi xuất hiện trong sự yên tĩnh và bóng tối, tôi đứng trước tòa phán xét, phiên tòa duy nhất của tôi, vì khoảnh khắc giận dữ và sợ hãi đó. Tôi lần giở lại từng bước cuộc trò chuyện của chúng tôi từ khoảnh khắc tôi tìm thấy hắn đang nép bên cạnh mình, phớt lờ cơn khát của tôi, và chỉ tay về phía ngọn lửa cùng làn khói đang bốc lên từ đống đổ nát của Weybridge. Chúng tôi đã không thể hợp tác với nhau—sự ngẫu nhiên nghiệt ngã đã chẳng màng tới điều đó. Nếu lường trước được, tôi đã bỏ mặc hắn ở Halliford. Nhưng tôi đã không lường trước; mà tội ác chính là việc lường trước rồi vẫn làm. Và tôi ghi lại điều này cũng như đã ghi lại toàn bộ câu chuyện này, đúng như sự thật của nó. Chẳng có nhân chứng nào cả—tất cả những chuyện này lẽ ra tôi đã có thể giấu nhẹm đi. Nhưng tôi vẫn viết ra, và độc giả tùy ý đưa ra phán quyết của mình.
Và khi, bằng một nỗ lực, tôi gạt bức tranh về thân xác ngã gục ấy sang một bên, tôi phải đối mặt với vấn đề về những kẻ Sao Hỏa và số phận của vợ tôi. Về vế đầu, tôi chẳng có chút dữ liệu nào; tôi có thể tưởng tượng ra hàng trăm điều, và thật đau đớn, tôi cũng có thể làm thế với vế sau. Để rồi bất chợt đêm đó trở nên thật khủng khiếp. Tôi thấy mình ngồi bật dậy trên giường, trân trân nhìn vào bóng tối. Tôi thấy mình đang cầu nguyện rằng Tia Nhiệt có thể đã đột ngột và không đau đớn mà xóa sổ cô ấy khỏi cõi đời này. Kể từ đêm trở về từ Leatherhead, tôi đã không hề cầu nguyện. Tôi từng thốt ra những lời cầu nguyện, những lời cầu nguyện mang tính bùa chú, từng cầu nguyện như những kẻ ngoại đạo lầm rầm câu chú khi lâm vào bước đường cùng; nhưng giờ đây tôi thực sự cầu nguyện, khẩn khoản một cách kiên định và tỉnh táo, đối mặt trực diện với bóng tối của Chúa. Đêm kỳ lạ làm sao! Kỳ lạ nhất ở chỗ, ngay khi bình minh ló dạng, tôi—người vừa trò chuyện với Chúa—lại bò lê ra khỏi ngôi nhà như một con chuột rời khỏi nơi ẩn nấp—một sinh vật chẳng lớn hơn là bao, một loài động vật thấp kém, một thứ mà chỉ vì một nỗi hứng thú bất chợt nào đó của những kẻ thống trị chúng ta cũng có thể bị săn lùng và tiêu diệt. Có lẽ chúng cũng đang tự tin cầu nguyện với Chúa. Chắc chắn rằng, nếu chúng ta không học được điều gì khác, cuộc chiến này ít nhất đã dạy cho chúng ta lòng trắc ẩn—lòng trắc ẩn dành cho những tâm hồn u mê đang chịu đựng ách thống trị của chúng ta.
Buổi sáng tươi đẹp và quang đãng, bầu trời phía đông ánh lên sắc hồng, được thêu dệt bởi những đám mây vàng nhỏ xíu. Trên con đường chạy từ đỉnh đồi Putney đến Wimbledon là vô số dấu vết nghèo nàn của dòng người hoảng loạn chắc hẳn đã đổ dồn về hướng London vào tối Chủ nhật sau khi giao tranh bắt đầu. Có một chiếc xe kéo hai bánh mang tên Thomas Lobb, Người bán rau, New Malden, với một bánh xe bị đập nát và một chiếc rương thiếc bị bỏ lại; có một chiếc mũ rơm bị giẫm nát vùi trong lớp bùn giờ đã cứng lại, và trên đỉnh đồi West Hill là rất nhiều mảnh thủy tinh dính máu xung quanh cái máng nước bị lật úp. Mọi cử động của tôi đều uể oải, các dự định thì vô cùng mơ hồ. Tôi có ý định đến Leatherhead, dẫu biết rằng ở đó cơ hội tìm thấy vợ mình là mong manh nhất. Chắc chắn rằng, trừ khi cái chết bất ngờ giáng xuống, các anh em họ và cô ấy đã trốn chạy khỏi nơi đó; nhưng tôi cảm thấy mình có thể tìm thấy hoặc nghe ngóng được tại đó xem người dân xứ Surrey đã chạy trốn đi đâu. Tôi biết mình muốn tìm vợ, rằng trái tim tôi đau thắt vì cô ấy và vì thế giới loài người, nhưng tôi chẳng có chút hình dung rõ ràng nào về việc cuộc tìm kiếm ấy sẽ được thực hiện ra sao. Giờ đây tôi cũng thấm thía nhận ra sự cô đơn tột cùng của mình. Từ góc đường, nấp dưới tán cây cối và bụi rậm dày đặc, tôi tiến đến rìa của Wimbledon Common, trải dài rộng lớn và xa xôi.
Khoảng không tối tăm ấy được thắp sáng từng mảng bởi hoa kim tước và đậu chổi vàng rực; không một bóng dáng loài cỏ đỏ nào xuất hiện, và khi tôi dò dẫm, ngập ngừng ở rìa vùng đất trống, mặt trời mọc lên, tràn ngập ánh sáng và sức sống khắp nơi. Tôi bắt gặp một bầy ếch nhái đang bận rộn trong một vũng nước lầy lội giữa những tán cây. Tôi dừng lại ngắm nhìn chúng, rút ra bài học từ quyết tâm sống mãnh liệt của loài vật nhỏ bé ấy. Và ngay khoảnh khắc đó, quay phắt lại với cảm giác kỳ lạ rằng mình đang bị theo dõi, tôi nhìn thấy một sinh vật đang co ro giữa lùm bụi. Tôi đứng sững lại quan sát. Tôi bước một bước về phía nó, và nó chồm dậy biến thành một người đàn ông mang theo một thanh đoản đao. Tôi chậm rãi tiến lại gần hắn. Hắn đứng im lặng và bất động, nhìn chằm chằm vào tôi.
Khi đến gần hơn, tôi nhận ra hắn mặc bộ trang phục bám đầy bụi bẩn và nhơ nhớp chẳng kém gì tôi; trông hắn thực sự cứ như vừa bị lôi qua một cống ngầm. Lại gần thêm chút nữa, tôi phân biệt được lớp bùn xanh của mương rạch hòa lẫn với sắc xám nhạt của đất sét khô và những vệt than bóng loáng. Mái tóc đen rũ xuống che khuất đôi mắt, gương mặt hắn tối tăm, bẩn thỉu và hốc hác đến mức thoạt đầu tôi không nhận ra hắn. Có một vết cắt đỏ rớm máu vắt ngang phần dưới khuôn mặt hắn.
“Đứng lại!” hắn thét lên, khi tôi chỉ còn cách chừng mười thước, và tôi khựng lại. Giọng hắn khàn đặc. “Mày từ đâu tới?” hắn hỏi.
Tôi ngẫm nghĩ, đảo mắt quan sát hắn.
“Tôi đến từ Mortlake,” tôi nói. “Tôi bị vùi lấp gần cái hố mà bọn Sao Hỏa đào xung quanh chiếc ống phóng của chúng. Tôi đã tự mình đào bới để thoát ra và trốn thoát.”
“Chẳng có đồ ăn quanh đây đâu,” hắn nói. “Đây là lãnh địa của tao. Toàn bộ ngọn đồi này kéo dài xuống tận con sông, ngược về Clapham, và lên tận mép bãi đất hoang. Thức ăn chỉ đủ cho một người thôi. Mày định đi đường nào?”
Tôi chậm rãi đáp lời.
“Tôi không biết,” tôi nói. “Tôi đã bị vùi lấp trong đống đổ nát của một ngôi nhà mười ba hay mười bốn ngày nay. Tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra nữa.”
Hắn nhìn tôi đầy ngờ vực, đoạn giật mình, ánh mắt chuyển sang một vẻ khác hẳn.
“Tôi chẳng có ý định lảng vảng ở đây đâu,” tôi nói. “Tôi nghĩ mình sẽ đến Leatherhead, vì vợ tôi ở đó.”
Hắn bỗng giơ thẳng ngón tay ra hiệu.
“Chính là mày,” hắn nói; “gã đàn ông đến từ Woking. Và mày đã không bị giết ở Weybridge sao?”
Tôi nhận ra hắn ngay cùng khoảnh khắc ấy.
“Anh là tay pháo thủ từng xông vào vườn nhà tôi.”
“May mắn thật đấy!” hắn nói. “Chúng ta đúng là những kẻ may mắn! Không ngờ lại là mày!” Hắn chìa tay ra, và tôi nắm lấy nó. “Tao đã bò qua một đường cống,” hắn kể. “Nhưng chúng có giết hết tất cả đâu. Và sau khi chúng bỏ đi, tao đã chuồn về hướng Walton qua mấy cánh đồng. Nhưng mà——Tính ra thì chưa đầy mười sáu ngày—vậy mà tóc mày đã điểm bạc rồi.” Hắn sực ngoái đầu nhìn ra sau. “Chỉ là một con quạ thôi,” hắn lẩm bẩm. “Dạo này người ta đâm ra cảnh giác với cả cái bóng của chim chác. Chỗ này trống trải quá. Lại đây, chúng ta chui vào đám bụi rậm kia rồi nói chuyện.”
“Anh có thấy lũ Sao Hỏa nào không?” tôi hỏi. “Từ lúc tôi thoát ra tới giờ——”
“Chúng đã kéo đi qua phía bên kia London rồi,” hắn nói. “Tao đoán chúng lập một doanh trại lớn hơn ở đằng đó. Cứ về đêm, cả một vùng trời phía Hampstead ngập tràn ánh đèn của chúng. Trông như một thành phố lớn vậy, và trong ánh chói lọi ấy, mày có thể lờ mờ thấy chúng di chuyển. Ban ngày thì không thấy gì. Nhưng gần đây—tao chẳng thấy bóng dáng chúng—” (hắn đếm trên những ngón tay) “năm ngày nay rồi. Sau đó tao thấy một cặp ở mảng Hammersmith đang khiêng cái gì đó rất to. Và tối hôm kia”—hắn khựng lại, giọng đầy vẻ ấn tượng—“chỉ toàn là ánh đèn thôi, nhưng có một vật gì đó lơ lửng trên không trung. Tao tin là chúng đã đóng được một cỗ máy bay, và đang tập tành bay lượn.”
Tôi dừng lại, chống tay và đầu gối xuống đất, vì chúng tôi đã đến chỗ lùm bụi.
“Bay ư!”
“Ừ,” hắn nói, “bay.”
Tôi chui tiếp vào một vòm lá nhỏ, rồi ngồi xuống.
“Mọi chuyện tiêu tùng với nhân loại thật rồi,” tôi nói. “Nếu chúng làm được điều đó, chúng sẽ đơn giản là đi vòng quanh thế giới.”
Hắn gật đầu.
“Sẽ thế thôi. Nhưng mà—— Dù sao thì chuyện đó cũng làm giảm bớt áp lực ở khu vực này đi một chút. Và ngoài ra——” Hắn nhìn tôi. “Mày chưa chịu thừa nhận là nhân loại tiêu đời rồi sao? Tao thì rồi đấy. Chúng ta gục ngã rồi; chúng ta thua cuộc rồi.”
Tôi trân trân nhìn hắn. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng tôi vẫn chưa đi đến kết luận thực tế ấy—một sự thật hiển nhiên ngay khi hắn cất lời. Tôi vẫn ôm ấp một niềm hy vọng mong manh; hay đúng hơn, tôi vẫn giữ một thói quen tư duy bấy lâu nay. Hắn lặp lại câu nói của mình: “Chúng ta thua rồi.” Chúng mang theo một sự thuyết phục tuyệt đối.
“Mọi chuyện chấm hết rồi,” hắn nói. “Chúng mới mất có một con—chỉ một con duy nhất thôi. Thế mà chúng đã đặt chân vững chắc và làm tê liệt cường quốc lớn nhất trên thế giới. Chúng đã giẫm đạp lên chúng ta. Cái chết của con quái vật ở Weybridge chỉ là một tai nạn. Và bọn chúng đây chỉ mới là những kẻ dọn đường. Chúng vẫn tiếp tục kéo đến. Những ngôi sao xanh ấy—tao chẳng thấy con nào trong năm sáu ngày nay, nhưng tao chắc chắn rằng chúng vẫn đang rơi xuống đâu đó vào mỗi đêm. Chẳng còn gì để làm nữa cả. Chúng ta tiêu đời rồi! Chúng ta thua rồi!”
Tôi không đáp lời hắn. Tôi ngồi nhìn đăm đăm về phía trước, hoài công tìm cách nghĩ ra một ý kiến nào đó để phản bác.
“Đây không phải là một cuộc chiến,” tay pháo thủ nói. “Nó chưa từng là chiến tranh, chẳng khác nào cuộc chiến giữa con người và loài kiến vậy.”
Bất chợt tôi nhớ lại đêm ở đài quan sát.
“Sau phát đạn thứ mười, chúng không bắn nữa—ít nhất là cho đến khi chiếc ống phóng đầu tiên xuất hiện.”
“Mày biết thế nào?” tay pháo thủ hỏi. Tôi giải thích cho hắn nghe. Hắn trầm ngâm suy nghĩ. “Cỗ súng có trục trặc gì đó,” hắn nói. “Nhưng nhỡ có trục trặc thì sao chứ? Chúng sẽ sửa lại được thôi. Và cho dù có sự chậm trễ đi nữa, thì điều đó làm sao thay đổi được kết cục? Chẳng qua chỉ là loài người với loài kiến mà thôi. Bọn kiến tự xây thành phố, sống cuộc đời của chúng, đánh nhau, làm cách mạng, cho đến khi con người muốn quét sạch chúng đi, thì chúng phải biến đi. Giờ chúng ta chính là như thế đấy—chỉ là loài kiến mà thôi. Chỉ có điều——”
“Sao nào?” tôi hỏi.
“Chúng ta là loài kiến ăn được.”
Chúng tôi ngồi nhìn nhau.
“Và chúng sẽ làm gì với chúng ta?” tôi hỏi.
“Đó là điều tao vẫn đang ngẫm nghĩ,” hắn nói; “đó là điều tao vẫn đang ngẫm nghĩ. Sau vụ Weybridge, tao đi về phía nam—vừa đi vừa nghĩ. Tao thừa hiểu cục diện thế nào rồi. Hầu hết mọi người đều cắm cổ la hét và làm cho tinh thần hoảng loạn lên. Nhưng tao không thích la hét kiểu đó. Tao đã giáp mặt với thần chết một hai lần rồi; tao không phải là một gã lính kiểng, và dù ở hoàn cảnh tồi tệ nhất hay tốt đẹp nhất, cái chết—thì cũng chỉ là cái chết mà thôi. Và chính kẻ nào kiên trì suy nghĩ mới là kẻ sống sót. Tao thấy mọi người lũ lượt kéo nhau trốn về phương nam. Tao tự nhủ, ‘Đi hướng này thì thức ăn sẽ cạn kiệt cho mà xem,’ và tao quay ngoắt đầu lại. Tao lao thẳng về phía bọn Sao Hỏa hệt như cách một con chim sẻ lao về phía con người. Khắp nơi”—hắn vẫy tay về phía đường chân trời—“họ đang chết đói từng đống, giẫm đạp lên nhau, cuống cuồng tháo chạy. . . .”
Hắn nhìn sắc mặt tôi, rồi ngượng ngùng khựng lại.
“Chắc chắn là khối kẻ có tiền đã chuồn sang Pháp rồi,” hắn nói. Hắn dường như chần chừ không biết có nên xin lỗi hay không, bắt gặp ánh mắt tôi, rồi nói tiếp: “Thức ăn ở quanh đây đầy ra đấy. Đồ hộp trong các cửa hàng; rượu vang, rượu mạnh, nước khoáng; và các đường ống nước chính lẫn cống rãnh đều đang trống hoác. Ừm, tao đang kể cho mày nghe những gì tao suy ngẫm mà. ‘Đấy toàn là những sinh vật có trí khôn,’ tao tự nhủ, ‘và có vẻ chúng muốn dùng chúng ta làm thức ăn. Trước tiên, chúng sẽ đập nát chúng ta—từ tàu bè, máy móc, súng ống, thành phố, cho đến mọi trật tự và tổ chức. Tất cả những thứ đó sẽ cuốn theo chiều gió. Nếu chúng ta nhỏ bằng loài kiến thì may ra còn qua khỏi. Nhưng chúng ta lại không nhỏ như thế. Mọi thứ quá cồng kềnh để mà ẩn nấp. Đó là điều chắc chắn đầu tiên.’ Hả?”
Tôi gật đầu đồng tình.
“Đúng thế; tao đã suy tính kỹ rồi. Rất tốt, vậy thì—tiếp theo; hiện tại chúng ta bị tóm bất cứ lúc nào chúng muốn. Bọn Sao Hỏa chỉ cần đi vài dặm là có thể khiến cả đám người hoảng loạn tháo chạy. Và có một bận tao tận mắt thấy một con ở ngoài vùng Wandsworth đang tháo dỡ từng ngôi nhà và bới tung đống đổ nát. Nhưng chúng sẽ không tiếp tục làm thế mãi đâu. Ngay khi chúng dẹp sạch mọi khẩu pháo và tàu bè của chúng ta, đập nát đường sắt, và hoàn tất những việc chúng đang làm ở bên kia, chúng sẽ bắt đầu bắt giữ chúng ta một cách có hệ thống, lựa chọn những con ngon nghẻ nhất rồi nhốt vào chuồng trại hay thứ gì đại loại thế. Đó là việc chúng sẽ bắt đầu làm chẳng mấy chốc nữa đâu. Chúa ơi! Chúng còn chưa thèm ra tay với chúng ta đâu đấy. Mày không nhận ra điều đó à?”
“Chưa ra tay ư!” tôi kinh ngạc thốt lên.
“Chưa đâu. Mọi chuyện xảy ra từ trước đến nay đều là do chúng ta không có nổi cái khôn ngoan để mà im lặng—cứ chọc giận chúng bằng súng ống và mấy thứ trò hề ngớ ngẩn đó. Rồi lại mất bình tĩnh, lũ lượt kéo nhau chạy tháo thân đến những nơi chẳng an toàn hơn chỗ cũ là bao. Chúng còn chưa thèm bận tâm đến chúng ta lúc này đâu. Chúng đang bận chế tạo đồ đạc của chúng—chế tạo tất cả những thứ mà chúng không thể mang theo khi vượt không gian, chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ cho phần còn lại của đồng bào chúng. Rất có thể đó là lý do tại sao những chiếc ống phóng đã tạm ngừng rơi một thời gian, vì sợ bắn nhầm vào những kẻ đang ở đây. Và thay vì cắm cổ chạy toán loạn lên trong vô định, hay đi kiếm thuốc nổ với hy vọng mong manh là phá nát được chúng, chúng ta phải tự xoay xở thích ứng theo tình hình mới. Đó là cách tao tính toán sự việc. Nó không hẳn đúng ý muốn của một kẻ đối với giống loài mình, nhưng nó phản ánh đúng những gì thực tế đang bày ra trước mắt. Và đó là nguyên tắc mà tao hành động. Thành phố, quốc gia, nền văn minh, sự tiến bộ—chấm hết rồi. Trò chơi đó kết thúc rồi. Chúng ta thua rồi.”
“Nhưng nếu đúng là như vậy, thì chúng ta còn gì để mà sống nữa?”
Tay pháo thủ nhìn tôi chằm chằm một lát.
“Sẽ chẳng còn những buổi hòa nhạc vui vẻ nào nữa trong khoảng một triệu năm tới; sẽ chẳng có Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia nào cả, và cũng chẳng có những bữa ăn thị soạn nho nhỏ tại các nhà hàng đâu. Nếu mày tìm kiếm sự giải trí, tao e rằng cuộc chơi tàn rồi. Nếu mày còn giữ cái phong cách tiểu thư công tử hay sự khó chịu khi phải ăn đậu Hà Lan bằng dao hoặc phát âm sai lỗi chính tả, tốt nhất là vứt quách chúng đi đi. Chúng chẳng còn tích sự gì nữa đâu.”
“Ý anh là——”
“Ý tao là những kẻ như tao vẫn sẽ tiếp tục sống—vì sự tồn vong của giống nòi. Tao nói cho mày hay, tao quyết tâm sống chết đến cùng đấy. Và nếu tao đoán không lầm, mày cũng sẽ sớm phô bày bản lĩnh của mình ra thôi trước khi quá muộn. Chúng ta sẽ không bị tuyệt chủng đâu. Và tao cũng chẳng đời nào chịu để bị tóm, rồi bị thuần hóa, vỗ béo và đem ra nhân giống như một con bò tót khổng lồ đâu. Hồi hộp ghê nhỉ! Cứ nghĩ đến lũ dây leo màu nâu đó xem!”
“Ý anh không phải là——”
“Đúng thế đấy. Tao sẽ tiếp tục sống, ngay dưới chân bọn chúng. Tao đã lên kế hoạch sẵn rồi; tao đã suy tính kỹ lưỡng rồi. Loài người chúng ta đã thua. Chúng ta hiểu biết quá ít. Chúng ta phải học hỏi trước khi có bất kỳ cơ hội nào. Và chúng ta phải sống, phải giữ được sự độc lập trong lúc học hỏi. Hiểu chưa! Đó là việc phải làm.”
Tôi ngẩn người kinh ngạc, vô cùng xúc động trước quyết tâm của gã đàn ông này.
“Lạy Chúa vĩ đại!” tôi kêu lên. “Anh quả thực là một đấng nam nhi chính hiệu!” Và bất chợt tôi siết chặt tay hắn.
“Hả!” hắn nói, đôi mắt sáng rực lên. “Tao đã tính kỹ cả rồi, phải không?”
“Nói tiếp đi,” tôi giục.
“Ừm, những ai muốn thoát khỏi cảnh bị tóm thì phải chuẩn bị sẵn sàng. Tao đang chuẩn bị đây. Mà này, không phải tất cả chúng ta đều sinh ra để làm dã thú đâu; và đó chính là thứ mà chúng ta buộc phải trở thành. Đó là lý do tại sao tao theo dõi mày. Tao đã có những hoài nghi. Mày trông có vẻ mảnh khảnh. Hồi đó tao có nhận ra mày là ai đâu, với lại tao cũng chẳng biết mày đã bị vùi lấp ra sao. Tất cả bọn họ—những kẻ từng sống trong những ngôi nhà này, và cả đám nhân viên văn phòng chết tiệt chuyên chui rúc ở cái vùng đó—chúng chẳng có tích sự gì sất. Trong người chúng chẳng có chút tinh thần nào—chẳng có những giấc mơ kiêu hãnh hay những ham muốn kiêu hãnh; mà một kẻ không có lấy một trong hai thứ đó—Chúa ơi! Hắn ta ngoài sự hèn nhát và tính toán thận trọng ra thì còn là cái thá gì chứ? Bọn chúng chỉ biết cắm cổ chạy đi làm—tao đã thấy hàng trăm tên như thế, một mẩu bánh mì trên tay, chạy thục mạng sáng lòa cốt để bắt cho kịp chuyến tàu vé tháng của chúng, vì sợ bị sa thải nếu đến muộn; làm việc trong những ngành nghề mà chúng sợ phải tốn công tìm hiểu; rồi lại cắm cổ chạy về vì sợ không kịp bữa tối; rúm ró trong nhà sau bữa tối vì sợ mấy con hẻm phía sau, và ngủ với những người vợ mà chúng kết hôn, không phải vì khao khát họ, mà vì họ có chút của hồi môn giúp chúng cảm thấy an toàn trong cái cuộc trốn chạy khốn khổ duy nhất của chúng qua cõi đời này. Mua bảo hiểm nhân thọ và dành dụm chút ít vì sợ tai nạn bất ngờ. Và vào Chủ nhật—thì sợ hãi thế giới bên kia. Cứ như thể địa ngục được xây ra dành cho loài thỏ vậy! Chà, bọn Sao Hỏa sẽ đúng là món quà từ trời rơi xuống cho những kẻ này. Những chiếc chuồng rộng rãi thoải mái, thức ăn vỗ béo, được nhân giống cẩn thận, chẳng phải lo âu gì sất. Sau độ một tuần chạy nhảy khốn khổ ngoài đồng rẫy với cái bụng rỗng không, chúng sẽ tự nguyện cúi đầu chịu bắt với vẻ mặt hớn hở. Chẳng mấy chốc mà chúng thấy mãn nguyện thôi. Chúng sẽ tự hỏi không biết loài người từng sống bằng gì trước khi có những vị chủ nhân Sao Hỏa chăm sóc cho họ. Rồi cả đám bợm nhậu ở quán bar, mấy tên công tử bột, mấy gã ca sĩ—tao có thể tưởng tượng ra bọn chúng. Tao có thể tưởng tượng ra tất cả,” hắn nói với một vẻ thỏa mãn u ám.
“Sẽ có đủ thứ tình cảm ủy mị và tôn giáo rẻ tiền lan tràn trong đám người đó. Có hàng tá thứ mà trước đây tao chỉ thoáng thấy bằng mắt nhưng mãi mấy ngày nay mới ngẫm ra cho tường tận. Sẽ có rất nhiều kẻ chấp nhận thực tại theo kiểu—vừa béo tốt vừa đần độn; và sẽ có rất nhiều kẻ bị dằn vặt bởi cảm giác mơ hồ rằng mọi thứ đang sai trái, rằng đáng lẽ chúng phải làm một điều gì đó. Giờ thì cứ khi nào hoàn cảnh đưa đẩy đến mức đông đảo người ta cảm thấy mình phải làm điều gì đó, thì những kẻ yếu đuối, và những kẻ bị suy nhược tinh thần bởi hàng đống suy nghĩ phức tạp, luôn bấu víu vào một thứ tôn giáo vô vi nào đó, vô cùng sùng đạo và ra điều cao thượng, rồi ngoan ngoãn phục tùng sự bức hại và ý Chúa. Rất có thể mày cũng từng chứng kiến điều tương tự. Đó chính là nguồn năng lượng trong một cơn bão hoảng loạn, nhưng bị lộn nhặt trái ngược hoàn toàn. Những cái chuồng đó sẽ tràn ngập những bài thánh vịnh, thánh ca và sự sùng đạo. Và những kẻ thuộc loại ít đơn giản hơn sẽ nêm nếm thêm chút ít—gọi là gì nhỉ?—hơi hướng ái tình.”
Hắn dừng lại giây lát.
“Rất có thể những kẻ Sao Hỏa đó sẽ nuôi vài người làm thú cưng; huấn luyện chúng làm trò—ai mà biết được?—rồi tỏ ra ủy mị với cậu cưng thú vị nào đó lớn lên rồi đến lúc cũng phải bị mang đi giết thịt. Và có lẽ, một số tên, chúng sẽ huấn luyện để đi săn lùng chúng ta.”
“Không,” tôi hét lên, “điều đó là không thể! Không một con người nào——”
“Việc gì phải tiếp tục tự huyễn hoặc với những lời nói dối ngớ ngẩn đó chứ?” tay pháo thủ nói. “Sẽ có những kẻ sẵn sàng làm việc đó với vẻ mặt hớn hở ấy chứ. Thật nhảm nhí khi cứ giả vờ như không có chuyện đó!”
Và tôi đã phải khuất phục trước lập luận đanh thép của hắn.
“Nếu chúng lùng bắt tao,” hắn nói; “Lạy Chúa, nếu chúng thực sự lùng bắt tao!” rồi chìm vào một khoảng trầm tư u ám.
Tôi ngồi ngẫm nghĩ về những điều đó. Tôi chẳng thể tìm ra lý lẽ nào để phản bác lại suy luận của gã đàn ông này. Vào những ngày trước cuộc xâm lược, chẳng ai có thể hoài nghi về sự vượt trội về mặt trí tuệ của tôi so với hắn—tôi, một nhà văn chuyên nghiệp và có tên tuổi viết về các đề tài triết học, còn hắn chỉ là một tên lính trơn; thế mà hắn lại đã sớm định hình được một cục diện mà tôi hầu như chưa hề nhận thức nổi.
“Anh đang làm gì thế?” tôi hỏi sau một lát. “Anh đã lên kế hoạch gì chưa?”
Hắn ngập ngừng.
“Ừm, sự thể là thế này,” hắn nói. “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải tạo ra một lối sống mà ở đó con người có thể sinh sống, sinh sôi nảy nở, và đủ an toàn để nuôi nấng con cái. Phải—chờ chút đã, tao sẽ nói rõ hơn về những gì tao nghĩ nên làm. Lũ người thuần hóa sẽ tàn lụi giống như mọi loài thú nuôi khác; chỉ vài thế hệ sau, chúng sẽ trở nên to lớn, đẹp đẽ, máu huyết dồi dào, đần độn—chỉ là đồ bỏ đi! Nguy cơ nằm ở chỗ những kẻ giữ được bản tính hoang dã như chúng ta sẽ trở nên hoang dã thật sự—thoái hóa thành một thứ chuột cống to lớn, dữ tợn. . . . Mày thấy đấy, cách tao định sống là ở dưới lòng đất. Tao đã suy nghĩ về hệ thống cống rãnh. Dĩ nhiên những kẻ mù tịt về cống ngầm thường nghĩ đến những điều kinh khủng; nhưng bên dưới cái thành phố London này là cả dặm dài—hàng trăm dặm—và chỉ cần vài trận mưa cùng với một London hoang vắng là chúng sẽ trở nên sạch sẽ tinh tươm ngay. Các đường cống chính đủ lớn và thoáng khí cho bất kỳ ai. Sau đó là các tầng hầm, hầm vòm, nhà kho, từ đó có thể đục những lối đi tắt sang hệ thống cống. Rồi cả các đường hầm xe điện và đường ngầm nữa. Hả? Mày bắt đầu hình dung ra chưa? Và chúng ta sẽ lập thành một băng nhóm—những gã trai tráng lực lưỡng, tâm hồn trong sáng. Chúng ta sẽ không nhặt nhạnh bất cứ thứ rác rưởi trôi nổi nào dạt vào đâu. Kẻ yếu đuối sẽ bị đá ra ngoài.”
“Như cách anh định loại tôi ấy à?”
“Thì—tao vừa thương lượng với mày còn gì?”
“Chúng ta sẽ không cãi nhau về chuyện đó nữa. Nói tiếp đi.”
“Những kẻ ở lại phải tuân theo mệnh lệnh. Chúng ta cũng cần những người phụ nữ lực lưỡng, tâm hồn trong sáng—những người mẹ và người cô giáo. Không có chỗ cho mấy ả tiểu thư ủy mị—không có mấy cái lườm nguýt ngây ngô chết tiệt nào hết. Chúng ta không thể dung thứ cho kẻ yếu đuối hay ngốc nghếch. Cuộc sống đã thực tế trở lại, và những kẻ vô tích sự, vướng víu, phá hoại phải chết. Bọn chúng đáng phải chết. Bọn chúng nên sẵn sàng chết. Rốt cuộc thì việc tiếp tục sống để làm vấy bẩn giống nòi là một thứ phản bội. Hơn nữa bọn chúng cũng có hạnh phúc được đâu. Vả lại, cái chết chẳng có gì đáng sợ đến thế; chính sự hèn nhát mới làm nó trở nên tồi tệ. Và tại tất cả những nơi đó chúng ta sẽ tụ họp lại. Địa bàn của chúng ta sẽ là London. Và chúng ta thậm chí có thể cắt cử người canh gác, rồi chạy nhảy tung tăng ngoài trời khi bọn Sao Hỏa tránh xa. Chơi cricket chẳng hạn. Đó là cách chúng ta cứu lấy giống nòi. Hả? Một điều khả thi chứ? Nhưng cứu giống nòi chẳng có ý nghĩa gì tự thân nó cả. Như tao đã nói, làm thế thì khác gì loài chuột. Điều quan trọng là phải lưu giữ tri thức và bồi đắp thêm cho nó. Đó là lúc những người như mày phát huy tác dụng. Có sách vở, có các mô hình. Chúng ta phải tạo ra những nơi ẩn náu thật lớn và an toàn nằm sâu dưới lòng đất, và thu gom tất cả sách vở có thể; không phải tiểu thuyết hay mấy thứ thơ thẩn vớ vẩn, mà là các ý tưởng, sách khoa học. Đó là nơi những người như mày cần ra tay. Chúng ta phải đến Bảo tàng Anh và lục lọi qua tất cả đống sách đó. Đặc biệt chúng ta phải duy trì vốn hiểu biết khoa học—học hỏi thêm nhiều nữa. Chúng ta phải quan sát bọn Sao Hỏa này. Một số người trong chúng ta phải đóng vai gián điệu. Khi mọi thứ đã vào guồng, có lẽ tao sẽ đi. Ý tao là chịu bị bắt ấy. Và điều cốt yếu là chúng ta phải để mặc bọn Sao Hỏa. Thậm chí chúng ta không được phép ăn cắp. Nếu cản đường chúng, chúng ta phải chuồn lẹ. Chúng ta phải cho chúng thấy rằng chúng ta không có ý đồ xấu. Ừ, tao biết chứ. Nhưng chúng là những sinh vật có trí khôn, và chúng sẽ không lùng sục chúng ta nếu chúng có đủ mọi thứ chúng muốn, và nghĩ rằng chúng ta chỉ là đám sâu bọ vô hại.”
Tay pháo thủ dừng lại, đặt bàn tay rám nắng lên cánh tay tôi.
“Rốt cuộc thì, chúng ta có lẽ cũng chẳng phải học hỏi quá nhiều trước khi—Cứ thử tưởng tượng cảnh này xem: năm hay sáu cỗ máy chiến tranh của chúng đột ngột khởi động—Tia Nhiệt quét sạch hai bên, và bên trong hoàn toàn không có một tên Sao Hỏa nào cả. Không một tên Sao Hỏa nào cả, mà là con người—những con người đã nắm được bí quyết cách thức. Thậm chí điều đó có thể diễn ra ngay trong thời đại của tao—những con người đó. Thật tuyệt vời khi được sở hữu một trong những cỗ máy tuyệt mỹ ấy, với Tia Nhiệt quét rộng và tự do! Thật tuyệt vời khi được điều khiển nó! Sẽ xá gì nếu mày có bị nát thành trăm mảnh vào cuối chặng đường, sau một cú oanh tạc đã đời như thế? Tao cá là đám Sao Hỏa sẽ phải trợn tròn đôi mắt đẹp đẽ của chúng lên cho mà xem! Mày không hình dung ra được sao, hả bạn tôi? Mày không thấy bọn chúng đang cuống cuồng chạy trốn—phì phò thở hổn hển rồi hú hét gọi nhau quay về với những công việc máy móc khác của chúng ư? Chắc chắn lúc nào cũng có thứ gì đó bị hỏng hóc trong bộ máy. Và vút, bùng, lách cách, vút! Ngay lúc chúng đang lúi húi tìm cách sửa chữa, thì vút, Tia Nhiệt lao tới, và kìa—con người đã trở lại làm chủ giang sơn của chính mình.”
Trong chốc lát, sự táo bạo mang tính tưởng tượng của tay pháo thủ, cùng giọng điệu đầy quả quyết và dũng cảm mà hắn trưng ra, đã hoàn toàn thống trị tâm trí tôi. Tôi tin tưởng không chút nghi ngờ vào cả dự đoán của hắn về vận mệnh nhân loại lẫn tính khả thi trong kế hoạch kinh ngạc của hắn, và vị độc giả nào cho rằng tôi là kẻ dễ dãi, ngốc nghếch thì hãy đặt hoàn cảnh của hắn, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ thấu đáo về chủ đề của mình, lên bàn cân với hoàn cảnh của tôi—đang co ro trong nỗi sợ hãi giữa lùm bụi và lắng nghe, tâm trí bấn loạn vì lo âu. Chúng tôi cứ trò chuyện như thế suốt khoảng thời gian sáng sớm, và sau đó bò ra khỏi lùm bụi, sau khi đã quan sát kỹ bầu trời không có bóng dáng bọn Sao Hỏa, liền ba chân bốn cẳng vội vã chạy về ngôi nhà trên đồi Putney nơi hắn đã chọn làm hang ổ. Đó là căn hầm chứa than của ngôi nhà, và khi chứng kiến thành quả lao động suốt cả tuần lễ của hắn—một cái hang đào dở dang dài chưa đầy mười thước mà hắn dự định sẽ nối thông với đường cống chính trên đồi Putney—tôi mới bắt đầu mường tượng ra khoảng cách xa vời giữa những giấc mơ và năng lực thực tế của hắn. Một cái lỗ như thế tôi có thể đào xong chỉ trong một ngày. Nhưng tôi đã đặt niềm tin vào hắn đủ để cùng hắn cặm cụi làm việc suốt buổi sáng hôm đó cho đến tận quá trưa. Chúng tôi dùng một chiếc xe cút kít làm vườn để xúc đống đất đào lên đổ vào sát bếp lò. Chúng tôi nạp lại năng lượng bằng một hộp súp rùa giả và chút rượu vang lấy từ cái phòng đựng thức ăn gần đó. Tôi tìm thấy một sự giải tỏa kỳ lạ thoát khỏi cảm giác xa lạ đến nhói lòng của thế giới thông qua công việc lao động đều đặn này. Vừa làm việc, tôi vừa nghiền ngẫm dự án của hắn trong đầu, và chẳng mấy chốc những phản đối cùng mối nghi ngờ bắt đầu nảy sinh; thế mà tôi vẫn làm việc ở đó suốt buổi sáng, mừng rỡ biết bao khi thấy mình lại tìm lại được một mục đích sống. Sau khi làm việc được một tiếng đồng hồ, tôi bắt đầu suy tính về khoảng cách phải đi mới tới được cống ngầm, và xác suất chúng ta bỏ lỡ nó hoàn toàn là bao nhiêu. Rắc rối trước mắt của tôi là tại sao chúng ta lại phải đào cái đường hầm dài dằng dặc này, trong khi hoàn toàn có thể chui thẳng xuống cống thông qua một trong những cái hố ga rồi lần ngược lại phía ngôi nhà. Tôi cũng thấy rằng vị trí ngôi nhà này được chọn không mấy thuận tiện, đòi hỏi một đoạn đường hầm dài một cách vô ích. Và ngay khi tôi bắt đầu phải đối mặt với những vấn đề đó, tay pháo thủ bỗng ngừng tay cuốc, ngước lên nhìn tôi.
“Chúng ta làm việc khá năng suất đấy chứ,” hắn nói. Hắn đặt chiếc xẻng xuống. “Nghỉ tay một lát đi,” hắn nói. “Tao nghĩ đã đến lúc chúng ta nên lên mái nhà thám thính tình hình rồi.”
Tôi vẫn muốn làm tiếp, nhưng sau một chút ngập ngừng, hắn lại cầm lấy xẻng; và rồi đột nhiên tôi bị sực tỉnh bởi một ý nghĩ. Tôi khựng lại, và hắn cũng dừng tay ngay lập tức.
“Tại sao anh lại đi lang thang ngoài bãi đất hoang,” tôi hỏi, “thay vì ở đây?”
“Đi hóng gió chút thôi,” hắn nói. “Tao đang định quay về. Đi đêm an toàn hơn mà.”
“Nhưng còn công việc thì sao?”
“Ơ hay, người ta đâu thể làm việc suốt được,” hắn đáp, và trong chớp mắt tôi nhìn thấu bản chất con người thật của hắn. Hắn ngập ngừng, tay vẫn cầm chiếc xẻng. “Chúng ta phải thám thính ngay bây giờ thôi,” hắn nói, “bởi vì nếu có đứa nào bén mảng đến gần, chúng có thể nghe thấy tiếng cuốc xẻng rồi tóm gọn chúng ta lúc nào không hay.”
Tôi không còn ý định phản đối nữa. Chúng tôi cùng nhau lên mái nhà và đứng trên chiếc thang nhô ra từ cửa mái. Không một tên Sao Hỏa nào lảng vảng trong tầm mắt, thế là chúng tôi mạo hiểm bước hẳn ra ngoài lớp ngói, rồi luồn người trượt xuống nấp dưới bờ tường chắn.
Từ vị trí này, một rặng cây rậm rạp che khuất phần lớn khu Putney, nhưng chúng tôi có thể nhìn thấy con sông phía dưới, một mảng bọt bèo nhầy nhụa toàn cỏ đỏ, cùng những vùng trũng của Lambeth ngập chìm trong sắc đỏ. Loài dây leo đỏ bám chi chít lên những tán cây quanh cung điện cũ, những cành cây của chúng vươn ra khô khốc và chết cứng, lác đác những chiếc lá quắt queo nhô lên giữa các thảm lá. Thật kỳ lạ làm sao khi cả hai thứ thực vật ấy lại hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước chảy để sinh sôi nảy nở. Xung quanh chúng tôi, chưa loài nào bén rễ được; những cây đậu tía, hoa táo gai hồng, hoa cầu tuyết và các giống cây thuỷ tùng, vươn lên từ giữa những bụi nguyệt quế và cẩm tú cầu, xanh mướt và rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời. Phía bên kia Kensington, một làn khói dày đặc đang bốc lên, và chính làn khói ấy cùng lớp sương mù màu xanh lam đã che khuất những ngọn đồi phía bắc.
Tay pháo thủ bắt đầu kể cho tôi nghe về những kiểu người vẫn còn bám trụ lại ở London.
“Có một đêm tuần trước,” hắn kể, “mấy tên ngốc nào đó đã nối lại được nguồn điện, thế là toàn bộ Regent Street và khu giao lộ rực sáng ánh đèn, chen chúc những gã đàn ông và đàn bà say khướt trong trang phục rách rưới và trang điểm loè loẹt, nhảy múa và hò hét đến tận sáng bạch. Một kẻ có mặt ở đó đã kể lại cho tao nghe. Và khi trời hửng sáng, chúng mới tá hỏa nhận ra một cỗ máy chiến tranh đang đứng sững ngay gần tòa nhà Langham và cúi xuống nhìn chúng. Chúa mới biết nó đã đứng ở đó từ bao giờ. Chắc hẳn nó đã làm cho vài tên phen khiếp vía. Nó tiến dọc theo con đường về phía chúng, và tóm gọn gần một trăm tên vì quá say xỉn hoặc quá sợ hãi nên chẳng thèm chạy trốn.”
Một tia sáng kỳ quái của một thời đại mà không sử ký nào có thể mô tả hết được!
Từ câu chuyện đó, đáp lại những câu hỏi của tôi, hắn lại quay trở lại với những kế hoạch vĩ mô của mình. Hắn trở nên hào hứng hẳn lên. Hắn nói vô cùng hùng hồn về khả năng bắt sống một cỗ máy chiến tranh đến mức tôi lại tin sái cổ vào hắn hơn một nửa. Nhưng giờ đây, khi đã bắt đầu hiểu phần nào về bản chất của hắn, tôi có thể đoán ra sức nặng mà hắn đặt vào việc không được làm gì một cách vội vàng. Và tôi lưu ý rằng lúc bấy giờ hoàn toàn không còn chuyện chính cá nhân hắn sẽ đi bắt và chiến đấu với cỗ máy khổng lồ đó nữa.
Một lát sau, chúng tôi xuống tầng hầm. Cả hai dường như không ai có hứng thú tiếp tục công việc đào bới, và khi hắn đề nghị dùng bữa, tôi hoàn toàn vui vẻ hưởng ứng. Hắn bỗng trở nên vô cùng hào phóng, và sau khi ăn xong, hắn đi ra rồi quay lại với vài điếu xì gà hảo hạng. Chúng tôi châm thuốc, và sự lạc quan trong hắn lại bừng sáng. Hắn có vẻ coi sự xuất hiện của tôi là một sự kiện trọng đại.
“Dưới hầm có cả rượu sâm-panh đấy,” hắn nói.
“Chúng ta sẽ đào đất hăng hái hơn nếu uống loại rượu vang đỏ vùng bờ sông Thames này,” tôi đáp.
“Không,” hắn gạt đi; “hôm nay tao là chủ nhà. Sâm-panh! Lạy Chúa! Trước mắt chúng ta là một nhiệm vụ nặng nhọc lắm đấy! Hãy nghỉ ngơi và lấy lại sức lực khi còn có thể đi đã. Nhìn những bàn phồng rộp hết cả lên thế này này!”
Và để hưởng ứng ý tưởng nghỉ ngơi này, hắn nằng nặc đòi đánh bài sau khi đã ăn xong. Hắn dạy tôi chơi bài euchre, và sau khi chia đôi London ra giữa hai người, tôi lấy phần phía bắc còn hắn lấy phần phía nam, chúng tôi chơi đánh điểm theo từng giáo xứ. Ngớ ngẩn và điên rồ làm sao đối với một độc giả tỉnh táo khi đọc những dòng này, nhưng đó hoàn toàn là sự thật, và điều đáng chú ý hơn là tôi thấy trò chơi bài bạc cùng vài trò khác mà chúng tôi chơi vô cùng lôi cuốn.
Tâm trí con người thật kỳ lạ thay! Rằng khi giống loài của chúng ta đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng hoặc sự suy đồi khủng khiếp, chẳng có tương lai rõ ràng nào ngoài cơ hội đối mặt với một cái chết kinh hoàng, thế mà chúng ta vẫn có thể ngồi đó đuổi theo vận may của mấy lá bài sơn phết này, và chơi bài “joker” với niềm thích thú ngập tràn. Sau đó hắn dạy tôi chơi bài poker, và tôi đã đánh bại hắn trong ba ván cờ vua căng thẳng. Khi trời tối hẳn, chúng tôi quyết định đánh cược và thắp một ngọn đèn.
Sau chuỗi các ván chơi dằng dặc không hồi kết, chúng tôi ăn tối, và tay pháo thủ nốc cạn chai sâm-panh. Chúng tôi tiếp tục hút xì gà. Hắn không còn là gã tái tạo giống loài đầy nhiệt huyết mà tôi từng gặp vào buổi sáng hôm đó nữa. Hắn vẫn lạc quan, nhưng đó là một sự lạc quan tĩnh tại hơn, trầm ngâm hơn. Tôi nhớ hắn đã nâng ly chúc sức khỏe tôi, bằng một bài diễn văn nghèo nàn từ ngữ nhưng ngắt quãng liên hồi. Tôi cầm lấy một điếu xì gà, đi lên lầu để ngắm nhìn những ánh đèn mà hắn vừa nhắc đến đang rực sáng một cách xanh ngắt dọc theo các ngọn đồi Highgate.
Thoạt đầu tôi ngẩn ngơ nhìn qua thung lũng London. Những ngọn đồi phía bắc chìm trong bóng tối; những ngọn lửa gần khu Kensington ánh lên sắc đỏ rực, và chốc chốc một lưỡi lửa màu cam đỏ lại bùng lên rồi vụt tắt trong bầu trời đêm xanh thẳm. Toàn bộ phần còn lại của London bao trùm một màu đen kịt. Sau đó, gần hơn một chút, tôi nhận ra một thứ ánh sáng kỳ lạ, một thứ ánh sáng huỳnh quang màu tím nhạt, đang rung rẩy theo làn gió đêm. Trong khoảnh khắc tôi không tài nào hiểu nổi nó là gì, rồi tôi chợt nhận ra rằng chính loài cỏ đỏ mới là nguồn phát ra thứ ánh sáng mờ ảo ấy. Với nhận thức đó, ý thức kinh ngạc bấy lâu nay ngủ quên trong tôi, cảm nhận về sự cân bằng của vạn vật, lại bừng tỉnh. Tôi liếc nhanh từ thứ ánh sáng đó sang hành tinh Sao Hỏa, đỏ rực và sắc nét, đang tỏa sáng rực rỡ ở bầu trời phía tây, rồi đăm đăm nhìn thật lâu vào màn đêm tĩnh mịch của vùng Hampstead và Highgate.
Tôi đứng rất lâu trên mái nhà, ngẫm ngợi về những biến chuyển kỳ quái trong ngày. Tôi hồi tưởng lại những trạng thái tâm lý của mình từ lời cầu nguyện lúc nửa đêm cho đến ván bài ngớ ngẩn. Tôi trải qua một sự đảo ngược cảm xúc dữ dội. Tôi nhớ mình đã vứt phăng điếu xì gà với một thứ hành động mang ý nghĩa biểu tượng đầy lãng phí. Sự ngốc nghếch của tôi hiện lên với sự phóng đại rành rành. Tôi cảm thấy mình giống như một kẻ phản bội vợ mình và giống loài của tôi; tôi tràn ngập sự ân hận. Tôi quyết định rời bỏ gã mơ mộng kỳ lạ, vô kỷ luật về những điều vĩ đại này với hơi men và thói phàm ăn của hắn, để đi sâu vào London. Ở đó, tôi có cảm giác mình nắm giữ cơ hội tốt nhất để tìm hiểu xem bọn Sao Hỏa và những đồng loại của tôi đang làm những gì. Tôi vẫn đứng trên mái nhà khi vầng trăng muộn màng mọc lên.